Chính vì vậy nhữngthành viên trong hội đồng quản trị phải là những người có năng lực và kinh nghiệp phù hợp.Song để có được những quyết sách đúng đắn vì lợi ích chung
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP 7
1.1 Hội đồng quản trị 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Vị trí trong bộ máy quản lý của tổ chức tín dụng 7
1.1.3 Chức năng 8
1.2 Thành viên hội đồng quản trị độc lập 10
1.2.1 Khái niệm 10
1.2.2 Đặc điểm 11
1.2.2.1 Độc lập trong quan hệ nhân thân 11
1.2.2.2 Độc lập trong quan hệ về sở hữu và kinh tế 12
1.2.2.3 Khả năng kiểm soát kỹ lưỡng và tính quyết đoán 12
1.2.2.4 Khả năng tiếp cận các thông tin một cách độc lập 13
1.2.3 Tầm quan trọng của thành viên hội đồng quản trị độc lập 13
1.2.3.1 Tăng tính khách quan cho quyết định của hội đồng quản trị 13
1.2.3.2 Thứ hai, tăng khả năng đánh giá và hoạch định cho hội đồng quản trị 14
1.2.3.3 Gia tăng kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh và quản lý cho hội đồng quản trị 14
1.2.3.4 Bằng chứng chứng tỏ sự minh bạch trong quá trình kinh doanh 14
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM 15
2.1 Quy định về thành viên hội đồng quản trị độc lập trên thế giới 15
2.1.1 Ấn Độ 15
2.1.2 Anh 17
2.1.3 Úc 17
2.1.4 Malaysia và HongKong 17
2.1.5 Trung Quốc 18
2.2 Quy định về thành viên hội đồng quản trị độc lập tại Việt Nam 19
2.2.1 Điều kiện để trở thành thành viên hội đồng quản trị 20
Trang 22.2.2 Điều kiện để trở thành thành viên hội đồng quản trị độc lập 22
2.2.3 Cơ cấu số lượng thành viên HĐQT độc lập 24
2.3 Thực trạng pháp luật về vấn đề thành viên hội đồng quản trị độc lập hiện nay 25
2.3.1 Một số hạn chế qui định pháp luật Việt Nam về thành viên hội đồng quản trị độc lập 25
2.2.2 Thực tiễn hoạt động của thành viên hội đồng quản trị độc lập trong công ty cổ phần Việt Nam hiện nay 26
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM 28
3.1 Tăng số lượng thành viên hội đồng quản trị độc lập 28
3.2 Thiết lập cơ chế giám sát minh bạch 28
3.3 Một số biện pháp bổ sung 29
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 3BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐQT: Hội đồng quản trị
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 2.1: Cơ cấu của tổ chức tín dụng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (trang 6)
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong các công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một bên là cổđông với tư cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều hành công ty với tưcách người trực tiếp quản lý sử dụng vốn Những người quản lý thường không phải là cổ đôngnắm giữ phần vốn góp đáng kể nhưng lại là người điều hành mọi hoạt động của công ty và vì vậy
có thể họ sẽ ưu tiên các quyền lợi cá nhân, quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông Do
đó, luật về quản trị doanh nghiệp của các quốc gia cũng như những quy định của các thị trườngniêm yết thường yêu cầu trong cơ cấu hội đồng quản trị công ty phải có sự tham gia của cácthành viên hội đồng quản trị độc lập1 Các thành viên này có vai trò rất quan trọng trong việcgiám sát, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý công ty, góp phần bảovệ lợi ích chính đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ
Quản trị công ty là nội dung rất quan trọng trong quá trình hoạt động và phát triển củadoanh nghiệp Quản trị tốt sẽ tạo nên sự hài hòa trong các mối quan hệ giữa hội đồng quản trị,ban giám đốc với các cổ đông và các bên có liên quan Từ đó tạo nên định hướng phát triển vàkiểm soát quá trình phát triển của doanh nghiệp.Quản trị tốt sẽ tăng cường uy tín và vị thế củadoanh nghiệp từ đó tăng khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với vốn từ bên ngoài, tạo nềntảng cho doanh nghiệp phát triển bền vững Trong quản trị công ty, hội đồng quản trị được xemlà yếu tố cốt lõi, đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng và duy trì các nguyên tắc quản trịcông ty hiệu quả
Các tổ chức tín dụng bản chất cũng là các doanh nghiệp, song là các doanh nghiệp đặcbiệt thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng do vậy hoạt động quản trị tíndụng không những tác động đến giá trị của các tổ chức tín dụng và giá vốn của họ mà còn tácđộng đến giá vốn của các đối tượng mà họ cho vay vốn Công tác tổ chức và quản trị tại ngânhàng sẽ tác động trực tiếp không chỉ đến giá trị của ngân hàng mà còn tới vị thế và uy tín củangân hàng Một cách tổng quát, công tác quản trị tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro của cáctổ chức tín dụng, là thước đo cho khả năng chống đỡ của các tổ chức này trước biến động củanền kinh tế Không những thế, hoạt động của tác động đến sản lượng của nền kinh tế bởi lẽ cácngân hàng huy động và phân bổ tiết kiệm của xã hội Đặc biệt ở các nước đang phát triển, khi các
1 (Independent directors – ID)
Trang 5ngân hàng là nguồn tài chính bên ngoài rất lớn của các doanh nghiệp, quản trị tín dụng tốt sẽ gópphần thúc đẩy quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp mà họ cho vay.
Tại cùng một thời điểm, các ngân hàng chịu nhiều rủi ro về vấn đề quản trị trong các vấn
đề như chuyển giao rủi ro, lợi ích của cá nhân và sự chiếm dụng công khai (hoạt động ngầm, chovay nội gián, chiếm đoạt…) lớn hơn so với các doanh nghiệp phi tài chính Chính vì vậy nhữngthành viên trong hội đồng quản trị phải là những người có năng lực và kinh nghiệp phù hợp.Song để có được những quyết sách đúng đắn vì lợi ích chung của công ty và cổ đông, trongHĐQT cần phải có thành viên độc lập Bởi thành viên độc lập là những người có khả năng đưa raý kiến độc lập và khách quan tại mọi thời điểm, không chịu sự tác động chi phối đến các quyếtđịnh hoặc xung đột
Thành viên hội đồng quản trị độc lập cũng được xem là chìa khóa giải quyết xung đột lợiích cổ đông lớn và cổ đông nhỏ Bởi thành viên hội đồng quản trị độc lập tạo được đối trọng vớicác cổ đông lớn hội đồng quản trị, bảo vệ lợi ích chung cũng như cổ đông nhỏ, họ mang đến gócnhìn từ bên ngoài về chiến lược kiểm soat, mang đến kỹ năng và kiến thức mới cho công ty Họkhách quan trong việc lắng nghe để hóa giải những bất đồng trong ban lãnh đạo công ty
Tìm kiếm người làm thành viên độc lập trong hội đồng quản trị đang không chỉ là vấn đềđối với các tổ chức, quỹ đầu tư mà còn của nhiều doanh nghiệp niêm yết.Thời gian gần đây, mộtsố công ty cổ phần Việt Nam đã bày tỏ mong muốn và xúc tiến các thủ tục cần thiết để đăng kýniêm yết tại nước ngoài Tuy nhiên quá trình đó gặp không ít khó khăn mà các yêu cầu về cơ chếquản lí nội bộ và thành viên hội đồng quản trị độc lập là một trong các vướng mắc đó.Vậy thànhviên hội đồng quản trị độc lập, họ là ai ? Địa vị pháp lý của họ ra sao? Vì sao thị trường tài chínhtín dụng cần đến họ vào lúc này? Những câu hỏi đó sẽ được trả lời cặn kẽ và cụ thể hơn trongphần trình bày dưới đây
Thông qua bài tiểu luận, nhóm sẽ trình bày rõ hơn về quan điểm cũng như những vấn đề pháp lývà thực tiễn áp dụng với đề tài: “Địa vị pháp lí của thành viên độc lập HĐQT” Bố cục bài tiểuluận gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về thành viên hội đồng quản trị độc lập
Chương 2: Pháp luật về thành viên hội đồng quản trị độc lập tại Việt Nam
Trang 6Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thành viên hội đồng quản trị độc lập tại Việt Nam
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm còn gặp nhiều hạn chế về mặt kiến thức, tài liệu thamkhảo cũng như thời gian thực hiện nên không tránh khỏi nhiều thiếu sót và khuyết điểm Nhómrất mong nhận được sự phản hồi, đánh giá quý báu từ phía thầy và các bạn
Xin chân thành cảm ơn
Trang 7CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP 1.1 Hội đồng quản trị
1.1.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, hội đồng quản trị có một vai trò quan trọngtrong việc quản lý một công ty, và là trung tâm của tất cả các quyền hạn quản lý và thẩm quyền.Hội đồng quản trị cung cấp lãnh đạo và hướng dẫn chiến lược, đánh giá khách quan, độc lậpquản lý cho các công ty và kiểm soát công ty Hội đồng quản trị không phải tham gia vào việcquản lý hàng ngày, điều hành của công ty mà đó là trách nhiệm của người quản lý, của giám đốc.Hội đồng quản trị bao gồm những người có thể đến từ các ngành nghề khác nhau hoặc có nguồngốc kinh doanh khác nhau và họ thực thi tất cả các quyền hạn của một công ty, ngoại trừ nhữngngười dành cho các cổ đông mà họ có trách nhiệm
Dựa vào tính chất và quy mô của các công ty hoặc các tổ chức tín dụng đòi hỏi cần phảithành lập một hội đồng quản trị, Luật doanh nghiệp 2005 và Luật các tổ chức tín dụng 2010 đềuđưa ra một định nghĩa chung về hội đồng quản trị, theo đó: “Hội đồng quản trị là cơ quan quản lýcông ty, có toàn quyền nhân danh công ty hoặc tổ chức tín dụng để quyết định, thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông hay chủ sởhữu”
1.1.2 Vị trí trong bộ máy quản lý của tổ chức tín dụng
Là cơ quan có quyền lực thứ hai chỉ sau đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị có toànquyền nhân danh tổ chức tín dụng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của tổ chức tíndụng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông 2
2 Vũ Văn Cương (2012), Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân,Hà Nội, trang 85-96
Trang 8Dưới đây là biểu đồ mô tả khái quát cơ cấu của một tổ chức tín dụng có sự tham gia của hội đồngquản trị:
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu của tổ chức tín dụng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần
- Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại
- Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán củatừng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác
BAN KIỂM SOÁT
BỘ PHẬN KIỂM TOÁN
NỘI BỘ
BỘ PHẬN KIỂM TOÁN
NỘI BỘ
SỞ GIAO DỊCH CHI NHÁNH
SỞ GIAO DỊCH CHI NHÁNH
CÁC PHÒNG BAN
TỔNG GIÁM ĐỐC
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Trang 9- Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty.
- Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này
- Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy địnhcủa Luật này hoặc Điều lệ công ty
- Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; thông qua hợp đồngmua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sảnđược ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tạiĐiều lệ công ty, trừ hợp đồng và giao dịch quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 120 của Luậtnày
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốchoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết địnhmức lương và lợi ích khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo uỷ quyền thựchiện quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp ở công ty khác, quyết định mức thù lao và lợi íchkhác của những người đó
- Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hànhcông việc kinh doanh hằng ngày của công ty
- Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định thành lập công tycon, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác
- Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông, triệu tập họpĐại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định
- Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Đại hội đồng cổ đông
- Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗphát sinh trong quá trình kinh doanh
- Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty
- Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
Ngoài ra, tại điều 63 Luật các tổ chức tín dụng 2010 cũng quy định thêm về nhiệm vụ, quyền hạncủa hội đồng quản trị đối với các tổ chức tín dụng là công ty cổ phần:
Trang 101.2 Thành viên hội đồng quản trị độc lập
1.2.1 Khái niệm
Trong các công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một bên là cổđông với tư cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều hành công ty với tưcách người trực tiếp quản lý sử dụng vốn Những người quản lý thường không phải là cổ đôngnắm giữ phần vốn góp đáng kể nhưng lại là người điều hành mọi hoạt động của công ty và vì vậy
có thể họ sẽ ưu tiên các quyền lợi cá nhân, quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông Do
đó, luật về quản trị doanh nghiệp của các quốc gia cũng như những quy định của các thị trườngniêm yết thường yêu cầu trong cơ cấu hội đồng quản trị công ty phải có sự tham gia của cácthành viên HĐQT độc lập Các thành viên này có vai trò rất quan trọng trong việc giám sát, làmgiảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý công ty, góp phần bảo vệ lợi íchchính đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ
Thực tế chức năng chính của HĐQT là cơ quan ra quyết định dưới hình thức tập thể nênthành viên HĐQT không có một quyền lực nào mang tính cá nhân, ngoài quyền tham gia họpHĐQT và biểu quyết Việc tham gia họp và biểu quyết không được coi là việc điều hành và cácthành viên chỉ đơn thuần tham gia họp HĐQT và biểu quyết thì không được gọi là thành viênđiều hành
Thành viên HĐQT chỉ được coi là thành viên điều hành nếu thành viên đó kiêm nhiệmhoặc tham gia vào bộ phận điều hành (hay thường gọi là Ban Giám Đốc) của công ty với mộtchức danh gắn với công việc cụ thể nào đó (ví dụ tổng giám đốc, giám đốc tài chính, giám đốcnhân sự, giám đốc kỹ thuật…) và thực hiện các quyết định mang tính cá nhân
Trái ngược lại, đề cập đến khái niệm thành viên HĐQT độc lập trước hết là nhắc đếnthành viên không điều hành Trong số đó những thành viên không điều hành đó sẽ tồn tại thànhviên HĐQT độc lập với sự minh bạch được kiểm soát khi mà không có bất kỳ lợi ích cá nhân nàoliên quan đến công ty Thành viên HĐQT độc lập có khi được gọi đầy đủ là thành viên HĐQTđộc lập không điều hành là thành viên HĐQT không có quan hệ vật chất với công ty, hay các
Trang 11công ty con, công ty liên kết của công ty - dù là trực tiếp hay gián tiếp (với tư cách đối tác, cổđông, hoặc nhân viên của các tổ chức có quan hệ kinh doanh với công ty).3
Với mong muốn những thành viên này sẽ ra quyết định một cách khách quan trung thựckhông vì lợi ích cá nhân và/hoặc của bất kỳ nhóm cổ đông nào, vì vậy pháp luật đã đưa chế địnhthành viên độc lập vào để nhằm tăng tính khách quan của các quyết định của HĐQT cũng nhưtăng tính giám sát các hoạt động của ban giám đốc.4
1.2.2 Đặc điểm
1.2.2.1 Độc lập trong quan hệ nhân thân
- Không từng là nhân viên, người quản lý điều hành của công ty, người đại diện vốn củacông ty mẹ tại công ty trong vòng 3-5 năm trước đó
- Không có mối quan hệ, liên kết với người quản lý điều hành, nhân sự cấp cao của công
ty, cổ đông lớn (sở hữu một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần của công ty trở lên)
- Không là người làm tư vấn, kiểm toán cho công ty, công ty liên quan trong một khoảngthời gian nhất định trước đó với tư cách cá nhân hoặc là người quản lý điều hành, nhân viên, đốitác, chủ sở hữu của hãng cung cấp các dịch vụ này
- Thời gian tham gia làm thành viên HĐQT của công ty không quá một số năm nhất địnhkể từ ngày được bổ nhiệm lần đầu tiên Chẳng hạn, 9 năm theo luật Anh, HongKong,…
3
Xem: Công ty luật Minh Khuê,”Bàn về thành viên độc lập của Công Ty” tại
http://luatminhkhue.vn/quan-tri/ban-ve-thanh-vien-doc-lap-cua-cong-ty.aspx, truy cập lúc 18h25’ ngày 26/07/2014
4 Xem: Vũ Văn Tính, “ Hội đồng quản trị, sao mới đủ sức lèo lái công ty?” tại
http://www.thesaigontimes.vn/114059/Hoi-dong-quan-tri-sao-moi-du-suc-leo-lai-cong-ty?.html, truy cập lúc 8h26’ ngày 26/07/2014
Trang 121.2.2.2 Độc lập trong quan hệ về sở hữu và kinh tế
- Không phải là người sáng lập, là cổ đông lớn của công ty hay là người đại diện của cổđông lớn Một số nơi còn quy định tỷ lệ tối đa cổ phiếu của công ty niêm yết mà ID được phépnắm giữ, chẳng hạn 1% theo quy định niêm yết (Listing Rules – LR) tại HongKong
- Ngoại trừ thù lao từ việc làm thành viên HĐQT, không hưởng bất kỳ lợi ích vật chất nàokhác (như quyền mua cổ phiếu, các khoản trợ cấp,…) từ công ty
- Trong vòng 3 năm trước đó không nhận các khoản bồi thường, đền bù,… từ công ty (trừlương hưu, thù lao do tham gia các ủy ban,…) trên mức quy định, chẳng hạn 100.000 USD theo
LR của Sở Giao dịch chứng khoán NewYork (NewYork Stock Exchange – NYSE)
- Không có quan hệ kinh tế (với danh nghĩa cá nhân hay với tư cách là người quản lý điềuhành, chủ sở hữu,… ) dưới dạng hợp đồng, thỏa thuận, cam kết với công ty và công ty liên quantrong vòng 2 (HongKong, Malaysia,…) hoặc 3 (Mỹ, Úc,…) năm trước có giá trị cao hơn mứcquy định
Ví dụ: 120.000 USD hoặc 2% tổng doanh thu gộp hợp nhất theo quy định ở Mỹ, 1 triệu Ringgithoặc 5% doanh thu theo quy định của Malaysia
1.2.2.3 Khả năng kiểm soát kỹ lưỡng và tính quyết đoán
Thành viên HĐQT độc lập có thể không phải là những người có am hiểu sâu sắc về công
ty và lĩnh vực hoạt động của công ty Chính vì thiếu kiến thức chuyên sâu và sự am hiểu về công
ty nên họ khó có thể đưa ra những chất vấn thích đáng Thêm vào đó, để được bổ nhiệm làmthành viên HĐQT họ có thể phải trải qua quá trình tham vấn tín nhiệm từ các thành viên điềuhành, những người có thể nắm đa số cổ phần và có lá phiếu quyết định Chính điều này đã tạocảm giác bị chi phối một phần do được bổ nhiệm vào HĐQT sẽ tạo cảm giác miễn cưỡng mỗikhi định đưa ra những ý kiến phản biện đối với các đề xuất từ phía người điều hành Mặt khác,các thành viên HĐQT không là người trực tiếp điều hành hoạt động của công ty, lại không cótrong tay bộ máy điều hành nên đôi khi tiếng nói của họ thường trở thành những lời nói không cótính quyền lực và trở nên không mấy hiệu quả.5
5 Lê Hoàng Tùng (2009), “Thành viên hội đồng quản trị độc lập: Qui định và thực tiễn”, Tạp chí nhà quản lý (số 68), trang 24 - 26.
Trang 131.2.2.4.Khả năng tiếp cận các thông tin một cách độc lập
Ở các công ty, thường có tình trạng các thành viên HĐQT trông chờ một cách quá mứcvào các thông tin do người quản lý cung cấp (kênh chính thống) Đáng tiếc là trong nhiều trườnghợp, thông tin từ kênh này, trước khi đến được HĐQT thường đã được chỉnh sửa, che giấu vàthay đổi những vấn đề sai sót có khả năng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của công ty đểmang tính thuyết phục hơn là cung cấp thông tin Trở lại với vụ phá sản lớn nhất trong lịch sửcủa Mỹ tính đến năm 2001 của tập đoàn năng lượng Enron, phần lớn những thông tin chuẩn xác
về tình hình của tập đoàn đã không đến được các thành viên HĐQT, phần đông trong số họ vốn
đã thỏa mãn với mức thù lao hậu hĩnh được chi trả và mối quan hệ mật thiết với Ban quản lý Sựthỏa hiệp khi tiếp nhận thông tin sai lệch và chấp nhận bỏ qua những sự can thiệp và giả mạothông tin là yếu tố nhanh chóng dẫn đến sụp đổ của một công ty.6
1.2.3 Tầm quan trọng của thành viên hội đồng quản trị độc lập
1.2.3.1 Tăng tính khách quan cho quyết định của hội đồng quản trị
Một hội đồng quản trị, nếu chỉ bao gồm những người quản lý chủ chốt, kiêm nhiệm cácchức vụ có liên quan, có quan hệ lợi ích bên trong công ty, rất khó có thể đưa ra những quanđiểm, ý kiến khách quan để dẫn đến các quyết định có lợi cho đa số cổ đông, nhưng bất lợi, hoặcít có lợi, cho bản thân mình.Thành viên HĐQT độc lập là người không có quan hệ lợi ích vớicông ty, không bị chi phối bởi những suy nghĩ liên quan đến lợi ích cá nhân, nên sẽ đưa ra nhữngý kiến khách quan, nhằm vào lợi ích tổng thể của công ty chứ không nhằm vào lợi ích riêng tưcủa cá nhân hoặc một nhóm người Nhờ tiếng nói khách quan này, HĐQT công ty tránh đượcnhững quyết định mang tính “có ý đồ”, có thể gây xung đột lợi ích trong cổ đông, và đôi khi,trong chính nội bộ HĐQT
Không có sự khách quan của các thành viên độc lập, có thể HĐQT sẽ chỉ đưa ra cácquyết định đem lại lợi ích trước mắt cho cổ đông mà không quan tâm đến các chủ thế khác, dẫnđến việc công ty mất uy tín, khách hàng mất lòng tin, người lao động bỏ việc… gây thiệt hại lâudài cho công ty
6 Xem: Bảo Trúc, “Những vụ án kinh tế chấn động (kỳ 2): Enron - Kẻ dối trá vĩ đại” tại:
234994.htm, truy cập lúc 9h05’ ngày 26/07/2014
Trang 14http://vietstock.vn/2012/08/nhung-vu-an-kinh-te-chan-dong-ky-2-enron-ke-doi-tra-vi-dai-772-1.2.3.2 Thứ hai, tăng khả năng đánh giá và hoạch định cho hội đồng quản trị.
Xuất phát từ nhiều lý do mang tính chủ quan về thẩm định và đánh giá, các thành viênHĐQT bên trong công ty – thường là các cổ đông lớn – có thể không có được cái nhìn toàn diện
về bức tranh thị trường và tình hình kinh doanh của công ty.Các quyết định mang tính chiến lược
có thể được đưa ra từ sự lạc quan (hoặc bi quan) quá mức, dẫn đến vội vàng, liều lĩnh, khôngtính hết các yếu tố rủi ro, và dễ dẫn đến thất bại Khi đó, với góc nhìn của người ngoài, thànhviên HĐQT độc lập có thể có nhiều thông tin hơn về thị trường, môi trường kinh doanh để đưa ranhững phân tích, nhận định sáng suốt hơn, giúp cho HĐQT có một góc nhìn sáng suốt và khoahọc hơn để đưa ra các quyết định đúng đắn
1.2.3.3 Gia tăng kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh và quản lý cho hội đồng quản trị.
Các thành viên HĐQT bên trong có thể rất giỏi, nhưng không thể giỏi hết mọi mặt Đó làchưa kể, trong nhiều trường hợp, các thành viên HĐQT bên trong chỉ quen với cách làm ăn đơngiản ở quy mô nhỏ, không có đủ kiến thức, kinh nghiệm để tổ chức quản lý công ty ở giai đoạnphát triển lớn mạnh Khi đó, việc đưa những thành viên độc lập có năng lực, kinh nghiệm từ bênngoài vào để giúp lèo lái công ty là điều hết sức cần thiết
1.2.3.4 Bằng chứng chứng tỏ sự minh bạch trong quá trình kinh doanh
Những công ty đại chúng và công ty niêm yết rất cần chứng tỏ sự minh bạch của mình đểlàm an lòng cổ đông và thu hút thêm các nhà đầu tư Một trong những cách thể hiện sự côngkhai, minh bạch trong hoạt động kinh doanh của công ty là sự có mặt thành viên độc lập trong cơcấu của HĐQT với số lượng hợp lý Những thành viên HĐQT độc lập, ngoài việc đóng góp kiếnthức, kinh nghiệm kinh doanh và quản lý và đưa ra những ý kiến khách quan trong HĐQT, cònlà người có nghĩa vụ tác động và bảo vệ sự công bằng, minh bạch trong hoạt động quản trị củacông ty
Trang 15CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM
2.1 Quy định về thành viên hội đồng quản trị độc lập trên thế giới
Thành viên quản trị độc lập vốn từ lâu đã không còn là một khái niệm xa lạ với các quốcgia phát triển trên toàn thế giới Ở các quốc gia phát triển, thành viên độc lập của HĐQT khôngchỉ là một hoặc một vài cá nhân như Việt Nam, mà số lượng thành viên độc lập có thể chiếm quábán số lượng thành viên hội đồng quản trị thông thường Cũng nhờ một phần vào đó mà các công
ty có thể vươn lên ở các vị trí dẫn đầu và ngày một lớn mạnh nhờ vào sự quyết định khách quanvà đầy tính hiệu quả của HĐQT Điển hình nhất là 2 tập đoàn General Electric và BerkshireHathaway Trong thành phần HĐQT của General Electric gồm 16 người của tập đoàn kỹ thuậtđiện hàng đầu thế giới đồng thời là công ty lớn nhất thế giới thì lại có đến 14 người (trên ba phầntư) là thành viên độc lập theo dữ liệu của năm 2009 Và cho đến nay, thành viên hội đồng quảntrị của GE Company đã là 17 người với số lượng thành viên độc lập của HĐQT là 16 người, gầnnhư đạt tỷ lệ tuyệt đối 100% Còn trong Berkshire Hathaway, một công ty đầu tư hàng đầu của tỉphú Warren Buffet, HĐQT có 12 người thì có đến 8 người là thành viên độc lập
Mặc dù số lượng thành viên quản trị độc lập ở mỗi công ty, tổ chức tín dụng là khác nhauvì còn phụ thuộc rất nhiều ở Điều lệ công ty hoặc từ biểu quyết của các thành viên, nhưng không
có nghĩa là pháp luật sẽ không can thiệp vào Dưới đây, nhóm xin trích dẫn một số quy địnhpháp luật ở các quốc gia khác nhau để có thể thấy rõ hơn vai trò và tầm quan trọng của thànhviên độc lập hiện nay