Kinh tế quản lý tài nguyên nước
Trang 1KINH TẾ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC, KINH TẾ TÀI NGUYÊN
NƯỚC VÀ LUẬT VỀ NƯỚC 1.1 GIỚI THIỆU
Môn học này cung cấp góc nhìn của nhà kinh tế về việc phân phối tài nguyên nước
và các chủ đề có liên quan Trong chương 1 này sinh viên được giới thiệu về tài nguyênnước, luật nước và các khái niệm của kinh tế tài nguyên Kinh tế là điều cực kì quantrọng trong việc xác định phân phối tài nguyên nước: nước chảy tới đâu, bằng cách nào
và khi nào nước sẽ được trữ lại Kinh tế học cũng hỗ trợ giải quyết vấn đề làm cách nào
xã hội có thể dịch chuyển nước từ điểm A sang điểm B, đặc biệt là khi điểm B khôngphải là nơi có dòng nước tự nhiên chảy tới Ngoài ra, vì xã hội có nhiều hoạt động kinh tếđang gây ra ô nhiễm, kinh tế học cũng có vai trò quan trọng trong việc xác định các tiêuchuẩn chất lượng cho nhiều loại nước và từ đó quyết định liệu ô nhiễm có cần được làmsạch không và làm sạch bao nhiêu với chi phí cho trước
Để hiểu rõ các vấn đề trong kinh tế tài nguyên nước, chúng ta phải luôn bắt đầu từcác quy luật của lực hấp dẫn hay vật lý của nước Ngoài ra, chính trị, thể chế và pháp luậtcũng dẫn tới việc bảo hộ một số nhóm lợi ích nhất định trong phân phối nước Chẳng hạntại Mỹ, nông nghiệp thường dùng nước cho các mục đích sử dụng có giá trị thấp hơnnhiều so với trong các lĩnh vực sử dụng khác, và điều này xảy ra là do các luật hiện hành
và ảnh hưởng chính trị mà những người sử dụng nước trong nông nghiệp đạt được Việcgiải thích luật nước sẽ cho thấy rằng những người nắm giữ các quyền về nước đang cóquyền hạn rất lớn, điều này sẽ được thấy rõ ở các phần sau
Ở nhiều nước trên thế giới, hệ thống thể chế và luật lệ cũng cực kì quan trọngtrong phân phối nước Tuy nhiên, để hiểu rõ sự liên hệ giữa thể chế và nước, ta cần biếttất cả các đặc điểm của địa phương Ví dụ, vấn đề về chất lượng nước được quan tâm ởmọi quốc gia; nhưng ở từng quốc gia, bản chất của vấn đề này là khác nhau và nhận được
Trang 2sự ưu tiên khác nhau Cũng có những quan ngại về vấn đề khối lượng nước, đặc biệt ởcác nước khô hạn giống như vùng sa mạc miền tây nước Mỹ
Ví dụ: tại Uzbekistan, Turkmenistan, Tajikistan, Kyrgyzstan và Kazakhstan; đây
là những nơi có dân số tăng và rác thải do tưới tiêu đã dẫn tới sự suy thoái của biển hồAral - được tạo nên từ hai dòng sông Amu và sông Syr (Wines, 2002) Dưới khung quản
lý của Liên bang Sô Viết nhiều năm trước, các dòng sông được dẫn nước vào các kênhđào và tưới nước cho những vùng sa mạc, vì vậy gạo và ngũ cốc đã trồng được ởKazakhstan Ngày nay, vì không còn liên bang Sô Viết và nhiều điều đã thay đổi Mỗiquốc gia kể trên đã tranh giành nguồn cung nước đang cạn kiệt, và luật lệ hay các chứcnăng thể chế không thể giúp giải quyết các vấn đề này
Biển hồ Aral 1989 -2008 (wikipedia.com)
Một ví dụ khác là ở Ấn Độ năm 1992: chết chóc và hôi của xuất hiện sau khi bạoloạn nổ ra do các tranh chấp liên quan tới sông Cauvery Người Tamil Nadu và ngườiKarnataka đã tranh chấp nhiều năm nay về các quyền về nước trong dòng sông, tình trạngnày trở nên nghiêm trọng hơn khi người Karnataka xây các đập nước để tưới tiêu, trongkhi người Tamil Nadu tin rằng hành đồng này gây ra các ảnh hưởng tiêu cực lên việc tiếpcận nguồn cung nước của họ Một ví dụ khác rõ ràng và nổi tiếng hơn cả là các vấn đềtranh chấp sông Jordan ở Trung Đông
Trang 3Tranh chấp trên lưu vực sông Cauvery Nguồn: http://www.rediff.com/
Những ví dụ trên cho thấy, luật về nước rất phức tạp Và thể chế, các chức năngcủa thị trường và luật nước khác nhau ở từng quốc gia, từng bang trong nước Mỹ, thậmchí trong từng vùng ở một số bang, vì vậy phải xem xét thật kĩ lưỡng từng đặc điểm củavùng được nghiên cứu để có thể giải quyết vấn đề phân phối nước
1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI NGUYÊN NƯỚC
1.2.1 Nguồn cung nước của Trái Đất
Nguồn cung nước ngọt của thế giới chủ yếu nằm ở các chỏm băng và các dòngsông băng (74% tổng lượng nước ngọt trên thế giới) Một phần nhỏ hơn nằm ở các dòngsông và hồ (ít hơn 0.01%), trong khi 97.5% tổng lượng nước trên trái đất nằm ở đạidương Sự phân bố mưa không đồng đều giữa các vùng trên thế giới Ví dụ, lượng mưatrung bình năm tại 48 bang nằm ở vùng thấp của Mỹ là khoảng 30 inches/năm, nhưng cókhác biệt lớn giữa từng bang
Trang 4Nguồn cung nước trên thế giới
1.2.2 Sự khan hiếm
Dù nước thường có chi phí hoặc giá thị trường rất thấp, nó lại mang tính khanhiếm tương đối so với nhu cầu của dân số trong vùng và trong các địa điểm nhất định(Revenga et al., 2000) Khi so sánh tài nguyên với cầu cho tài nguyên đó, các nhà kinh tế
và khoa học thường dùng khái niệm khan hiếm tương đối, thay vì khan hiếm tuyệt đối
Miền Tây nước Mỹ cho chúng ta nhiều ví dụ về khái niệm khan hiếm tương đối:Các cuộc tranh giành nước đã trở nên phổ biến tại Mỹ khi người Châu Âu nhập cư vào từphía đông và di cư sang phía tây Việc tranh giành trở nên bạo lực khi cầu nước vượt xacung Thông thường, trong lịch sử miền Tây, người dân sẽ quay trở lại miền Đông khihạn hán xảy ra hoặc khi có quá nhiều người tranh giành nguồn nước ít ỏi Nhưng sau khihạn hán kết thúc, chính quyền Liên Bang lại khuyến khích người dân định cư ở miềnTây Và ngay khi người dân di chuyển về miền Tây, khan hiếm nước lại xảy ra, và hạnhán lại xuất hiện; mùa màng, gia súc bị chết và dòng người nhập cư lại quay trở về
Trang 5Bản đồ quan trắc hạn hán ở Mỹ (US Department of Agriculture, 2014)
Ngoài ra, khan hiếm nước là nguyên nhân của tình trạng sức khỏe nghèo nàn củangười dân tại các nước Châu Phi Ở các chương tiếp theo, sinh viên sẽ thấy rằng trongđiều kiện khí hậu và nguồn cung nước tự nhiên giống nhau thì kinh tế là chìa khóa cho sựkhác biệt giữa các vùng nông thôn Châu Phi không thể tiếp cận nguồn nước uống sạch vàkhả năng của các nước phát triển trong việc tiếp tục cung cấp nước cho dân số tăngtrưởng nhanh chóng
Câu hỏi thảo luận: Nếu nước quý giá và quan trọng với xã hội, thì tại sao nó lại
có giá thấp như vậy? Và, nếu nước là một tài nguyên có giới hạn thì tại sao chính quyềncác nước phương tây lại có thể liên tục tìm ra nguồn cung nước thích hợp ngay cả ởnhững vùng khô hạn với dân số tăng nhanh?
Câu trả lời các câu hỏi này là trung tâm của việc thấu hiểu các mâu thuẫn về nước
và vai trò của kinh tế học Để bắt đầu hiểu được những vấn đề này, trước hết ta phải làmquen với một số đặc điểm vật lý của nước, bao gồm việc nước được đo lường như thếnào?
Trang 61.2.3 Dòng chảy và trữ lượng nước
Dòng chảy: sự di chuyển của nước trong sông, suối Dòng chảy sông ngòi luôn
thay đổi từng ngày thậm chí từng phút Mưa tác động tới các dòng chảy trong một lưuvực Ngoài ra, dòng chảy mặt bị chi phối bởi các nhân tố khí tượng địa vật lý và địa hình.Chỉ khoảng 1/3 lượng nước mưa rơi trên bề mặt đất chảy vào sông suối và quay trở lạiđại dương 2/3 còn lại bị bốc thoát hơi hoặc thấm vào nước ngầm
Trữ lượng nước: lượng nước có trong sông, hồ, ao, tầng nước ngầm Lượng
nước trong các sông và hồ luôn luôn thay đổi phụ thuộc vào lưu lượng vào và ra
1.2.4 Cung nước và lưu lượng
Lưu lượng (Runoff): lượng cung ròng nước mà ta có thể lấy/khai thác được(Cech,2003) Lưu lượng không biểu thị lượng cung tiềm năng của nước, nó chỉ ước tínhlượng cung ròng dưới điều kiện hiện tại (Hirshleifer et al., 1960 )
Bảng 1 thể hiện lượng nước sử dụng theo tỉ lệ lưu lượng tại 9 lưu vực sông
Câu hỏi : Tại sao lượng nước sử dụng lại có thể lớn hơn tổng lưu lượng?
Bảng 1 Lượng nước sử dụng hàng năm theo tỷ lệ lưu lượng tại 9 lưu vực sông
Trang 7Đó là do khái niệm "dòng chảy trở lại (return flow)": khái niệm này có nghĩa là
lượng nước sử dụng trong hoạt động A sẽ quay trở lại dòng sông sau khi sử dụng Dòngchảy trở lại này có thể được sử dụng lại trong hoạt động B, C Nhờ có dòng chảy này
mà lượng nước được sử dụng có thể lớn hơn tổng lưu lượng
1.3 VIỆC TIÊU THỤ VÀ SỬ DỤNG NƯỚC CỦA CON NGƯỜI
1.3.1 Các hình thức sử dụng nước của con người
Nước được con người sử dụng dưới nhiều cách khác nhau, và cho nhiều mục đíchkhác nhau Trước hết, chúng ta cần nước để tồn tại, và thức ăn của con người cũng cónước làm nguyên liệu đầu vào Chúng ta dùng nước trong nông nghiệp để trồng hoa màu
và cho gia súc uống Nước còn được dùng trong các quy trình công nghiệp và trong sảnxuất, nước cũng được dùng để tắm gội và giặt giũ, chúng ta còn dùng nước để giải trí: tatưới nước cho các sân gôn và thảm cỏ, bơm nước cho hồ bơi, và bơm nước vào các đàiphun nước
Lượng nước tối thiểu một người cần uống mỗi ngày là khoảng 2 lít nước và lượngnước một người cần dùng mỗi ngày tương ứng với một tiêu chuẩn sống khỏe mạnh làkhoảng 87 lít (23 gallons)
Mục đích tiêu thụ cao nhất trong sinh hoạt gia đình là dành cho các mục đíchngoài trời (Gelt, 1996)
Trang 8Tỉ lệ sử dụng nước sinh hoạt (www.awwa.org)
Lượng nước sử dụng trên đầu người tại Mỹ gấp 2 đến 4 lần một số nước ở Châu
Âu (Frederick, 1991) Việc sử dụng nước phụ thuốc nhiều yếu tố, một trong số đó là giánước người sử dùng phải trả Giá nước khác nhau theo từng địa phương hay từng thờiđiểm, và một số nhà cung cấp nước có thể sử dụng các khung giá khá phức tạp, các loạigiá nước sẽ được thảo luận tại chương 4
1.3.2 Chuyển dòng (diversion): sự di chuyển không tự nhiên của nước mặt
Con người ngày nay thường định cư tại những nơi có rất ít nước Con người làmnhư vậy vì họ mong muốn những nơi định cư với nhiều lí do khác ngoài nguồn cungnước, bao gồm cơ hội việc làm tốt và lương cao, khí hậu ôn hòa, và gần bạn bè hoặcngười thân
Con người từ lâu đã không thõa mãn với sự phân phối của các nguồn nước tựnhiên Các thành tựu kĩ thuật đã dẫn tới kỹ thuật chuyển hướng dòng nước Việc chuyểnhướng có thể ở quy mô nhỏ như trong 1 lưu vực, hoặc có thể giữa các lưu vực
Ví dụ: dự án Colorado-Big Thompson, dự án này lấy nước từ đầu nguồn của sôngColorado gần hồ Granby, bơm lên đồi và vượt qua 20.9 km đường ống tới phía đông củanúi Rocky Sông Colorado có dòng chảy tự nhiên hướng về phía tây tiến tới Mexico,nhưng qua dự án này, nước được chuyển tới các thành phố phía đông như Boulder vàFort Collins
Trang 9Dự án Colorado - Bigthompson (www.northernwater.org)Những sự đổi hướng dòng nước như vậy có thể dẫn tới mâu thuẫn giữa các nhómngười sử dụng nước trong lưu vực Tất cả nông dân ở biên giới phía tây của Colorado vànúi Rocky đều cho rằng thỏa dụng của họ phải ưu tiên trước những nông dân ở phía đôngnúi Rocky (nơi nước được bơm tới) Vì tình huống này mà một số bang đã ra luật nướcrằng không cho phép vận chuyển nước ra ngoài lưu vực (Wilkinson, 1985 )
1.4 LUẬT NƯỚC
Bản chất của luật nước là để ngăn ngừa mâu thuẫn và thiết lập quyền sở hữu rõràng Một đặc điểm rất căn bản của luật là các quyền được giao cho một bên nào đó, vànếu các quyền này bị vi phạm thì hình phạt sẽ được áp dụng Rủi ro bị phạt có thể dùng
để răn đe những người muốn phớt lờ quyền lợi của những người khác trên một dòngnước
Trang 10Chúng ta sẽ bắt đầu với việc miêu tả mối liên hệ giữa luật pháp và kinh tế, vì mộthàng hóa có thể trở thành tài sản sở hữu thì phải được định nghĩa rõ ràng.
Đầu tiên, ta có thể xem nước là loại hàng hóa kinh tế nào? Về bản chất nước có
giá trị vì ta sử dụng nó Nhưng các nhà kinh tế phân biệt giữa hàng hóa tư nhân và hànghóa không tư nhân Hàng hóa tư có 2 đặc tính: tính cạnh tranh (rivalry) và tính loại trừ(exclusion)
• Tính cạnh tranh có nghĩa là nếu tôi tiêu thụ một đơn vị hàng hóa thì ngườikhác không tiêu thụ được đơn vị hàng hóa đó nữa
• Tính loại trừ có nghĩa là ta có thể ngăn một người sử dụng hàng hóa nếu họchưa trả tiền cho hàng hóa đó, có nghĩa là không có ngoại tác
Hàng hóa công không có tính loại trừ: bạn tiêu thụ 1 đơn vị hàng hóa không dẫntới việc tôi không được tiêu thụ cùng đơn vị hàng hóa đó Hàng hóa công cũng bao gồmngoại tác Một công viên đầy hoa tạo ra lợi ích cho tất cả ai đi ngang qua và ngắm nhìnhoa
Một tài nguyên chung (common property resource) cũng bao gồm ngoại tác,nhưng ngoại tác ở đây có thể được hiểu linh động Ví dụ: một tầng nước ngầm là tàinguyên chung và có thể bị khai thác nhanh quá mức làm cho những người sử dụng trongtương lai không nhận được lợi ích
Vậy nước là hàng hóa công cộng hay tư nhân? Nó có thể là cả hai, đặc biệt nếu
ta suy nghĩ theo nghĩa rộng về các dòng nước và các dịch vụ môi trường mà nước cungcấp
Trang 11Hàng hóa tư nhân có thể được áp dụng quyền sở hữu Ví dụ: ngôi nhà là một tàisản riêng được bảo vệ bằng quyền sở hữu thông qua luật pháp Tuy nhiên, quyền về nướckhông được định nghĩa cụ thể như quyền sở hữu một ngôi nhà Thông thường, quyền vềnước là các quyền hợp pháp được sử dụng nước trong một thời gian nhất định Sự khácbiệt giữa quyền sở hữu nhà với quyền nước quan trọng ở chỗ nếu một người không sửdụng nước thì quyền đó có thể bị mất Ngược lại, nếu một người sở hữu một ngôi nhànhưng không ở, quyền sở hữu vẫn tồn tại qua nhiều năm.
1.4.1 Luật cận sông - Riparian Law
Đất cận sông là mảnh đất nằm liền một nguồn nước mặt (surface water body) Học thuyết cận sông bắt nguồn từ thế kỷ 16 Học thuyết này phát biểu rằng nướctrong một con sông hay dòng chảy thuộc về công cộng và không thể bị kiểm soát bởi tưnhân Tuy nhiên, Luật cận sông còn có nghĩa rằng nếu một người sống trên một mảnh đấtcạnh dòng sông và có quyền sở hữu mảnh đất đó, thì người có có quyền lấy và sử dụngmột lượng nước tương ứng với miếng đất
Một người chủ đất cận sông có quyền dùng hoặc không dùng nước, và có hiệu lựctại bất cứ lúc nào Nhưng việc sử dụng nước phải được thực hiện trên mảnh đất người đólàm chủ và nằm trong lưu vực đó
Đến giữa những năm 1800, Luật Cận sông ở Mỹ đã phát triển để bao gồm các đặcđiểm sau:
Trang 12• Đối với các dòng chảy mà tàu bè không đi lại được, quyền nước cận sông có giới hạn tới giữa dòng
• Các dòng chảy mà tàu bè di chuyển được thuộc về công cộng và không được chặn dòng chảy
• Lượng nước bị vượt không được lấy khỏi dòng
• Những người sở hữu đất cận sông nếu bị thiệt hại thì phải được bồi thường
Một đặc điểm khác của Học thuyết Cận sông ngày nay liên quan tới mối liên hệgiữa mảnh đất và quyền sử dụng nước: một người chủ đất không thể bán các quyền nướccủa mình trừ khi mảnh đất đó cũng được bán theo
Tại nhiều bang Học thuyết Cận sông đã được kết hợp với đặc điểm của Học thuyếtcác quyền chung (Correlative Rights) Đặc điểm này căn bản nói rằng những người cóđất cận sông phải chia sẽ tổng dòng chảy của con sông và giới hạn việc sử dụng nước củamình ở một tỷ lệ nhất định Tuy nhiên, tỷ lệ phân chia có thể không bằng nhau Thôngthường lượng nước được sử dụng tùy theo mảnh đất cận sông mà người đó sở hữu
Câu hỏi thảo luận: Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn sở hữu một mảnh đất và muốn sử
dụng nước, nhưng mảnh đất của bạn không nằm ở cạnh sông ? Liệu bạn có nghĩ rằng chỉ
có những người ở ven sông, hồ mới có thể sử dụng nước hay không?
1.4.2 Luật Chiếm hữu trước (Doctrine of Prior Appropriation)
Luật được phát triển để bổ trợ hay thay thế Luật Cận sông gọi là Học thuyếtChiếm hữu trước, được sử dụng ở nhiền bang miền Tây cuối những năm 1800s
Loại luật này một lần nữa lại liên quan tới hoạt động kinh tế và lịch sử phát triển ởmiền Tây Năm 1848 cơn sốt vàng tại California bắt đầu, đưa hàng ngàn nhà thăm dò tớivùng này Công nghệ đào mỏ sơ khai đòi hỏi phải dùng nước để lọc vàng
Năm 1983 từ vụ kiện giữa Irwin và Phillips, Tòa án tối cao California ra lệnh rằngnhững người đào vàng có thể lấy nước từ dòng chảy dựa theo một hệ thống ưu tiên, bất
kể việc này có thể gây hại cho các bên ở hạ lưu Mệnh lệnh này tạo ra Học thuyết Chiếmhữu trước, và nhanh chóng được các bang gần đó áp dụng