(LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ) Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng(LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ) Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng(LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ) Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng(LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ) Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng(LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ) Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 1
NGUYỄN THỊ KIM ĐOAN
QU¶N Lý VèN NHµ N¦íC T¹I C¸C DOANH NGHIÖP NHµ N¦íC TR£N §ÞA BµN
Trang 2tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Kim Văn Chính
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình sắp xếp, đổi mới tổ chức quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), quản lý vốn nhà nước tại các DNNN cũng đã từng bước đổi mới Theo đó, Nhà nước chỉ thực hiện các quyền
và trách nhiệm đối với DNNN với tư cách là chủ đầu tư, chủ sở hữu doanh nghiệp
và chủ yếu thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối phần vốn góp vào DNNN, đồng thời quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu vốn nhà nước và mối quan hệ giữa người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước với người quản lý, điều hành doanh nghiệp cũng được xác định rõ ràng Những đổi mới này đã tạo điều kiện phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, giải phóng các nguồn lực của doanh nghiệp
Mặc dù đã có những đổi mới đáng kể trong việc quản lý vốn nhà nước tại các DNNN, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể nhận thấy rằng vẫn còn khá nhiều vấn đề đặt ra trong quản lý vốn nhà nước tại DNNN: mô hình quản lý vốn chưa thống nhất và chưa được thể chế hóa rõ ràng; tình trạng vô chủ trong DNNN; tính vô trách nhiệm trong quản lý vốn nhà nước tại các DNNN dẫn đến tình trạng đầu tư kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí, mất vốn, mất khả năng thanh toán
Trước yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế và những vấn đề đang đặt ra trong quản lý vốn nhà nước tại các DNNN, thì việc tái cấu trúc DNNN trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Cùng với tái cấu trúc về tổ chức và hình thức pháp lý của doanh nghiệp, việc đổi mới, hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại các DNNN là yêu cầu cấp bách đang đặt ra ở cả cấp toàn quốc và cấp các địa phương, nhất là các địa phương quan trọng có nhiều DNNN và được ủy quyền trực tiếp quản lý nhiều DNNN
Đối với Đà Nẵng, thành phố trọng điểm khu vực miền Trung - Tây Nguyên cũng đang trong quá trình đổi mới quản lý DNNN theo yêu cầu của Nhà nước về tái cấu trúc DNNN Song, đây là công việc còn đang rất bộn bề và chưa tìm ra lời giải thỏa đáng Những nội dung quản lý vốn nhà nước tại DNNN còn đang được nhận thức, triển khai thực hiện các giải pháp của Trung ương với những bước đi ban đầu; chưa có sự thống nhất và phối hợp giữa các
cơ quan quản lý có trách nhiệm quản lý vốn, nhiều nội dung quản lý vốn chưa được nhận thức đúng, thực hiện càng chưa theo quy định và chuẩn mực Chính
vì vậy, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm luận án tiến sĩ chuyên
Trang 4xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về quản lý vốn nhà nước tại các DNNN ở Việt Nam nói chung và DNNN địa phương nói riêng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
- Trên cơ sở khảo sát kinh nghiệm các nước trong quản lý vốn nhà nước tại các DNNN, luận án rút ra những bài học kinh nghiệm cho thành phố Đà Nẵng
- Thông qua nghiên cứu và đánh giá thực tiễn quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận án rút ra những thành công, hạn chế và yếu kém trong quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp ở chương 4
- Trên cơ sở dự báo sự phát triển DNNN cũng như xác định rõ những yêu cầu đối với quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tới năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt
động quản lý vốn nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước địa phương với
tư cách là chủ sở hữu đối với vốn nhà nước tại các DNNN do Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Đà Nẵng quản lý và đại diện chủ sở hữu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn góc độ tiếp cận nghiên cứu: Luận án chỉ nghiên cứu quản lý vốn nhà nước tại các DNNN với tư cách là quản lý của người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các DNNN Việc quản lý vốn nhà nước được giới hạn ở 4 nội dung chính: thực hiện đầu tư vốn, quản lý quá trình sử dụng vốn trong giới hạn thẩm quyền tác động của chủ sở hữu doanh nghiệp, quản lý phân phối kết quả sử dụng vốn và giám sát vốn nhà nước tại DNNN
- Giới hạn đối tượng khảo sát: Luận án giới hạn khảo sát loại hình DNNN theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp 2014, tức là chỉ bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tồn tại dưới hình thức công ty TNHH một thành viên nhà nước thuộc UBND thành phố Đà Nẵng quản lý
- Giới hạn không gian nghiên cứu: Luận án khảo sát việc quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với nghĩa được hiểu là các doanh nghiệp thuộc UBND thành phố Đà Nẵng, không nghiên cứu các DNNN Trung ương trên địa bàn thành phố
- Về thời gian khảo sát: Từ năm 2010 đến năm 2014 Định hướng, giải pháp được luận chứng cho giai đoạn đến năm 2020 và các năm tiếp theo
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đảm bảo tính khoa học và thực tiễn trong từng nội dụng nghiên cứu, luận án đã sử dụng kết hợp các phương pháp khác nhau phù hợp với từng nội dung nghiêu cứu Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp thu thập, thống kê,
Trang 5phân tích, so sánh, tổng hợp và xử lý số liệu…
5 Những đóng góp mới về khoa học
- Về lý luận: Luận án đã làm sáng tỏ hơn khái niệm, nội dung quản lý vốn nhà nước tại các DNNN với tư cách là đại diện chủ sở hữu Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập, luận án đã làm rõ những yêu cầu đối với quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá quá trình quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010 - 2014, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng trong đó có 3 giải pháp mang tính đột phá Một là, đổi mới chính sách
tuyển dụng cán bộ quản lý DNNN theo chế độ thi tuyển hoặc cử tuyển cạnh
tranh kết hợp với cơ chế tiền lương theo hợp đồng Hai là, bổ sung các tiêu chí
đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN, đó là tiêu chí về tốc độ phát triển dài hạn và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người thực hiện
quyền chủ sở hữu Ba là, đề xuất cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN ở cấp địa phương Đà Nẵng theo hướng chú trọng hoạt động giám sát tài chính DNNN với các chỉ tiêu kết quả tài chính được kiểm toán hàng năm
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được kết cấu thành 4 chương, 14 tiết
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
- Các nghiên cứu về DNNN và quản lý DNNN: Có thể kể đến các công
trình tiêu biểu như: Sách “Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
giai đoạn 1986-2000” (2003) của Lee Kang Woo; Sách: “Đổi mới, tăng cường thành phần kinh tế nhà nước - Lý luận, chính sách và giải pháp” (2001) của Vũ
Đình Bách; Sách: "Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà
nước" (2003) của Ngô Quang Minh, Kim Văn Chính, Đặng Ngọc Lợi; Sách: “ Sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (2006) của Nguyễn Cúc và Kim Văn Chính
- Các nghiên cứu về quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nuớc
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu: Luận án: “Quản lý vốn nhà
nước tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước” (2009) của
tác giả Nguyễn Thị Thu Hương; Luận án: “Những tồn tại, vướng mắc ở chính
sách quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa và một số giải phải khắc phục” (2009) của tác giả Trần Xuân Long; Luận án: “Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với tổng công ty 91 phát triển theo mô hình tập đoàn
Trang 6kinh doanh ở Việt Nam” (2005) của tác giả Nguyễn Xuân Nam; Luận án: “Cơ chế quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Việt Nam” (2006)
của tác giả Trần Thị Mai Hương; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Chính
sách và cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp giai đoạn đến 2020”
(2010) của Bộ Tài chính; Bài viết: “Bản chất của cơ chế thực thi quyền đại diện
chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước” (2009) của Nguyễn
Thị Dung; Bài viết: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn
nhà nước” (2007) của tác giả Trần Ngọc Dương
- Dưới góc độ nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước được các tác giả
nghiên cứu và tiếp cận dưới rất nhiều góc độ như với các bài viết như: “Quản lý
vốn cần lộ trình” (2009) của tác giả Lê Đăng Doanh; “Đánh giá thực trạng quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp” (2008) của tác giả Phan Hoài
Hiệp; “Quản lý sử dụng vốn tại các doanh nghiệp - Một số kiến nghị” (2006)
của tác giả Ngô Văn Khoa; “Tăng cường kiểm tra, giám sát tài chính DNNN” (2008) của tác giả Trần Văn Hiền; “Cơ chế giám sát tài chính doanh nghiệp
nhà nước: Thực trạng và những khuyến nghị (2001) của tác giả Trần Đức
Chính; “Cơ chế giám sát tài chính, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp:
Những vấn đề đặt ra” (2012) của tác giả Nguyễn Duy Long; “Kinh nghiệm các nước về quản lý, giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp” (2012) của tác giả
Phạm Thị Tường Vân; “Quản lý, giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà
nước hiện nay” (2012) của tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng; “Giám sát tài chính doanh nghiệp: Mục tiêu quan trọng hàng đầu” (2012) của tác giả Vũ Nhữ
Thăng; “Kiểm soát tài chính trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước” (2012) của nhóm tác giả Hoàng Xuân Hòa, Nguyễn Lê Hoa; “Kinh nghiệm các
nước về quản lý, giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp” (2012) của nhóm tác
giả Phạm Thị Tường Vân, Nguyễn Thị Hải Bình
1.2 NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
- Nghiên cứu chung về kinh tế nhà nước (KTNN) và DNNN ở Việt Nam
Tiêu biểu một số nghiên cứu như: United Nations Development Programme, Cổ
phần hóa, tư nhân hóa và chuyển đổi DNNN ở Việt Nam (2006); Worl Bank, Đổi mới lâm trường quốc doanh ở Việt Nam (2004); Worl Bank, Đánh giá quản trị công ty của Việt Nam (2006); Nguyễn Văn Thắng, Are State Owned Enterprises Crowding out the Private Sector (2006) Các nghiên cứu này đã đề
xuất những giải pháp thực tiễn có giá trị có thể áp dụng trong đổi mới DNNN
và KTNN
- Nghiên cứu về sở hữu trong DNNN ở Trung Quốc có các công trình
như: Dong Wei Su, Corporate Finance and State Enterprise in China (Tài
chính doanh nghiệp và cải cách DNNN ở Trung Quốc) (2003), P Belser & M
Rama, State Enterprise Reform: Estimates Based on Enterprise (2004); J Hassard, Privatization, Politics and State Owned Enterprise Reform in China (2004); H.G Broadman, Cải cách DNNN ở Trung Quốc (2003); Bạch Vĩnh Tư
và Nghiêm Hán Bình, Những thay đổi về con đường rút lui của kinh tế nhà
Trang 7nước trong thời kỳ chuyển đổi (2003); Các nghiên cứu này đã phản ánh qúa
trình đổi mới khu vực kinh tế nhà nước/ kinh tế công hữu/ DNNN ở Trung Quốc qua nhiều giai đoạn khác nhau
- Nghiên cứu về quản trị DNNN, có khá nhiều các công trình nghiên cứu,
có thể kể đến như: OECD, OECD Guidelines on Corporate Governance of
State-owned Enterprises (Hướng dẫn của OECD về Quản trị Công ty trong Doanh nghiệp Nhà nước (2005); Mako, William P., và Chulin Zhang, State Equity Ownership and Management in China: Issues and lessons from International Experiences (Quyền chủ sở hữu và quản lý vốn nhà nước ở Trung Quốc: Vấn đề và bài học kinh nghiệm từ quốc tế) (2004) đề cập đến vấn đề chủ
sở hữu nhà nước, vốn chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp ở Trung Quốc;
Maria Vagliasindi, Governance Arrangements for State owned enterprises (Quản
trị trong DNNN), Policy Reseacrh Working Paper No 4542, The World Bank
Sustainable Development Network (2008) đề cập đến quản trị trong DNNN;
Dominique Pannier, Corporate governance of public enterprises in transitional
economics (Quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp công trong các nền kinh
tế đang chuyển đổi) , The Wold Bank (1996)
- Nghiên cứu về quản lý tài chính trong DNNN, có tài liệu của Mathiesen
H., Managerial Ownership and Financial Performance (Quản lý quyền sở hữu
và hiệu quả tài chính), Ph.D Dissertation, series 18.2002, Copenhagen
Business School, Denmark (2002)
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Từ các công trình nghiên cứu trên cho thấy, chưa có nhiều công trình nghiên cứu quản lý vốn nhà nước tại các DNNN, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN ở Việt Nam trên góc
độ quản lý của chủ sở hữu nhà nước Chính vì vậy, luận án sẽ tập trung nghiên cứu quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên góc độ quản lý của chủ sở hữu ở các khía cạnh quản lý đầu tư, quản lý sử dụng vốn, quản lý phân phối lợi ích kinh tế, giám sát và hình thức thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước ở cấp địa phương gắn với đặc thù địa phương là một thành phố trực thuộc trung ương Cụ thể, những vấn đề sau cần tiếp tục được nghiên cứu:
- Cần làm rõ khái niệm vốn nhà nước tại các DNNN
- Cần tách bạch quản lý nhà nước dưới hai vai trò là chủ sở hữu và cơ
quan công quyền
- Xác định rõ người đại diện phần vốn nhà nước tại DNNN và cơ chế hoạt động của người đại diện
- Làm rõ nội dung quản lý vốn nhà nước tại các DNNN với tư cách là chủ
sở hữu tại DNNN
- Đổi mới cơ chế giám sát và đánh giá việc sử dụng vốn nhà nước tại các DNNN và đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các DNNN
Trang 8Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
2.1 KHÁI NIỆM QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Tại khoản 8, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2014 ghi rõ: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”
Doanh nghiệp nhà nước có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Do Nhà nước thành lập và đầu tư vốn
- Thực hiện các nghĩa vụ do Nhà nước giao
- DNNN do Nhà nước sở hữu 100% vốn
- Về mặt quản lý, các DNNN chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan đại diện quyền sở hữu - cơ quan chủ quản từ khâu chiến lược, kế hoạch dài hạn đến các quyết định đầu tư, các quyết định ngắn hạn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo và phương án phân phối lợi nhuận
2.1.2 Khái niệm vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước
Vốn nhà nước tại các DNNN là vốn được đầu tư, cấp phát hoặc phát triển
từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận từ các nguồn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, vốn phát triển từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp, vốn tín dụng vay của các tổ chức tài chính do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Vốn nhà nước tại các DNNN có các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Vốn thuộc sở hữu nhà nước, là sở hữu toàn dân, do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu
- Vốn nhà nước tại các DNNN cũng giống như vốn của các doanh nghiệp nói chung, là yếu tố lượng hóa thành giá trị tất cả các tài sản của doanh nghiệp
- Vốn nhà nước trong các DNNN vừa là vốn mang tính kinh doanh với mục đích sinh lời, vừa là vốn của Nhà nước có mục đích lợi ích công cộng
2.1.3 Quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước
Quản lý vốn nhà nước tại các DNNN là sự tác động bằng các quyết định của các cơ quan quản lý nhà nước đối với quá trình hình thành, huy động, sử dụng phần vốn của Nhà nước giao cho DNNN nhằm đạt các mục tiêu của Nhà nước trong bảo toàn, phát triển vốn và bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của từng DNNN nói riêng và toàn bộ hệ thống DNNN nói chung
Đối tượng quản lý được xác định là vốn của Nhà nước tại các DNNN Vốn ở đây tồn tại như một yếu tố tài chính đảm bảo cho quá trình hình thành, phát triển doanh nghiệp
Chủ thể quản lý vốn nhà nước tại DNNN đó chính là Nhà nước Chủ thể
Trang 9này gồm nhiều cơ quan và cấp quản lý khác nhau Tùy theo từng DNNN với những đặc điểm về quy mô, tầm quan trọng, phạm vi hoạt động mà người ta có thể xác định chủ thể quản lý vốn khác nhau
Đối với DNNN địa phương, cơ quan được ủy quyền quản lý vốn chính là chính quyền địa phương bao gồm UBND địa phương và các sở ban ngành trực thuộc Ở Việt Nam, các DNNN địa phương được ủy quyền cho các UBND cấp tỉnh quản lý, trong đó có quản lý vốn Các chính quyền cấp thấp hơn là huyện
và xã không có chức năng này
2.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
- Quản lý đầu tư vốn nhà nước vào các DNNN
- Quản lý sử dụng vốn nhà nước tại các DNNN
- Phân phối lợi nhuận và thu nhập của DNNN
- Kiểm tra, giám sát vốn nhà nước tại DNNN
2.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
- Mô hình phát triển kinh tế - xã hội
- Hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước
- Tổ chức bộ máy quản lý của nhà nước và năng lực bộ máy
- Mức độ mở cửa, hội nhập của nền kinh tế
- Đạo đức, trách nhiệm và năng lực của người quản lý
2.4 KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ BÀI HỌC RÚT RA TRONG QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.4.1 Kinh nghiệm các nước: Bao gồm kinh nghiệm của các quốc gia
như Trung Quốc, Maroc, Hungary và Singapo tương ứng với các mô hình quản
lý DNNN: Cơ quan ngang bộ; cơ quan thuộc Bộ Tài chính; cơ quan quản lý
hoạt động theo mô hình doanh nghiệp
2.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho việc quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Cần xây dựng mô hình đại diện chủ sở hữu thống nhất, tách bạch giữa chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và chức năng quản lý nhà nước đối với DNNN
- Cần xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm, tiến tới tập trung hóa trong việc thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước
- Đối với chính quyền địa phương như Đà Nẵng, cần có quy định pháp lý đầy đủ hơn trong phân cấp quản lý bằng luật đối với các DNNN
- Việc lựa chọn mô hình quản lý vốn nhà nước tại các DNNN ở cấp độ một địa phương phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm, tình hình về số lượng, quy mô, đầu mối, địa bàn và mục tiêu quản lý DNNN
Trang 10- Cơ quan thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước có trách nhiệm giải trình độc lập, có đủ nguồn lực và năng lực thực hiện nhiệm vụ này
- Việc đổi mới mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước nếu được thực hiện ở cấp địa phương cần phải thực hiện một cách đồng
bộ với các biện pháp, vừa phải cơ cấu lại khu vực DNNN, cơ cấu lại chức năng, nhiệm vụ và các mối quan hệ phối hợp của các cơ quan nhà nước liên quan
Chương 3 THỰC TRẠNG VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
2001 đến 2013 đã thực hiện 88 lượt sắp xếp, trong đó, cổ phần hóa là hình thức chủ yếu, chiếm 42% Còn lại là các hình thức khác như: bán cho người lao động
3 doanh nghiệp (3,4%); sáp nhập, hợp nhất 17 doanh nghiệp (19,3%); giải thể
11 doanh nghiệp (12,5%); phá sản 7 doanh nghiệp (8%); chuyển cho Trung ương 6 doanh nghiệp (6,8%); chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên 7 doanh nghiệp (8,0%)
Qua khảo sát cho thấy, DNNN địa bàn thành phố Đà Nẵng thường kinh doanh đa ngành nghề, song ngành nghề chủ yếu là xây dựng, công nghiệp; ở một
số đơn vị hoạt động ở lĩnh vực có tính chất đặc thù như: quản lý công trình thủy lợi, xổ số kiến thiết, cấp nước, xuất bản, vệ sinh môi trường đô thị
3.1.2 Tình hình vốn và sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Về tổng vốn, qua số liệu cho thấy, vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố đã tăng lên Cụ thể, tổng vốn đã tăng lên 750 tỷ vào năm 2013, bình quân 1 doanh nghiệp trên 102 tỷ đồng (năm 2001 chỉ 8,34 tỷ đồng); lợi nhuận đạt 33 tỷ đồng (năm 2001 lỗ gần 15 tỷ đồng); doanh thu bình quân là 158,4 tỷ đồng/1doanh nghiệp (năm 2001 là 63,11 tỷ đồng/1doanh nghiệp), tăng 2,5 lần so với năm 2001 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đạt 4,4% Trong đó, 5 doanh nghiệp có lãi, 2 doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nhiều năm liền So với năm
2001, trong số 61 doanh nghiệp thì chỉ có 47 doanh nghiệp có lãi, song mức lãi
Trang 11thấp, số còn lại hoạt động thua lỗ, kết quả là năm 2001 lỗ gần 15 tỷ đồng
Về sử dụng vốn, nhìn chung các DNNN của Đà Nẵng sử dụng vốn đúng mục đích Tuy nhiên có, vấn đề nổi cộm và khó giải quyết là tình hình nợ đọng kéo dài Việc xử lý tài chính và nợ tồn đọng trong các DNNN thành phố Đà Nẵng là một trong những vướng mắc của nhiều doanh nghiệp hiện nay trong quá trình chuyển đổi
3.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.2.1 Thực trạng quản lý đầu tư vốn nhà nước vào các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Từ năm 2001 đến nay, việc đầu tư vốn nhà nước vào các DNNN theo hướng Nhà nước chỉ đầu tư vốn vào những doanh nghiệp kinh doanh trong những ngành nghề mà Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ Chỉ đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho DNNN mới thành lập; không đầu tư bổ sung cho doanh nghiệp đang hoạt động trừ trường hợp Nhà nước giao nhiệm vụ bổ sung Còn lại, các doanh nghiệp phải tự bổ sung vốn kinh doanh từ nguồn vốn tích lũy được và vốn huy động để phát triển kinh doanh
Về nguồn vốn kinh doanh, thành phố sử dụng nguồn NSNN để đầu tư ban đầu hình thành nên vốn điều lệ cho DNNN, đồng thời bổ sung vốn đầu tư cho DNNN hoạt động, với nhiều hình thức khác nhau như: vốn vay, vốn tự bổ sung
từ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, do nhu cầu về vốn của các DNNN rất lớn, vì vậy để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh các DNNN đã phải vay vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính
Qua số liệu tổng hợp cho thấy, nguồn vốn từ NSNN đầu tư cho doanh nghiệp 100% vốn nhà nước do thành phố Đà Nẵng chiếm khoảng 50% tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, còn lại là các nguồn vốn khác như: vốn vay (chủ yếu là các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng hoặc doanh nghiệp thực hiện các dự án) chiếm khoảng 7-10%, các khoản nợ phải trả khác cho hoạt động kinh
doanh chiếm khoảng 33-40%
3.2.2 Thực trạng quản lý sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.2.2.1 Về tăng trưởng vốn
Qua số liệu tổng hợp cho thấy, giá trị tài sản, vốn nhà nước trong DNNN 100% vốn nhà nước do thành phố quản lý là khá ổn định, có tăng giảm qua các năm, song mức tăng giảm không đáng kể Vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại DNNN đều được sử dụng, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính, không có tình trạng đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực cần phải thoái vốn theo quy định của Nhà nước Vốn phân bổ không đều, giá trị vốn tập trung ở lĩnh vực cấp nước sạch, dịch vụ thủy lợi, chủ yếu đầu tư vào hệ thống nhà máy xử lý nước, mạng lưới đường ống, hồ, đập, kênh mương (chiếm đến 76%)
3.2.2.2 Về huy động vốn
Phần lớn vốn tại các DNNN trên địa bàn thành phố được hình thành từ
Trang 12nguồn vốn của Nhà nước, bao gồm: Vốn đầu tư của chủ sở hữu, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối Ngoài nguồn vốn nhà nước, các doanh nghiệp còn sử dụng vốn vay Nguồn vốn này bao gồm vay ngắn hạn và vay dài hạn So với nguồn vốn từ NSNN, nguồn vốn vay này không lớn, chỉ chiếm khoảng từ 15-20% Trong đó, vốn vay dài hạn chiếm tỷ trọng lớn Các khoản vay ngắn hạn và dạn hạn này đều có mục đích sử dụng và có kế hoạch trả nợ rõ ràng Mức vay
có thể lên đến vài trăm tỷ với hình thức vay là tín chấp theo quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành từng thời kỳ (nếu có)
3.2.2.3 Về hiệu quả quản lý sử dụng vốn
Thứ nhất, bảo toàn và phát triển vốn
Bảng 3.9: Hệ số bảo toàn vốn của các doanh nghiệp nhà nước
trên địa bàn thành phố giai đoạn 2010-2013
6 CT Môi trường đô thị 47.035,5 43.168,1 40.217,9 44.758,3
7 CT Khai thác thủy lợi 239.447,4 245.645,3 285.862,6 286.954,0
Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ Báo cáo tài chính của các DNNN qua các năm
Ghi chú: (*) Vốn chủ sở hữu được sử dụng để tính hệ số bảo toàn vốn của DNNN bao gồm: Nguồn vốn đầu tư của chủ sở hữu, quỹ đầu tư phát triển và nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản được quy định tại Nghị định 71/2013/NĐ-CP năm 2013 và Thông tư 220/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 71
Theo quy định hiện hành, mức độ bảo toàn vốn của DNNN được đánh giá dựa trên hệ số bảo toàn vốn (H), hệ số này được tính bằng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp cuối
kỳ trước liền kề với kỳ báo cáo Qua tính toán cho thấy, mức độ bảo toàn và phát triển vốn tại các DNNN trên địa bàn thành phố là khá thấp Trong 4 năm nghiên cứu từ 2010-2013 thì có 1 năm hệ số bảo toàn bằng 1, doanh nghiệp bảo toàn nhưng chưa phát triển được vốn; 2 năm hệ số lớn hơn 1, doanh nghiệp bảo toàn và phát triển được vốn, nhưng tốc độ tăng trưởng vốn là khá chậm; 1 năm
hệ số này nhỏ hơn 1, doanh nghiệp không bảo toàn được vốn Nếu xét từng doanh nghiệp thì có 2 doanh nghiệp 2 năm liên tục không bảo toàn và phát triển được vốn, đó là Công ty TNHH 1 thành viên Xây dựng - Xây lắp và Kinh
Trang 13doanh nhà Đà Nẵng, Công ty TNHH 1 thành viên Môi trường đô thị
Thứ hai, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận thực hiện của các doanh nghiệp
- Lợi nhuận thực hiện: Qua số liệu cho thấy, tổng lợi nhuận của các DNNN thành phố qua các năm không ổn định Năm 2010 tổng lợi nhuận trước thuế là 20.736,9 triệu đồng, năm 2012 tăng lên 54.541,8 triệu đồng, nhưng đến
2013 lại giảm xuống còn 32.832,2 triệu Phần lợi nhuận giảm đi là ở các DNNN hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực như xây dựng, kinh doanh nhà và khai thác thủy lợi Trong tổng số 7 DNNN, thì 4 đơn vị làm ăn có hiệu quả qua các năm, bảo toàn và phát triển được vốn, làm ăn có lãi Còn 3 đơn vị kinh doanh kém hiệu quả, khi lãi khi lỗ, khi hòa vốn
- Về khả năng sinh lời của vốn và tài sản
Bảng 3.11: Khả năng sinh lời của các doanh nghiệp nhà nước
sở hữu (ROE) và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) có thể thấy hệ số ROE lớn hơn ROA Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp đã thành công trong việc huy động và sử dụng vốn để tìm kiếm lợi nhuận cho doanh nghiệp
Thứ ba, nợ phải trả và khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp
Qua bảng số liệu 3.12 cho thấy, nợ trong các DNNN tăng lên qua các năm, tốc độ tăng không đáng kể Trong đó chủ yếu là nợ ngắn hạn, chiếm trên 90% tổng nợ Hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu bình quân là 1,13 lần Đối với các DNNN ở Đà Nẵng, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là khá cao và có xu hướng tăng lên từ 2010-2013 Do đó, khả năng trả nợ của doanh nghiệp ngày càng khó khăn hơn Cũng từ số liệu tính toán cho thấy, hệ số thanh toán nợ đến hạn qua các năm đều lớn hơn 1, điều này chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ đến hạn và khả năng này là khá cao