Moät baùn ñaûo ôû Nam AÙ, thôøi coå trung ñaïi goàm caû Pakixtan, Baênglañet vaø Neâpan ngaøy nay Baéc giaùp Hymalaya; Ñoâng, Taây, Nam giaùp ñaïi döông. Coù hai soâng lôùn: soâng Aán (# 2900km) vaø soâng Haèng (3.090km) Coù 3 phöùc hôïp ñòa hình lôùn: Vuøng nuùi Hymalaya, vuøng ñoàng baèng Aán Haèng vaø cao nguyeân Deccan phía Nam AÁn Ñoä. Nhieàu vuøng khí haäu khaùc bieät lôùn: Baéc AÁn vôùi Hymalaya coù tính oân ñôùi vì naèm ôû trung taâm ( löôïng möa trung bình 2000mm/naêm). Caùch Hymalaya khoûang 100km laø sa maïc Thar noùng boûng. Nam Aán gaàn xích ñaïo laø nhieät ñôùi ñieån hình ít möa, Ñoâng Aán & Taây Aán aûnh höôûng khí haäu ñaïi döông. Coù nhieàâu röøng nuùi cung caáp vaät lieäu phong phuù: goã, tre, ñaù…
Trang 1KIẾN TRÚC ẤN ĐỘ
Trang 2I/ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
KIẾN TRÚC ẤN ĐỘ:
I.1- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
I.2- LỊCH SỬ XÃ HỘI ẤN ĐỘ
I.3- TÔN GIÁO ẤN ĐỘ
Trang 3I.1- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
Một bán đảo ở Nam Á, thời cổ
trung đại gồm cả Pakixtan,
Bănglađet và Nêpan ngày nay
Bắc giáp Hymalaya; Đông, Tây,
Nam giáp đại dương.
Có hai sông lớn: sông Aán (#
2900km) và sông Hằng
(3.090km)
Có 3 phức hợp địa hình lớn: Vùng
núi Hymalaya, vùng đồng bằng
Aán Hằng và cao nguyên Deccan
phía Nam Ấn Độ.
Nhiều vùng khí hậu khác biệt
lớn: Bắc Ấn với Hymalaya có
tính ôn đới vì nằm ở trung tâm
( lượng mưa trung bình
2000mm/năm) Cách Hymalaya
khỏang 100km là sa mạc Thar
nóng bỏng Nam Aán gần xích đạo
là nhiệt đới điển hình ít mưa,
Đông Aán & Tây Aán ảnh hưởng
khí hậu đại dương.
Có nhiềâu rừng núi cung cấp vật
liệu phong phú: gỗ, tre, đá…
Trang 5I.2- LỊCH SỬ XÃ HỘI ẤN ĐỘ:
Ấn Độ có dân số đông thứ 2 trên thế giới
Dân Dravida là dân tộc bản địa, dân tộc Arya đóng vai trò chủ thể
* Đầu thiên niên kỷ III TCN đến giữa thiên niên kỷ II TCN(thời kỳ tiền sử): (thời kỳ văn minh lưu vực sông Aán )
– 1920 khai quật phát hiện Mohenjo Daro và Harappa là 2 thành phố cổ
– Lịch sử cụ thể thời kỳ này chưa biết được
– Người Dravida đã có mặt là cư dân bản địa
Đặc điểm :
có nền văn minh đô thị với đồ đồng phát triển cao
nhân tố tôn giáo chưa chi phối mạnh văn hóa (2 thành phố này không có những công trình tôn giáo)
nhiều công trình công cộng phục vụ cho cuộc sống con người
Trang 6 * Giữa thiên niên kỷ II
TCN đến giữa thiên niên kỷ I TCN: (Thời kỳ Vêđa)
– Chủ nhân của thời kỳ này là người Arya sống tập trung ở lưu vực sông Hằng di cư từ
Trung Á vào
– Xuất hiện chế độ đẳng cấp (Varna) và đạo Bà La môn
ảnh hưởng quan trọng và lâu dài trong xã hội Ấn Độ
Trang 7 * Từ giữa thiên niên kỷ I TCN đến thế kỷ XIII SCN:
– Thế kỷ VI TCN bắt đầu có sử sách ghi chép về tình hình chính trị
– Đạo Phật ra đời thế kỷ V TCN
– Thời vua Axôca thuộc vương triều Morya là thời kỳ cường thịnh
nhất và Phật giáo trở thành quốc giáo
* Từ thế kỷ XIII SCN đến thế kỷ XIX SCN:
– 1200: vương triều Hồi giáo Apganixtan tấn công và nhập Ấn Độ vào Apganixtan
– 1206-1526 : Bắc Ấn tách thành nước riêng (Hồi giáo Deli)
– 1526-1857: Mông cổ Hồi giáo chiếm Đê li lập vương triều Mô gôn
– TK18:Thực dân Anh chinh phục Ấn Độ dến 1849 Ấn Độ là thuộc địa Anh
Sự xâm nhập của các quốc gia Hồi giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa bản địa: nghệ thuật kiến trúc cũng thay đổi theo
Trang 8I.3- TÔN GIÁO ẤN ĐỘ:
I.3.1) Đạo Bà la môn – đạo Hindu (tân Bà la môn giáo):
– tôn giáo đa thần của người Arya, cao nhất là thần
Brahma ( thần sáng tạo thế giới), có nơi còn cho là thần Shiva (thần phá hoại) hoặc thần Visnu (thần bảo vệ,
thần ánh sáng, thần 4 mùa) là cao nhất Để thống nhất các phái thờ riêng các vị thần này, đạo Bà la môn đã nêu
ra quan niệm “tam vị nhất thể”.
– sau thời kỳ Phật giáo thịnh hành rồi suy thoái, đạo Bà la môn dần phục hưng, bổ sung thêm nhiều yếu tố như đối tượng sùng bái, nghi lễ pha trộn thuyết Phật giáo trở thành Aán Độ giáo.
– Ấn Độ giáo còn thờ các thần khác và các loài vật khác như: khỉ, bò, chim, rắn
Trang 9 I.3.2) Đạo Phật:
– ra đời vào giữa thiên niên kỷ I TCN xuất phát từ
dòng tư tưởng chống lại đạo Bà la môn.
– cực thịnh vào thế kỷ III TCN, trở thành quốc
giáo và suy sụp dần từ thế kỷ VII SCN.
– Phật giáo Aán Độ lan tràn sang phần lớn các nước châu Á và trở thành quốc giáo của nhiều nước.
Trang 10 I.3.3) Đạo Hồi:
– là tôn giáo lớn thứ hai ở Aán Độ sau Aán Độ giáo.
– chính thức vào Aán Độ từ thế kỷ 13 qua các cuộc chinh
phục quân sự của Apganixtan, Thổ Nhĩ Kỳ và Mông cổ.
I.3.4) Các tôn giáo khác (đạo Sikh, đạo Jain, Bái hỏa giáo….)
Ngoài các tôn giáo kể trên ở Ấn Độ còn có nhiều tôn giáo khác có khá đông các tín đồ như: đạo Silk, đạo Jain, Bái hỏa giáo… nhưng không có ảnh hưởng
mang tính chủ đạo để làm đại diện cho đặc điểm và phong cách kiến trúc các thể loại công trình tôn
giáo ở Aán Độ.
Trang 12II/ KIẾN TRÚC ẤN ĐỘ:
NHÀ Ở
– Kiến trúc Phật giáo
– Kiến trúc Aán Độ giáo
– Kiến trúc Hồi giáo
Trang 13• II.1- QUI HOẠCH ĐÔ THỊ VÀ XÂY DỰNG NHÀ Ở:
* Qui hoạch đô thị
Trang 14- hệ thống cấp nước hoàn hảo, đường ống xây gạch
đặt dưới mặt đường có nắp đậy để thăm dò
Trang 15Nhà tắm công cộng ở Mohenjo-Daro
Trang 16* Nhà ở:
– phần lớn được xây dựng theo quan niệm tôn giáo
và đẳng cấp: số tầng cao của ngôi nhà phụ thuộc vào đẳng cấp xã hội của chủ nhà và các cửa
phòng ở đều hướng vào sân trong.
– vật liệu xây dựng nhà ở thường là gỗ , gạch, đất
nên không còn đến ngày nay, chỉ có thể tìm thấy qua thư tịch và các bích họa trong các ngôi đền tôn giáo.
Trang 18II.2- KIẾN TRÚC TÔN GIÁO:
II.2.1) KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO:
– stupa (lăng mộ)
– chaitya (điện thờ, đục trong hang đá- còn gọi là chùa hang)
– vihara (tịnh xá –nơi ở của các thầy tu)
Trang 19II.2.1.1) Stupa:
Xây dựng ở nơi thiêng
liêng, có sự tích về đức
Phật.
Stupa trở thành biểu
tượng của Phật giáo tượng
trưng cho vũ trụ với 4
cổng tượng trưng cho 4
phương vị của trời đất.
Stupa có hình một cái bát
úp, được xây bằng gạch,
ngoài ốp đá, xung quanh
có hàng rào và cổng Trên
chỏm cầu có một cái lọng
bằng vàng nhiều tầng.
Trang 20Đại Stupa ở Sanchi (thế kỷ II TCN):
đường kính 32m; cao 12,8m; tường rào cao 4,3m; cổng cao 10m Cổng stupa dựng bằng đá mô phỏng kiến trúc gỗ với điêu khắc chạm trổ rất tinh vi, được xem như một pho sách sống mô
tả các hoạt động, sự tích ra đời của Phật giáo
Trang 22Cổng Đại Stupa Sanchi
Trang 23II.2.1.2) Chaitya:
che stupa bằng đất sét, tre có
dạng bán cầu làm nơi thờ cúng,
dễ bị hư hại.
đục vào núi đá làm nơi thờ cúng
gọi là chùa hang.
nhật hay hình chữ nhật có một
đầu hình bán nguyệt, ở giữa đặt
vật thờ
vòm hình lá đề tượng trưng cho
mặt trời của người Arya
lễ đường và điện thờ.
Trang 24Các chaitya ở Karli
(được xây dựng từ thế kỷ II TCN):
là những công trình đồ sộ
có mặt bằng hình chữ
nhật có một đầu bán
nguyệt, hai bên là hai
dãy cột thẳng đứng tạo
nên không gian trang
trọng Mặt đứng được
khắc đục rất công phu.
Trang 25Các chaitya ở Ajanta:
Ajanta là trung tâm
Phật giáo nổi
tiếng được xây
dựng từ tk II TCN
- tk V SCN với 29
ngôi đền được
đục vào sườn núi
đá cạnh khúc
ngoặt của một
con sông.
Trang 26Ajanta:
Trang 28II.2.1.3) Vihara (tịnh xá):
Vihara cũng được đục vào núi
đá
Mặt bằng thường vuông hay
chữ nhật, gian giữa lớn có một
dãy cột vây quanh Phía sau là
phòng ở cho các tu sĩ Nội thất
được trang trí tượng, phù điêu
rất phong phú.
Công trình tiêu biểu: xây dựng
tập trung ở Ajanta, Éléphanta,
Ellora Ở Ellora có vihara
được xếp thành 3 tầng.
Trang 29II2.2) KIẾN TRÚC ẤN ĐỘ GIÁO:
Phát triển mạnh từ thế kỷ VII TCN – XII SCN phân làm 3 lọai dựa vào kỹ thuật xây dựng và nguyên vật liệu:
Công trình được đục vào trong hang đá.
Công trình được đục từ khối đá nguyên.
Công trình được xây dựng từ những khối đá chẻ.
Trang 30II.2.2.1) Công trình được đục vào
trong hang đa:ù
giống các chaitya của
kiến trúc Phật giáo, chỉ
khác đối tượng thờ là
các vị thần Aán Độ giáo
Ellora, Ellephanta.
Trang 32II.2.2.2) Công trình đục từ khối đá nguyên:
(xuất hiện vào thế kỷ VII SCN).
* Quần thể các Ratha ở Mamallapuram :
Ratha: những ngôi đền được
đẽo tạc hoàn chỉnh cả trong
lẫn ngoài.
phú, cơ bản có 3 phần :
vuông, có cột nổi và phù
điêu.
thuyền.
Trang 33Ratha:
Trang 34* Đền Kailaxa ở Éllora : ( thế kỷ VIII SCN )
một khối đá nguyên rất
lớn, kích thước sâu 54m,
rộng 33m, cao 29m (để
xây dựng ngôi đền,
người ta phải đục từ
sườn núi ra một khối đá
lớn, mở ra một quảng
trường rộng 50m, sâu
95m).
bản:
Trang 35- Gian thờ (thần đường) : Mặt bằng hình vuông, mái vươn cao kim tự tháp giật cấp, xung quanh có các gian thờ phụ.
- Gian hành lễ : mái thấp hơn Sảnh và cổng vào 2 bên có biểu trụ Đặc biệt gian hành lễ có 4 nhóm cột ở 4 góc, mỗi nhóm có 4 cột nhỏ đỡ phần mái tạo nên một không gian lớùn.
Trang 36II.2.2.3) Công trình xây từ đá chẻ :
không gian cơ bản
(gian hành lễ, gian
thờ) hình vuông nối
tiếp nhau trên một
trục dọc
Trang 37Ngôi thần đường với đường cong parabol vươn cao, đỉnh có một khối kiến trúc hình quả bí đỏ gọi là Kalaxa (chum bất tử).
Trang 38* Những ngôi đền ở Bhubaneswar :
đây vào thế kỷ VII SCN có
vài ngàn ngôi đền được xây
dựng (cả đền Phật giáo và
Ấn giáo) Ngày nay chỉ còn
khoảng 30 ngôi đền.
nhất về hình thức dù tầm
vóc to nhỏ có khác nhau.
những đường ngang phân
chia thành nhiều lớp vươn
cao là biểu tượng của ngọn
núi Mêru - nơi ngự trị của
các vị thần.
đơn giản, ít có ánh sáng
vào, chỉ có tượng thờ
Ngược lại, bên ngoài lại
phức tạp phủ đầy các hình
chạm nổi điêu khắc.
Trang 39* Đền Lingaraji : ( xây dựng từ thế kỷ X)
nhỏ xây dựng ở các thời kỳ khác
nhau trên một khu đất rộng 157m
x 140m
trục chính có tháp cao 55m nổi
bật lên so với không gian xung
quanh với các phân vị theo chiều
đứng càng tăng thêm tính chất kỳ
vĩ của công trình, bên trong có
thang lên đến đỉnh tháp Gian
trung tâm có đặt các tượng Shiva
và ngẫu tượng linga để thờ.
bức phù điêu và tượng vũ nữ nhà
trời Aùnh sáng chỉ lọt vào qua
các lỗ nhỏ.
Trang 40• Đền Kandarya Mahadeva ở Khajuraho :
(xây dựng từ thế kỷ X)
Là mẫu mực của kiến trúc đền phương Bắc, cao 35m, dài 33m, rộng 18m
Mặt bằng gồm 4 phần xếp trên một trục: Từ ngoài vào có cổng tiền sảnh gian hành lễ ngôi thần đường
Gian hành lễ có không gian lớn nhất, giữa có 4 cột đỡ mái, 2 bên là ban công Tiền sảnh và cổng được đỡ hoàn toàn bằng hệ thống cột Gian thờ có 2 lớp tường, ngoài có ban công lấy ánh sáng
Trang 41 Tường có những bức
chạm nổi ngừơi và
vật(khoảng 900
bức), trang trí tinh
xảo có chổ dát vàng,
cẩn đá qúy, tượng
tròn.
ngoài khá phức tạp
bởi các khối tháp
nhiều cạnh nối liền
nhau với phong cách
mềm mại trên một
đế cao.
Trang 43* MIỀN NAM :
Đặc điểm kiến trúc:
Mái công trình có hình kim tự
tháp giật cấp, trên cùng có
khối kiến trúc hình quả đào.
Ban đầu, đền có duy nhất một
lối vào trên trục chính, có 2
không gian cơ bản nối liền
nhau.
CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU:
* Ngôi đền Kailasanatha ở
Kanchipuram : (xây dựng thế
kỷ VII SCN)
* Ngôi đền trên bãi biển
Mamallapuram : (xây dựng
thế kỷ VII SCN) Ngoài tính
chất tôn giáo, nó còn đóng vai
trò như một ngọn hải đăng cho
tàu bè ra vào cảng.
Trang 45 Từ thế kỷ X trở đi, các ngôi đền phương
Nam được đặt trong một khuôn viên, có
thêm các dãy hành lang làm nơi nghỉ ngơi cho khách hành hương, bên cạnh có bể nước rất phù hợp với khí hậu Nam Ấn
Đặc biệt, thay vì xây dựng các ngôi thần
đường cao lớn, người ta xây dựng các cổng có hình dạng hyperbol gọi là Gopuram (thực chất là cổng khải hoàn để kỷ niệm chiến
thắng của nhà vua đã chinh phục mọi miền đất nước).
Trang 46* Đền Madurai : ( xây dựng từ thế kỷ XII-XVII SCN)
Mặt bằng giống các thành phố cổ của người Arya gồm: 3 lớp sân, lớp ngoài cùng có 4 Gopuram lớn vươn cao nằm trên các trục chính, lớp thứ 2 cũng tương tự như vậy
Trang 47Trong cùng, ngôi đền được đặt ở vị trí trung tâm Xung quanh đền có vô số cột của hành lang Đặc biệt ở góc Đông Nam còn
Trang 48Nội thất đền Madurai:
Trang 49KẾT LUẬN VỀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA KIẾN TRÚC ẤN ĐỘ GIÁO:
Đền thờ Aán Độ giáo có những không
gian cơ bản bố trí theo cùng trục
Riêng ở phương Nam, giai đoạn sau (từ
thế kỷ 10 trở đi) còn xuất hiện
thêm:
ngơi của khách hành hương và tu
sĩ , phù hợp với phía Nam Ấn Độ
có khí hậu nóng bức.
Mặt bằng của các ngôi đền có hình
vuông được phát triển theo một quy
tắc chung để có thể tạo những hình
thức mặt đứng đa dạng, sinh động.
Trang 50II.2.3- KIẾN TRÚC HỒI GIÁO :
* Đặc điểm chung :
Đường nét thanh mảnh, không gian
thóang đãng, trang trí ít rườm rà nặng nề,
lấy ý tưởng từ cây lá hoa, đường nét linh
hoạt, không chạm khắc người và động
vật Đặc biệt, rất thích trang trí chữ viết
là phương tiện biểu cảm để truyền đạt
những thông điệp của đấng tối cao
Kiến trúc thường có những chỏm cầu to
nhỏ khác nhau, cửa cuốn nhọn hình lá
đề
Ở 4 góc công trình thường có 4 chòi nhỏ
vươn cao, mái chỏm cầu
Vật liệu xây dựng bằng đá chẻ, trang trí
thường dùng 1 màu, chạm khắc trên đá
và cẩn ngọc quý vào đá (khác Trung
Tiểu Á dùng gạch sỏi, đất sét, gạch
nung)
bật của kiến trúc Hồi giáo
Trang 51Kiến trúc Hồi giáo
Trang 53CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU :
* Giáo đường Quwat – ul Islam : (cuối thế kỷ XII)
Đặc điểm, phong cách
kiến trúc mang tính
chất Hồi giáo thuần
khiết nhưng phảng
phất bóng dáng nghệ
thuật Ấn độ bởi vì vật
liệu dùng từ những
cột đá của một ngôi
đền đạo Jain bị phá
( vật liệu xây dựng
tại quê hương Hồi
giáo, chủ yếu là gạch
+ vôi + vữa).
Trang 54 Qutb –Minar : Tháp giáo
đường vừa là đài chiến thắng là một cột đá khổng lồ cao 73m, thon nhỏ dần khi lên
cao (đường kính đáy 14,2m; đỉnh 2,7m) trong có cầu
thang 376 bậc cuốn vòng lên đỉnh
thạch vàng nâu và đỏ, hai
tầng trên được chỉnh sửa thay thế bằng đá cẩm thạch trắng
ở các triều đại sau.
đền Ấn để lấy vật liệu xây
dựng tháp này.
Trang 55*Lăng mộ :
- Lăng Humayum :
(1560) bằng đá có 2 sắc đỏ viền trắng, một chỏm cầu ở chính giữa, 4 cửa cuốn nhọn ở 4 mặt và không có tháp cao.
Trang 56Lăng Taj Mahal : 1632 – 1652)
Khu đất hình chữ
nhật 7 ha gồm :
cổng, vườn và khu
lăng mộ Tòa lăng
đặt trên 1 bệ hình
vuông cao 5m4, dài
Trang 58Thành cổ Agra
Trang 63III- KẾT LUẬN :
Ấn Độ là nơi đã khai sinh ra nhiều tôn giáo lớn trên thế giới Nghệ thuật Ấn Độ cổ và trung đại được
khai sinh và nuôi dưỡng nhờ nguồn chủ đề của các tôn giáo ấy
Khi tiếp thụ những nguồn văn hóa bên ngoài, người Ấn đã có một cách ứng xử tế nhị nhằm đồng hóa
các yếu tố văn hóa đó thành tài sản của mình và
sáng tạo nên một nền văn hóa Ấn Độ mang tính
truyền thống đậm đà
Các công trình kiến trúc Aán Độ đều là những tác phẩm kiến trúc - điêu khắc vĩ đại.