Quản lý tài nguyên vùng bờ và đới bờ vùng đầm lầy ngập nước láng sen
Trang 1Phần 1: VÙNG ĐẦM LẦY NGẬP NƯỚC LÁNG SEN
I Giới thiệu chung về vùng đầm lầy ngập nước Láng Sen:
Láng Sen là một bồn trũng nội địa vùng Đồng Tháp Mười và Long An Với hình thái địa mạo đa dạng và là vùng sinh thái tiêu biểu cho kiểu đầm lầy ngập nước, Láng Sen góp phần duy trì thảm thực vật ven sông, đồng cỏ tự nhiên, đầm lầy và gia tăng diện tích tràm trồng đã làm phong phú quần thể động- thực vật
Diện tích tự nhiên của Láng Sen là 5.030 ha, phần lớn nằm trên địa bàn xã Vĩnh Lợi
và một phần thuộc xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng tỉnh Long An Trong đó có một giới hạn tự nhiên khá đặc biệt là một "cù lao" diện tích khoảng 1.500 ha là một vùng đầm lầy
có nhiều sinh cảnh thích hợp cho động thực vật ưa nước và nơi dễ khôi phục các hệ sinh thái đồng cỏ, bãi ăn của nhiều loài chim nước, được bao bọc bởi sông Vàm Cỏ Tây Kết quả khảo sát sơ bộ cho thấy có sự hiện diện của 156 loài thực vật hoang dã thuộc
60 họ; 149 loài động vật có xương sống thuộc 46 họ, trong đó có 13 loài nằm trong sách
đỏ Việt Nam; các loài thủy sản trên sông rạch, lung, trấp khá phong phú, và khoảng 11 loài động vật đáy Với tính đa dạng sinh học như thế, việc bảo tồn sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái vùng đất ngập nước tiêu biểu cho vùng Đồng Tháp Mười góp phần vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, văn hóa cho một vùng đất ngập nước lưu vực sông Mekong
Đầu tháng 1 năm 2004, UBND Tỉnh Long An đã ra Quyết định số: 199/QĐ-UB ngày 19/1/2004 thành lập Khu Bảo Tồn Đất Ngập Nước Láng Sen, với diện tích là 5.030 ha Trong đó, bao gồm cả diện tích của Khu Bảo Tồn Sinh Thái Rừng Tràm Đồng Tháp Mười, Lâm Trường Vĩnh Lợi và một phần diện tích của xã Vĩnh Lợi và Vĩnh Đại Lấy địa điểm Cái He làm trung tâm của vùng lỏi
II.Một số đặc điểm tự nhiên:
Láng Sen là một vùng đất ngập nước tương đối lớn còn sót lại của vùng Đồng Tháp Mười, ít nhiều mang tính chất tự nhiên và là hệ sinh thái duy nhất kết hợp các đặc điểm của kiểu đầm lầy mặn và kiểu đầm lầy nước ngọt quanh năm
1 Địa hình khu vực Láng
Sen được xem như một bồn
trũng có cao độ từ 0.42 – 1.8 m
(so với mực nước chuẩn tại
mũi Nai – Hà Tiên) Với địa
hình như thế, khu vực này được
xem như một vùng đầm lầy
ngập nước chịu ảnh hưởng trực
tiếp chế độ thủy văn của sông
Cửu Long, và chịu ngập lũ
hàng năm
2 Địa chất khu vực phần
lớn thuộc trầm tích Holocen và
những gò Pleistocen (hoặc
Pleistocen muộn) nổi lên ở một
Trang 2số nơi trong vùng Ngoài ra, vài vạt trũng thấp là lòng sông cổ với lớp đất mặt tích tụ nhiều chất hữu cơ
3 Các nhóm đất hiện diện trong vùng là kết quả từ những tiến trình và yếu tố hình
thành đất, trong đó tính đa dạng của vật liệu trầm tích đóng vai trò quan trọng Các nhóm đất chính:
– Đất xám (Aeric Paleaquults, Aquic Arenic Paleustults, Typic Plinthaquults) – Đất phèn hoạt động (Typic Sulfaquepts, Umbric Sulfaquepts, Hydraquentic Sulfaquepts)
– Đất phù sa có tầng sinh phèn trung bình (Aquic sulfic Tropaquepts)
– Đất phù sa có tầng phèn trung bình (Sulfic Tropaquepts)
– Đất phù sa phát triển (Typic Tropaquepts)
4 Chế độ thủy văn tại đây chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông Cửu Long và thay đổi
do ảnh hưởng biến đổi về chế độ dòng chảy trong toàn vùng Tân Hưng – Vĩnh Hưng Mạng lưới sông rạch tự nhiên trong khu vực Láng Sen và vùng lân cận khá dày, tuy nhiên lưu lượng lưu thông không lớn do lưu vực nhỏ Láng Sen được tiếp nước chủ yếu do các kênh tạo nguồn lớn từ sông Cửu Long, như: kênh Hồng Ngự – Long An, kênh 79, kênh
28 và sông Lò Gạch Nguồn nước trực tiếp tới khu vực Láng Sen đi qua 2 tuyến dẫn nước chính là kênh 79 và rạch Bông Súng Mặc dù nằm trong nội địa, nhưng ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều, và lớn nhất vào mùa kiệt (mùa khô) Tuy nhiên biên độ dao động mực nước lớn nhất cũng trong khoảng < 0.5 m Biên độ này giảm dần tới khi đỉnh lũ xuất hiện
5 Ngập lũ: vùng ngập sâu trung bình ở vùng từ 2.5 đến 3,5 mét trong các năm lũ lớn
Thời gian ngập từ 3 đến 4 tháng Do mạng lưới kênh mương được phát triển và mở rộng nên thời gian ngập hiện nay là ngắn hơn khoảng 1 tháng so với trước đây Vùng ngập sâu
và lâu nhất vẫn là những nơi lung bàu trũng như Láng Sen, rạch Cá He, rạch Cái Nổ
6 Chất lượng nguồn nước thay đổi theo mùa và có sự khác biệt trong từng khu vực
Tuyến kênh 79 đi qua vùng đất phèn nặng nên nước bị chua phèn và độ đục thấp, độ pH thường thấp dưới 4,5 Chất lượng nước chỉ được cải thiện vào mùa mùa lũ, đồng thời độ đục cũng tăng lên ít nhiều
7 Bồi lắng phù sa trong nội đồng chỉ xảy ra khi lượng phù sa theo dòng nước lũ đưa
về Với lớp trầm tích phù sa khá dầy đã gây ra hiện tượng những cánh đồng năng bị chết hàng loạt
III Đặc điểm hệ sinh thái:
Láng Sen có sự đa dạng cao nhất về địa mạo và có vành đai rừng tự nhiên ven sông, một kiểu nơi sống hiếm có hiện nay so với các vùng đất ngập nước khác của vùng Đồng Tháp Mười Thuỷ vực nước chảy tự nhiên ở nơi đây là một kiểu sinh cảnh không có ở các khu bảo vệ đất ướt nước ngọt khác của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1 Cảnh quan tự nhiên:
Mặc dù diện tích khu vực tương đối nhỏ nhưng chịu chi phối bởi tính đa dạng của trầm tích - thổ nhưỡng và hệ thống sông rạch nên Láng Sen mang đầy đủ đặc tính chung của cảnh quan Đồng Tháp Mười: cảnh quan thảm thực vật thân gỗ chịu ngập ven sông, bải lầy ven sông, các lung, láng, Các dạng địa mạo này thể hiện tính đa dạng về sinh vật, đa dạng về sinh cảnh
Trang 32 Các kiểu nơi sống của động thực vật:
a) Thủy vực nước chảy :
Thủy vực nước chảy gồm hệ thống sông rạch tự nhiên và các kênh đào Thành phần thực vật ở các kênh đào thưa thớt và ít loài, ở các sông rạch tự nhiên thành phần thực vật phong phú hơn, gồm các loài: súng (Nymphaea spp.), rau tràng (Nymphoides nouchali), nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), ráng gạt nai (Ceratopteris thalictroides), mồm mở (Ischaemum spp.),
Đây là nơi sống của nhóm cá ưa nước chảy Nhóm này gồm các loài cá chủ yếu sống tại các dòng chảy chính, kênh hoặc sông lớn và thường di cư ngược dòng về thượng lưu hoặc di cư đến vùng ngập lụt theo mùa để sinh sản hoặc sinh trưởng Chúng thường được gọi chung là nhóm cá trắng gồm các loài phần lớn thuộc họ Cá chép (Cyprinidae) như cá linh (Henycorhynchus siamensis), cá ngựa (Hampala spp.), cá mè vinh (Barbodes gonionotus), cá he (Barbodes spp.), … và các loài trong họ Cá tra (Pangasiidae), họ Cá nheo (Siluridae), họ Cá thát lát (Notopteridae) … Đây là nhóm cá di cư ra vào trong khu vực theo sự lên xuống của nước lũ hàng năm ở Đồng bằng sông Cửu Long
b) Đai rừng tự nhiên :
Đai rừng tự nhiên hỗn loài ven sông, rạch, ngập nước thay đổi từ 3 tháng đến gần quanh năm (tùy theo độ cao của từng địa điểm) Do quá trình khai phá, ở Láng Sen ước tính chỉ còn lại 15 - 20% so với diện tích trước năm 1975 Độ rộng bình quân của đai rừng này hiện nay chỉ còn khoảng 10 - 15 m, cá biệt có những nơi rộng đến 100 m Thành phần thực vật có cấu trúc phức tạp, phong phú về loài và dạng sống, trong đó các loài thường gặp bao gồm:
• Nhóm cây thân gỗ: Gáo (Sarcocephalus coadunata), Trâm (Syzygium cinereum), Bún (Crateva nurvala), Trâm bầu ba lá (Combretum trifoliatum), Côm háo ẩm (Elaeocarpus hygrophilus), Chiếc khế (Barringtonia acutangula);
• Nhóm dây leo: Bòng bòng leo (Lygodium scandens), Vác (Cayratia trifolia), Mây nước (Flagellaria indica);
• Nhóm cỏ, cây bụi: Phèn đen (Phyllanthus reticulatus), Chóc gai (Lasia spinosa), Đình lịch (Hygrophila salicifolia), Choại co (Cyclosorus sp)
c) Đồng cỏ ngập nước theo mùa:
Đồng cỏ ngập nước theo mùa, thời
gian ngập nước khoảng 5 - 6 tháng/năm và
dễ bị cháy vào mùa khô Đồng cỏ ngập
nước theo mùa thường phân bố ngay sau
đai rừng ven sông Trước đây, ở khu lỏi
của Láng Sen, kiểu nơi sống này có diện
tích lớn nhất nhưng hiện nay chỉ còn sót
lại những đám nhỏ có diện tích thường
dưới 0,5 ha phân bố rải rác trong các lô
rừng tràm, ruộng lúa, những lô có diện tích
lớn hơn (2-3 ha) là những đồng cỏ mới
được phục hồi lại sau khi không trồng lúa
nữa
Trang 4Tại khu vực bảo tồn sinh thái, những cánh đồng cỏ với diện tích lên đến hơn 200 ha vẫn còn duy trì, với sự hiện diện của nhiều loài chim nước; trong đó có những loài chim lớn như Diệc Xám (Ardea cinerea), Già Đẫy (Leptoptilos dubius), và Sếu (Grus antigone),… Tổ thành thực vật ở các đồng cỏ hiện nay thường bao gồm nhiều loài thân thảo sống chung với nhau như Mồm (Ischaemum sp), Năng ngọt (Eleocharis dulcis), Lúa hoang (Oryza rufipogon), cỏ Ống (Panicum repens), U du (Cyperus sp), Rau mác (Monochoria sp)
d) Lung, trấp :
Đây là những vùng đất thấp trũng có thời gian ngập nước quanh năm hoặc gần như quanh năm nên ít cháy vào mùa khô Thực vật của các lung, trấp bao gồm các loài thủy sinh như Sen (Nelumbo nucifera), Súng (Nymphaea sp), Nhỉ cán vàng (Utricularia aurea) hoặc chịu ngập nước như Lúa hoang (Oryza rifipogon), Lác hến (Scirpus grossus), Mồm (Ischaemum sp), Cỏ đắng tán (Fuirena umbellata) Ngoài ra, do có đê giữ nước nên có sự hiện diện của những loài thực vật ngay sau đê, những bãi cỏ phát triển trên nền của những mùn bã hữu cơ được tích luỹ dần theo thời gian Độ rộng phân bố trung bình của chúng khoảng 20 m sau đê, những loài thực vật được ghi nhận: Cỏ năng (Eleocharis dulcis) (3m), Rau dừa (Lasia spinosa) (1m), Lục bình (Eichhornia crassipes) (7m), U du (Cyperus sp) (1,5m), Cỏ bắc (Leersia hexandra) (0,5m), ngoài ra còn có: Ráng đại (Acrostichum anneura), Chò co, Lúa hoang (Oryza rufipogon), Lúa ma (Oryza minuta) Vào các tháng mùa khô, các lung, trấp là nơi trú ẩn của các loài bò sát như rắn, Rùa, Cua đinh và các loài cá thuộc nhóm cá nước tĩnh như Lươn, các loài thuộc họ cá Lóc, họ
cá Trê, họ cá Rô đồng
Sự kết hợp giữa đồng cỏ ngập nước theo mùa và các lung, trấp tại đây đã tụ hợp khá nhiều loài chim nước tiêu biểu của vùng Đồng Tháp Mười như Già đẩy (Leptoptilos dubius), Diệc lửa (Ardea purpurea), Diệc xám (Ardea cinerea), Cò ma (Bubulcus ibis),
Cò trắng Trung Quốc (Cò Lông trĩ chân xanh) (Egretta eulophotes), Trích (Porphyrio porphyrio), Còng cọc (Phalacrocorax carbo), Giang sen (Mycterria leucocephala), Chim suốt, Chim học trò, Vịt trời (Anas clypeata và Anas poecilorhyncha), Le le (Dendrocygna javanica), Dòng dọc (Ploceus spp), Điêng điểng, Bói cá lớn (Megaceryle lugubris), Bói
cá nhỏ (Ceryle rudis)
e) Rừng tràm :
Đây là kiểu nơi sống nhân tạo được
phát triển mạnh sau từ năm 1983 đến
nay Rừng tràm thường được trồng trên
các đất trồng lúa kém hiệu quả kinh tế
Về mặt đa dạng sinh học, được phân loại
như sau:
• Rừng tràm từ 1 - 3 tuổi:
rừng chưa khép tán, ở mặt đất có sự hiện
diện của nhiều loài cây thân thảo Ngoài
ra rừng non còn tạo nên lớp tán rậm rạp,
tiếp xúc với mặt đất, tạo điều kiện tốt cho các loài động vật sinh sống như Cốc Đế (Phalacrocorax carbo), Chàng Nghịch (Rallus aquaticus), Bìm Bịp (Centropus sinensis và
C bengalensis), Chim Sâu (Alcippe poioicephala), Trao Trảo (Pycnonotus spp), Chim Khách (Crypsirina temia), Quốc (Amaurornis phoenicurus), Vạc (Nycticorax nycticorax),
Cò Bợ (Ardeola bacchus), Cò Ma (Bubulcus ibis),…
Trang 5• Rừng tràm từ 4 tuổi trở lên: rừng đã khép tán, mật độ thường trên 6.000 cây/ha Dưới tán rừng gần như không có các loài thực vật thân thảo sinh sống Ngoài ra,
do dưới tán rừng trống trải nên rừng ở độ tuổi này thường không thích hợp cho các loài động vật sinh sống Các loài chim thường gặp như Cốc Đế (Phalacrocorax carbo), Phướng (Phaenicophaeus tristis), Cò bựa (Nycticorax nycticorax), Tu hú (Eudynamys scolopacea), Chim sâu (Alcippe poioicephala), Trao trảo (Pycnonotus spp), Chim khách (Crypsirina temia)
f) Ruộng lúa:
Đây là kiểu nơi sống nhân tạo có diện tích lớn nhất trong vùng điều tra, thường được hình thành từ những nơi trước đây là những đồng cỏ ngập nước theo mùa, ít bị phèn Thực vật hoang dại thường gặp ở ruộng lúa vào các tháng lũ (các tháng không canh tác) bao gồm Ngò nước (Limnophila heterophylla), Nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), Súng (Nymphaea sp)
Các loài chim thường gặp ở ruộng lúa bao gồm Mỏ Nhác (Limosa limosa), Se Sẻ (Passer montanus), Dòng Dọc (Ploceus spp), Chim Sâu (Alcippe indicus), Cà Cuốc (Pseudibis gigantea), Cò Ma ((Bubulcus ibis),…
Các kiểu nơi sống từ (b) đến (f) là môi trường sống chính của nhóm cá ưa nước tĩnh Đây là các loài cá có khả năng sống trong điều kiện môi trường khắc nghiệt như nước cạn, oxy hòa tan thấp, chua phèn, ít di cư và thường được gọi là chung là nhóm cá đen Nhóm này gồm các loài cá thuộc họ cá Lóc (Channidae), các loài thuộc họ cá Trê (Clariidae), họ cá Rô đồng (Anabantidae), họ cá Sặc (Belontiidae) Đây là nhóm cá chính đặc trưng của khu vực, chúng có nguồn gốc tại chỗ và có khả năng tồn tại quanh năm trong khu vực
g) Đê nhân tạo :
Các đê nhân tạo có kích thước đáng chú ý trong vùng điều tra gồm đê rạch Cá Sách
và đê kênh Cá Nổ Kiểu nơi sống này không bị ngập nước Thực vật hoang dại thường gặp bao gồm: Cỏ ống (Panicum repens), Bìm vàng (Merremia hederaceae), Cỏ lông tây (Brachiaria mutica)…
IV Tính đa dạng sinh học :
Tính đa dạng sinh học trong khu vực Láng Sen được ghi nhận với sự hiện diện của nhiều loài động thực vật đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười
1 Thảm thực vật:
Thực vật trong khu vực Láng Sen khá phong phú với 156 loài thực vật hoang dã trong đó có 152 loài đã xác định được tên khoa học thuộc 60 họ được tìm thấy, trong đó khuyết thực vật (Pteridophyta) có 7 loài, song tử diệp (Dicotyledonae) có 88 loài và đơn
tử diệp (Monocotyledonae) có 57 loài
Các họ có số loài nhiều nhất là Poaceae (24 loài), Cyperaceae (19 loài), Rubiaceae (6 loài) và Papilionoideae (6 loài) Trong đó có 4 loài chưa xác định được tên
Căn cứ vào dạng sinh trưởng, 152 loài thực vật hoang dã ở Láng Sen được chia ra như sau:
• Cây thân gỗ: 26 loài
• Cây bụi: 15 loài
Trang 6• Cây thân thảo: 101 loài
• Dây leo hoặc dây bò: 8 loài
• Ký sinh: 2 loài
2 Phiêu sinh vật:
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần phiêu sinh trong vùng không nhiều với Cyanophyta: 2 loài, Chlorophyta: 14 loài, Bacillariophyta: 8 loài, …
3 Thủy sản:
Các loài điều tra được gồm có: cá trạch, thát lát, cá rô, cá linh, cá mè, lóc, lia thia đồng, cá chốt, cá lìm kìm, cá trê, lươn, ếch, rắn (3 loài), rùa, tôm
Ngoài ra, một số loài thực vật thủy sinh khác đã phát hiện như: Marsilea quadrifolia, Ceratopteris siliquosa, Salvinia cucullata, Lemna tenera, Eriocaulon sp., Limnophylla heterophylla, Najas sp., Blyxa sp., Valisneria gigantia, Rotala wallichii, Myriophyllum tetandrum, Hydrilla verticilata.
4 Động vật:
Có 128 loài động vật có xương sống (không kể lớp Cá) được ghi nhận có mặt ở Láng Sen; trong đó:
• lớp Lưỡng thê: 4 loài
• lớp Bò sát: 17 loài
• lớp Chim: 101 loài
• lớp Thú: 6 loài
V.
Sinh kế của người dân và ảnh hưởng đến hệ sinh thái:
Đa phần dân cư ở vùng này đời sống kinh tế khó khăn, họ sống chủ yếu bằng nghề nông và thường đánh bắt cá làm bữa ăn cho gia đình Người dân sống trong vùng đệm chỉ biết làm sao kiếm được đồng tiền cho cuộc sống hàng ngày của gia đình họ Bất đắc
dĩ, người dân mới vào trộm trong khu cấm, họ thật sự không muốn như vậy nhưng vì cuộc sống quá nghèo buộc họ phải làm liều
Người dân ở nơi đất ngập nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long sống trên vùng nước nổi, chủ yếu bằng nghề làm ruộng Trong khi làm ruộng, làm lúa, người dân tranh thủ làm thêm nghề cá, bắt con chuột, bắt con lươn hay đào con ếch để sống
Trước đây nguồn lợi thủy sản rất nhiều, cón bây giờ nguồn cá đang cạn kiệt dần Đến tép cũng chẳng còn dồi dào như trước Bây giờ con người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của chính mình Con người đã hủy diệt những sinh vật sống trong nước bằng xung điện, cào điện Để bắt được một con cá, thì lại có hàng chục, hàng trăm sinh vật khác bị hủy diệt theo
Hơn thế nữa, có quá nhiều người làm nghề đánh bắt Mười người thì trung bình 7, 8 người làm nghề đánh cá Mùa đánh bắt bây giờ kéo dài quanh năm, từ mùa nước lên đến mùa nước giựt (mùa khô) Việc này đã làm suy giảm nguồn tài nguyên thủy sản một cách trầm trọng, dẫn đến giảm đa dạng về loài và số lượng loài ở thủy sinh
Các loài sen–súng (Nymphaea sp.) cùng các loài thực vật thủy sinh khác chiếm ưu thế và đặt trưng ở các vùng đầm lầy đã bị thu hẹp diện tích do quá trình thoát thủy cải tạo đất cho mục tiêu sản xuất nông nghiệp
Trang 7Hiện nay Khu bảo tồn thiên nhiên Láng Sen đang đứng trước nguy cơ bị con người tại các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang tàn phá Do điều kiện kinh tế, cũng như sự quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của cán bộ, công nhân viên khu bảo tồn và chính quyền huyện Tân Hưng (tỉnh Long An) thiếu sự chặt chẽ, nên khu bảo tồn bị người dân đánh bắt cá, chặt phá cây rừng và săn bắt chim thú tùy tiện
Có thể cho rằng các hệ sinh thái tự nhiên cùng với tính đa dạng sinh học đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười đã bị suy giảm nghiêm trọng, cảnh quan tự nhiên đã thay đổi sau một thời gian khai phá cho mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển kinh
tế nông nghiệp chung cho vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long Trước nguy cơ suy giảm tính đa dạng sinh học và hủy diệt các nguồn gen quý hiếm, một số nỗ lực về công tác bảo tồn và phục hồi tính đa dạng sinh học vùng đất ngập nước đã được đặt ra Thông qua những nỗ lực này, các khu bảo tồn thiên nhiên đã được hình thành, và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen là một trong hai khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước rất điển hình được thành lập nhằm thực hiện những mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười
Trang 8Phần 2: RỪNG TRÀM NHIỆT ĐỚI ĐÁY THAN BÙN U MINH THƯỢNG
I Giới thiệu về vườn quốc gia U Minh Thượng:
U Minh Thượng thuộc tỉnh
Kiên Giang và nằm trong 2 xã:
An Minh Bắc ( huyện An Minh)
và Minh Thuận ( huyện Vĩnh
Thuận) Đây là vườn quốc gia
duy nhất ở Việt Nam bảo vệ hệ
sinh thái vùng đất ngập nước đáy
than bùn Diện tích tổng là
21.107 ha
Khu bảo tồn thiên nhiên U
Minh Thượng gồm có một khu
vực lõi được bao vây bởi một
khu vực bộ đệm Những kiểu đất
sử dụng trong khu vực vùng đệm
phần lớn là nông nghiệp, bao gồm gạo, những rau, nghề nông ăn quả
VQG U Minh Thượng được thành lập theo quyết định của Chính phủ Việt Nam năm
1993 Một năm sau đó, Khu Bảo tồn Thiên nhiên U Minh Thượng và Hội đồng Quản lý Khu Di tích Lịch sử đã được thành lập để giám sát về tổ chức khu vực và quản lý nguồn kinh phí của Chính phủ thông qua Chương trình 327 quốc gia (N Sage và M Greve, 2000)
Theo Quyết định số 11/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ , tổng diện tích khu vực là 8.053 ha Trong đó :
o Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 7.838 ha
o Phân khu phục hồi sinh thái là 200 ha
o Phân khu hành chính, dịch vụ là 15 ha
Ngoài ra, vùng đệm có diện tích 13.069 ha Cũng theo Quyết định này, VQG U Minh Thượng thuộc sự quản lý của UBND tỉnh Kiên Giang
Hiện tại, Ban quản lý có 58 cán bộ và 8 trạm bảo vệ rừng Bản kế hoạch đầu tư mới
đã được xây dựng năm 2003
II Một số đặc điểm tự nhiên:
VQG U Minh Thượng nằm ở trong vùng ngập nước ngọt, bao gồm rừng trên đất than bùn, trảng cỏ ngập nước theo mùa và vùng đầm lầy trống Đất chiếm một phần lớn diện tích U Minh Thượng, kiểu đất này khi lộ ra trong không khí bị oxy hoá và tạo thành a-xit sunfuric Mặc dù là vùng đất phèn nhưng nước ở vùng lõi hầu hết là nước trung tính (pH 6-7) do có tỉ lệ che phủ rừng cao Tuy nhiên, ở vùng đệm, rừng đã bị phát quang trên diện rộng nên nước mang tính a-xit rất cao (pH 3-4)
Tầng đất mặt bao bởi lớp than bùn dầy từ 1-3 m Những nơi mới bị đốt cháy, lớp than bùn bị mất và tầng đất mặt mỏng hơn, và thường hình thành dạng đầm lầy ở những
Trang 9vùng đã bị phát quang lấy đất canh tác nông nghiệp, lớp than bùn đang bị oxy hoá và độ dày giảm đi (Safford et al 1998)
Vùng lõi của VQG U Minh Thượng được bao quanh bởi hệ thống kênh rạch và đê với nhiều cửa cống để điều chỉnh mực nước Nước được tháo ra trong mùa mưa và được giữ lại vào các thời điểm khác của năm Điều này đã làm giảm sự oxy hoá và giữ cho lớp than không bị mỏng đi và giảm nguy cơ cháy rừng
Rừng tập trung ở U Minh Thượng nhiều hơn và loại rừng nguyên sinh chiếm phần lớn ở đây, rất xứng đáng là một vườn quốc gia với giá trị độc nhất về kiểu rừng úng phèn của Việt Nam và của thế giới
Lớp rừng thực sự là nguyên sinh ở U Minh đã bị sụt xuống và sau đó bị vùi lấp, dần dần lại xuất hiện lớp thực vật mới trên tầng trầm tích, cũng có thể gọi là lớp rừng nguyên sinh trên tầng đất thành tạo kế tiếp Những cánh rừng bị vùi lấp trước đó đã dần dần thành lớp than bùn hiếm khí oxy, nằm dưới tầng trầm tích và lớp rừng “hậu sinh”, chính
là rừng úng phèn ngày nay
1 Đặc điểm đất than bùn:
Đất than bùn có rừng tràm bên trên nên chất hữu cơ trên mặt đất đóng góp 58,7%, phần dưới mặt đất là 41,3% Tỷ lệ này không khác biệt giữa mùa nằng và mùa mưa, nhưng tổng chất hữu cơ trong mùa nằng cao hơn trong mùa mưa
Nếu giữ nước ngập trên 20cm quanh năm thì quá trình phân hủy tự nhiên bằng với lượng chất hữu cơ của thảm thực vật đóng góp vào Nếu tiêu nước trong mùa nắng sâu 1m thì mỗi năm đất than bùn phân hủy từ 3,5 – 6cm bề dày Cây to có rễ sâu như tràm làm cho quá trình phân hủy tự nhiên của đất than bùn nhiều hơn do tăng sự bốc hơi làm cho đất khô hơn
2 Đặc điểm nguồn nước và khả năng giữ nước:
Bao quanh vùng lõi và trên vùng đệm là một hệ thống kênh rạch chằng chịt Việc giữ nước trong rừng cũng khá quan trọng Nếu không giữ được nước thì vào mùa khô, lớp bổi và than bùn dưới rừng tràm với khối lượng hàng trăm tấn trên một hecta sẽ bị khô đi một cách rất nhanh, trở thành vật liệu cháy nguy hiểm, dễ dàng bén lửa và gây cháy lớn Khả năng giữ nước của lớp ít phân hủy là 500- 1000% trọng lượng khô, của lớp phân hủy là 200-600%, và của đất than bùn sau khi cháy là 50%
Khả năng thẩm lậu cũng rất thay đổi với tầng mặt là 0,00 0,032 cm/s, tầng sâu 1-2m là 0,001-0,0001 cm/s và đất đã cháy là 0,1-0,3 cm/s
Bãi than bùn gồm có 90% là nước và thực hiện vai trò như hồ nước chứa góp phần vào bảo vệ môi trường cho con người và hệ sinh thái xuôi dòng Nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước uống cho những khu vực dẫn nước được bao phủ bởi bãi than bùn và những vùng khô ráo nơi mà bãi than bùn cung cấp có giới hạn nhưng chất lượng vẫn không thay đổi
III Đặc điểm hệ sinh thái:
Rừng U Minh có giá trị sinh khối (BioMass) cao nhất so với tất cả các kiểu rừng Tại đây có gần 250 loài thực vật trong đó loài ưu thế như tràm, móp, mật cật, nhiều loài dương xỉ, tảo, nhiều loài cá (những loài cá có giá trị khoa học và kinh tế như cá bông, sặc rằn, sặc bướm, trê vàng, thác lác ), hơn hai mươi loài bò sát và lưỡng thê (một số loài
Trang 10hiếm quí như chàng hiu, trăn gấm, kỳ đà, cá sấu, rùa vàng, cần đước, nhiều loài rắn ), có
182 loài chim, hơn 40 loài thú, nhiều loài côn trùng
U Minh Thượng là một trong những vùng đất ngập nước với diện tích rừng quý hiếm nhất Đông Nam Á, đồng thời là khu bảo tồn sinh quyển thế giới Có hệ thực vật rất đa dạng và phong phú, gồm 252 loài thực vật có mạch thuộc 84 họ; trong đó có 8 loài rất hiếm như mốp, năng chồi, lá u minh, bèo tản nhọn, nắp bình, luân lan, mật cật, bí kỳ nam và cũng là nơi duy nhất còn lại hệ thực vật của rừng nguyên sinh: Đó là ưu hợp rừng tràm hỗn giao của rừng tràm trên đất than bùn
Các kiểu nơi sống gồm: rừng, đồng cỏ, vùng đầm lấy mở, dòng tự nhiên và những kênh đào
IV Tính đa dạng sinh học:
Bãi than bùn cấu tạo nên môi trường sống của nhiều loại động thực vật độc đáo chỉ
có ở bãi than bùn, đóng góp đáng kể vào nguồn gen Nó bao gồm nhiều sinh vật đặc trưng chỉ thích nghi với những điều kiện đặc biệt ở bãi than bùn
1 Hệ thực vật:
U Minh Thượng có khu hệ thực vật đa dạng, bao gồm nhiều loài hiếm và đặc hữu, nhiều loài là loại hiếm ở Đông Nam Á nhưng lại có rất nhiều ở U minh Thượng
Thảm thực vật tự nhiên được chia thành 10 kiểu thuộc 4 nhóm chính: rừng tràm, đồng cỏ ngập nước theo mùa, lung bào ngập thường xuyên và thảm thực vật ven kênh rạch
• Các kiểu nơi sống của hệ thực vật:
a) Rừng tràm Melaleuca trên đất than bùn:
Rừng tràm Melaleuca trên than bùn là kiểu thực vật điển hình của UMT Một số loài cây khác cũng xuất hiện trong vòm rừng này, như Sữa spathulata (Apocynaceae),Nhựa ruồi cymosa (Aquifoliaceae),Euodia lepta (Rutaceae), Và cây gioi (Myrtaceae).
Kiểu rừng này được đặc trưng bởi sự phong phú của dương xỉ Có hai loài dương xỉ
chung nhất là: dương xỉ Stenochlaena palustris leo, và dương xỉ Nephrolepis falcata quả
đất
b) Rừng tràm Melaleuca trên đất khoáng:
Kiểu rừng thường này xuất hiện tại mép mái vòm than bùn Đây có lẽ là một giai
đoạn thứ nhì của rừng Melaleuca trên than bùn được xảy ra sau khi bị lửa đốt cháy tất cả
than bùn
Melaleuca cajuputi gần như là loài cây duy nhất của vòm rừng Giống sậy vallatoriaand, lau Eleocharis dulcis, cỏ cao là loài phổ biến trên nền rừng này Dương xỉ
hầu như không có nhiều như trên dất than bùn
c) Trộn lẫn rừng đầm lầy:
Rừng pha trộn của đầm lầy than bùn được định vị trên vùng đất có than bùn cao, có 1
vùng thắt lưng vượt trội bởi nhiều loài cây như: Nhựa ruồi cymosa, Cây gioi, cây Sữa spathulata, Ficus microcarpa, Melaleuca cajuputi, Euodia lepta, Acronichya pedunculata Chiều sâu than bùn tại chỗ này là 1,6m.
Đây là một vùng đầm lầy than bùn cần phải được bảo vệ cẩn thận