1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề Cương môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh

15 1,7K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Bài tập lớn
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 142,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi: Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?

Trang 1

Trường: Đại học Kinh tế Quốc dân

Bộ môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh

Lớp tư tưởng Hồ Chí Minh_21

BÀI TẬP LỚN

Đề bài:

Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trang 2

Đề cương bài tập lớn:

Lời mở đầu giới thiệu vấn đề nghiên cứu.

1 Lí luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin.

1.1.Theo Mác:

1.1.1. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất => Đi

từ thống nhất đến khác biệt và đối lập, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất => Lực lượng sản xuất được xã hội hóa, chuyên môn hóa càng cao, quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất phát triển phù hợp với lực lượng sản xuất => Khi có sự tiến bộ về tư liệu sản xuất => Phát triển về quan hệ sản xuất thông qua chế độ công hữu về tư liệu sản xuất

1.1.2 Quan hệ sản xuất độc lập tương đối và tác động trở lại lực lượng sản xuất.

=> xã hội cũ bị thay thế bằng xã hội mới => Nguồn gốc sâu xa của toàn bộ các hiện tượng xã hội => Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1.1.3 Theo Mác đi lên CNXH là quá trình trực tiếp từ các nền TBCN ở trình độ cao, không trải qua thời kì quá độ=> phản ánh trình độ tuần tự=>quá trình ngắn và trực tiếp

1.2 Theo Lê-nin.

1.2.1 Từ xã hội cũ thành xã hội mới => Gián tiếp từ nước chậm phát triển (các

nước tiền tư bản) bỏ qua chủ nghĩa tư bản tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội => Thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

1.2.2 Sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế trong quá trình xây

dựng chủ nghĩa xã hội => trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ có sự xen kẽ của những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội => Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế

2 Kinh nghiệm thế giới.

2.1 Kinh nghiệm ở Liên Xô.

2.1.1 Hoàn cảnh chính sách kinh tế NEP:Cuối năm 1920 nội chiến kết thúc

=> Thời kì kiến thiết hòa bình nên chính sách kinh tế cộng sản thời chiến(trưng thu

Trang 3

lương thực thừa) không phù hợp => Kinh tế khủng hoảng => Chính sách kinh tế mới NEP=>bãi bỏ trưng thu,tự do mua bán,mở đường cho thương nghiệp=>áp dụng các hình thức khác nhau của chủ nghĩa TB=>quan hệ hàng hóa-tiền tệ=>điện khí hóa đất nước=>tăng cường củng cố chính quyền và mối liên minh công nông về chính trị

2.1.2.S thành công c a chính sách kinh t m i ự thành công của chính sách kinh tế mới ủa chính sách kinh tế mới ế mới ới => Khôi phục nhanh

chóng nền kinh tế sau chiến tranh, khắc phục được khủng hoảng kinh tế và chính trị =>bài học:hoàn cảnh đất nước tương tự(xuất phát điểm thấp, có chiến tranh) cho thấy một mô hình đầu tiên, những công việc cần làm khi bước và thời kì quá độ

3 Thực tiễn Việt Nam.

3.1 Hoàn cảnh Việt Nam: nền nông nghiệp lạc hậu,tiến lên XHCN không qua

giai đoạn TBCN=>mẫu thuẫn, khó khăn, phức tạp, thể hiện trong tất cả các mặt của đời sống KT-XH

HCM chú trọng tới mâu thuẫn cơ bản của thời kì quá độ: mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng KT-XH quá thấp kém của đất nước

3.2 Nhiệm vụ cấp thiết của thời kì quá độ đi lên CNXH là một quá trình dần

dần, khó khăn và dài lâu Bao gồm 2 nội dung:

xây dựng nền tảng vật chất và kĩ thuật cho CNXH, xây dựng các tiền đề về KT-XH-VH-tư tưởng

cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng trong đó lấy xây dựng làm trọng tâm, làm cốt yêu, chủ chốt, lâu dài

4 Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

4.1 Tính tất yếu khách quan và vai trò của nền kinh tế nhiều thành phần

HCM nhận thức rõ phải xây dựng nền KT nhiều thành phần trong thời kì kháng chiến chống Pháp=> đường lối”toàn dân, toàn diện, trường kì tự lực cánh sinh”=>tạo

ra nhiều sản phẩm vật chất phục vụ cho cuộc chiến còn dài lâu và để đoàn kết toàn dân

Trang 4

4.2 Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần (nội dung).

Người chỉ rõ 6 thành phần kinh tế trong nền KT nhiều thành phần

Người xác định rõ vị trí và xu hướng vận động của từng thành phần kinh

tế => Hồ Chí Minh còn rất coi trọng quan hệ phân phối và quản lý kinh tế => Nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế quốc doanh là trọng tâm => Định hướng chủ nghĩa xã hội

5.Tính đúng đắn của chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần của

Hồ Chí Minh (thực tiễn chứng minh)=> sự kiện đánh dấu đổi mới:đại hội đại biểu toàn quốc lần VI(tháng 12/1986).

5.1.Kinh tế Việt Nam trước đổi mới.

5.2.Kinh tế Việt Nam sau đổi mới.

Kết luận.

Trang 5

Lời mở đầu

Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cách vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lenin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và trong thực tế Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng Cộng Sản và của dân tộc Việt Nam

Hồ Chí Minh là người đầu tiên chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Chủ trương ấy của Người

là hoàn toàn đúng đắn, thực tế phát triển kinh tế của Việt Nam đã chứng minh điều ấy

1 Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

1.1Theo Mác

1.1.1 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất.

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội

Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động

Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất

Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất

là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó

có nghĩa là nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động

Trang 6

với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế C.Mác đã viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có… trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” Nhưng rồi quan hệ sản xuất mới này sẽ lại trở nên không còn phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển hơn nữa, sự thay thế phương thức sản xuất lại diễn ra

Quan hệ sản xuất độc lập tương đối và tác động trở lại lực lượng sản xuất.

Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển

và ứng dụng khoa học và công nghệ,… và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phải giản đơn Nó phải thông qua nhận thức và vận động cải tạo xã hội của con người Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất

1.1.2 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Theo quan điểm của Mác quá độ lên chủ nghĩa xã hội là loại hình quá độ trực tiếp

từ các nước tư bản phát triển ở trình độ cao Đây là loại quá độ phản ánh quá trình

Trang 7

phát triển tuần tự của xã hội loài người Thời kỳ này bắt đầu từ khi giai cấp vô sản dành chính quyền, đập tan Nhà nước tư sản, thiết lập Nhà nước vô sản (quan hệ sản xuất cũ mâu thuẫn với lực lượng sản xuất nên dẫn đến một cuộc cách mạng xã hội

để thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn) Đây là thời kỳ quá độ ngắn và trực tiếp

1.2 Theo Lênin

1.2.1 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Ngoài loại hình quá độ trực tiếp như Mác đã nghiên cứu, Lênin còn đề cập tới con đường quá độ gián tiếp từ các nước chậm phát triển (các nước tiền tư bản) bỏ qua chủ nghĩa tư bản tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội loại hình quá độ này phản ánh quy luật nhảy vọt với hai điều kiện: Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo (trở thành Đảng cầm quyền) và được một hay nhiều nước tiên tiến giúp đỡ Đây

là loại hình quá độ dài trải qua nhiều bước quá độ

1.2.2 Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ

Sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được V.I.Lênin đề cập ngay từ những ngày đầu của chính quyền Xô viết Theo Lênin, trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ có sự xen kẽ của “những yếu

tố, những bộ phận nhỏ, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội” Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ sẽ không thuần nhất và ở đó vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế đan xen và tác động lẫn nhau, đó là những yếu tố của năm thành phần kinh tế xã hội khác nhau (kinh tế gia trưởng, tiểu sản xuất hàng hóa, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội)

2 Kinh nghiệm thế giới

2.1 Kinh nghiệm ở Liên Xô

2.1.1 Chính sách kinh tế mới (NEP)

Trong cuộc nội chiến (1917-1921), Lenin thông qua Cộng sản thời chiến, bắt buộc giải tán các bất động sản ruộng đất và sự cưỡng ép tịch thu thặng dư nông nghiệp Cuộc nổi loạn Kronstadt là dấu hiệu cho Cuộc chiến tranh chủ nghĩa cộng sản không được dân chúng ủng hộ ở vùng nông thôn: tháng Ba 1921, vào thời điểm cuối của cuộc nội chiến, các thuỷ thủ bị vỡ mộng, các nông dân ban đầu từng là những người ủng hộ tích cực của Bolshevik thời chính phủ lâm thời, nổi loạn chống chính quyền mới Mặc dù Hồng quân, dưới sự chỉ huy của Leon Trotsky, vượt qua biển Baltic băng giá và nhanh chóng tiêu diệt cuộc nổi loạn nhưng dấu hiệu về sự bất mãn ngày càng lớn đã buộc chính quyền dưới sự lãnh đạo của Lenin phải tạo điều kiện thuận lợi cho một liên minh rộng lớn của tầng lớp lao động và nông dân (tám mươi phần trăm dân số), mặc dù các bè phái cánh tả trong đảng thích một chính quyền được đại diện và có lợi ích dành riêng cho giai cấp vô sản hơn

Ngày 8-3-1921, tại Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga, V.I.Lê-nin - lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân Nga và cách mạng thế giới đã đề xướng với Đảng việc áp dụng Chính sách kinh tế mới (NEP) và đã được Đại hội chấp thuận

Trang 8

NEP bao gồm nhiều nội dung liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, biểu hiện tập trung nhất trên năm vấn đề cơ bản, đó là:

1) Thực hiện chế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coi thương nghiệp là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh tế giữa công nghiệp với nền nông nghiệp hàng hoá, giữa thành thị với nông thôn, và sự liên minh giai cấp về kinh tế giữa công nhân với nông dân;

2) Áp dụng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đó là mắt xích trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội;

3) Sử dụng các các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thực hiện khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với mọi người lao động, khai thác mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới;

4) Thực hiện kế hoạch điện khí hoá nước Nga, coi đó như một trong những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa;

5) Củng cố Chính quyền Xô viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợp chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế; thực hiện chế độ kiểm kê kiểm soát của nhà nước chuyên chính vô sản đối với đời sống kinh tế - xã hội, trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông về chính trị

Xét một cách tổng quát, NEP chính là sự thực hiện những nguyên lý của chủ nghĩa Mác về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện của một nước tiểu nông, ở đó những quan hệ kinh tế tư sản tuy đã hình thành nhưng chưa đạt đến độ chín muồi để chiến thắng các quan hệ kinh tế cũ, các quan hệ kinh tế của nền sản xuất tiểu nông còn chiếm đại bộ phận trong nền sản xuất xã hội Muốn thực hiện tư tưởng xoá bỏ chế độ tư hữu với tính cách là "chế độ sở hữu cổ truyền" không thể

"tiến công trực diện", phải có cách làm khác Theo cách diễn đạt của V.I.Lê-nin, đó

là "thực hiện những bước lùi cần thiết" Bước lùi đó chính là việc thiết lập một hệ thống sở hữu hợp quy luật làm cơ sở cho các thành phần kinh tế còn tồn tại khách quan, giải phóng tối đa sức sản xuất của xã hội đang bị kìm hãm…

2.1.2 Sự thành công của chính sách kinh tế mới

Trong giai đoạn NEP, sản lượng nông nghiệp không chỉ hồi phục ở mức đã đạt được trước cách mạng Bolshevik mà còn tăng trưởng mạnh Việc phá bỏ các lãnh địa gần như phong kiến tại các vùng nông thôn ở thời Sa Hoàng trước đây cho phép nông dân có được sự khích lệ lớn nhất từ trước tới nay để tăng cao sản xuất Khi đã

có thể bán thặng dư của họ ra thị trường tự do, sự chi tiêu của nông dân tạo ra một

sự bùng nổ trong các lĩnh vực sản xuất tại các vùng đô thị Kết quả của NEP và sự xoá bỏ lãnh địa trong thời gian Đảng cộng sản củng cố quyền lực từ 1917-1921 là Liên bang sô viết trở thành nhà sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới

Ở vào thời điểm đó, thực hiện NEP tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga là một quyết định dũng cảm, táo bạo, sáng suốt của V.I.Lê-nin và những người Cộng sản Nga NEP không thuần tuý là một chính sách kinh tế với ý nghĩa là một công cụ quản lý vĩ mô về kinh tế - xã hội của Chính quyền Xô viết, nó có tầm rộng

Trang 9

lớn mang tính chất một giải pháp cơ bản có tính tổng thể về kinh tế, chính trị, xã hội,

để cải cách kinh tế Nhờ NEP, nước Cộng hoà được giải thoát khỏi một cuộc khủng hoảng để thực hiện những công việc của một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh bắt tay vào công việc cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chế độ mới, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản, củng cố liên minh công nông… những công việc chủ yếu của một đất nước khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

3 Thực tiễn Việt Nam

3.1 Hoàn cảnh của Việt Nam

Đặc điểm Hồ Chí Minh khẳng định lớn nhất khi nước ta bước vào quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Do vậy lực lượng sản xuất còn ở trình độ thủ công, tính chất

cá nhân hóa Đặc điểm này thâu tóm đầy đủ những mâu thuẫn, khó khăn, phức tạp

và chi phối tất cả những đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế xã hội quá thấp kém của nước ta

3.2 Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Theo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất tiên tiến, hiện đại Thực chất của quá trình cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp trong điều kiện mới, khi mà nhân dân ta hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân chủ, so sánh lực lượng trong nước và quốc tế đã có những biến đổi Điều này đòi hỏi áp dụng toàn diện các hình thức đấu tranh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm chống lại các thế lực đi ngược lại con đường xã hội chủ nghĩa

Theo Hồ Chí Minh, do những đặc điểm và tính chất quy định, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bao gồm hao nội dung lớn:

Một là, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng các tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội

Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong

đó lấy xây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, chủ cốt, lâu dài

4 Quan điểm Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

4.1.1 Cơ cấu các thành phân kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH

Trang 10

Trên cơ sở tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và nghiên cứu thực tiễn các nước khác cũng như thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh nhận thức rõ tính tất yếu của của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, để xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp thực hiện đường lối kháng chiến “ toàn dân, toàn diện , trường kỳ và tự lực cánh sinh” bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, trước hết là lương thực thực phẩm cho cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã xác định nước ta phải phát triển 6 thành phần kinh tế khác nhau ,gồm:

- kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô

- kinh tế quốc doanh có tính chất xã hội chủ nghĩa

- kinh tế hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, các hội đổi công nông thôn,

có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa

- kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ

- kinh tế tư bản của tư nhân

- kinh tế tư bản quốc gia

4.1.2 Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế và định hướng XHCN của nền kinh tế nhiều thành phần.

Không những chỉ ra 6 thành phần kinh tế mà Hồ Chí Minh còn nói rõ xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế đó Mặc dù thành phần kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô là thành phần kinh tế đã lỗi thời, nhưng để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, thu hút số địa chủ vừa và nhỏ tham gia kháng chiến, Hồ Chí Minh chủ trương chỉ thực hiện chế độ giảm tô, giảm tức nhằm hạn chế dần sự bóc lột và tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này đóng góp cho cuộc kháng chiến

Hồ Chí Minh rất coi trọng thành phần kinh tế quốc doanh tồn tại ở các cơ sở sản xuất kinh doanh của Nhà nước Đây là thành phần kinh tế mới ra đời trong chế độ dân chủ mới Theo Hồ Chí Minh “Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của nền kinh tế dân chủ mới, cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó”

Thành phần kinh tế tư bản tư nhân, theo Hồ Chí Minh là thành phần kinh tế của giai cấp tư sản dân tộc, mặc dù giai cấp tư sản có bóc lột đối với giai cấp công nhân, nhưng họ cũng góp phần vào phát triển kinh tế, góp công góp của cho cuộc kháng chiến Và Người khẳng định Chúng ta không chủ trương giai cấp tranh đấu vì một lẽ tầng lớp tư sản Việt Nam đã bị kinh tế thực dân đè nén không cất đầu lên được, khiến cho kinh tế Việt Nam đã bị tiêu diệt, dân cùng tài tận Trái lại, chúng ta chủ trương làm cho tư sản Việt Nam phát triển

Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và tư bản nhà nước , quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là : Chính phủ cần phải giúp họ phát triển Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân Trong tác phẩm Thường thức chính trị ( xuất bản năm 1953 ), Người cho rằng Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân Đây chính là sự

Ngày đăng: 17/04/2013, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w