1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về nấm vân chi trametes versicolor

25 266 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 353,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chất này được coi là có khả năng chữa trị ung thư, tăng miễn dịch cơ thể, chống các phản ứng phụ của xạ trị và hoá trị, ức chế sự nhân lên của HIV… Do đó việc hiểu biết về đặc điểm s

Trang 1

vì mục đích dinh dưỡng, bồi bổ khí huyết hoặc làm thuốc Người ta dùng tất cả các

bộ phận của nấm Càng ngày người ta càng phát hiện ra nhiều dược chất có tính miễn dịch từ nấm Quá trình tìm kiếm dược phẩm miễn dịch đã diễn ra ở châu Á (nhất là các nước Trung Quốc, Nhật Bản) từ rất lâu nhưng ở Phương Tây còn chưa chú trọng lắm Những năm gần đây nấm được đề cập đến như một nguồn dược liệu quý giá có khả năng chữa trị được nhiều bệnh như nấm Linh chi (Ganoderma lucidium), nấm hầu thủ (Hericium enrinaceum)… Khoa học phát triển, dược tính của nấm ngày càng được phát hiện nhiều

Nấm Vân chi Trametes versicolor là một loại nấm dược liệu được sử dụng lâu đời trong truyền thống Phương Đông với nhiều tác dụng kì diệu Người ta biết đến hiệu quả chữa bệnh của nấm Vân chi thông qua hai hợp chất chính trích từ nấm này

là PSP (polysaccharide peptide) và PSK (polysaccharide Kureha) Các chất này được coi là có khả năng chữa trị ung thư, tăng miễn dịch cơ thể, chống các phản ứng phụ của xạ trị và hoá trị, ức chế sự nhân lên của HIV… Do đó việc hiểu biết về đặc điểm sinh học, thành phần hóa dược và tác dụng của nấm Vân chi là điều cần thiết Do đó

em chọn đề tài “ Tìm hiểu về nấm Vân chi - Trametes versicolor ”

I.2. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu

Mục tiêu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của nấm Vân chi

- Thành phần các hợp chất sinh học và dược tính của chúng

Đối tượng nghiên cứu

- Nấm Vân chi Trametes versicolor

I.3. Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau: sách, wed…

- Tổng hợp và xử lý thông tin

Trang 2

PHẦN II NỘI DUNG

2.1 Khái quát về nấm

2.1.1 Giới thiệu chung về nấm

Nấm là những sinh vật có nhân tế bào chính thức, sống dị dưỡng bằng cách thẩm thấu, cơ thể đa số là sợi nấm dạng ống, phân nhánh lan tỏa tạo thành hệ sợi nấm hay lạc khuẩn, sinh sản bằng bảo tử

Tất cả sinh vật sống đều thuộc một trong năm giới Nấm thuộc một giới riêng gọi

là giới nấm (theo hệ thống phân loại của R.H Whitaker, 1969) Nấm bao gồm cả nấm mốc, nấm men và các loài nấm lớn có quả thể Nấm không quang hợp được Do

đó nó bắt buộc phải sống trên những chất hữu cơ hoại mục hoặc sống nhờ các động thực vật khác Nấm là sinh vật hoại sinh, phân huỷ các chất hữu cơ để l ấ y chất dinh dưỡng

Nấm dinh dưỡng bằng cách tiến hành hấp thụ thức ăn trên toàn bộ b ề m ặt của sợi nấm thông qua phương thức thẩm thấu Dựa vào cách hấp thu dinh dưỡng của nấm có thể chia làm 3 nhóm:

- Hoại sinh: Thức ăn là xác bã thực vật hay động vật Ở nhóm nấm này, chúng có khả năng biến đổi những chất khó phân hủy thành những chất đơn giản dễ hấp thu, nhờ hệ men ngoại bào

- Ký sinh: Chủ yếu các loài nấm gây bệnh, chúng sống bám vào cơ thể sinh vật khác

để hút thức ăn của sinh vật chủ

- Cộng sinh: Lấy thức ăn từ cơ thể sinh vật chủ nhưng không làm tổn hại sinh vật chủ, ngược lại còn giúp cho chúng phát triển tốt hơn (như nấm Tuber hay Boletus cộng sinh với cây thông sồi…)

Trong tự nhiên, nấm đóng một vai trò quan trọng, là máy tái chế s ơ c ấp Chúng tạo ra các enzyme để phân huỷ chất hữu cơ (thường là các cấu tử g ỗ ) Phần lớn nấm có khả n ăng sản sinh ra các enzyme phá huỷ nguyên liệu thực vật thuộc lớp nấm túi và nấm đảm Nấm cư trú trên gỗ đã chết chủ y ếu phân hủy một hoặc nhiều cấu tử gỗ, gây mục mạnh

Hiện nay nấm bao gồm các ngành:

- Ngành Nấm nhầy tế bào (Acrasiomycota)

- Ngành Nấm nhầy giả (Dictyosteliomycota)

- Ngành Nấm nhầy chính thức (Myxomycota)

- Ngành Nấm nhầy nội kí sinh (Plasmodiophoromycola)

- Ngành Nấm một tiêm mao phía trước (Hyphochytriomycota)

- Ngành Nấm nhầy mạng lưới (Labyrinthulomycota)

Trang 3

2.1.2 Giá trị của nấm

Nấm từ rất lâu đã được biết đến như là một nguồn thức ăn dinh dưỡng giàu đạm, chất xơ, vitamin và tất cả những chất cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển

và sự sống của một người khoẻ mạnh

Từ hàng ngàn năm qua, ở châu Á, cả n ấm ăn được và nấm không ăn được đều được sử d ụng vì mục đích dinh dưỡng, bồi bổ khí huyết hoặc làm thuốc Người ta dùng tất cả các bộ phận của nấm

Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm còn có khả n ăng phòng và trị m ộ t số b ệnh Càng ngày người ta càng phát hiện ra nhiều dược chất có tính miễn dịch từ n ấm Quá trình tìm kiếm dược phẩm miễn dịch đã diễn ra ở châu Á (nhất là các nước Trung Quốc, Nhật Bản) từ rất lâu nhưng ở Phương Tây còn chưa chú trọng lắm

Dược phẩm miễn dịch có thể được xem như là chất có hiệu quả trong liệu pháp miễn dịch khi uống vào Có hơn 50 loài nấm được xếp vào dạng nấm dược liệu có hoạt tính chữa bệnh in vitro hay trên các mẫu động vật thí nghiệm Một số chất trích từ nấm được phát hiện có hoạt tính tăng cường hệ miễn dịch tiềm năng, hoạt tính miễn dịch chống lại tế bào ung thư hơn hẳn các hoá dược kháng ung thư Tất cả đều không độc, hiệu quả và rất dễ dung nạp Nổi bậc nhất có 6 nhóm chất sau: Lentinan, AHCC (trích từ n ấm hương Lentinus edodes), Schizophyllan (Nấm chân chim Schizophyllum commune) Grifron-D (Nấm gà gỗ Grifola frondosa), PSP, PSK ( Nấm vân chi Trametes versicolor) Các dịch trích chủ yếu được chiết từ quả thể nấm và sinh khối từ hệ sợi (nuôi cấy lên men trong môi trường lỏng) Cả thành phần tế bào và các hợp chất biến dưỡng thứ cấp của nấm đều có tác dụng trên hệ miễn dịch của tế bào chủ và do đó có thể chữa được nhiều bệnh khác nhau Hướng kết hợp các tác nhân có tiềm năng miễn dịch với các liệu pháp chống ung thư như giải phẫu, hoá trị, xạ trị đã đạt được bước tiến đáng kể ở Trung Quốc, Nhật Bản nơi

mà nấm được xem như m ột nguồn kháng ung thư hàng thế kỷ qua

2.2. Đặc điểm sinh học của Nấm Vân Chi

Nấm Vân chi có tên khoa học phổ biến hiện nay là Trametes versicolor.

Vân chi là một loại nấm lớn thuộc phân lớp Basidiomycetes gồm khoảng 22 000 loài đã biết Nấm vân chi gây hoại sinh cây bệnh, cư trú trên gỗ đã chết, thuộc loại nấm gây mục trắng mạnh có thể phá huỷ đồng thời tất cả các cấu tử gỗ (hemicellulose, cellulose, lignin), giúp phá vỡ các gốc cây già, cây chết vì thế chất dinh dưỡng của cây sẽ trở về đất để tái sử dụng Nấm Vân chi không độc đối với người nhưng cũng không ăn được vì nó là dạng nấm gỗ

Vị trí phân loại nấm vân chi

Giới nấm : Fungi

Trang 4

Loài : Trametes versicolor

2.2.1. Đặc điểm hình thái cấu tạo

Trang 5

Hình 1 Hình thái ngoài của nấm Vân chi

Vân chi là loại nấm hàng năm, không cuống, phát triển một bên Khi non quả thể

có dạng nhiều u lồi tròn, mọc thành dạng vành với mép tán màu trắng, trắng kem Nấm trưởng thành có dạng quả giá, chất da hoá gỗ Quả thể hình nan quạt

có nhiều vân đồng tâm, chồng chất xen kẽ nhau như ngói lợp, nhìn rất giống đuôi

gà tây đang xòe Mũ nấm mỏng, phẳng hoặc hơi quăn hình bán nguyệt, mọc thành cụm đường kính từ 1 đến 8cm, dày khoảng 0,1 – 0,3cm Mặt trên tai nấm

có lớp lông mịn, mền như nhung, có màu sắc rất khác nhau tùy chủng từ đen, nâu, xám, xanh đến đo đỏ, trắng hay vàng nhạt Nấm có nhiều màu sắc như đuôi của gà tây, Quả thể có dạng hình quạt mọc phủ từng lớp trên thân cây mục Mặt nấm lớp trên cùng thường có những màu nâu, trắng , xám hay xanh lam; mặt dưới trắng có mang những bào tử nhỏ Màu sắc các chủng Vân chi phụ thuộc vào môi trường và hệ di truyền Mặt dưới tai nấm màu trắng, màu kem hay hơi xám

có hàng ngàn ống nhỏ Tất cả các chủng Vân chiều có các ống nhỏ ở mặt dưới, đây là đặc điểm giúp phân biệt Vân chi với nấm Stereum hissutum Các ống này rất nhỏ khoảng 4 – 5 ống/mm, có vách ngăn ngang dày Miệng ống tròn hay hơi tròn Các ống này giúp gia tăng diện tích mang bào tử Thịt nấm màu trắng hoặc trắng kem, gồm nhiều sợi dày 0,6 – 2,5 mm.

2.2.2 Đặc điểm vi học

Hệ sợi kiểu trimitic, sợi dinh dưỡng trong suốt, có vách mỏng, có khoá rõ ràng, đường kính cỡ 2,5 – 3 µm; sợi cứng ở vùng thịt nấm có vách rất dày, không thấy có vách ngăn tế bào, đường kính tới 4 – 6 µm, rất hiếm khi thấy phân nhánh; sợi bện cũng có vách ngăn ngang, đường kính sợi nhỏ hơn (2 – 4 µm).

Trang 6

Không thấy có liệt bào, song có thấy cystidioles dạng fusoid, kích thước 15 – 20 x

4 – 5 µm, có khoá ở phần gốc Đảm bào hình chùy có bốn tiểu bính (nơi đính của bốn bào tử), có khoá ở phần gốc Bào tử đảm hình trụ, hơi cong hình quả dưa gang, trong suốt, nhẵn, kích thước 5 – 6 x 1,5 – 2 µm

2.2.3 Đặc điểm phân bố

Nấm Vân chi mọc tại những vùng ôn đới tại Bắc Mỹ, Á châu và Âu châu và có

lẽ là loại nấm mọc khá mạnh, phát triển khắp vùng Bắc Bán cầu Nấm thường mọc ký sinh trên thân những cây thân mộc lớn như sồi, liễu, long não mận, đào, táo và đôi khi cả trên thân cây thông Tại vùng Tây Bắc Hoa Kỳ

và Canada, nấm Vân chi mọc hoang khoảng 15 loài khác nhau , tương đối dễ thu nhặt Để bảo quản nấm chống lại sâu bọ, nên làm đông lạnh nấm trong vòng 24 giờ sau khi hái, rồi phơi khô hay sấy khô ngay Nấm có thể nhai tươi hay làm thành trà dược

Vân chi là loại nấm phá gỗ, mọc hoang, thường mọc trên các cây thân gỗ đã chết hoặc khô, đặc biệt là gỗ sồi, dễ dàng tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới Vân chi thích hợp đối với những nơi có nhiều mưa, ẩm ướt, gần bờ sông… ở vùng ôn đới Bắc Mỹ, châu Á, châu Âu và là loại nấm sinh sản nhiều nhất ở Bắc Bán Cầu Ở Việt Nam cũng tìm thấy nấm này, nhất là vào mùa mưa Nhật, Trung Quốc và một vài nước khác đang trồng và chiết xuất PSP, PSK từ Vân chi Ở Việt Nam, TS

Lê Xuân Thám (Trung tâm kỹ thuật hạt nhân TpHCM) đã mang một giống chuẩn

từ Nhật về, đây là loại mặt trên tai nấm có những vân đồng tâm nâu đen đến đen Hiện nay giống này đang được trồng thử trên Đà Lạt và cũng được Trung tâm nghiên cứu linh chi và nấm dược liệu TpHCM trồng thử nghiệm trong điều kiện khí hậu của thành phố, đã ra quả thể (tai nấm) tại TpHCM

2.2.4 Chu trình sống

Trang 7

Sơ đồ1: Chu trình phát triển của nấm Vân chi

2.3. Các hợp chất sinh học quý của nấm Vân chi

Bảng 1 Thành phần dược tính chính trích từ nấm vân chi

Ghi chú: +: dương tính; -: âm tính

Trong thành phần nấm Vân chi có acid hữu cơ, alcaloid, chất khử,

triterpenoid, coumarin, saponin, tanin, polyphenol, hợp chất uronic, acid amin và

Trang 8

polysaccharide Trong đó polysaccharide là thành phần dược tính được quan tâm, nghiên cứu nhiều nhất Các polysaccharide của nấm Vân chi có độ bền cao với nhiệt

độ và ánh sáng, tồn tại lâu trong cơ thể và đặc biệt chưa được phát hiện có tác dụng phụ gì, cả đối với phụ nữ mang thai, vì vậy rất thích hợp cho nhiều liệu pháp điều trị Chúng có thể được tách chiết từ quả thể hoặc sợi nấm Vân chi bằng phương pháp dùng nước nóng.

Bên cạnh các polysaccharid là các thành phần chính quyết định tác dụng của nấm Vân chi , trong nấm còn chứa nhiều loại enzym như SOD, cytochrome P-450, một thành phần quan trọng trong việc khử độc các chất được nhập vào tế bào, và các chất trao đổi bậc hai có tác dụng ức chế thrombin, chống quá trình đông tụ máu.

Trong nấm Vân chi có các acid amin chủ yếu như: glutamic, aspartic và một số acid amin dạng trung hoà Dịch trích polysaccharide peptide từ nấm (thuật ngữ gọi

là proteoglycan) là những chuỗi polypeptide hay những phân tử protein nhỏ gắn kết chặt với các chuỗi polysaccharide β-D-glucan, là thành phần hiệu quả trong chữa trị các chứng ung thư: dạ dày, thực quản, ruột kết và ung thư vú… Các proteoglycan trích từ nấm Vân chi chủ yếu là liên kết β-D-glucan Cấu trúc β-D- glucan là một cấu trúc lập lại, gồm nhiều phân tử D-glucose nối với nhau bằng các nối β tạo dạng mạch thẳng Các nối β được tạo từ vị trí C1 của vòng saccharide đứng trước với vị trí C3 của vòng kế tiếp (β1-3), từ C1 đến C4 (β1-4), hoặc từ C1 đến C6 (β1-6) Hầu hết các proteoglycan thường có một chuối chính, hoặc là chuỗi β1-3, chuỗi β1-4 hoặc kết hợp hai chuỗi β1-3, β1-4 với một chuỗi phụ β1-6 Các glucan gắn với protein là có tiềm năng miễn dịch lớn hơn rất nhiều so với các glucan tương ứng không kết hợp với protein Polysaccharide được tìm thấy trong các vách tế bào không tiêu hoá được của Vân chi có cấu trúc 3 chiều với các chuỗi bên (chuỗi đường mạch thẳng) mọc nhánh xung quanh cấu trúc trục chính (lõi protein hay polypeptide), các chuỗi bên có chức năng sinh học hay hoạt tính miễn dịch cho phép

sự tương tác giữa các chuỗi nhánh bên với các thụ thể trên các tế bào miễn dịch khác nhau Thụ thể cho β-glucan được tìm thấy trên nhiều tế bào khác nhau: Tế bào

tự sát thương, tế bào bạch cầu trung tính, tế bào bạch cầu đơn nhân to, đại thực bào và tế bào lympho B, lympho T Nhiều nghiên cứu báo cáo rằng β-1,3-glucan là chất kích hoạt hệ miễn dịch chống ung thư tự nhiên ở người và phần glucan có thể kích ứng sự co lại của khối u Theo các nhà khoa học thì chỉ có polysaccharide nối với peptide mới tạo ra hiệu quả kháng ung thư Các thành phần này không bị ảnh hưởng bởi quá trình tiêu hoá nên có hiệu quả khi uống

Trang 9

2.3.1.2 Dược tính

Năm 1971, hơn 200 dược chất hoá lý có khả năng kháng khối u được chọn lọc bởi các nhà nghiên cứu Nhật, PSK là liệu pháp chữa trị tốt nhất vì nó bảo vệ hệ miễn dịch bằng cách trung hoà các thuốc hoá trị và các quá trình gây độc của tế bào ung thư.

PSK có khả năng tăng cường hoạt động miễn dịch tế bào và miễn dịch thể dịch Khi PSK được dùng kết hợp với phương pháp xạ trị thí nghiệm trên chuột, người ta quan sát thấy có sự hồi phục hệ miễn dịch thể dịch đã suy yếu Các nghiên cứu trên động vật xác nhận thêm rằng PSK cảm ứng tế bào T diệt và phục hồi lại các thông

số miễn dịch bị suy yếu trong khi đó sẽ ức chế các hợp chất gây ức chế miễn dịch

Trang 10

PSK ngăn chặn các phản ứng phụ khi dùng kết hợp với các tác nhân hoá trị như

5-FU (5-fluorouracil), doxorubicin, cyclophosphamide (CPA), tegafur, cis-Blastin và mitomycin-C (MMC) để chữa trị ung thư, gia tăng khả năng sống còn của các bệnh nhân ung thư dạ dày ở các giai đoạn III và IV (Kaibara et al, 1970)

PSK kích ứng sự biểu hiện cytokine trong các tế bào máu đơn nhân vùng ngoại vi in vitro Sự biểu hiện gen TNF-α (yếu tốgây hoại tử khối u) và interleukin-8 (IL-8) được cảm ứng mạnh ở những người tình nguyện khoẻ mạnh và những bệnh nhân ung thư dạ dày khi dùng PSK, mặc dù đáp ứng của mỗi người mỗi khác

Có tác dụng ngăn chặn sự phát triển khối u in vitro PSK gia tăng khả năng sống còn, ức chế sự hình thành và di căn của các tác nhân gây ung thư hoặc các khối u tạo ra do phóng xạ PSK cũng ức chế sự phát triển trở lại sau hậu phẫu hoặc sự di căn các tế bào khối u ởcác mẫu động vật thí nghiệm, cơ chế có lẽ là ngăn chặn sự di chuyển, sự xâm nhập, sự gắn kết với các tế bào màng trong và sự phát triển Các kết quảnghiên cứu cũng cho thấy tác động hỗ trợ hiệu quả giữa PSK và liệu pháp sinh học gồm vaccin L1210 gắn với concanavalin A (lectin gây phân bào) và kháng thể đơn dòng chống lại các tế bào ung thư ruột kết.

Thí nghiệm của Pang ZJ và CS đã chứng minh PSK cải thiện hoạt tính enzyme glutathione peroxidase thông qua sự cảm ứng dịch mã sự biểu hiện của mRNA PSK biểu hiện hoạt tính kháng virus và có thể có hiệu quả kháng sự nhiễm HIV bằng cách biến đổi receptor virus hoặc bằng cách ngăn chặn nó kết hợp với tếbào bạch huyết Một cơ chế khác giải thích tính kháng virus của PSK là nó kích thích sự sản xuất interferon, IL-1 ở tế bào người PSK cũng có tính kháng sinh mạnh, hiệu quảtrên Escherichia coli,Staphylococcus aureus, Cryptococcus neoformans, Psedomonas aeruginosa, Candida albicans và vài loại vi trùng khác gây bệnh ở người

2.3.2 PSP (polysaccharide-peptide)

2.3.2.1 Cấu tạo

PSP được ly trích từ hệ sợi nấm Vân chi chủng COV-1 Trong thành phần cấu tạo có khoảng 90% polysaccharide và 10% peptide Thành phần chuỗi polypeptide có trong PSP tương tự như trong chuỗi proteoglycan PSK, rất giàu aspartic acid và glutamic acid Tuy nhiên PSP khác PSK về thành phần các đường đơn trong chuỗi polysaccharide, PSP thiếu fucose nhưng lại có arabinose và rhamnose Chuỗi polysaccharide là các β-glucan thật sự: phương pháp sắc kí khí và khối phổ đã

Trang 11

chứng minh liên kết chính trong chuỗi là 1-4, 1-2, và 1-3 glucose cùng với một lượng nhỏ các liên kết 1-3, 1-4 và 1-6 galactose; 1-3 và 1-6 mannose; 1-3, 1-4 arabinose, trong đó cũng thấy xuất hiện vài liên kết α Trọng lượng phân tử của PSP khoảng

100 kDa

2.3.2.2 Dược tính

Các nghiên cứu về dược lý đã chứng minh rằng PSP ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức khỏe và năng lượng, được xem là loại chất cảm ứng điều hoà sinh học mới PSP không gây hại đối với các tế bào bình thường PSP có khả năng phân biệt giữa tế bào thường và tế bào ung thư Có thể tiêu diệt tế bào ung thư mà không gây bất cứ

sự thay đổi hay tạo độc tố trên tế bào (Mei-po Yang, Hongkong university) Tỉ lệ phần trăm bệnh nhân trải qua thử nghiệm hiệu quả của PSP trong các giai đoạn II

và III cho thấy tỉ lệ sống còn gia tăng đáng kể so với nhóm đối chứng: 90 – 97 % đối với ung thư dạ dày, 82 – 87 % đối với ung thư thực quản, 70 – 86 % đối với ung thư phổi PSP là chất đầy tiềm năng và hiệu quả trong điều trị ung thư

PSP gia tăng chức năng miễn dịch của cơ thể bình thường Tăng sự biểu hiện của gen Interleukin-6 (IL-6) trong các tế bào lympho máu ngoại vi (PBL) ở người và do

đó sản xuất ra IL-6 và cũng hoạt hoá tế bào bạch cầu để gia tăng quá trình sản xuất interferon α và γ lên gấp 2 – 4 lần Gia tăng mạnh mẽ chỉ số thực bào, trị số HC50, kháng thể ở chuột, tăng PBL từ phase G1 đến phase S, thúc đẩy sự phát sinh PBL Thúc đẩy sự phát sinh tế bào lympho T và tế bào tiền tế bào T ở tuyến ức và lách, tăng cường hoạt tính tế bào lympho B

PSP trung hoà quá trình ức chế miễn dịch do khối u gây ra ở động vật Làm ngưng quá trình tiêu biến của tuyến ức ở chuột mang bệnh Sarcoma Trung hoà sự trương phồng của gan khi mắc bệnh ung thư cổ trướng Ehrlich Chống lại quá trình ức chế kháng thể của tế bào ung thư Sarcoma ở chuột Tăng giá trị bổ thể huyết thanh C3 trong chuột mắc bệnh Sarcoma

PSP trung hoà quá trình ức chế miễn dịch do tác dụng của các hoá dược trong điều trị ung thư Ức chế quá trình tiêu biến tế bào bạch cầu do cyclophosphamine (CPA) gây ra và rút ngắn thời gian phục hồi tế bào bạch cầu Chống lại quá trình ức chế của CPA trên IL-2 và tế bào T tự sát thương Phục hồi lại phản ứng mẫn cảm loại chậm bị ức chế bởi CPA Dùng kết hợp với các phương pháp hoá trị và xạ trị sẽ làm giảm các tác dụng phụ của hoá dược và có hiệu quả cao hơn

Trang 12

PSP ức chế sự phát triển của tế bào ung thư ở người và động vật thí nghiệm PSP (50 mg/kg, ip hoặc po) có thể ức chế sự phát triển của Sarcoma 180 ở chuột PSP (100 µg/ml) có thể ức chế quá trình tổng hợp nucleic acid của tế bào ung thư cổ trướng Ehrlich

Ức chế sự phát triển tế bào ung thư bạch cầu P388, tế bào u tủy, tế bào ung thư gan,

tế bào ung thư phổi Lewis ở chuột Nó có thể ức chế sự phát triển của tế bào ung Thư dạ dày, ung thư tuyến phổi ở n gười, ung thư tế bào bạch cầu đơn nhân to, ung thư mô bạch huyết ở da Nó cũng gây ra sự tiêu biến tế bào ung thư và sự tích tụ NST mà không tạo ra bất kỳ độc tố nào trên tế bào fibroblast hay tế bào chủ (Liang- Zhong Xu, Bao-zhen Zhong, 2003)

Huyết thanh bạch cầu (ALS) có thể được trung hoà Hoạt tính kháng khối u của PSP

có liên quan với sự gia tăng tế bào lympho T

Tăng sự sản xuất các hợp chất nitơ trung gian, anion superoxide và yếu tố gây hoại

tử ung thư

Một số hiệu quả khác của PSP

- Cải thiện sự thèm ăn của chuột khi dùng kết hợp với CPA

- Giảm phản ứng đau của động vật khi chịu các tác nhân kích thích như điện, acid acetic, nước nóng

- Ức chế hệ thần kinh trung ương và giảm hoạt tính tự phát của chuột

- Tăng khả năng chịu đựng trong điều kiện thiếu oxy đối với chuột thí nghiệm

- Biểu hiện khả năng ức chế sự tương tác giữa HIV-1 gp120 và làm bất động thụ thể CD 4 (IC50=6,25µg/ml), ức chế enzyme glycohydralase gắn với sự glycosic virus và làm giảm độc tố tế bào Do đó hướng sắp tới PSP sẽ được nghiên cứu để tạo thành tác nhân kháng virus in vivo.

- Ngoài ra, PSP còn được ứng dụng trong chữa trị các bệnh viêm nhiễm virus

và bệnh gan

2.3.3 So sánh giữa PSK và PSP

PSP và PSK là chuỗi proteoglycan, có trọng lượng phân tử khoảng 100 kDa, thành phần polysaccharide đều không có N-acetylamino-hexose trong khi tất cả chuỗi polysaccharide khác có PSP và PSK đều được xem là những chất gây biến đổi các đáp ứng sinh học có khả năng trị ung thư và làm tăng miễn dịch, nhưng những nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàn cho thấy PSP và PSK có một số khác biệt

Ngày đăng: 01/09/2015, 18:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Hình thái ngoài của nấm Vân chi - Tìm hiểu về nấm vân chi  trametes versicolor
Hình 1. Hình thái ngoài của nấm Vân chi (Trang 5)
Bảng 1. Thành phần dược tính chính trích từ nấm vân chi - Tìm hiểu về nấm vân chi  trametes versicolor
Bảng 1. Thành phần dược tính chính trích từ nấm vân chi (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w