ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---TRẦN LÊ THUỲ ANH TIẾP THU VĂN HOÁ TRUNG HOA TUỲ - ĐƯỜNG TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ NHẬT B
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-TRẦN LÊ THUỲ ANH
TIẾP THU VĂN HOÁ TRUNG HOA TUỲ - ĐƯỜNG TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ NHẬT BẢN TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÂU Á HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-TRẦN LÊ THUỲ ANH
TIẾP THU VĂN HOÁ TRUNG HOA TUỲ - ĐƯỜNG TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ NHẬT BẢN TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ
Chuyên ngành: Châu Á Học
Mã số: 60310601
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS HOÀNG VĂN VIỆT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “TIẾP THU VĂN HOÁ TRUNG HOA TUỲ - ĐƯỜNG TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ NHẬT BẢN TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Văn Việt Luận văn không có sự trùng lắp, sao chép của bất kỳ đề tài luận văn nào hay công trình nghiên cứu khoa học nào của các tác giả khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Trần Lê Thuỳ Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
¬
Để thực hiện đề tài này, trước hết là nhờ công lao giảng dạy, hướng dẫn tận tình chu đáo của tập thể thầy cô khoa Đông Phương học Tôi xin chân thành gửi lời chúc sức khỏe và biết ơn sâu sắc đến tất cả các thầy cô đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy hướng dẫn PGS.TS Hoàng Văn Việt đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này trong thời gian qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban lãnh đạo trường Đại học Khoa học Xã hội
& Nhân văn TP.HCM, Phòng Sau đại học, Khoa Đông Phương học, gia đình và bạn
bè đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Học viên
Trần Lê Thuỳ Anh
Trang 5MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích của đề tài 5
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
7 Bố cục luận văn 13
Chương 1 14
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hoá Trung Hoa 14
1.1.2 Văn hóa chính trị - phạm trù văn hoá 16
1.1.3 Khái niệm tiếp thu văn hóa 18
1.1.4 Khái niệm tổ chức chính trị và hoạt động chính trị 19
1.1.4.1 Khái niệm tổ chức chính trị 19
1.1.4.2 Khái niệm hoạt động chính trị 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1 Văn minh Trung Hoa thời Tuỳ - Đường 22
1.2.1.1 Văn minh Trung Hoa thời Tuỳ 22
1.2.1.2 Văn minh Trung Hoa thời Đường 29
1.2.2 Bối cảnh lịch sử chính trị Nhật Bản thời Tuỳ - Đường 32
1.2.2.1 Thời kỳ Asuka (538-710) 34
1.2.2.2 Thời kỳ Nara (710-794) 36
1.2.2.3 Giai đoạn đầu của Thời kỳ Heian 37
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 39
TIẾP THU VĂN HOÁ TUỲ - ĐƯỜNG TRONG TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ NHẬT BẢN 39 2.1 Thích nghi với văn hoá Trung Hoa trong tổ chức chính trị Nhật Bản 39
Trang 62.1.1 Thích nghi với văn hoá Trung Hoa trong tổ chức chính trị Nhật Bản thời
nhà Tuỳ 40
2.1.1.1 Tổ chức chính trị theo kiểu nhà nước Trung ương tập quyền, phân chia quan chế thành 12 cấp 40
2.1.1.2 Ban hành Hiến pháp 17 điều 43
2.1.1.3 Truyền bá, hòa hợp các tôn giáo 43
2.1.2 Thích nghi với văn hoá Trung Hoa trong tổ chức chính trị Nhật Bản thời nhà Đường 47
2.1.2.1 Bắt đầu thiết lập chế độ phong kiến Nhật Bản trong sự hưng thịnh nhất định của sức sản xuất 47
2.1.2.2 Sự tan rã của chế độ chia cấp ruộng đất và sự phát triển của chế độ trang viên 49
2.2 Kết quả của việc tiếp thu văn hoá Trung Hoa 50
2.2.1 Tích cực 50
2.2.1.1 Xây dựng nhà nước trung ương tập quyền 50
2.2.1.2 Ảnh hưởng tích cực từ văn hóa Phật giáo 52
2.2.1.3 Nguyên nhân ưu điểm 54
2.2.2 Tiêu cực 55
Tiểu kết chương 2 56
Chương 3 57
TIẾP THU VĂN HOÁ TUỲ - ĐƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ NHẬT BẢN 57
3.1 Thích nghi với văn hoá Trung Hoa 57
3.1.1 Thích nghi với văn hoá Trung Hoa trong hoạt động chính trị thời nhà Tuỳ 57
3.1.1.1 Hoạt động chính trị thời kỳ Asuka (538 - 710) 57
3.1.1.2 Hoạt động chính trị trong giai đoạn thực hiện cuộc cải cách Taika bắt đầu thiết lập chế độ phong kiến 62
Trang 73.1.2 Thích nghi với văn hoá Trung Hoa trong hoạt động chính trị thời nhà
Đường 65
3.1.2.1 Hoạt động củng cố chế độ phong kiến Nhật Bản 65
3.1.2.2 Ảnh hưởng văn hóa Hán văn trong hoạt động chính trị Nhật Bản 68
3.2 Kết quả của việc tiếp thu văn hoá Trung Hoa trong hoạt động chính trị Nhật Bản thời Tùy – Đường 70
3.2.1 Ưu điểm 70
3.2.1.1 Nhờ sự du nhập, phát triển của Phật giáo vào Nhật Bản 70
3.2.1.2 Sự linh hoạt áp dụng tiếng Nhật Bản và tiếng Hán trong hoạt động chính trị 71
3.2.1.3 Thông qua tác phẩm văn học Trung Hoa, phát triển văn hóa đạo đức trong hoạt động chính trị 71
3.2.1.4 Quá trình giao lưu, tiếp thu văn hóa Trung Hoa, Nhật Bản khẳng định được những nét riêng của mình trong hoạt động chính trị 73
3.2.2 Một số hạn chế 73
Tiểu kết chương 3 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 86
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giao lưu tiếp biến văn hoá là quá trình chuyển tải tương tác giữa các chủ thể trong xã hội nhân loại Hệ quả của các hoạt động trao đổi qua lại ấy có thể là đồng hoá, có thể là cộng sinh Nhưng dù các chủ thể có né tránh hay chấp nhận, một thực
tế diễn ra thường xuyên trong đời sống con người là: giao lưu – tiếp biến văn hoá là hoạt động tất yếu của các cộng đồng xã hội con người; trở thành hiện tượng phổ biến trong chiều dài lịch sử nhân loại Nó luôn luôn được làm phong phú thêm cả về nội dung và hình thức
Các nhà văn hoá học hay nhân loại học phân chia các vùng văn hoá theo hướng đặc trưng khác nhau: về không gian có văn hoá phương Đông, văn hoá phương Tây; về thời gian có văn hoá cổ đại – trung đại – hiện đại; về nội dung có văn hoá châu Âu, văn hoá Ai Cập, văn hoá Lưỡng Hà, văn hoá Ấn Độ và văn hoá Trung Hoa; về tính chất có văn hoá truyền thống và văn hoá hiện đại
Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, có nền văn hoá – văn minh cổ phát triển rất rực rỡ Những thành tựu vĩ đại của văn hoá Trung Hoa không những chỉ tạo nên nền tảng vững chắc khắc họa diện mạo nền văn hoá phong phú của đất nước và dân tộc Trung Hoa mà còn đóng góp không nhỏ cho nền văn hoá – văn minh nhân loại Trong không gian văn hoá Trung Hoa rộng lớn bao gồm cả khu vực Đông Bắc
Á và một phần Đông Nam Á đã in đậm dấu ấn Trung Hoa trên tất cả các lĩnh vực ngôn ngữ, văn hoá, chính trị, tôn giáo
Sau nhiều thế kỉ với những biến động chính trị sâu sắc, Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ và đã để lại những ảnh hưởng to lớn đối với nền văn minh khu vực – thời Tuỳ Đường (từ năm 581 đến năm 907)
Nhật Bản là một quốc đảo Sự xa cách về mặt không gian với nền văn minh lục địa Trung Hoa to lớn và tính cát cứ về mặt địa lý của đất nước đã không cho phép dân tộc Nhật Bản tạo dựng một nhà nước sớm ở đây so với nhiều quốc gia láng giềng Tuy nhiên, hoàn cảnh lịch sử và căn tính tộc người Nhật đã tạo nên chân
Trang 9dung một dân tộc “đặc biệt”: tính can trường, kiên cường, mạnh mẽ; tính kỷ luật; nguyên tắc cộng đồng phổ biến Những tố chất hiếm có ở một số dân tộc khác đã giúp cho dân tộc Nhật biết khéo léo chọn lọc những giá trị văn minh bên ngoài để tạo nên bản sắc độc đáo của mình
Sự tác động mạnh mẽ và liên tục đến dân tộc Nhật, chắc chắn là bắt đầu từ nền văn hoá – văn minh lục địa Trung Hoa Ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa thời Tuỳ Đường đến Nhật Bản – đất nước vừa trải qua giai đoạn công xã thị tộc, đang bước đầu bước vào giai đoạn sơ khai của một giai đoạn lịch sử mới, là hết sức mạnh
mẽ, toàn diện
Trên văn đàn khoa học đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu (thậm chí rất sâu sắc) về sự tiếp thu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa trên các lĩnh vực tôn giáo, ngôn ngữ, văn hoá, văn học (và cả khoa học tự nhiên, kỹ nghệ) thời Tuỳ Đường ở Trung Quốc Tuy nhiên, về phương diện chính trị - nhận thức chính trị, tổ chức chính trị và hoạt động chính trị chắc chắn sẽ chưa có nhiều nghiên cứu xem xét một cách sâu sắc và toàn diện về quá trình tiếp thu của Nhật Bản từ Trung Quốc thời kì phát triển rực rỡ này Từ cách đặt vấn đề như vậy, việc thực hiện đề tài “Tiếp thu văn hoá Trung Hoa thời Tuỳ - Đường trong tổ chức và hoạt động chính trị Nhật Bản nhìn từ góc độ văn hoá chính trị” cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ là hết sức cần thiết
2 Mục đích của đề tài
Thứ nhất, làm rõ năng lực thích nghi của dân tộc Nhật trong quá trình giao lưu – tiếp biến văn hoá; cụ thể là sự lựa chọn, tìm tòi những giá trị văn hoá – văn minh Trung Quốc thời Tuỳ - Đường trong lĩnh vực chính trị
Thứ hai, phân tích các cách thức và các con đường tiếp thu nền văn hoá chính trị Trung Quốc thời Tuỳ - Đường của Nhật Bản Trước ảnh hưởng ồ ạt của nền văn minh Trung Hoa và với chủ trương xây dựng một thiết kế quản lý xã hội hiệu quả và phù hợp với các giá trị văn hoá người Nhật, Nhật Bản đã chọn lựa con đường và cách thức chủ động hay bị động trong quá trình tiếp nhận
Trang 10Thứ ba, xem xét các phương diện chính trị (nhận thức chính trị, tổ chức chính trị và hoạt động chính trị) mà Nhật Bản đã tiếp nhận từ Trung Quốc thời kì nhà nước Tuỳ - Đường
Thứ tư, tổng kết và đánh giá các kết quả mà Nhật Bản đã tiếp nhận được những hình thái tổ chức chính trị Trung Hoa thời kì phát triển rực rỡ thế kỉ VII – VIII – IX
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về phương diện khoa học, đề tài luận văn làm rõ:
1) Giao lưu tiếp biến văn hoá là hiện tượng thường xuyên và tất yếu của
xã hội nhân loại
2) Hệ quả của việc lựa chọn con đường và tìm kiếm cách thức tiếp thu văn hoá ngoại sinh
3) Quá trình diễn biến truyền tải và tiếp thu văn hoá của các chủ thể trong cùng một không gian văn hoá
Về phương diện thực tiễn:
1) Những cơ sở tồn tại (về căn tính tộc người, về quá trình lịch sử, nền tảng văn hoá bản địa) đảm bảo cho Nhật Bản tiếp thu nền văn hoá chính trị Trung Hoa một cách thành công
2) Đóng góp một phần tài liệu về nền chính trị Nhật Bản thời sơ sử liên quan đến quá trình giao tiếp văn hoá với Trung Hoa
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, dước sự tác động của bối cảnh xã hội theo xu hướng phát triển, các đề tài nghiên cứu về văn hóa chính trị được các nhà khoa học quan tâm nhiều hơn Đặc biệt, với những giá trị văn hóa đặc sắc của nền chính trị Nhật Bản, nhiều hoạt động khoa học và thực tiễn đã được các học giả và nhiều người quan tâm nghiên cứu (trong đó có Việt Nam) và từng bước xây dựng cơ sở lý luận khoa học, góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội trước thay đổi
Trang 11của cục diện chính trị, biến động thị trương từng ngày, từng giờ trên thế giới hiện nay
Trong các tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt, có một số tài liệu tiêu biểu đề cập đến vấn đề liên quan được phân loại theo các nhóm sau:
* Nhóm lý thuyết về văn hóa, chính trị có thể kể đến các công trình nghiên cứu như:
- Công trình nghiên cứu “Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc”, NXB Văn hóa Thông tin ấn hành năm 1994 tại Hà Nội của hai tác giả Ngô Vinh Chính,
Vương Miện Quý chủ biên; Cuốn sách “Đại cương lịch sử triết học Trung quốc”,
do NXB Chính trị Quốc gia ấn hành 2010, tác giả Doãn Chính chủ biên công trình nghiên cứu đã làm rõ nét cơ bản trong quan điểm chính trị của bộ máy nhà nước cổ đại Trung Quốc, qua thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Trung Quốc thời Tùy Đường, ảnh hưởng của triết lý Phật giáo Trung Quốc đến các nước Đông Á trong đó có Nhật Bản
- Ngoài ra, tác giả Lê Thanh Bình trong Hội thảo: Văn hóa phương đông - Truyền thống và Hội nhập vào năm 2007 tại Tp Hồ Chí Minh có bài phát biểu
chuyên đề “Văn hóa Nhật Bản: sức mạnh truyền thống và thách thức trong thời kỳ hội nhập”, đưa ra những luận cứ khoa học chứng minh sức mạnh của văn hóa truyền thống Nhật Bản làm nên thương hiệu “Nhật bản”, vị thế Nhật Bản trên thế giới ngày nay; Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đổng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2016 chuyên đề “Văn hóa chính trị” đã đề cập đến ý niệm về văn hóa chính trị đã được xuất hiện manh nha từ thời
cổ đại Làm rõ thêm thuật ngữ văn hóa chính trị (political culture) giúp luận văn tiếp cận một cách có hệ thống lý thuyết về văn hóa chính trị một cách chặt chẽ nhất;
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Đình Ngọc Vân (2014), “Các cuộc cải cách lớn ở Nhật Bản từ khía cạnh văn hóa chính trị”, tuy chưa tập trung nghiên cứu sâu việc ảnh
hưởng văn hóa Trung Hoa thời Tùy – Đường nhưng với góc độ nghiên cứu văn hóa chính trị cũng là công trình nghiên cứu bổ ích cho quá trình thực hiện luận văn
Trang 12- Bên cạnh đó, năm 2012, trong bối cảnh toàn cầu hóa tác động tới lĩnh vực đời sống xã hội của các quốc gia, dân tộc, nhất là với văn hóa – lĩnh vực mà ở đó đặt các yếu tố thuộc bản sắc văn hóa dân tộc trước những thách thức có tính chất
sống còn, cuốn sách “Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do hai nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang – Bùi Hoài Sơn đồng chủ
biên đã được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật phát hành, là tài liệu nghiên cứu khoa học có giá trị giúp hoàn thiện hệ thống lý luận quản lý nhà nước về văn hóa
* Nhóm lý thuyết về lịch sử Trung Quốc và Nhật Bản có thể kể đến các công trình nghiên cứu như:
- Nghiên cứu về lịch sử Trung Quốc, tác giả Phan Khoang với quyển “Trung Quốc sử lược”, viết từ năm 1958, dùng trong các lớp trung học và đệ nhất cấp, in
lần thứ ba đã thêm đủ về thời kỳ hiện đại, năm 2002 NXB Văn hóa - Thông tin tiếp tục tái bản, là tư liệu sử học quý nghiên cứu lịch sử Trung Hoa từ thời cổ đại đến
hiện đại
- Nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản có nhiều tác giả chủ biên biên soạn như:
Quyển sách Lịch sử Nhật Bản do Nguyễn Quốc Hùng chủ biên, NXB Thế giới ấn hành năm 2007; Lịch sử Nhật Bản do Phan Ngọc Liên chủ biên, NXB.Văn hóa - Thông tin ấn hành năm 1997; Lịch sử Nhật Bản do Lê Văn Quang biên soạn, trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ấn hành năm 1998… Đây là những tư liệu lịch sử quý giá giúp nghiên cứu lịch sử Nhật Bản một cách có hệ thống
- Nghiên cứu về lịch sử thế giới, trong đó có lịch sử Nhật Bản, lịch sử Trung
Quốc có quyển “Giáo trình Lịch sử văn minh thế giới”, của ba tác giả Nguyễn Văn
Tận, Hoàng Minh Hoa, Phạm Hồng việt, do NXB Giáo Dục ấn hành 1997; Quyển
sách “Lịch sử thế giới Trung đại” của các tác giả Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn
Ánh, Đỗ Đình Hãng…, đã góp công biên soạn do NXB Giáo dục ấn hành năm
2004, sách được tái bản lần thứ 8, có sửa chữa bổ sung giúp nghiên cứu sâu hơn lịch
sử phát triển của các nước trên thế giới trong đó có Trung quốc, Nhật Bản ở giai
Trang 13đoạn lịch sử trung đại, là giai đoạn lịch sử đi từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến, một chế độ lịch sử phổ biến nhất trong lịch sử loài người
- Với loạt sách chủ đề: Đối thoại với các nền văn hóa trong đó có Nhật Bản, Trung Quốc, biên dịch Trịnh Huy Hóa do NXB Trẻ ấn hành tại TP HCM năm
2002, giúp tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn nền văn hóa cũng như lối sống của họ, từ điều kiện tự nhiên, nguồn gốc dân tộc, lịch sử và nền kinh tế cho đến ngôn ngữ, tôn giáo…đã cung cấp những cứ liệu lịch sử quý báu cho việc nghiên cứu lịch sử các
nước Nhật Bản, Trung Quốc
* Nhóm lý thuyết về lịch sử quan hệ Nhật Bản với Trung Quốc có thể kể đến các công trình nghiên cứu như:
- Nghiên cứu về văn hóa Trung Hoa, giáo sư, tiến sĩ khoa học Trần Ngọc
Thêm có công trình nghiên cứu “Văn hóa Trung Hoa và ảnh hưởng của nó trong khu vực”, trường Đại học Quốc gia ấn hành tại Tp HCM, là chìa khóa khám phá
nền văn hóa Trung Hoa vốn rất phong phú và đa dạng, giúp lý giải những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu có tính hệ thống và quá trình truyền bá và phát triển văn
hóa tổ chức Trung Hoa sang Triều Tiên và Nhật Bản;
- Tác giả Hư Châu (Trung Quốc) có bài nghiên cứu “So sánh thái độ học hỏi nước ngoài của Trung-Nhật”, Nguyễn Hải Hoành biên dịch, năm 2015, được đăng
trên wesite http://nghiencuuquocte, tác giả chỉ rõ sự khác nhau giữa thái độ học hỏi nước ngoài của Trung quốc và Nhật Bản Nêu lên đặc điểm học tập của từng nước, làm rõ bản chất văn hóa chính trị của từng nước, những ưu, khuyết điểm, từ đó đúc kết thành bài học cho các nước khác noi theo, giúp luận văn hóa thiện lý luận trong quá trình nghiên cứu sự tiếp thu văn hóa Trung Hoa của Nhật Bản trong các thời kỳ lịch sử
- Giao lưu văn hóa Đông - Tây và những bài học đối với phát triển văn hóa Việt Nam của tác giả Phạm Công Nhất, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2 – 2014, bài viết đề cập cập đến vấn
đề giao lưu văn hóa (nói chung), về sự khác biệt giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, với nhận thức của người phương Đông về thế giới xung quanh
Trang 14mình không phải là những mảnh ghép rời rạc nhau mà là một chỉnh thể có tính thống nhất giữa trời, đất và con người Trong đó lấy Nhật Bản làm bài học của các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới cho thấy tạo lập một môi trường
đa văn hóa không những không cản trở mà còn tạo động lực cho sự cho sự phát triển của quốc gia Đây là tài liệu nghiên cứu bổ ích để góp phần làm sáng tỏ sử tiếp thu văn hóa chính trị của người Nhật Bản trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Trung Hoa từ đó đúc kết kinh nghiệm cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
*Nhóm lý thuyết về Tổng quan chính trị của Nhật Bản và Trung Quốc có thể
kể đến các công trình nghiên cứu như:
- Tác giả Nguyễn Văn Tận với bài viết “Cải cách Taika và những chuyển
biến trong xã hội Nhật Bản thời phong kiến”, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á Số 1, năm 2002, đi sâu nghiên cứu tổ chức văn hóa chính trị
trong xã hội Nhật Bản nhằm đạt được mục tiêu là quyền lực Thiên Hoàng với biện pháp cải cách khôn ngoan là tài liệu nghiên cứu bổ ích để luận văn tìm hiểu những nguyên lý về chính quyền tập trung và sở hữu nhà nước trong cuộc Cải cách Taika
- Công trình nghiên cứu “Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc T.2, Nhà Đường, Lưỡng Tống, nhà Nguyên” của tác giả Cát Kiếm
Hùng(Trung Quốc) Phong Đảo dịch, NXB Văn hóa thông tin ấn hành năm 2005 tại
Hà Nội và “Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc: T.2” của tác giả
Tiêu Lê (Trung Quốc), Vũ Ngọc Quỳnh dịch, NXB Đà Nẵng, năm 2000…là những tài liệu giúp nghiên cứu sâu các giai đoạn phát triển triều đại phong kiến Trung Quốc đặc biệt là giai đoạn nhà Tùy, nhà Đường, với những luận cứ xác đáng về cách thức tổ chức chính trị và hoạt động chính trị thời kỳ này
- Quyển sách Quan hệ quốc tế ở Đông Á trong lịch sử : Trung Quốc - Triều Tiên - Nhật Bản của tác giả Lê Văn Quang, do NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh ấn
hành năm 1993 đã đề cập đến mối quan hệ ngoại giao trong lịch sử ba nước, thể hiện rõ lập trường chính trị của mỗi nước trong quan hệ ngoại giao
Trang 15- Quyển sách Mười hai người lập ra nước Nhật, của tác giả Sakaya Taichi,
dịch và chú giải Đặng Lương Mô, do Nxb Chính trị Quốc Gia ấn hành tại Hà Nội năm 2017 là tư liệu lịch sử bổ ích chỉ ra nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công về kinh tế Nhật Bản thời nay, đưa ra nhiều kinh nghiệm hay trong quá trình giao lưu, tiếp thu văn hóa với các nước láng giềng
- Các bài nghiên cứu “Tổ chức bộ máy Nhà nước Nhật, Kinh nghiệm truyền thống và những cải cách hiện đại” của tác giả Lê Thanh Bình (1997), Tài liệu phục
vụ Hội nghị TW 3 - Khoá VIII; Bài viết “Vì sao Nhật Bản có thể gìn giữ truyền thống văn hóa suốt nghìn năm? Nguyên nhân liên quan đến một vương triều hưng
thịnh” (2017), Phương Nguyên biên dịch theo The Epochtimes,
https://www.dkn.tv Đã đưa ra những kinh nghiệm quý báu trong tổ chức bộ máy Nhà nước Nhật Bản, trong đó việc tiếp thu cách tổ chức chính trị thời Tùy Đường là
cơ sở cho phong cách chính trị Nhật Bản sau này
Ngoài ra, còn có các tác phẩm của các tác giả nước ngoài với chủ đề liên quan như:
- George Sansom; Lê Năng An dịch, Lịch sử Nhật Bản T.1, Từ thượng cổ đến năm 1334, NXB Khoa học Xã hội, 1994;
- Edwin O Reischauer ; Nguyễn Nghị dịch, Nhật bản quá khứ và hiện tại
=Japan past and present, NXB Khoa học Xã hội, 1994;
- Ishi Da Kazu Yoshi ; Nguyễn Văn Tần dịch giả, Nhật Bản tư tưởng sử T.1:
Tư tưởng cổ thời đại và trung cổ thời đại (từ lập quốc đến 1.600 d.l), NXB Kim Văn, 1972;
- Mason R.H.P., Caiger J.G ; Nguyễn Văn Sỹ dịch, Lịch sử Nhật Bản, NXB Lao động, 2003 v.v…là các tư liệu lịch sử bổ ích giúp nghiên cứu sâu nội dung của luận văn
Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu nói trên cho thấy: Mỗi tác giả, có mỗi góc nhìn khác nhau văn hóa Trung Hoa và ảnh hưởng của nó trong lịch sử Nhật Bản, tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về việc tiếp thu văn hóa Trung Hoa thời Tùy - Đường trong tổ chức và hoạt động chính trị Nhật Bản
Trang 16nhìn từ góc độc văn hóa chính trị Chính vì vậy, góc độ khai thác nội dung của đề tài không trùng lắp với các công trình nghiên cứu khoa học trước đây
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn nằm ở giao điểm nhiều ngành khoa học, nhưng trước hết là
ba khoa học chủ yếu: sử học, văn hoá học và chính trị học
Hai phương pháp lịch sử và logic của khoa học lịch sử được vận dụng cho việc làm sáng tỏ sự vận động của xã hội Nhật Bản trong thời khắc chuyển đổi sang chế độ phong kiến sơ kỳ vào thế kỉ V – VII Sự tích hợp các nhân tố khách quan và chủ quan trong giai đoạn này không chỉ là sự kế thừa các tiền đề nảy sinh trước đó ở Nhật Bản, mà còn là của các tiền đề tích tụ trong thế kỉ VII – VIII
Phương pháp tổng hợp - phân tích hệ thống và cấu trúc chức năng của văn hoá học đã đóng góp cho việc xác định các yếu tố cần thiết của văn hoá – văn hoá vùng và giao lưu tiếp biến văn hoá (đặc trưng dân tộc Nhật) và tính năng văn hoá
Sự tiếp nhận khía cạnh chính trị từ Trung Hoa thời Tuỳ - Đường của Nhật Bản sẽ được làm sáng tỏ bởi phương pháp so sánh cấu trúc của chính trị học Ba phương diện nhận thức chính trị - tổ chức chính trị - hoạt động chính trị sẽ được xem xét một cách cụ thể trong các chương của luận văn
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cách thức và nội dung tiếp thu văn hoá chính trị Trung Hoa thời Tuỳ - Đường, cụ thể là tổ chức chính trị và hoạt động chính trị như cấu trúc bộ máy nhà nước; các định chế tổ chức bộ máy nhà nước; các hoạt động nhà nước và sự tham gia chính trị trong hoạt động chính trị
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Về không gian: Xã hội Trung Hoa thời Tuỳ - Đường và xã hội Nhật Bản thế
kỉ V – X
Về thời gian: thời Tuỳ - Đường (581 – 907) và Nhật Bản thế kỉ VI – IX Tuy nhiên, lịch sử là một chuỗi sự kiện nối tiếp nên trong luận văn cũng dành một số trang mô tả xã hội Trung Quốc và xã hội Nhật Bản vào thời gian trước đó
Trang 17Chương 2: Tiếp thu văn hoá Tuỳ - Đường trong tổ chức chính trị Nhật Bản
Tổ chức nhà nước Trung Hoa thời kì này như kiểu nhà nước phong kiến, chế
độ quan chế, nguyên tắc pháp chế và cách thức cũng như từng bước tiếp nhận được
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hoá Trung Hoa
Hệ thống lý thuyết về văn hóa vô cùng đa dạng với nhiều trường phái và học
thuyết Từ các góc độ tiếp cận khác nhau, cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa
Người ta cho rằng văn hóa là học những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa có tính chất cao thượng đặc biệt Theo nhà sử học Đào Duy Anh, thật ra không phải là vậy Học thực tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thải các phong tục tập quán tầm thường cũng ở trong phạm vi văn hóa Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ra có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt [1]
Đối với nhà nhân học Anh, E.B.Tylor, là người đầu tiên trình bày định nghĩa
về văn hóa như một đối tượng nghiên cứu khoa học trong công trình Văn hóa
nguyên thuỷ xuất bản tại Luân Đôn, năm 1871, theo đó, ông cho rằng, văn hóa là
một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội [11, tr.17]
Theo Từ điển triết học – nhà xuất bản Chính trị - Matxcơva – 1972: “Văn
hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng tạo ra trong quá
trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội; các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài người” [63]
Theo Tạp chí Người đưa tin UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn
hóa Liên Hiệp Quốc) tháng 11 năm 1989: “Văn hóa là tổng thể các hoạt động sáng
tạo trong quá khứ và trong hiện tại – Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình
Trang 19thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” (FedericoMaygor Zaragoza – Tổng giám đốc
UNESCO) Định nghĩa này được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên
chính phủ về chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise [70, tr.5]
Theo giáo sư Trần Ngọc Thêm “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [42, tr.7].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết quan điểm của mình về văn hóa : “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những dụng cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh
ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [29,tr 431]
Từ các định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng, văn hóa là sản phẩm đặc trưng của con người, văn hóa có hai dạng tổng quát: văn hóa vật chất (hay văn hóa vật thể, hữu hình) và văn hóa tinh thần (hay văn hóa phi vật thể, vô hình) Hai dạng này
có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong văn hóa vật chất luôn chứa đựng những biểu hiện của văn hóa tinh thần Văn hóa tinh thần được tiềm ẩn hoặc hiện ra trong các dạng thức cụ thể của văn hóa vật chất
Văn hóa Trung Hoa là một khái niệm rộng lớn, nó bao gồm tất cả các giá trị vật chất và tinh thần được người Trung Quốc sáng tạo và gìn giữ trong hơn 5.000 lịch sử của mình
Giáo sư Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa Trung Hoa rất phong phú và đa dạng Thiên hạ có gì thì Trung quốc có nấy Văn hóa Trung Hoa phức tạp đến mức trong nhiều trường hợp, nếu trình bày xuôi cũng đúng, nếu trình bày ngược lại thì cũng không sai Bởi vậy rất cần một chìa khóa để hiểu Văn hóa Trung Hoa Chìa
Trang 20khóa đó là được định vị độ và quy nó về một kiểu loại hình để lý giải những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trong tính hệ thống của nó [43, tr.4]
Tuy nhiên, để có một cái nhìn khái quát chúng ta cùng tìm hiểu một cách đơn giản nhất về Trung Quốc qua các vấn đề như: giao tiếp, ngôn ngữ, ẩm thực, nghệ thuật, kiến trúc, … Gắn chặt với lịch sử - đất nước – dân tộc Trung Hoa Suốt trường kỳ lịch sử ấy, hệ tư tưởng Nho– Phật – Lão chi phối mọi hoạt động trong suốt đời sống văn hóa
Từ thời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu – Thuấn người Trung Quốc
đã biết phát triển văn hóa, lập ra chế độ hôn nhân, sáng tạo ra âm nhạc, phát huy năng lực vượt bậc về nghệ thuật tạo hình và văn học Trong sinh hoạt thường ngày,
từ rất sớm họ đã khai khẩn ruộng đất, tổ chức hệ thống tưới tiêu và trồng trọt, chế tác và sử dụng đồ gốm, không những thế còn làm ra đũa, cải thiện cách thức ăn uống sinh hoạt, phát minh ra thuốc súng, dụng cụ đo lường, tiền giấy, v.v… hoàn thiện bộ máy Nhà nước và cách tổ chức xã hội [19, tr 5]
1.1.2 Văn hóa chính trị - phạm trù văn hoá
Ý niệm về văn hóa chính trị đã được xuất hiện manh nha từ thời cổ đại Platon, nhà triết học cổ đại Hy Lạp định nghĩa: “Chính trị là nghệ thuật cai trị những con người với sự bằng lòng của họ” Tuy nhiên, chỉ đến khoảng giữa thế kỷ
XX, các nhà khoa học mới nêu ra thuật ngữ văn hóa chính trị (political culture) Từ cách tiếp cận thể chế của quốc gia có thể nhận thấy, văn hóa chính trị biểu hiện mối quan hệ chặt chẽ, sự chi phối, hỗ trợ lẫn nhau giữa văn hóa và chính trị, mà cụ thể là giữa thể chế văn hóa và thể chế chính trị
Văn hóa chính trị chỉ là một khía cạnh, một lĩnh vực của văn hóa Hoạt động chính trị được coi là văn hóa thì đều phải có một thể chế và niềm tin chính trị Do vậy, văn hóa chính trị có thể được hiểu là hệ thống các niềm tin về quyền lực, quyền
và thẩm quyền - những yếu tố gắn với thiết chế nhà nước Cũng có thể hiểu rằng, văn hóa chính trị là những định hướng chính trị, thái độ chính trị của chủ thể đối với
hệ thống chính trị cũng như đối với vai trò của bản thân chủ thể đó trong hệ thống
Trang 21chính trị Còn theo Lucian Pye và Sidney Verba - các nhà khoa học người Mỹ, thì
“Văn hóa chính trị là một hệ thống các niềm tin được hình thành trong thực tiễn chính trị” [62]
Còn theo Thomas Meyer, văn hóa chính trị của một xã hội là tống thể các giá trị, định hướng, quan điểm, thói quen và sự sẵn sàng hành động chính trị có ảnh hưởng chung trong xã hội Nó đóng vai trò then chốt đối với sự hiện diện và hoạt động của mọi thể chế chính trị [5, tr.221]
Trên thực tế, có hai vấn đề lớn liên quan đến văn hóa chính trị, đó là:
- Bộ máy nhà nước nên được tổ chức, điều hành như thế nào;
- Bộ máy nhà nước nên làm những gì
Hai vấn đề này chính là sự đề cập đến vai trò của chính trị đối với phát triển kinh tế, xã hội Ngoài ra, trong văn hóa chính trị có một số nguyên tắc liên quan đến các giá trị, niềm tin và thái độ, cảm xúc của các thành viên trong cộng đồng
Đó là:
- Những niềm tin được san sẻ;
- Những luật lệ được chấp nhận một cách phổ biến Các nguyên tắc này chính là sự đề cập đến mối quan hệ gắn bó, mang tính pháp lý giữa chính trị và văn hóa
Từ các phân tích nêu trên cho thấy rằng, trung tâm của văn hóa chính trị là vấn đề định hướng, hay văn hóa chính trị có chức năng chủ yếu là định hướng Đó
là các định hướng về nhận thức, tình cảm và sự đánh giá Cụ thể như các định hướng về cấu trúc bộ máy nhà nước; định hướng về nhận thức, hiểu biết hệ thống chính trị, những người trong bộ máy cầm quyền, vai trò của truyền thông; định hướng về niềm tin, sự tin tưởng về luật lệ trong hoạt động chính trị; định hướng về hoạt động chính trị của chủ thể như thái độ, ý thức, cách thức hoạt động chính trị Điều đó cho thấy rằng, mỗi hệ thống chính trị đều gắn liền với một cách thức định hướng đặc thù của văn hóa chính trị [62]
Trang 221.1.3 Khái niệm tiếp thu văn hóa
Để làm rõ hơn khái niệm “tiếp thu văn hóa”, thiết nghĩ cần tìm hiểu thuật ngữ “giao lưu tiếp biến văn hoá”
Thuật ngữ “giao lưu tiếp biến văn hoá” (tiếng Latin: Acculturare; tiếng Anh: Acculturation) được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội như dân tộc học, xã hội học, văn hoá học.v.v… ở phương Tây, khái niệm này được dùng bởi những từ khác nhau Người Anh dùng Cultural Change (trao đổi văn hoá)
Trong khi thuật ngữ tiếp cận văn hóa (enculturation) được sử dụng để mô tả quá trình học tập văn hóa mới đầu tiên, tiếp thu văn hóa có thể được coi như là sự học tập (hấp thụ) nền văn hoá đó đợt thứ hai
Trong lịch sử xã hội nhân loại thì giao lưu tiếp biến văn hoá là hoạt động tất yếu của con người Và nếu quy luật kế thừa là sự khái quát hoá quá trình phát triển văn hoá diễn ra theo trục thời gian thì giao lưu tiếp biến văn hoá nhìn nhận sự phát triển văn hoá trong mối quan hệ không gian với nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau, tuỳ trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc mà tạo nên những mô hình văn hoá khác nhau: Một là “Mô hình văn hoá phân biệt” – kết quả của sự phủ nhận hoàn toàn các giá trị mới của nền văn hoá khác trong giao tiếp văn hoá; Hai là “Mô hình văn hoá đồng hoá” – Kết quả của năng lực tiếp thu yếu kém của chủ thể tiếp nhận; Ba là “Mô hình cộng sinh văn hoá” – Kết quả của quá trình tiếp nhận văn hoá hài hoà [49]
Tiếp thu văn hóa ở đây chính là “Mô hình cộng sinh văn hoá”, là những thay
đổi được hình thành qua quá trình giao lưu, chắc lọc văn hóa, sau một quá trình tiếp xúc liên tục và trực tiếp giữa các nhóm cá nhân thuộc các nền văn hóa khác nhau Trong qua trình gặp gỡ, đối thoại giữa các nền văn hoá sự chọn lọc, lấy cái hay của người làm bài học kinh nghiệm cho mình, từ đó phát triển cái hay của người ngay trên đất nước mình một cách linh hoạt, sáng tạo phù hợp với thực tiễn đất nước Quá trình này đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa trên cái nội sinh để lựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá nó để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị xã hội và tâm thức
Trang 23dân tộc có vai trò rất quan trọng Nó là “màng lọc” để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộc phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình
Có thể minh chứng bằng sự tiếp thu văn hóa giữa Nhật Bản và Trung Hoa Tại hội thảo Văn hóa phương đông: Truyền thống và Hội nhập được tổ chức vào ngày 13 tháng 1 năm 2007, Phó giáo sư tiến sĩ Lê Thanh Bình đã khẳng định: Ngay
từ thời cổ xưa, Nhật Bản đã từng nhìn vào Trung Hoa như một tấm gương, Nhật Bản cử những sứ bộ hào hứng sang các triều Đường, Tống, Nguyên, Minh… giao lưu, có người còn ở lại làm quan cho triều đình Trung Hoa Trong những chừng mực nào đó, Nhật đã cố gắng du nhập và mô phỏng văn hoá Trung Hoa, cải tiến cho phù hợp ở Nhật, ví dụ cải tiến chữ Hán, tham khảo các điển tích Trung Hoa trong sáng tác văn học; nhấn mạnh tính chất Thiền “Zen” của đạo Phật, chấp nhận một số giáo lý của đạo Khổng Về điểm này có thể rút ra rằng: Nhật Bản học hỏi để làm ra cái riêng của Nhật là “Giản lược và quyết liệt”- tính chất đó được thể hiện rõ từ những nét bút Nho, những bức tranh, cốt truyện hay đường kiếm của họ… [3]
Từ đó cho thấy, tiếp thu văn hóa là cụm từ giải thích quá trình thay đổi văn hóa và thay đổi tâm lý là kết quả theo sau cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hóa Những ảnh hưởng của tiếp thu văn hóa có thể thấy được ở nhiều cấp độ trong cả hai nền văn hóa tương tác
1.1.4 Khái niệm tổ chức chính trị và hoạt động chính trị
1.1.4.1 Khái niệm tổ chức chính trị
Có nhiều định nghĩa khác nhau về chính trị:
Chính trị (tiếng Anhː Politics) là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và
sử dụng quyền lực Nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích
Trang 24Từ khi xuất hiện, chính trị đã có ảnh hưởng to lớn tới quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Bởi vậy nghiên cứu và định hình về chính trị cũng được các học giả Đông-Tây-kim-cổ bàn luận không ít giấy mực Trước khi chính trị học ra đời với tư cách là một khoa học (political science) nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể, có đối tượng, phương pháp, khái niệm, phạm trù , đã có rất nhiều các quan niệm, quan điểm, thậm chí là tư tưởng, học thuyết của các học giả khác nhau bàn về các khía cạnh
của chính trị nhưng về bản chất, chính trị chính là cách các lực lượng xã hội khác
nhau tự tổ chức, thảo luận và đàm phán để thống nhất những luật lệ mà những luật
lệ này sẽ tác động và điều chỉnh cuộc sống của tất cả mọi người liên quan [68]
Tổ chức chính trị (hay hệ thống chính trị) của một nước là những tập hợp những người dân nước đó hoạt động trong lĩnh vực chính trị Ở cấp quốc gia, các đảng chính trị sẽ vận động quần chúng nhân dân ủng hộ lý tưởng của mình để được bầu lãnh đạo đất nước Trong quá trình vận động tranh cử, các ứng viên sẽ trình bày quan điểm và triết lý phát triển kinh tế hoặc an sinh xã hội, và nhân dân bầu cho quan điểm và triết lý phù hợp với mình Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định Tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng
cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền Tổ chức chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước
và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó tổ chức chính trị mang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền [64]
1.1.4.2 Khái niệm hoạt động chính trị
Theo tác giả Lê Quang, trong bài viết “Hoạt động chính trị cần cho cuộc
sống”: Hoạt động chính trị là hoạt động của tổ chức chính trị trong xã hội nhằm đạt được mục đích cao nhất mà tổ chức chính trị đó đề ra Hoạt động chính trị luôn tồn
Trang 25tại và ảnh hưởng đến tất cả mọi người Những ai muốn lãnh đạo sẽ phải thuyết phục các thành viên khác về chiến lược của mình Các hoạt động chính trị cũng có thể xảy ra ở cấp cộng đồng hoặc câu lạc bộ Ai được bầu có nghĩa triết lý và giải pháp của họ phù hợp với nhận thức và mong muốn của đa số các thành viên Đây chính là các hoạt động chính trị thường ngày mà ai cũng đã từng tham gia [68]
Vấn đề đặt ra, đôi khi chính trị lại trở thành xa lạ hoặc nhạy cảm đối với một
số người Bởi lẽ đầu tiên là do một số quan điểm sai lệch về hoạt động chính trị Nhiều người cho rằng chính trị chỉ gắn với đảng phái và chính quyền Phiến diện hơn, có người cho rằng hoạt động chính trị có nghĩa là phản động và lật đổ chính quyền Đây là sự hiểu biết hẹp hòi và sai lệch, khi đó hoạt động chính trị trở nên quá nhạy cảm, nguy hiểm và là điều cấm kỵ trong xã hội Người dân né tránh học hỏi, tìm hiểu và thực hành hoạt động chính trị của mình Khi đó, xã hội bị xơ cứng
vì không tập hợp được trí tuệ của nhiều người cũng như chọn được người có tâm, có tầm để lãnh đạo xã hội và nhà nước
Đáng kể hơn, sự sợ hãi chính trị không những làm tê liệt nhân dân mà còn ảnh hưởng đến các tầng lớp tinh hoa khác của dân tộc Cho nên các, nói đến hoạt
động chính trị là đề cập đến hoạt động tập hợp nhân dân, lắng nghe nhân dân, thuyết phục nhân dân bằng tư tưởng tự do chính thống theo ý chí của nhà cầm quyền và tầm nhìn bao quát toàn cầu của nhà lãnh đạo đất nước
Chính vì vậy, hoạt động chính trị mang tính khách quan Cuộc sống vận động và biến đổi không ngừng Con người khác biệt và làm lên vẻ đẹp của sự đa dạng Chính vì vậy, con người cần hoạt động chính trị để tích hợp ý tưởng, sáng tạo
Trang 261.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Văn minh Trung Hoa thời Tuỳ - Đường
Tùy - Đường là một thời đại thống nhất dài ở Trung Quốc được ra đời sau chia cắt suốt 400 năm thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều Thời kỳ đầu của cả hai triều đại Tùy (581 – 619), Đường (618 –907) hừng hực khí thế hào hùng thịnh vượng do
đã biết đúc kết kinh nghiệm từ những bài học thất bại đắng cay của các triều đại trước, do đó, các nhà vua thời bấy giờ đều dốc lòng chấn hưng đất nước , làm cho
xã hội và chính quyền ngày càng lớn mạnh
Đặt biệt, sự phồn vinh và phát triển đạt tới đỉnh cao về kinh tế và văn hóa của Đường triều (618 – 907), không chỉ viết thêm một trang sử vàng son chói lọi cho lịch sử Trung Quốc, mà lại còn tô hồng thêm một nét son trong lịch sử văn minh nhân loại Đó là một thời đại vĩ đại, một trong những cái nôi văn minh của nhân loại ở phương Đông, đã gây một ấn tượng cực mạnh cho thế giới có cái nhìn tốt đẹp về người Trung Quốc Người Trung Quốc thường tự hào về mình khi giới thiệu về mình hoặc khi di cư đến một quốc gia nào cũng có lối ví von rằng tổ tiên của mình là những “Đường Nhân” (tiếng Quảng Đông gọi là Thòang Zành ) [43, tr.4]
1.2.1.1 Văn minh Trung Hoa thời Tuỳ
Từ khi Tùy Văn Đế lên ngôi, triều đình căn cứ theo kinh nghiệm thời Bắc triều mà tiến hành cải cách chế độ chính trị, cho xây dựng Đại Vận Hà kéo theo
Nam-sự xuất hiện của rất nhiều thành thị dọc theo kênh, thay thế phế lập rất nhiều thứ cũ
Trang 27mới Trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao, triều Tùy có ảnh hưởng sâu rộng đến triều Đường, triều Tống, và các triều đại sau này của Trung Quốc
Dương Kiên thuộc thế gia Quan Lũng Hồ-Hán của Bắc Chu, dần dần kiểm soát triều đình Bắc Chu sau khi Bắc Chu Tuyên Đế Vũ Văn Uân kế vị Sau khi Bắc Chu Tĩnh Đế Vũ Văn Xiển tức vị khi còn nhỏ tuổi, Dương Kiên khống chế triều chính với thân phận ngoại thích Năm 581, Bắc Chu Tĩnh Đế thiện nhượng cho Dương Kiên, Bắc Chu mất, Dương Kiên đặt quốc hiệu là "Tùy" Năm 587, Tùy Văn
Đế phế trừ Hậu Lương, đến năm 589 thì phát động chiến tranh diệt Nam triều Trần, bắt được Trần Hậu Chủ Trần Thúc Bảo Đến lúc này, triều Tùy thống nhất thiên hạ, cục diện phân liệt từ thời Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều chấm dứt
Triều Tùy tổng kết nguyên nhân hưng vong của các triều trước, tập trung vào việc duy trì quan hệ với nông dân, điều hòa quan hệ trong tập đoàn thống trị, khiến mâu thuẫn xã hội có xu hướng hòa hoãn, kinh tế và văn hóa phát triển nhanh chóng, xuất hiện cảnh tượng phồn hoa, khai sáng ra Khai Hoàng chi trị
Tuy nhiên, vào những năm cuối, Tùy Văn Đế trở nên cố chấp, đại sát công thần, khiến Tùy suy thoái Tháng 8 năm năm 604, Tùy Văn Đế qua đời, Thái tử Dương Quảng kế vị, tức Tùy Dạng Đế Để củng cố sự phát triển của triều Tùy, Tùy Dạng Đế cho xây dựng nhiều công trình quy mô lớn, tiến hành các cuộc chinh phục, Tùy phát triển đến cực thịnh vào đầu thời Dạng Đế Tuy nhiên, do quá khoa trương, Tùy Dạng Đế khiến cho quốc lực hao phí, nhất là ba lần tấn côngCao Câu Ly Cuối cùng, Tùy chìm trong các cuộc khởi nghĩa nông dân, Tùy Dạng Đế dời đông đô Lạc Dương đến Giang Đô (tức Dương Châu ngày nay) Tháng 4 năm 618, Vũ Văn Hóa Cập cùng những tướng lĩnh khác phát động binh biến, sát hại Tùy Dạng Đế Đến tháng 6, tại Trường An, Tùy Cung Đế nhường ngôi cho Lý Uyên, triều Đường được kiến lập; tại Lạc Dương, tháng 5 năm 618, Vương Thế Sung phế Dương Đồng, Tùy mất Từ thời Tùy mạt, diễn ra cục diện quần hùng cát cứ, cuối cùng thống nhất dưới trướng triều Đường
Trang 28Nhà Tùy là một triều đại ngắn nhưng để lại dấu ấn lịch sử mạnh mẽ trong nền văn minh Trung Hoa
Sau khi thống nhất nhà Tùy tiếp tục thực hiện các cuộc cải cách về kinh tế và chính trị, thực hiện hàng loạt chính sách ổn định xã hội, phát triển sản xuất làm cho đất nước hưng thịnh, thương nghiệp cũng phát triển Tùy Văn đế là người đầu tiên
đã trấn áp hết các thế lực phiến loạn và bạo động, tiêu diệt các mầm mống phản loạn, đồng thời vẫn tôn trọng các quý tộc Tiên Ty, lấy việc hòa hoãn để giải quyết mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị Những cuộc cải cách này cũng đã củng cố được nền thống trị mới, xúc tiến được sự phát triển của miền Bắc Trung Quốc, phục hồi sản xuất, thế lực của nhà Tùy tăng lên nhanh chóng
- Những thành tựu chính của nền văn minh Trung Hoa thời Tuỳ
Về mặt chế độ chính trị, để củng cố chính quyền Tùy Văn Đế phế trừ thể
chế phỏng theo Chu Lễ của Bắc Chu, sáng lập ra chế độ lục quan, chính thức xác
lập tam tỉnh lục bộ chế, phát triển toàn diện thể chế trung ương tập quyền, áp dụng chính sách Khai Hoàng chi trị cải cách chế độ quan chế và tô điều, đồng thời bắt
đầu thiết lập cấp bậc tiến sĩ, lập ra chế độ điển chương mới, từ đó trong việc tuyển quan không cần tra hỏi về gia thế
Tam tỉnh lục bộ chế do triều Tùy lập ra có ảnh hưởng sâu rộng đến hậu thế,
giúp củng cố chế độ trung ương tập quyền; chế định ra chế độ khoa cử hoàn chỉnh, dùng để tuyển chọn đề bạt nhân tài ưu tú, làm suy yếu quyền hạn của sĩ quan thế tộc lũng đoạn Triều đình bãi bỏ cấp quận, hình thành chế độ hai cấp châu huyện Sau khi cải cách chế độ địa phương và bình định Nam triều Trần, nhà Tùy tịch thu vũ khí trong nước, các chính sách này đều nhằm khiến cho thế lực các địa phương suy yếu, củng cố thể chế chính trị trung ương tập quyền quân chủ chuyên chế
Nhằm ức chế thế tộc, Tùy hạ lệnh phế trừ cửu phẩm trung chính chế từ
thời Ngụy-Tấn, thiết lập chế độ khoa cử để tuyển chọn nhân tài một cách công bằng Ngoài ra, triều đình Tùy còn lập ra chế độ nghị sự chính sự, chế độ giám sát, chế độ khảo tích, đều giúp củng cố cơ chế chính phủ, có ảnh hưởng sâu rộng đến chế độ chính trị triều Đường và hậu thế
Trang 29Ngoài ra, năm 583, nhà Tùy hoàn thành "Khai Hoàng luật" Sử gọi là "hình võng giản yếu, sơ nhi bất thất" (lưới pháp luật ngắn gọn súc tích, thưa mà không để lọt), quy định đối với người phạm 10 tội: mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn, ác nghịch, bất đạo, đại bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nội loạn thì sẽ bị nghiêm khắc trừng trị không tha thứ, triều Đường sau này tiếp tục sử dụng "Khai Hoàng luật" gồm 12 quyển, 500 điều, hình phạt phân thành 5 chủng: “tử hình” (giết), “lưu hình” (đày), “đồ hình” (làm việc nặng), “trượng hình” (đánh trượng), “si hình” (đánh roi) với 20 cấp Bộ luật này lại bỏ các hình phạt thảm khốc của các triều trước như 'tiên hình' (đánh roi tàn bạo), “kiêu thủ” (chém rồi bêu đầu), là cơ sở pháp điển của các triều đại sau này
Với lối cải cách chế độ chính trị này, lúc bấy giờ, tại Oa Quốc (tức Nhật Bản ngày nay), phái cải cách của Thánh Đức thái tử chấp chính, ông phái "khiển Tùy sứ" để học tập văn hóa và chế độ điển chương của triều Tùy
Về quân sự, triều Tùy tiếp tục tiến hành và cải cách chế độ phủ binh Đặt ra
tư vệ, tư võ quan, thống soái phủ binh bảo vệ cung cấm; lại có Vũ hầu phủ thống soái phủ binh tuần cảnh kinh thành, đều đặt một 'thượng đại phu' Năm 607, Tùy Dạng Đế đem thập nhị vệ của thời Bắc Chu mở rộng thành chế độ "vệ thống phủ"(có 12 vệ và 4 phủ), phân toàn quốc thành các khu vực quân sự, đặt chức tổng quản phụ trách quân sự tại các khu vực này, thời bình thì phòng bị biên cảnh, thời chiến thì phụng mệnh xuất chinh điều này là nhằm khuếch trương lực lượng quân
sự, tăng cường lực lượng thị vệ trung ương và phân tán quyền lực của các tướng
Đối với "phủ binh chế" cũng có những cải cách như: đem chế độ phẩm cấp quan chức Bắc Chu và văn thần võ tướng vào trong một hệ thống đẳng cấp đồng nhất Năm 590, ban bố mệnh lệnh đưa quân hộ nhập vào dân hộ, quân nhân ngoài quân tịch bản thân, cũng có thể cùng gia thuộc nhập vào hộ tịch địa phương, chiếu theo “quân điền chế” mà nhận ruộng, miễn trừ thuế, đồng thời chiếu theo quy định phải luân phiên đến kinh thành phòng vệ, hoặc chấp hành nhiệm vụ khác Mệnh lệnh này giảm bớt được gánh nặng kinh tế của triều đình trung ương, đồng thời
Trang 30khiến quân nhân có thể sống cùng gia thuộc, cũng mở rộng nguồn binh của triều đình, được gọi là “binh nông hợp nhất'”
Về kinh tế, một mặt thực hiện quân điền chế và tô dung điều chế, mặt khác
lại chọn cách dùng các biện pháp "đại sách mạc duyệt" và "thâu tịch định dạng" để điều tra chính xác hơn về số hộ, nhằm gia tăng thu nhập tài chính Triều Tùy đề xướng tiết kiệm, không cho phép các hoàng tử phung phí tiền bạc Những điều này hình thành nên một chuẩn mực xã hội, khiến triều Tùy vào tiền kỳ trở nên giàu có khi mà của cải được tích lũy một cách nhanh chóng Cùng với diện tích đất ruộng tăng lên nhiều, năng suất cây trồng cũng tăng cao, các kho quan trữ lương tại Trường An, Lạc Dương nhiều thì đạt 10 triệu thạch, ít thì cũng có đến vài triệu thạch Đồng thời, thủ công nghiệp có sự phát triển mới, kỹ thuật đóng thuyền đạt đến trình độ rất cao, có thể đóng chiến hạm cực lớn có năm tầng lầu Thương nghiệp tại Lạc Dương từng một thời cực thịnh, là nơi cư trú của mấy vạn nhà phú thương, kinh tế hiện ra cục diện phồn vinh
Một dấu ấn biểu thị nền văn minh thời Tùy không thể không kể đến là chính
sách Khai Hoàng thịnh thế Thời Tùy, cho xây dựng rất nhiều công trình, mục đích
là để tăng cường ảnh hưởng và tính lưu động của chính trị, quân sự, kinh tế, mậu dịch Lúc bấy giờ, các công trình lớn được xây dựng có Đại Hưng thành, đông đô Lạc Dương, các kho lương lớn, Đại Vận Hà, trì đạo và Trường Thành để thuận tiện trong việc quản lý Đồng thời, tại các địa phương trên toàn quốc cho thiết lập rộng rãi 'quan thương' và 'nghĩa thương', dự trữ sẵn cho nhu cầu của quốc gia, có thể tích trữ lương thực đề phòng tai họa
Đáng kể là việc Tùy Văn Đế lại hạ lệnh xây dựng Đại Hưng thành, (tức
thành Trường An), Đại Hưng thành là thành thị cổ đại Trung Quốc đạt mức cao siêu trên tiêu chí quy hoạch kiến thiết, là biểu hiện tổng hợp cho thực lực kinh tế và trình
độ kỹ thuật triều Tùy, đương thời là một trong những thành thị có quy mô lớn nhất thế giới Tư tưởng thiết kế và bố cục của Đại Hưng thành có ảnh hưởng sâu rộng đối với quy hoạch đô thị Trung Quốc, cũng như đối với Nhật Bản sau này
Trang 31Ngoài ra, nhằm củng cố lực lượng quốc phòng ở phương bắc, triều Tùy cho xây dựng “trì đạo” (tức quốc lộ), dẫn tới Tịnh Châu, xây dựng mở rộng Trường Thành để bảo hộ dân tộc thiểu số phương bắc dã quy phụ Các công trình này khiến cho kinh tế và mậu dịch của Quang Trung và các khu vực nam-bắc phát triển
Các chính sách này giúp tăng cường khả năng kiểm soát của triều đình Tùy
ở Quan Trung đối với khu vực phương Bắc, Quan Đông và Giang Nam; khiến kinh
tế, văn hóa và nhân dân các địa phương của Tùy có thể giao lưu thuận lợi, còn hình thành trọng trấn kinh tế Giang Đô
Việc triều Tùy thúc đẩy việc hình thành Đại Vận Hà đã mang lại nhiều lợi ích: kết nối các hệ thống sông quan trọng của Trung Quốc lại với nhau, hình thành mạng lưới vận chuyển; thúc đẩy sự phát triển của các thành thị ven kênh Nhờ vậy, lúc bấy giờ, rất nhiều thành thị thương nghiệp nổi lên, trong đó Giang Đô trở thành trọng tâm kinh tế của triều Tùy; thúc đẩy phát triển văn hóa và dung hợp dân tộc tại các địa phương, có ý kiến nhận định nó khiến cho văn minh Trung Hoa trở thành
một nền văn minh hoàn chỉnh có hệ thống
Về mặt ngoại giao,
Về giao lưu đối ngoại, triều Tùy chủ trương thi hành thể chế triều cống với các nước thần phục, các nước phiên thuộc tôn triều Tùy làm tông chủ, triều cống định kỳ, chung sống hòa bình Nếu có quốc gia không muốn thần phục, khi cần thiết triều Tùy sẽ lựa chọn thủ đoạn chiến tranh để uy phục Nếu như có quốc gia nào xâm phạm một quốc gia khác, triều Tùy sẽ bang trợ cho nước yếu đánh bại nước mạnh để duy trì thể chế triều cống Nếu một quốc gia thần phục triều Tuỳ, sẽ nhận lại được ưu đãi của triều Tùy, do vậy xuất hiện cục diện rất nhiều nước khiển sứ đến Tùy
Thời kỳ này, nhiều nước sang thông hảo, trong đó có Oa Quốc (tức Nhật Bản ngày nay) cũng đã từng nhiều lần phái sứ sang Trung Quốc thông hảo, năm 600 lại đem theo vài chục sa môn (tức tăng lữ) sang Tùy học Phật pháp Do vậy mà "khiển Tùy sứ" của Nhật Bản được biết đến nhiều nhất trên lĩnh vực giao lưu ngoại giao
Trang 32 Về cương vực và hành chính
Thời kỳ Tùy, quan chế địa phương từng bước hoàn thiện, Tùy Văn Đế đổi chế độ ba cấp châu-quận-huyện từ thời Hán Linh Đế thành chế độ hai cấp châu-huyện, đồng thời hợp nhất một số châu huyện, cắt giảm viên chức dư thừa, tinh giản
cơ cấu chính quyền Tùy Dạng Đế mô phỏng theo Hán Vũ Đế khi xưa, thiết lập
"giám sát châu" để giám sát công việc tại các quận, giám sát châu đặt chức quan thứ
sử, phụ quan có trưởng sử hay tư mã
Ở cấp quận (châu) thì đặt chức thái thú, phụ quan có quận thừa, quận úy hay quận chính Tại phong quốc của các chư hầu vương, đặt các quốc quan: lệnh, đại nông, úy, điển vệ, thường thị Dưới cấp quận (châu) thì đặt khu hành chính cấp huyện, các huyện đặt huyện lệnh, phụ quan có: huyện thừa, huyện úy, huyện chính
Thủ đô còn gọi là "Kinh huyện", các huyện căn cứ theo vị trí mà phân thành
"vọng huyện" và "khẩn huyện", hoặc dựa theo hộ khẩu ít hay nhiều mà phân thành bốn hạng: thượng, trung, trung hạ và hạ
Tổ chức cơ sở dưới cấp huyện là hương, lý, bảo, lân; hương đặt chức "kì lão", lý đặt chức "lý chính" "Lý chính" phụ trách khảo sát hộ khẩu, thu và giao đất đai, giám sát sản xuất nông nghiệp Thị trấn có trên 500 hộ thì lập phường, đặt chức phường chính; ở bên ngoài thành thì lập thôn; đặt chức "thôn chính"
Tùy Văn Đế cải cách chế độ bổ nhiệm quan viên địa phương, áp dụng "chế
độ thuyên tự": quan viên địa phương từ hàng cửu phẩm trở lên đều do Lại bộ bổ nhiệm và miễn nhiệm, mỗi năm lại tiến hành khảo hạch Tá lại châu huyện cứ ba năm lại bị hoán đổi, không được phép dùng người địa phương, nhất định phải dùng người nơi khác, do đó ngăn chặn được cường hào địa chủ ở địa phương lũng đoạn chính quyền, giảm thiểu nguy cơ quan thương câu kết, tăng cường khống chế của trung ương đối với địa phương
Về cương vực, triều Tùy, biên giới được mở rộng do quân Tùy đánh diệt, chiếm được lãnh địa
Về Văn hóa
Trang 33Nhà Tùy chủ trương điều hòa tư tưởng Nho gia, Phật giáo và Đạo giáo; đồng thời cũng chủ trương văn học giản thực, phản đối tư tưởng văn học diễm lệ, đề xướng Nho học, khiến học thuyết Nho gia có địa vị không thể thiếu trong việc trị quốc, cổ vũ khuyến học hành lễ, công khai trợ Phật phản Nho
Tử tưởng Phật học phần lớn là duy tâm chủ nghĩa, chủ trương mọi sự nếu thông qua phương pháp tu hành chính xác, sẽ nhanh chóng lĩnh ngộ được điểm quan trọng, từ đó chỉ đạo thực tiễn được chính xác và thu được thành tựu
Cho nên, giai đoạn này, Phật giáo tiến vào giai đoạn cực thịnh Phật giáo trở thành quốc giáo của triều Tùy Triều Tùy tổng cộng cho xây dựng hơn 5 nghìn chùa tháp, tạo hàng vạn tượng Phật, đồng thời phiên dịch hàng vạn kinh Phật, khiến kinh Phật được lưu truyền phân bố hơn rất nhiều lớn so với kinh Nho
Triều đình Tùy thiết lập chế độ “đạo cử”, quy định sĩ nhân cần thông cả Đạo đức kinh, sùng huyền học và huyền học bác sĩ, tuyên giảng đạo thư định kỳ, phái người chỉnh đốn đạo thư và dựa vào phù mệnh để tham dự vào việc thay đổi triều đại (như đạo sĩ Trương Tân từng hiệp trợ triều Tùy kiến quốc)
Thời Tùy, hội họa được xem trọng Tiêu biểu là sự nổi lên của tranh sơn thủy
"Du xuân đồ" được xem là thủy tổ chính thức của tranh sơn thủy có ảnh hưởng lớn đến hội họa hậu thế
Tóm lại, trải qua các cải cách về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã kể trên,
là cơ sở khẳng định Văn minh Trung Hoa thời Tùy đều phát triển phồn vinh, khai
sáng các triều đại tiếp theo trong lịch sử
1.2.1.2 Văn minh Trung Hoa thời Đường
- Sơ lược lịch sử:
Nhà Đường (tiếng Trung; bính âm: Táng Cháo, Hán Việt: Đường triều; tiếng Hán trung đại: Dâng) (18 tháng 6, 618 - 1 tháng 6, 907) là một Triều đại Trung Quốc tiếp nối sau nhà Tùy
Trong những năm Đại Nghiệp thời Tùy Dạng Đế, do chính sách tàn bạo của nhà vua cũng như ba lần đánh Cao Câu Ly thất bại dẫn đến mâu thuẫn giai cấp xảy
Trang 34ra, dân chúng ở các địa phương đồng loạt khởi nghĩa Lý Uyên có công trong việc dẹp vài cuộc nổi loạn mà được Dạng Đế trọng dụng Năm 616, được phái đi làm lưu thủ ở Thái Nguyên để trấn áp quân nổi dậy Ban đầu ông đánh thắng một số trận, song quân khởi nghĩa ngày càng mạnh, mỗi lúc một đông thêm nên khiến ông bối rối Lý Uyên thấy thiên hạ đại loạn, nhà Tùy không thể kéo dài sự thống trị được lâu nữa nên trong thâm tâm đã có dự tính hành động Tuy nhiên ông vẫn do dự không quyết, phải có sự thúc đẩy của mấy người con trai có tài (tiêu biểu là Lý Thế Dân), ông mới hạ quyết tâm Năm 617, Lý Uyên chính thức khởi binh tạo phản tại Tấn Dương (nay thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây)
Tháng 11 năm 617, Lý Uyên cùng người con thứ là Lý Thế Dân phá quân đội của Khuất Đột, đánh lấy Tùy kinh Đại Hưng, lập Dương Hựu làm vua, tức Tùy Cung Đế, cải niên hiệu là Nghĩa Ninh, tôn Dạng Đế là Thái thượng hoàng Lý Uyên xưng là Đại thừa tướng, hiệu là Đường Vương Nhà Đường ra đời
- Những thành tựu chính của nền văn minh Trung Hoa thời nhà Đường
Nhà Đường với kinh đô Trường An (là thành phố đông dân nhất thời bấy giờ, nay là Tây An) được các nhà sử học coi là đỉnh cao trong văn minh Trung Hoa; ngang bằng hoặc vượt trội hơn so với thời kì đầu nhà Hán - một thời kì hoàng kim của văn minh thế giới
Về thể chế chính trị:
Nhà Đường được đánh giá là triều đại mở rộng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ra trường quốc tế Lực lượng quân sự của Trung Quốc thời nhà Đường cũng đạt đến mức hùng mạnh nhất, là giai đoạn vàng của thời đại quân chủ chuyên chế
Lãnh thổ của nhà Đường rất rộng lớn, lúc cực thịnh đạt gấp rưỡi lãnh thổ của nhà Hán nhờ có lực lượng quân đội hùng mạnh và các cuộc chinh chiến quân
sự Trong hai cuộc điều tra trong thế kỷ VII và thế kỷ VIII , dân số trên lãnh thổ nhà Đường được ước tính lên đến 50 triệu người (đây mới là dân số dựa trên số hộ trong
sổ sách, dân số thực có thể còn gấp đôi như vậy) Với số dân lớn như vậy, nhà Đường có một lực lượng quân đội hùng mạnh với binh lính chuyên nghiệp và những thương nhân buôn bán, trao đổi hàng hóa trên toàn bộ khu vực châu Á dọc
Trang 35theo Con đường Tơ lụa nổi tiếng Nhiều nước khác nhau đã triều cống cho triều đình nhà Đường, nhà Đường cũng chinh phục hoặc khuất phục một số khu vực rồi đặt chúng dưới quyền cai trị gián tiếp thông qua một hệ thống bảo hộ Bên cạnh quyền bá chủ về mặt chính trị, nhà Đường cũng có ảnh hưởng lớn đến văn hóa các nước láng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam
Thời kì nhà Đường phần lớn là một giai đoạn tiến bộ và ổn định Vua Đường Thái Tông lo việc trị nước, trọng dụng kẻ can gián mình, lưu lại cho lịch sử một thời đại Đường triều đi lên sự thịnh thế, Đường Thái Tông trở thành bậc đế vương hiếm có một thời Trong việc nội chính, nhà vua thi hành chế độ quân điền, lại thi hành tô dung điều chế để lo về việc chia ruộng đất và đánh thuế Một phần thành công của nhà Đường là nhờ học được cách chiến đấu trước dân du mục Nhà Đường đặc biệt chú trọng đến việc nuôi giống, đưa ngựa chiến vào hàng ngũ quân đội Nhà Đường cũng sẵn sàng trọng dụng các tướng tài xuất thân từ vùng Trung Á
Về quan chế, giống với nhà Tùy, nhà Đường duy trì bộ máy các quan lại
trong triều đình từ các sĩ đại phu thông qua các cuộc thi khoa cử và tiến cử Phát triển hoàn thiện các cơ cấu tam tỉnh và lục bộ cùng với chế độ thi cử tuyển nhân tài
và giảm bớt quyền hạn của hoàng tộc, đả phá sự thống trị thế tập rối ren đời Tùy
Thực hiện chế độ cầu hiền, bất kể giai cấp xuất thân, sử dụng hàng loạt những bậc đại thần có năng lực, sáng suốt và sẵn sàng biết can gián hoàng đế Ngoài ra, Triều đình nhà Đường còn lệnh cho các quan viên khắp nơi đều phải lắng nghe dân tình, cho trăm họ được quyền phát biểu kiến nghị, và phái một số người điều tra về sinh hoạt của các quan để theo dõi biết ai ngay ai gian mà xử lý
Về văn hóa, nghệ thuật:
Văn hóa Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và cường thịnh trong thời kì nhà Đường, đây được coi là thời kì đỉnh cao của thi ca, hay thơ Trung Quốc Hai thi sĩ nổi tiếng nhất Trung Hoa là Lý Bạch và Đỗ Phủ, thuộc về thời kì của Triều đại này, cùng với các họa sĩ nổi tiếng như Hàn Cán, Chương Tuyển và Chu Phương Có một
số lượng lớn các công trình văn học lịch sử, toàn thư và các nghiên cứu về địa
lý được hoàn thành trong thời kỳ nhà Đường
Trang 36Có nhiều đổi mới đáng được công nhận và chú ý dưới thời nhà Đường, trong
đó bao gồm sự phát triển của ngành in mộc bản Trong thời nhà Đường, Phật
giáo có tác động chủ yếu đến văn hóa Trung Quốc, và nhiều giáo phái bản địa trở nên nổi bật Tuy nhiên, về sau triều đình đã ngược đãi Phật giáo và tôn giáo này đã suy giảm tầm ảnh hưởng Mặc dù chính phủ và triều đình nhà Đường suy sụp trong thế kỷ IX, song nghệ thuật và văn hóa vẫn tiếp tục phát triển Triều đình trung ương mục nát nên đã không thể quản lý được nền kinh tế, song việc mậu dịch vẫn không bị ảnh hưởng và thương mại vẫn tiếp tục thịnh vượng
Về kinh tế
Thương nghiệp thời nhà Đường cực kì phát triển mà nhất là trong thời Khai
Nguyên thịnh thế Việc đánh thuế trà cũng bắt đầu được quan tâm thời Đường Các
sản phẩm thủ công nghiệp đời Đường chủ yếu là dệt vải sợi, làm gốm sứ, và rèn kim loại Có nhiều khu thành thị buôn bán lớn với nền kinh tế phát triển vượt bậc Việc giao thông qua lại cũng cực kì phát triển cả đường bộ và đường thủy Bắt đầu trung kì của nhà Đường, đã có những người bán sỉ và những thợ khắc dời xuống nam, buôn bán tấp nập và thậm chí mở cả chợ đêm
Cũng từ thời Đường, mậu dịch hải ngoại bắt đầu hưng thịnh Các thương nhân nước ngoài thường sang buôn bán Triều đình cũng đặt ra Thị bạc ty để đảm đương Việc trưng thu thuế của các thuyền đậu mang lại lợi nhuận cao, đóng góp không nhỏ trong ngân khố quốc gia Lúc bấy giờ, nhà Đường chính thức lập ra các xưởng đúc tiền ban ra tiền "Khai Nguyên thông bảo" Tiền và lụa đều có thể trở thành những vật trung gian để trao đổi
Về ngoại giao, khi nhà Đường sử dụng vũ thành lập Triều đại, đã từng có
quan hệ hữu hảo với các nước lân bang Nhiều lưu học sinh của các nước sang nhà Đường học tập Văn hóa Trung Quốc về sau cũng dần truyền bá vào các nước lân cận, đồng thời việc giao thương biên mậu rất thường xuyên
1.2.2 Bối cảnh lịch sử chính trị Nhật Bản thời Tuỳ - Đường
Trang 37Nhật Bản là một quốc đảo có vị trí quan trọng và tầm ảnh hưởng rộng lớn đối với Châu Á nói chung và khu vực Đông Á nói riêng Những thành công to lớn của Nhật Bản qua những lần cải cách và hiện đại hóa xã hội trong lịch sử đã giúp đất nước này có được những bước tiến nổi bật và vững chắc hơn so với các quốc gia khác trong khu vực Trong lịch sử Nhật Bản có ba cuộc cải cách được xem là ba cột mốc quan trọng làm thay đổi toàn diện bộ mặt của đất nước Thứ nhất là vào thế kỷ thứ VII khi Nhật Bản chuyển đổi những chính sách của mình theo mô hình của nhà Tùy và nhà Đường (Trung Quốc), thứ hai là cuộc cải cách Minh Trị vào cuối thế kỷ XIX trước nguy cơ xâm lược của các nước phương Tây và thứ ba là cuộc cải cách vào nửa sau thế kỷ XX giúp Nhật Bản trở thành siêu cường kinh tế lớn thứ hai trên thế giới Sự thành công vang dội của ba cuộc cải cách này luôn gắn liền với công lao của những nhà lãnh đạo tài ba, đặc biệt là trong cuộc cải cách Minh Trị vào cuối thế kỷ XIX [67, tr.25-26]
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn xin đề cập đến giai đoạn thứ nhất Bối
cảnh lịch sử chính trị Nhật Bản vào thế kỷ thứ VII thời Tuỳ - Đường
Trong lịch sử, Nhật Bản chưa từng bị nước ngoài đô hộ Và cũng may thay, Nhật Bản chưa bao giờ trở thành chư hầu nhược tiểu của đế chế Trung Hoa như một
số nước láng giềng khác, thậm chí nhiều lúc còn mở rộng cửa cho các nhà cách mạng của Trung Quốc và nước khác đến trốn tránh chính quyền đàn áp Có thể nói suốt chiều dài lịch sử, Nhật Bản luôn có điều kiện dành cho mình khả năng tự chủ
và tự do trong việc lựa chọn những khả năng và nhân tố thích hợp cho phát triển chính trị - văn hóa- xã hội và thực sự họ chọn đường đi rất hiệu quả cho mình Có thể nói họ giữ độc lập nhưng biết dùng chính sách tìm cách học hỏi, du nhập từ ngoài để phục vụ mục tiêu: tìm cách đứng được trên vai những người khổng lồ để làm cho mình cao lớn nhanh
Vào thế kỷ thứ VII thời Tuỳ - Đường, Biên niên sử Nhật Bản đã trải qua Thời đại Asuka và Nara (552 – 794) một phần giai đoạn đầu của Thời đại Heian (794- 1185) Tình hình chính trị của từng giai đoạn diễn ra như sau:
Trang 381.2.2.1 Thời kỳ Asuka (538-710)
Thời kỳ Asuka (Phi Điểu thời đại) kéo dài từ năm 538 đến năm 710, mặc dù giai đoạn khởi đầu của thời kỳ này có thể trùng với giai đoạn cuối của thời kỳ Kofun
Thời kỳ Asuka được đặt theo tên vùng Asuka, cách thành phố Nara hiện giờ khoảng 25 km về phía nam Quốc gia Yamato, ra đời trong thời kỳ Kofun, phát triển rất nhanh trong thời kỳ Asuka Nhiều cung điện hoàng gia được xây dựng trong vùng ở thời kỳ này
Thời kỳ Asuka được biết đến với những thay đổi quan trọng về nghệ thuật,
xã hội và chính trị Những thay đổi này có nguồn gốc vào cuối thời Kofun, nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của sự xuất hiện của đạo Phật ở Nhật Bản
Thời kỳ Asuka còn được phân biệt với các thời kỳ khác bởi sự thay đổi tên của quốc gia từ Oa quốc (Yamato) thành Nhật Bản Đứng đầu giai cấp thống trị là Thiên Hoàng có quyền lực rất lớn
Lúc bấy giờ có hai họ quý tộc lớn đấu tranh với nhau là họ Soga và họ Mononobe Cuộc đấu tranh giữa hai họ này, vế hình thức là do sự bất đồng về vấn
đề tiếp thu văn hóa Trung Quốc, nhưng thực chất là cuộc đấu tranh giữa một bên muốn duy trì chế độ nhà nước liên hợp của các dòng họ quý tộc với một bên muốn thiết lập nhà nước trung ương lập quyền Năm 578, cuộc nội chiến giữa hai tập đoàn này xảy ra và kết thúc với sự thắng lợi của họ Soga Từ đó, họ Soga lộng quyền, lấn
át cả Thiên hoàng Để chứng tỏ mình cũng ngang với hoàng gia, họ Soga lấy tước vị của thái tử (con vua) đem phong cho con mình, bắt thiên hạ phải gọi con mình bằng tước chứ không được gọi tên, đồng thời còn xây dựng lâu đài to lớn, nguy nga như cung điện của Thiên hoàng Trước tình hình đó, Thái tử Shotoku đã thi hành nhiều biện pháp để củng cố chế độ trung ương tập quyền Ông hết sức đề xướng Phật giáo
và tiếp thu tư tưởng chính trị Nho gia Vào đầu thế kỷ VII, Thiên hoàng Nhật Bản
đã tự coi mình ngang hàng với hoàng đế Trung Quốc Cũng từ thời kỳ này, những nhân tố ngoại lai đóng một vai trò quan trọng đối với lịch sử phát triển Nhật Bản
Đó là những ảnh hưởng của chính trị, giáo dục, đặc biệt là pháp lý, các học thuyết
Trang 39chính trị của Trung Quốc; ảnh hưởng Phật giáo từ Trung Quốc qua Triều Tiên vào Nhật Bản Giáo hội Phật giáo có tổ chức tôn ti và có tính chất tập trung, là một thứ khuôn mẫu cho nhà nước phong kiến Sự thống nhất thờ phụng và ý nghĩa tuyệt đối của thần tối cao (Phật) đã góp phần khắc phục những tàn dư của tính chất phân tán thị tộc bộ lạc cũ [38, tr.303-306]
Như vậy, các cố gắng đầu tiên để tạo nên hiến pháp và một hệ thống giai cấp chính thức Bên cạnh đó, Phật giáo xuất hiện đánh dấu một thay đổi lớn trong xã hội Nhật Bản và những cuộc vận động tranh giành quyền lực trong triều đình đã dẫn đến một cuộc lật đổ sự kiểm soát của dòng họ Soga, sau đó là sự cầm đầu giành lại quyền kiểm soát triều chính từ tay gia đình Soga của Thái tử Shotoku đã mở đầu cho cuộc cải cách Taika
* Cuộc cải cách Taika và sự thiết lập chế độ phong kiến
Từ thế kỷ thứ VI, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia thống nhất Sản xuất bước đầu phát triển nhờ áp dụng nhiều cải tiến kỷ thuật Trong nông nghiệp người
ta sử dụng rộng rãi các công cụ sắt và đồng, xây dựng và mở rộng nhiều công trình tưới nước Nhiều nghề thủ công phát triển, nhất là các nghề sản xuất tơ lụa và đóng thuyền Hoạt động thương nghiệp bước đầu được đẩy mạnh cả ở trong nước và cả ở bên ngoài như với Trung Quốc và Triều Tiên Tuy nhiên, sự phát triển của sản xuất chỉ làm giàu thêm cho tầng lớp quý tộc, còn quần chúng nhân dân vẫn cực khổ vì bị
áp lực nặng nề và tàn khốc Những cuộc phản kháng của quần chúng lao động thường xuyên xảy ra, thông thường là bỏ trốn Chế độ bộ dân bắt đầu có những dấu hiệu tan rã Tình hình trên chứng tỏ rằng, vào cuối thế kỷ VI, đầu thế kỷ VII Nhật Bản đang chuyển mình sang xã hội phong kiến
Người dặt nền móng cho những thay đổi đó là Thái tử Shotoku với đạo luật
17 điều và nhiều chính sách tiến bộ của ông Tuy là một con người cực kỳ tài năng
và sáng suốt, nhưng do những điều kiện lịch sử, ông đã không thực hiện được những dự định của mình và do vậy vẫn chưa có một sự thay đổi lớn trong nền chính trị Nhật Bản dưới thời ông Sau khi ông qua đời năm 622, dòng họ Soga trở nên mạnh hơn và ngày càng lộng hành tới mức lũng đoạn chính quyền của Thiên hoàng,
Trang 40chiếm nhiều ruộng đất, khống chế nhiều bộ dân và trở thành chướng ngại chủ yếu trên con đường phát triển của Nhật Bản lúc đó Vì vậy, chỉ có tiêu diệt thế lực của
họ Soga thì mới thực hiện được những dự định của Shotoku
Cuối cùng, vào năm 645, hoàng tử Nakaoe được sự ủng hộ của họ Nakatomi (sau đổi thành họ Fujiwara) đã làm một cuộc chính biến lật đổ thế lực họ Soga Ngay sau đó, hoàng tử Nakaoe lập Thiên hoàng Kotoku (Hiếu Đức Thiên hoàng), đặt niên hiệu là Taika (Đại Hóa), còn mình thì làm Thái tử nhiếp chính
Một năm sau khi lên ngôi, vào năm 646 Thiên hoàng Kotoku đã ban chiếu cải cách và liền đó ban hành những luật lệnh cụ thể Lịch sử Nhật Bản gọi đó là cải cách Taika (646-649), một cuộc cải cách do tầng lớp quý tộc thực hiện dựa vào các luận thuyết chính trị của Shotoku
Một nội dung chủ yếu nữa trong cuộc cải cách Taika là xây dựng nhà nước tập quyền trung ương, giống như bộ máy nhà nước với đời Đường (Trung Quốc) Cải cách Taika được các sử gia phong kiến Nhật Bản ca ngợi như là một ân huệ của Thiên hoàng đối với nhân dân Nhật Bản thời đó
Như vậy, sau cải cách, nền tảng căn bản của chế độ phong kiến ở Nhật Bản
đã được xây dựng Với ý nghĩa đó, cải cách Taika được coi là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu sự củng cố chế độ phong kiến ở Nhật Bản [28, tr.306-309]
An Kinh), hoặc Kyoto (Kinh Đô), một thập niên sau vào năm 794 Kinh đô Nara