1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập quản lý Công nghệ

4 313 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dẫn chứng:Về công nghệ: Theo số liệu thống kê của sáu tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu 6,16 tỉ đô la Mỹ hàng dệt, may nhưng cũng nhập lại 5,7 tỉ đô la Mỹ nguyên phụ liệu.. Như vậy

Trang 1

Dẫn chứng:

Về công nghệ: Theo số liệu thống kê của sáu tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu

6,16 tỉ đô la Mỹ hàng dệt, may nhưng cũng nhập lại 5,7 tỉ đô la Mỹ nguyên phụ liệu Trong đó, nhập khẩu xơ và sợi chỉ gần 800 triệu đô la Mỹ, còn lại chủ yếu là giá trị vải nhập khẩu Với giá vải dao động quanh mức 2,2- 4,5 đô la Mỹ/mét vuông tùy loại, có thể thấy lượng vải nhập về Việt Nam sáu tháng đầu năm nay đã lên đến con số tỉ mét vuông Bên cạnh đó, chất lượng của sản phẩm dệt trong nước cũng là rào cản lớn Lãnh đạo nhiều công ty may đều có chung quan điểm là vải sản xuất trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và yếu tố thẩm mỹ Trở ngại chính là ở mô hình xuất khẩu của ngành may và yếu kém nội tại của ngành dệt, hay nói chính xác hơn là doanh nghiệp dệt trong nước Như vậy chúng ta hoàn toàn có thể giảm lượng vải nhập khẩu nếu có những

bí quyết công nghệ, chủ yếu ở khâu in nhuộm và hoàn tất, mà Việt Nam chưa có được, hệ thống thiết bị công nghệ hiệu quả và đội ngũ lao động lành nghề để phát triển ngành dệt trong nước cũng như cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành may xuất khẩu -Có tới 90% sản phẩm của ngành da giày Việt Nam được xuất khẩu, trong đó chủ yếu là

EU và Bắc Mỹ Trong khi đó, với trên 60% nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu là nguyên liệu chính, giá trị thặng dư mà ngành da giày thu về thực chất không đáng là bao so với kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ USD mỗi năm Công nghệ thuộc da trong nước hiện có hơn

20 doanh nghiệp Việt Nam và 5 doanh nghiệp nước ngoài, tuy nhiên năng lực cũng như

công suất còn rất hạn chế Điều này lý giải vì sao ngành da giày Việt Nam phải nhập

khẩu phần lớn nguyên liệu

Nước ta có nguồn tài nguyên dồi dào, rừng vàng biển bạc Với chiều dài hơn 3620 km bờ biển, tài nguyên biển đa dạng, tài nguyên rừng và sinh vật phong phú, song việc khai thác không hợp lí, hạn chế về công nghệ đã làm nguồn tài nguyên dần cạn kiệt, ô nhiễm môi

trường,… Ví dụ như quặng sắt:ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện và khoanh định được

trên 216 vị trí có quặng sắt, có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn, phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc.Hàng năm, số lượng quặng sắt khai thác và chế biến ở Việt Nam đạt từ 300.000 – 450.000 tấn.Công suất khai thác của mỏ hiện nay là thấp hơn rất nhiều so với công suất thiết kế được phê duyệt Công nghệ và thiết bị khai thác, chế biến ở mức trung bình, một số thiết bị khai thác cũ và lạc hậu, nên công suất bị hạn chế

Trang 2

và không đảm bảo khai thác hết công suất theo các dự án được phê duyệt Các mỏ cấp giấy phép tận thu không có thiết kế khai thác, hoặc có nhưng khi khai thác không theo thiết kế Vì chạy theo lợi nhuận trước mắt, các doanh nghiệp khai thác tận thu đã làm tổn thất tài nguyên (Không thu được quặng cám cỡ hạt từ 0-8mm) và môi trường bị ảnh hưởng.Hầu hết ở các mỏ kim loại, về kỹ thuật chưa được chú ý, đa số áp dụng hệ thống khai thác lộ thiên với công nghệ ôtô - máy xúc Đây là loại hình công nghệ cổ điển, giá thành cao Các thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác và vận tải không đảm bảo Từ khi có chủ trương khai thác mỏ nhỏ, khai thác tận thu, hàng loạt các công trường khai thác thủ công mọc lên như khai thác vàng, đá quý, thiếc, mangan, sắt, In-me-nhít… Phương pháp khai thác thủ công hầu như không có cơ sở khoa học về công nghệ Một số

xí nghiệp khai thác cơ giới cũng chuyển sang khai thác thủ công như mỏ thiếc Tĩnh Túc, Sơn Dương, Bắc Lũng, Crômit Cổ Định, do cạn kiệt tài nguyên hoặc do quy mô khai thác giảm, không chịu nổi chi phí của khai thác cơ giới Phương pháp khai thác thủ công và bán cơ giới đã tác động xấu đến môi trường sinh thái và gây lãng phí tài nguyên Về tuyển khoáng cũng được thay thế công nghệ tuyển cơ giới tập trung bằng những xưởng tuyển “mini” thủ công hoặc bán cơ giới Hình thức này bao trùm hầu hết các ngành khai thác khoáng sản kim loại như thiếc, vàng, crômit, mangan….Vấn đề đặt ra là cần có công nghệ nhập khẩu để sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

Về nhân lực: Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọng nhất

quyết định sức mạnh của một quốc gia Bởi chúng ta biết rằng mọi của cải vật chất đều được làm nên từ bàn tay và trí óc của con người

Nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay mạnh về số lượng, song rất yếu về chất lượng,

kỹ năng Do vậy rất khó khăn cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật từ bên ngoài, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Việt Nam chúng ta đang

có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước hơn 89 triệu người (theo báo cáo Tình hình Dân số thế giới năm 2010 của Liên Hiệp Quốc), đứng thứ 14 trong số những nước đông dân nhât thế giới Trong đó số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67% dân số cả nước Cơ cấu Dân số vàng ở nước ta bắt đầu đầu xuất hiện từ năm 2010 và kết thúc vào năm 2040, kéo dài trong khoảng 30 năm Rõ ràng Việt Nam

Trang 3

đang có thế mạnh lớn về nguồn lực lao động nhưng tại sao chúng ta vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong việc thúc đẩy kinh tế đi lên? Có nhiều nguyên nhân lí giải cho vấn đề này, trong đó chất lượng nguồn nhân lực hiện nay của nước ta được xem là nguyên nhân mấu chốt

Tuy nhiên, nước ta đang thiếu lao động trình độ cao

+ Hiện nay, Việt Nam có hơn 58 triệu người trong độ tuổi lao động

+ Lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 30%, 70% là lao động phổ thông Việt Nam thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao và lao động dịch vụ cao cấp trong các ngành tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng nên nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài trong khi lao động xuất khẩu đa phần có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc mới chỉ qua giáo dục định hướng

+ Theo đánh giá của một số chuyên gia về lao động, lĩnh vực thiếu hụt nhân sự nghiêm trọng nhất là công nghệ thông tin, tài chính, kiểm toán, luật và hầu hết các ngành công nghiệp Ngoài ra, nhiều người lao động chưa có trình độ ngoại ngữ đủ để làm việc, dù rằng trên thực tế tình trạng này đang được cải thiện nhờ ngày càng có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam cũng như một số người Việt được đào tạo ở nước ngoài quay về nước làm việc

Như chúng ta đã biết, trong 89 triệu người ở Việt Nam thì nông dân chiếm gần khoảng 73% dân số cả nước Điều này cho thấy nông dân vẫn là lực lượng lao động xã hội chiếm

tỉ lệ cao nhất (Nông dân ta bao đời nay vẫn lấy nghề trồng lúa là nghề chính Họ vẫn đang sản xuất một cách tự phát, manh mún Họ vẫn cứ nghĩ rằng trồng lúa là nghề dễ nhất, không cần học cũng làm được, thế là cứ từ đời này nối tiếp đời kia họ tự trồng như vậy Nhìn vào thực tế sản xuất của nông dân ta thấy rằng dù đã mấy nghìn năm phát triển

xã hội nhưng cách trồng lúa của người Việt hôm nay cũng chưa tiến bộ hơn cách trồng lúa của người Việt xưa là mấy, vẫn còn tồn tại cái cảnh “ con trâu đi trước cái cày theo sau”) Mặc dù bây giờ đã có sự liên kết nhà khoa học với nhà nông nhưng cũng chưa tạo đựơc những đột phá đem lại hiệu quả Hiện nay, nông dân đã mở ra nhiều ngành nghề để tạo việc làm và thu nhập nhưng hiệu quả kinh tế vẫn chưa cao nguyên nhân là còn thiếu

áp dụng các khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất vì vẫn nặng với cái kiểu tư duy “nghĩ sao làm vậy” Rõ ràng nguồn lực nông dân dồi dào nhưng chất lượng vẫn còn yếu kém

Trang 4

Về nguồn nhân lực công nhân thì hiện nay số lượng giai cấp công nhân Việt Nam có khoảng 5 triệu người, chiếm 6% dân số cả nước.Như vậy lực lượng công nhân Việt Nam còn quá ít Đã vậy công nhân có tay nghề cao lại chiếm tỷ lệ thấp so với đội ngũ công nhân nói chung Số công nhân có trình độ văn hóa, tay nghề, kĩ thuật rất ít Theo thống kê công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở nước ta chiếm khoảng 3,3% đội ngũ công nhân nói chung Tỉ lệ này khiến chúng ta phải suy nghĩ Chính vì trình độ văn hoá tay nghề thấp nên đa số công nhân không đáp ứng tốt yêu cầu công việc Điều này dẫn đến sự mất cân đối về lao động ở các doanh nghiệp Doanh nghiệp không thiếu người nhưng lại thiếu những công nhân có tay nghề để đảm bảo những khâu kĩ thuật quan trọng trong dây chuyền sản xuất Hệ quả kéo theo của vấn đề này là đồng lương công nhân bị thấp đi, đời sống không được đảm bảo, địa vị công nhân trong đời sống xã hội cũng không cao Với tình hình đó nguồn lực công nhân chưa thể đóng vai trò chủ đạo trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Về tình hình xuất khẩu: Nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm

của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 ở mức cao, đạt 19%/năm.Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua phát triển chưa bền vững Giá trị gia tăng của hàng hoá xuất khẩu còn thấp do chủ yếu dựa vào khai thác các yếu tố về điều kiện tự nhiên và nguồn lao động rẻ, tập trung xuất khẩu sản phẩm thô, sơ chế Đáng chú ý, mở rộng xuất khẩu đang có nguy cơ làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và

ô nhiễm môi trường Chúng ta xuất khẩu chủ yếu tại những nước phát triển trong khi lại nhập khẩu máy móc công nghệ và nguyên vật liệu ở những nước kém phát triển Điều này tạo nguy cơ làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế )

Ngày đăng: 26/09/2015, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w