- Về nội dung: Trong khuôn khổ có hạn của một luận án, NCS chỉ tập trung nghiên cứu quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar 2003-2015 trên các lĩnh vực chủ yếu là chính tr
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TÚ HOA
Quá TRìNH BảO Vệ, CủNG Cố độc lập dân tộc của cộng hòa liên bang Myanmar (2003 - 2015)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYấN NGÀNH: LỊCH SỬ PHONG TRÀO CỘNG SẢN
CễNG NHÂN QUỐC TẾ VÀ GIẢI PHểNG DÂN TỘC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TÚ HOA
Quá TRìNH BảO Vệ, CủNG Cố độc lập dân tộc của cộng hòa liên bang Myanmar (2003 - 2015)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYấN NGÀNH: LỊCH SỬ PHONG TRÀO CỘNG SẢN
CễNG NHÂN QUỐC TẾ VÀ GIẢI PHểNG DÂN TỘC
MÃ SỐ: 62 22 03 12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS NGUYỄN THỊ QUẾ
HÀ NỘI - 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận án bảo đảm độ tin cậy, chính xác, trung thực và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Tú Hoa
Trang 4Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
1.2 Những vấn đề chưa được giải quyết và luận án cần tập trung làm rõ 19
Chương 2: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH BẢO VỆ,
CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA LIÊN BANG
Chương 3: THỰC TIỄN QUÁ TRÌNH BẢO VỆ, CỦNG CỐ ĐỘC
LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA LIÊN BANG MYANMAR (2003-2015) 67 3.1 Khái niệm độc lập dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc 67 3.2 Bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc trong những năm cuối thời kỳ
chính phủ quân sự (từ năm 2003 đến tháng 3 năm 2011) 71 3.3 Bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc thời kỳ Chính phủ Thein Sein (từ
Chương 4: ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH BẢO VỆ, CỦNG CỐ ĐỘC LẬP
DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA LIÊN BANG MYANMAR (2003 - 2015) VÀ
4.1 Đánh giá quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar
4.2 Một số kinh nghiệm cho các nước đang phát triển từ quá trình bảo
vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar (2003-2015) 141
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 5Stt Chữ
viết tắt
1 AAPP Assistance Association for
3 ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á
4 AFPFL Anti-Fascist People’s Freedom
7 BGF Border Guard Force Lực lượng Phòng vệ biên giới
8 BIMSTEC Bay of Bengal Initiative for
Multisectoral Technical and Economic Cooperation
Sáng kiến vùng vịnh Bengal về hợp tác kinh tế và kỹ thuật đa khu vực
9 BSPP Burma Socialist Programme
Party
Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa Miến Điện
10 CBM Central Bank of Myanmar Ngân hàng Trung ương
12 CPB Communist Party of Burma Đảng Cộng sản Miến Điện
13 CPC Country of Particular Concern Nước cần quan tâm đặc biệt
14 CSO Central Statistical Organization Cơ quan Thống kê trung ương
15 DAB Democracy Alliance of Burma Liên minh Dân chủ Miến Điện
16 DPNS Democratic Party for New
Society
Đảng Dân chủ vì xã hội mới
17 EAS East Asia Summit Hội nghị Cấp cao Đông Á
18 EITI Extractive Industries
Transparency Initiative
Sáng kiến minh bạch trong công nghiệp khai khoáng
19 EU European Union Liên minh Châu Âu
20 FBC Free Burma Coalition Liên minh Miến Điện tự do
21 FDB Forum for Democracy in Burma Diễn đàn Dân chủ Miến Điện
22 FERS Framework for Economic and
Social Reforms
Khuôn khổ cải cách kinh tế xã hội
23 FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do
24 GMS Greater Mekong Sub-region Tiểu vùng sông Mê-kong mở
Trang 629 IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ quốc tế
30 KIO Kachin Independence
Organization
Tổ chức Độc lập Kachin
31 KNPP Karenni National Progressive
Party
Đảng Tiến bộ quốc gia Kareni
32 KNU Karen National Union Liên minh Dân tộc Karen
33 MEC Myanmar Economic Corporation Tập đoàn Kinh tế Myanmar
34 MNPED Ministry of National Planning
and Economic Development
Bộ Kế hoạch và Phát triển kinh
tế quốc gia Myanmar
35 MPC Myanmar Peace Center Trung tâm Hòa bình Myanmar
36 MPF Mon People Front Mặt trận Nhân dân Mon
37 NCA Nationwide Ceasefire
41 NDF National Democratic Front Mặt trận Dân chủ quốc gia
42 NDUF National Democratic United
Front
Mặt trận Thống nhất dân chủ quốc gia
43 NESC National Economic and Social
Advisory Council
Hội đồng Tư vấn kinh tế xã hội quốc gia
44 NGO Non-governmental Organization Tổ chức phi chính phủ
45 NIEs Newly Industrialized Economics Các nền kinh tế công nghiệp mới
46 NMSP New Mon State Party Đảng Nhà nước Mon mới
47 NLD National League for Democracy Liên đoàn Quốc gia vì dân chủ
49 NULF National United Liberation Front Mặt trận Giải phóng thống nhất
quốc gia
50 ODA Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức
51 OGP Open Government Partnership Sáng kiến Đối tác chính phủ mở
52 PDP Parliamentary Democracy Party Đảng Dân chủ nghị viện
53 PNO Pao National Organization Tổ chức Quốc gia Pao
54 SEANWFZ Southeast Asian Nuclear
Weapon Free Zone
Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân
55 SEEs State Economic Enterprises Các xí nghiệp kinh tế nhà nước
56 SFA State Fund Account Tài khoản quỹ nhà nước
57 SLORC State Law and Order Restoration
Council
Hội đồng khôi phục trật tự và luật pháp nhà nước
58 SPDC State Peace and Development Hội đồng Hòa bình và phát triển
Trang 760 SSA-S State Shan Army-South Quân đội Nhà nước Shan Nam
61 SURA Shan United Revolution Army Quân đội Cách mạng thống nhất
Shan
62 SUA Shan United Army Quân đội Thống nhất Shan
63 UMEHL Union of Myanmar Economic
70 WB World Bank Ngân hàng thế giới
71 WWF World Wide Fund for Nature Quỹ Bảo vệ thiên nhiên thế giới
72 ZOPFAN Zone of Peace, Freedom and
Neutrality
Khu vực Hòa bình, tự do và trung lập
Trang 8Trang Bảng 2.1: GDP/người của Myanmar và một số nước ASEAN (2000-2005) 31 Bảng 2.2: Xếp hạng Chỉ số nhận thức tham nhũng của Myanmar 33 Bảng 3.1: Một số chỉ số quân sự của Myanmar (2003-2010) 82 Bảng 3.2: Sự khác biệt chủ yếu giữa đàm phán ngừng bắn của chính phủ
quân sự và tiến trình hòa bình của Chính phủ Thein Sein 100 Bảng 3.3: Một số chỉ số quân sự của Myanmar (2011-2015) 115 Bảng 4.1: Một số chỉ số kinh tế vĩ mô của Myanmar (2003-2010) 122 Bảng 4.2: Một số chỉ số kinh tế vĩ mô của Myanmar (2011-2015) 122 Bảng 4.3: Xếp hạng một số chỉ số của Myanmar 124 Bảng 4.4: Xung đột giữa Quân đội Myanmar và các nhóm vũ trang 135
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giữ vững độc lập dân tộc là nguyên tắc, là sứ mệnh quốc gia hàng đầu vì
nó gắn liền với sự tồn vong của mỗi quốc gia Lựa chọn con đường phát triển để bảo vệ độc lập dân tộc luôn là bài toán hệ trọng với bất kỳ quốc gia nào Sự lựa chọn đúng đắn là cơ sở quan trọng để độc lập dân tộc được bảo vệ theo cách tốt nhất Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, những xu hướng phát triển mới, sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình quốc tế đã dẫn đến những nhận thức mới về độc lập dân tộc Với những quan niệm, cách tiếp cận mới về độc lập dân tộc, cách thức bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc cũng đa dạng và có xu hướng
mở hơn Vì vậy, tìm hiểu cách thức bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn
Myanmar là đất nước đa sắc tộc, đa tôn giáo ở Đông Nam Á, có vị trí chiến lược quan trọng, nối Đông Nam Á với Tây Á, gần những tuyến đường hàng hải lớn qua Ấn Độ Dương Myanmar từng bị xâm chiếm bởi thực dân phương Tây như nhiều quốc gia trong khu vực Sau khi giành độc lập từ thực dân Anh năm 1948, Myanmar không ngừng nỗ lực bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc và quá trình này trải qua nhiều thăng trầm cùng với những biến đổi trong nước và quốc tế Giai đoạn 1948-1988, Myanmar phải đối mặt với nhiều yếu tố bất ổn trong nước như sự nổi dậy của các nhóm vũ trang thiểu số, đấu tranh phe phái, những khó khăn kinh tế - xã hội…Trên thế giới, chiến tranh lạnh diễn ra gay gắt giữa hai khối Đông - Tây Để giữ vững độc lập trong bối cảnh đó, với chủ trương không để bị lôi kéo vào phe nhóm nào, Myanmar đã lựa chọn chính sách phát triển theo hướng độc lập, tự chủ, không liên kết Sau năm 1988, chính sách trừng phạt của Mỹ và phương Tây do vấn đề dân chủ, nhân quyền đã buộc Myanmar phải dựa vào Trung Quốc, dẫn đến tình trạng bất cân bằng về đối ngoại Trong hoàn cảnh đó, Myanmar vừa tận dụng lợi thế từ quan hệ với Trung Quốc vừa cố gắng chống lại ảnh hưởng từ nước này Giai đoạn 2003-2015, trước
Trang 10những tác động sâu sắc của tình hình trong nước và quốc tế, Myanmar đã thực hiện nhiều chính sách phát triển có tính đột phá, tạo tiền đề quan trọng để giữ vững độc lập dân tộc Myanmar chủ trương tăng cường sức mạnh quốc gia trên cơ sở gia tăng sức mạnh chính trị, kinh tế, quân sự Theo đó, Myanmar đã triển khai nhiều biện pháp cụ thể trên các lĩnh vực chủ yếu (chính trị, đối ngoại, kinh tế, an ninh - quốc phòng) như tiến hành dân chủ hóa, hòa giải dân tộc để củng cố khối đoàn kết, thống nhất dân tộc, cải cách kinh tế theo cơ chế thị trường, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế nhằm phá vỡ sự bất cân bằng đối ngoại Với những biện pháp này, Myanmar bước đầu ổn định chính trị - xã hội, tăng trưởng kinh tế, bình thường hóa quan hệ quốc tế, đẩy lùi nguy cơ đe dọa từ bên ngoài đối với an ninh quốc gia, dần dần củng cố uy tín trong khu vực và quốc tế Nghiên cứu quá trình bảo vệ, củng
cố độc lập dân tộc của Myanmar giai đoạn 2003-2015 với những nét đặc trưng cho thấy rằng, có rất nhiều cách thức khác nhau để giữ vững độc lập dân tộc nhưng quan trọng là phải lựa chọn cẩn trọng cách thức phù hợp với đặc điểm cụ thể của đất nước mình để độc lập dân tộc được bảo vệ trọn vẹn nhất
Việt Nam và Myanmar cùng là thành viên ASEAN, có nhiều nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, vị trí địa chiến lược Hiện nay, Myanmar đang trong quá trình hoàn thiện thể chế dân chủ, mở cửa, hội nhập quốc tế Những nghiên cứu về cách thức bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar giai đoạn 2003-
2015 có giá trị tham khảo cho Việt Nam, nhất là trong ứng xử với Trung Quốc, thúc đẩy dân chủ, cải cách chính trị, củng cố đoàn kết dân tộc, giữ vững chủ quyền quốc gia Hơn nữa, ở Việt Nam, những nghiên cứu về Myanmar giai đoạn hiện nay dưới góc độ bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc chưa nhiều Do đó, ngoài những kiến thức chung về Myanmar, nghiên cứu này còn bổ sung phần thiếu hụt, chưa hệ thống về cách thức bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar trên một số lĩnh vực chủ yếu giai đoạn 2003-2015
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh (NCS) chọn đề tài "Quá trình bảo
vệ, củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa liên bang Myanmar (2003-2015)"
làm hướng nghiên cứu cho luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc
Trang 112 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích
Luận án làm rõ quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar trên các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, kinh tế, an ninh - quốc phòng (2003-2015) Trên cơ sở đó, đánh giá và rút ra một số kinh nghiệm cho các nước đang phát triển trong quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích các nhân tố tác động đến quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar (2003-2015)
- Phân tích quá trình triển khai các biện pháp bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar trên các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, kinh tế, an ninh - quốc phòng (2003- 2015)
- Đánh giá quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar 2015) và rút ra một số kinh nghiệm cho các nước đang phát triển
(2003-3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar (2003-2015)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu được giới hạn từ năm 2003 đến năm
2015, trong đó, 2003 là năm chính phủ quân sự Myanmar công bố Lộ trình dân chủ,
mở đầu tiến trình dân chủ hóa, 2015 là năm kết thúc nhiệm kỳ của Tổng thống Thein Sein Giai đoạn này được chia thành hai giai đoạn nhỏ hơn: 2003-2011 là những năm cuối của chính phủ quân sự; 2011-2015 là nhiệm kỳ của Tổng thống Thein Sein
Trong quá trình nghiên cứu, NCS sẽ đề cập một số nội dung liên quan đến các giai đoạn trước năm 2003 để làm rõ những nhân tố tác động đến quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar (2003-2015)
- Về nội dung: Trong khuôn khổ có hạn của một luận án, NCS chỉ tập trung
nghiên cứu quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar (2003-2015) trên các lĩnh vực chủ yếu là chính trị, đối ngoại, kinh tế và an ninh - quốc phòng
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Việc nghiên cứu luận án chủ yếu dựa trên hệ thống quan điểm lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế xã hội, nhà nước và giai cấp, dân tộc và thời đại, đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị; tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc; các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam về độc lập dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc; các quan điểm của Myanmar về bảo vệ độc lập dân tộc Ngoài ra, NCS còn tham khảo một số quan điểm lý luận của các nhà nghiên cứu nước ngoài về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Những nguyên lý, phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và hệ thống phương pháp luận sử học mác-xít
là cơ sở để hình thành phương pháp luận nghiên cứu
Bên cạnh đó, NCS cũng sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, đối chiếu để phân tích các nội dung nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu liên ngành như dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, chính trị học, quan hệ quốc tế được sử dụng để hỗ trợ trong quá trình giải quyết các vấn
đề cần nghiên cứu
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên một cách hệ thống quá
trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar (2003-2015) trên các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, kinh tế, an ninh - quốc phòng
- Luận án phân tích quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar với trọng tâm là những biện pháp mang tính đặc thù như mô hình dân chủ hóa từ trên xuống, cách giải quyết vấn đề hòa hợp dân tộc, cách ứng xử trong quan hệ với các nước lớn, đặc biệt là nước lớn láng giềng Từ đó rút ra một
số kinh nghiệm cho các nước đang phát triển, nhất là các nước tương đồng với Myanmar về văn hóa, lịch sử, vị trí địa chiến lược, thể chế chính trị
Trang 13- Những nghiên cứu về Myanmar trong khuôn khổ luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy về Myanmar bao gồm các nội dung
về dân chủ hóa, hợp hợp dân tộc, xung đột tôn giáo/sắc tộc, chính sách đối ngoại, cải cách kinh tế
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
phần nội dung của luận án gồm 4 chương và 9 tiết
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ
Myanmar với nhiều nét đặc thù và những biến động trong quá trình hình thành, phát triển thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Là một quốc gia Đông Nam Á, sự phát triển của Myanmar gắn liền với sự phát triển của Đông Nam Á nên những nghiên cứu về Myanmar còn có thể thấy trong những nghiên cứu chung về khu vực này.Trong khi ở nước ngoài, Myanmar được nghiên cứu
từ rất lâu với chủ đề phong phú, đa dạng từ những góc độ khác nhau thì ở Việt Nam, Myanmar được quan tâm nhiều hơn chủ yếu từ khi nước này thực hiện quá trình dân chủ hóa nhưng với chủ đề hạn hẹp hơn
Để đảm bảo tính khoa học, trong khuôn khổ nội dung luận án, NCS đã tham
khảo các tài liệu gốc bằng tiếng Anh như: Hiến pháp Liên bang Miến Điện năm
1947 [62], Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Myanmar năm 2008 [140], Hiệp định Panglong năm 1947 [61], Cương lĩnh con đường Miến Điện đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa Miến Điện [149], Tuyên bố số 1/90 của SLORC ngày 27/7/1990 [190], Thỏa thuận ngừng bắn toàn quốc giữa Chính phủ Thein Sein và các nhóm vũ trang thiểu số [207], Luật về Tụ tập và diễu hành hòa bình [182], Luật Đầu tư nước ngoài năm 2012 [183]
Ngoài ra, NCS còn tiếp cận khối lượng lớn công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam và nước ngoài (bao gồm các tác giả Myanmar) trên nhiều phương diện như địa lý, lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại, an ninh-quốc phòng của Myanmar Đây là nguồn tài liệu hữu ích để NCS tham khảo, kế thừa trong quá trình nghiên cứu sâu hơn những vấn đề liên quan đến nội dung luận án
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về lịch sử Myanmar
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong khuôn khổ chủ đề này, các nghiên cứu trong nước tập trung vào lịch sử ra đời, quá trình bị thực dân Anh xâm chiếm và cuộc đấu tranh giành và
Trang 15củng cố độc lập dân tộc của Myanmar Trong cuốn Lịch sử Myanma (2005) [32]
tác giả Vũ Quang Thiện nghiên cứu hệ thống, chi tiết lịch sử Myanmar từ thời tiền sử đến hết thế kỷ XX.Tái hiện tiến trình phát triển lâu dài của Myanmar, tác giả làm nổi bật những đặc điểm chung nhất của lịch sử Myanmar Đó là lịch sử mà phần lớn bị chi phối bởi quá trình đấu tranh giữa các tộc người, lịch sử của quá trình hòa hợp và thống nhất dân tộc và trong quá trình đó, sự khác biệt văn hóa giữa các dân tộc dần bị thu hẹp và Phật giáo trở thành nền tảng của văn hóa Myanmar Lịch
sử Myanmar còn là lịch sử của cuộc đấu tranh chống thực dân giành độc lập dân tộc
và sau đó là quá trình nỗ lực tìm kiếm con đường phát triển phù hợp, hướng tới mục tiêu ổn định kinh tế, xã hội, thống nhất đất nước
Cuốn Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX - một cách tiếp cận của tác giả Đỗ Thanh Bình [2] tập trung vào hai cụm vấn đề lớn: Một số
vấn đề lý luận về chủ nghĩa thực dân và phong trào giải phóng dân tộc của các nhà kinh điển Mác - Lênin và lãnh tụ phong trào giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh; Cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân Á, Phi, Mỹ Latinh (quá trình xâm chiếm của thực dân phương Tây, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, quá trình xây dựng đất nước của các dân tộc mới giải phóng) Theo
đó, cuộc đấu tranh giành độc lập của Miến Điện được nhìn nhận từ góc độ lý luận về phong trào giải phóng dân tộc và trong bối cảnh phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa Á, Phi, Mỹ Latinh
Trong cuốn Mianma, lịch sử và hiện tại [22] các tác giả cung cấp những
thông tin về lịch sử phát triển, đất nước, con người, chế độ chính trị, văn hóa, phong tục tập quán của Myanmar Ngoài những kiến thức sinh động về đời sống văn hóa, xã hội Myanmar qua tìm hiểu thực tế, các tác giả đã mô tả cô đọng cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, phân tích các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại, hòa hợp dân tộc và sự lựa chọn thể chế của Myanmar Cuốn sách dừng ở cuối năm 2011, thời điểm khởi đầu những cải cách sâu rộng của Chính phủ Thein Sein
Ngoài ra, một số vấn đề lịch sử cụ thể của Myanmar còn được thể hiện trong một số nghiên cứu khác: Vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo ở Myanmar
Trang 16trong bài viết Chủ nghĩa xã hội - Phật giáo Miến Điện của tác giả Vũ Quang Thiện [30], Vai trò của Phật giáo đối với phong trào dân tộc Miến Điện đầu thế
kỷ XX của tác giả Đàm Thị Đào [6]; Chính sách cai trị của thực dân Anh trong bài viết: Tổ chức hành chính và bộ máy chính quyền thực dân Anh tại Miến Điện (1886-1937) của tác giả Trịnh Thị Định và Nguyễn Tuấn Bình [9]; Cuộc đấu tranh chống chính sách "chia để trị" của thực dân Anh trong Cuộc đấu tranh chống chính sách "chia để trị" của thực dân ở Đông Dương, Mã Lai, Miến Điện của tác giả Đỗ
Thanh Bình và Trịnh Nam Giang [3]
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong cuốn Lịch sử Đông Nam Á của tác giả D.G E Hall [11] đề cập chi
tiết lịch sử Đông Nam Á từ thời tiền sử đến thập niên 60 của thế kỷ 20 Tác giả chú trọng khai thác quá trình thực dân phương Tây thôn tính các nước Đông Nam Á
từ thế kỷ thứ XVI, chỉ ra chính sách cai trị đặc trưng ở mỗi quốc gia, đường lối phát triển của các quốc gia sau độc lập Lịch sử Miến Điện được mô tả trong bối cảnh chung của Đông Nam Á với tiêu điểm là quá trình hình thành và phát triển, thống nhất quốc gia, quá trình bị thực dân Anh xâm chiếm và thiết lập chế độ cai trị, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Miến Điện Qua đó, người đọc có cái nhìn tổng thể về không gian, thời gian, những đặc điểm chung, những nét đặc thù của lịch sử Myanmar Với nguồn tài liệu lịch sử phong phú và tham khảo có chọn lọc, cuốn sách là công trình công phu, nghiêm túc, có thể sử dụng như tài liệu tra cứu khi nghiên cứu về Đông Nam Á bao gồm Miến Điện
Cuốn The 1947 Constitution and the Nationalities (Hiến pháp năm 1947 và
các dân tộc) của một số nhà sử học Myanmar [195] tập trung vào các nội dung: sự cai trị của thực dân Anh và tình hình các dân tộc dưới chế độ đó, yêu cầu của nhà nước Kayin, vấn đề quản lý Khu vực biên giới thời kỳ hậu chiến, các cuộc đàm phán với Anh, Hội nghị Panglong Những nghiên cứu công phu dựa trên những cứ liệu lịch sử xác thực là nguồn tư liệu đáng tin cậy về lịch sử Myanmar ngay sau độc lập, đặc biệt là vấn đề dân tộc
Chính biến năm 1988 ở Myanmar được tác giả David I.Steinberg, nghiên
cứu khá đầy đủ trong cuốn The Future of Burma, Crisis and Choice in Myanmar
Trang 17(Tương lai của Miến Điện, khủng hoảng và sự lựa chọn của Myanmar) [63] Tác giả tập trung phân tích bối cảnh, nguyên nhân của cuộc đảo chính (gồm hai nguyên nhân chính là tình trạng trì trệ kinh tế và những bức xức chính trị), những vấn đề sau đảo chính (chính phủ, sự kiểm soát nhà nước, cải cách, tính pháp lý của chính phủ mới, giải quyết các vấn đề kinh tế, sự nổi lên của các lực lượng đối lập ở thành thị và vùng biên giới) Những nghiên cứu của tác giả đã phác họa rõ nét thời điểm lịch sử bi thương của Myanmar và tác động sâu sắc của nó đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội Myanmar Cuốn sách là nguồn tư liệu tin cậy để NCS tìm hiểu sự kiện lịch sử có tác động nhiều đến chính sách phát triển của các chính phủ Myanmar sau đó
Các tác giả Michael Aung Thwin và Maitrii Aung Thwin tái hiện lịch sử Myanmar từ thời tiền sử đến tháng 3/2011 trong đó đi sâu nghiên cứu vai trò của
các chính phủ Myanmar hiện đại trong công trình A History of Myanmar since Ancient Times,Traditions and Transformations (Lịch sử Myanmar từ thời cổ đại,
truyền thống và sự biến đổi) [114] Các tác giả cho rằng, giai đoạn 1948-1962 được đánh dấu bởi một chính phủ dân sự yếu kém, không hiệu quả Giai đoạn 1962 -
1988, Chính phủ Ne Win với sự hậu thuẫn của quân đội đã duy trì được sự toàn vẹn lãnh thổ, trật tự xã hội nhưng kinh tế thất bại thảm hại, đặc biệt là nền kinh tế được định hướng bởi Cương lĩnh Con đường Miến Điện đi lên chủ nghĩa xã hội Về lịch
sử Myanmar hai thập niên gần đây, các tác giả phê phán quan điểm phiến diện, đánh giá lịch sử Myanmar chỉ dựa trên sự kiện đơn lẻ là cuộc khủng hoảng năm
1988 và gần như bỏ qua lịch sử phát triển của Myanmar từ khi độc lập Theo tác giả, việc đánh giá lịch sử Myanmar gần đây cần dựa vào lịch sử tái thiết đất nước trong đó sự kiện năm 1988, tuy quan trọng nhưng chỉ là một trong nhiều sự kiện Theo đó, trong hai thập kỷ qua, ở Myanmar không chỉ là cuộc đấu tranh giữa dân chủ và độc đoán, giữa tự do và chuyên chế, giữa quần chúng nhân dân và giới tinh hoa mà còn là cuộc đấu tranh giữa sự cầm quyền hiệu quả và không hiệu quả, giữa trật tự và bất ổn, giữa các nhóm tinh hoa Quan điểm này định hướng cho NCS nhìn nhận các vấn đề gần đây ở Myanmar một cách toàn diện, nhất là khi tham khảo các tài liệu của phương Tây
Trang 18Những nghiên cứu tiêu biểu trên đây đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của lịch sử Myanmar, đó là quá trình hình thành và phát triển, cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc Qua đó, NCS có thể tìm hiểu sự tác động của nhân tố lịch sử đến quá trình phát triển, bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar giai đoạn hiện nay
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về sự lựa chọn con đường phát triển của Myanmar trên các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, kinh tế, an ninh-quốc phòng để phát triển đất nước, giữ vững độc lập dân tộc
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Các tác giả Viện nghiên cứu Đông Nam Á trong cuốn Myanmar: cuộc cải cách vấn đang tiếp diễn [4] tìm hiểu những biến đổi chủ yếu về chính trị, kinh tế -
xã hội của Myanmar từ năm 2008, tập trung làm rõ các bước và giải pháp tiến hành cải cách trong các lĩnh vực này, từ đó chỉ ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan của những thay đổi đó Cuốn sách dừng ở năm 2013 khi những cải cách của Myanmar đang tiếp diễn và bước đầu đạt được một số thành tựu
Cuốn Biến đổi chính trị, kinh tế ở Myanmar từ 2011 đến nay: Bối cảnh, nội dung và tác động [40] phân tích những cải cách chính trị, kinh tế của Chính
phủ Thein Sein và những nhân tố tác động đến quá trình này Các tác giả đã chỉ
ra đặc điểm của chương trình cải cách là bắt đầu từ cải cách chính trị, tiếp đến là cải cách kinh tế và hành chính Cải cách chính trị chú trọng dân chủ hóa, hòa hợp dân tộc, đa phương hóa quan hệ quốc tế; cải cách kinh tế tập trung xây dựng dựng cơ sở pháp lý cho từng lĩnh vực cụ thể theo hướng tự do hóa, cơ chế thị trường Các tác giả cho rằng, sự thay đổi mấu chốt trong nền chính trị Myanmar hiện nay là quyền lực từ chỗ tập trung vào giới quân sự nay đã được phân chia thành nhiều trung tâm, nhờ đó mà nền chính trị Myanmar đã thay đổi theo hướng dân chủ, minh bạch trên cơ sở pháp lý Cuốn sách là tài liệu tham khảo tương đối đầy đủ cho việc nghiên cứu các biện pháp bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar giai đoạn 2003-2015, một phần quan trọng của luận án Tuy nhiên, cuốn sách sẽ hoàn thiện hơn nếu các tác giả phân tích chính sách chung của Myanmar trên từng lĩnh vực cụ thể
Trang 19Trong bài viết Lộ trình dân chủ bảy bước và tiến trình dân chủ hóa ở Mianma [28] tác giả phân tích bối cảnh ra đời, quá trình thực hiện Lộ trình dân
chủ và tác động của nó đến đời sống chính trị-xã hội, kinh tế, hội nhập quốc tế của Myanmar Chỉ ra những thành công trong quá trình thực hiện Lộ trình dân chủ, tác giả cũng nêu ra những thách thức của quá trình này Tác giả cho rằng, chỉ có sự đoàn kết dân tộc và tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc, nuôi dưỡng và củng cố các giá trị dân chủ mới có thể giúp Myanmar tiến tục tiến lên
và thịnh vượng
Tác giả Võ Xuân Vinh trong bài viết Tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar
từ năm 2011 đến nay: thành tựu và thách thức [41] phân tích, đánh giá những
thành tựu, thách thức đặt ra đối với tiến trình dân chủ hóa dưới thời Tổng thống Thein Sein Theo tác giả, tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar chỉ thực sự bước vào giai đoạn mới khi chính phủ quân sự chuyển giao quyền lực, từ đó, chính phủ mới thực hiện hàng loạt thay đổi dân chủ, trước hết là đảm bảo hai nhóm quyền dân chủ là các nhóm quyền tự do cơ bản và các nhóm quyền khác Cơ sở quan trọng để thực hiện các nhóm quyền này là sự kiểm soát quyền lực trên thực
tế giữa các trung tâm quyền lực theo Hiến pháp Myanmar năm 2008 vốn không được thực hiện bởi chính phủ quân sự
Về vấn đề hòa hợp dân tộc, trong bài viết Hòa hợp dân tộc ở Myanmar
từ 2011 đến nay: kết quả và những thách thức đặt ra [39] tác giả phân tích
chính sách hòa hợp dân tộc của Chính phủ Thein Sein như đối thoại chính trị với đảng đối lập, thả tù chính trị, thỏa thuận ngừng bắn với các nhóm vũ trang Tác giả cũng chỉ ra một số thách thức đối với quá trình hòa hợp dân tộc như vai trò của Quân đội Myanmar trong nền chính trị mới, sự bất đồng quan điểm giữa Chính phủ Myanmar và các nhóm vũ trang về quy chế tự trị, khai thác tài nguyên
Bài viết Những nỗ lực mới của Tổng thống Thein Sein trong việc làm dịu vấn đề xung đột tôn giáo, sắc tộc của Myanmar [5] nghiên cứu tình hình xung
đột sắc tộc, tôn giáo ở Myanmar thời gian gần đây và những giải pháp của Chính phủ Thein Sein như đàm phán hòa bình, thành lập nhóm giải quyết xung đột,
Trang 20phát triển kinh tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, tăng cường đối thoại
Về chính sách đối ngoại của Myanmar, cuốn Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN của Viện Quan hệ quốc tế (Học viện CTQG Hồ Chí Minh) [26]
nghiên cứu chính sách đối ngoại của các nước ASEAN bao gồm Myanmar thời
kỳ trong và sau Chiến tranh lạnh Các tác giả phân tích đặc điểm chung nhằm làm rõ chính sách của Myanmar với các nước trong khu vực và một số nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, một số nước EU
Bài viết Chính sách đối ngoại trung lập của Miến Điện giai đoạn
1962-1988 [8] phân tích nguyên nhân, mục tiêu, quá trình triển khai chính sách đối
ngoại trung lập của Myanmar thời kỳ Chính phủ Ne Win Về tác động của chính sách, tác giả cho rằng, chính sách trung lập thận trọng đã giúp Myanmar tránh khỏi sự can thiệp bên ngoài, theo đuổi các mục tiêu trong nước, bảo vệ nền độc lập của Myanmar, duy trì quan hệ với tất cả các nước trên thế giới nhưng hậu quả của nó là nhân dân Myanmar lâm vào tình trạng khốn cùng về kinh tế trong thời gian dài Qua những nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Myanmar các giai đoạn trước đây, NCS có thể tìm hiểu cách thức bảo vệ độc lập dân tộc của Myanmar thời kỳ chiến tranh lạnh, đó cũng là cơ sở để NCS so sánh với cách thức bảo vệ độc lập dân tộc hiện nay của Myanmar trên lĩnh vực đối ngoại
Về các chính sách phát triển kinh tế của Myanmar, cuốn Quá trình phát triển của Myanmar của tác giả Vũ Quang Thiện [31] nghiên cứu chính sách kinh
tế của Myanmar từ khi độc lập đến những năm đầu thập niên 90 Phân tích chính sách phát triển kinh tế của ba giai đoạn 1948-1962 (Dân chủ nghị viện), 1962-
1988 (Theo Cương lĩnh đi lên chủ nghĩa xã hội) và Mở cửa, cải cách (Chính phủ quân sự) Một trong những đóng góp quan trọng của cuốn sách là tác giả đã chỉ
ra những nhân tố kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Myanmar: Mơ hồ, không nhất quán, lúng túng về lý luận; Tư tưởng chủ quan duy ý chí, không nhạy bén trong việc chuyển đổi chiến lược phát triển kinh tế; Đường lối phát triển đóng cửa, tự lực cánh sinh cực đoan dẫn đến biệt lập với thế giới bên ngoài, không tiếp cận được các nguồn vốn quốc tế; Tình hình chính trị thường xuyên bất ổn
Trang 21Đó cũng là phần trả lời cho câu hỏi tại sao với nhiều tiềm năng phát triển, Myanmar lại trở thành nước kém phát triển, tụt hậu so với các nước trong khu vực Chính sách phát triển kinh tế của Myanmar từ khi độc lập cùng với sự thất bại của nó là cơ sở để NCS so sánh với các chính sách của Myanmar với các giai đoạn sau này
Ngoài ra còn một số nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí chuyên
ngành, các luận văn, luận án về các nội dung trên như: Cải cách mở cửa ở Myanmar của tác giả Vũ Trung Hiếu [12], Kinh tế Mianma: thực trạng hiện nay
và triển vọng phát triển của tác giả Trương Duy Hòa [13]; Đổi mới kinh tế và cải thiện môi trường đầu tư tại Myanmar của tác giả Trần Thị Ngọc Quyên và Trịnh Quang Hưng [23]; Chính sách của Trung Quốc đối với Myanmar từ sau chiến tranh lạnh đến 2015 của tác giả Nguyễn Khánh Nguyên Sơn [25]
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Về nền dân chủ Myanmar, trong bài viết A Historical Approach to Myanmar’s Democratic Process (Cách tiếp cận lịch sử đối với quá trình dân chủ
của Myanmar) [131] các tác giả lý giải quá trình phát triển của nền dân chủ Myanmar từ năm 1948 đến nay qua tìm hiểu nền dân chủ nghị viện thời kỳ Thủ tướng U Nu, những lý do nền dân chủ bị cản trở thời kỳ Ne Win và cuộc đấu tranh dân chủ ở Myanmar sau năm 1988
Tác giả Bart Gaens với Political Change in Myanmar, Filtering the Murky Waters of "Disciplined Democracy" (Thay đổi chính trị ở Myanmar, gạn lọc
nước đục của "nền dân chủ có kỷ cương") [57] nghiên cứu Lộ trình dân chủ, cuộc trưng cầu dân ý thông qua Hiến pháp năm 2008, cuộc bầu cử bổ sung năm
2012 Tác giả cũng đề cập đến mục tiêu duy trì quyền lực của Quân đội Myanmar trong thể chế chính trị mới, nguyên nhân nền dân chủ ở Myanmar hiện nay được gọi là "dân chủ có kỷ cương" và những điểm chưa dân chủ trong Hiến pháp Myanmar năm 2008
Bài viết Burma’s Transition to "Disciplined Democracy": Abdication of Institutionalization of Military Rule? (Quá trình chuyển đối sang "nền dân chủ
có kỷ cương" của Miến Điện: Sự từ bỏ thể chế hóa chế độ quân sự?) [102] khái
Trang 22quát lý thuyết về chế độ quân sự (đặc điểm, sự can thiệp và mức độ can thiệp của quân đội vào nền chính trị, các yếu tố nội sinh và ngoại sinh dẫn đến sự rút lui khỏi nền chính trị), từ đó phân tích vị trí, vai trò của Quân đội Myanmar đối với nền chính trị Myanmar từ khi độc lập, các yếu tố ngoại sinh/nội sinh dẫn đến việc Quân đội Myanmar từ bỏ quyền lực năm 2011.Tác giả chỉ rõ, quá trình dân chủ hóa của Myanmar, sự chuyển giao quyền lực có sự tính toán rất kỹ của Quân đội sao cho họ vẫn nắm vai trò kiểm soát trong hệ thống chính trị mới và điều đó phải được đảm bảo bằng Hiến pháp năm 2008
Tác giả Priscilla Clappi với bài Myanmar Anatomy of Political Transition
(Giải phẫu sự chuyển đổi chính trị ở Myanmar) [147] đưa ra một số nhận định về những thay đổi ở Myanmar sau cuộc bầu cử năm 2010 Tác giả cho rằng, giới quân sự đã chuẩn bị trong 20 năm để thiết lập một nền dân chủ phù hợp với đòi hỏi của phe đối lập trong khi vẫn đảm bảo lợi ích của Quân đội Myanmar Những thay đổi ở Myanmar là sự thay đổi nhiều hứa hẹn nhất trong thời gian gần đây, được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, là bài học giá trị cho nhiều nước đang trong quá trình chuyển đổi dân chủ
Các nghiên cứu về xung đột vũ trang ở Myanmar rất phong phú, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau như nguyên nhân, bản chất, hậu quả, các giải
pháp kiến tạo hòa bình Tác giả Zaw Oo và Win Min trong Assessing Burma’s Ceasefire Accords (Đánh giá các thỏa thuận ngừng bắn của Miến Điện) [218]
nghiên cứu chính sách ngừng bắn của chính phủ quân sự bao gồm lý giải nguyên nhân, bản chất và kết quả của các thỏa thuận ngừng bắn, lý do các thỏa thuận đó không mang đến nền hòa bình lâu dài cho Myanmar
Cuốn State of Strife:The Dynamics of Ethnic Conflict in Burma (Tình
trạng xung đột: Tiến triển của xung đột sắc tộc ở Miến Điện) [105] đề cập những nguyên nhân xung đột vũ trang ở Myanmar Tác giả Martin Smith cho rằng, những bất mãn chính trị làm trầm trọng thêm xung đột ở các thời kỳ mà hậu quả của nó là sự nổi loạn đã trở thành lẽ sống (the way of life) và quá trình quân sự hóa nhà nước Myanmar thời kỳ hậu thực dân Sự pha trộn các yếu tố văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội và quốc tế cũng là nguyên nhân chủ yếu kéo dài xung đột
Trang 23ở Myanmar Tác giả cũng đưa ra năm nhóm giải pháp cho vấn đề xung đột ở Myanmar, đáng chú ý là 2 nhóm có thể thay đổi cơ bản tình hình chính trị - xã hội ở Myanmar: Chuyển đổi dân chủ, phi quân sự hóa và những tiến bộ kinh tế là những vấn đề không thể tách rời; Những cải cách có tính đa nguyên và bao trùm (inclusiveness) phản ánh tính đa dạng chính trị và văn hóa của đất nước
Bài viết Dreams and Nightmares: State Building and Ethnic Conflict in Myanmar (Burma) (Những giấc mơ và ác mộng: Xây dựng nhà nước và xung đột sắc tộc ở Myanmar (Miến Điện) in trong cuốn Ethnic Conflict in Southeast Asia [176] xem xét những nỗ lực của chính phủ quân sự Myanmar trong xử lý
xung đột để thiết lập "nền dân chủ có kỷ cương" sau khi thực hiện chính sách ngừng bắn Vấn đề là ở chỗ, trong khi chính phủ theo đuổi một hiến pháp sao cho thỏa mãn nguyện vọng của các dân tộc thiểu số về quyền tự trị mà vẫn duy trì bản chất trung ương tập quyền của nhà nước thì các nhóm vũ trang, các tổ chức của người Myanmar ở nước ngoài đòi hỏi một hiến pháp liên bang thực sự
Understanding Myanmar’s Peace Process:Ceasefire Agreements (Tìm
hiểu tiến trình hòa bình của Myanmar: Các thỏa thuận ngừng bắn) [127] của tác
giả Myanmar Min Zaw Oo nghiên cứu tiến trình hòa bình của Chính phủThein
Sein trong đó tập trung vào quá trình đàm phán các thỏa thuận ngừng bắn song phương mới và việc chuẩn bị cho đàm phán ngừng bắn toàn quốc Tác giả cũng
so sánh tiến trình hòa bình hiện tại với chính sách ngừng bắn của chính phủ quân
sự, phân tích những khó khăn, thách thức, triển vọng của tiến trình này
Về chính sách đối ngoại, tác giả Jurgen Haacke trong cuốn Myanmar’s Foreign Policy, Domestic Influences and International Implications (Chính sách
đối ngoại của Myanmar, ảnh hưởng trong nước và tác động quốc tế) [85] phân tích cách thức thiết lập quan hệ quốc tế của Myanmar trong bối cảnh bị phương Tây cấm vận từ năm 1988 đến những năm đầu thế kỷ XXI Để làm rõ nội dung này, tác giả tập trung vào các vấn đề: nhu cầu an ninh chính trị, mục tiêu chính sách đối ngoại, quan hệ của Myanmar với Trung Quốc, Ấn Độ, ASEAN, phương Tây, Nhật Bản, Liên Hợp quốc (LHQ) Tác giả nhận định, mặc dù đối mặt với nhiều thách thức trong nước và quốc tế nhưng Myanmar đã theo đuổi chính sách đối ngoại
Trang 24tương đối thành công, đóng góp vào an ninh nhà nước và chế độ, mở ra con đường hợp tác kinh tế, đặc biệt trong việc tìm kiếm cơ hội xây dựng quan hệ kinh tế, chính trị bền vững hơn với các nước láng giềng trực tiếp Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan
Chuyên gia nghiên cứu về chính sách đối ngoại và quan hệ dân sự-quân
sự Myanmar Maung Aung Myoe với công trình In the Name of Pauk-Phaw, Myanmar’s China Policy since 1948 (Nhân danh Pauk-Phaw, Chính sách Trung Quốc của Myanmar từ năm 1948) [109] đi sâu nghiên cứu lịch sử phát triển
chính sáchTrung Quốc của Myanmar từ năm 1948 qua ba giai đoạn: Dân chủ nghị viện (1948-1962), Hội đồng cách mạng và Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa (1962-1988), SLORC/SPDC (từ 1988) trong đó nhấn mạnh mục tiêu, chiến lược và các yếu tố hình thành chính sách Theo dõi quan hệ song phương giữa hai nước trong thời gian dài, tác giả rút ra đặc điểm nổi bật trong chính sách Trung Quốc của Myanmar, đó là là sự khéo léo sử dụng con bài Trung Quốc và không ngừng điều chỉnh quan hệ trong mối quan hệ bất đối xứng đó để giành được lợi thế tốt nhất đồng thời chống lại ảnh hưởng và sự can thiệp của nước này vào công việc nội bộ của Myanmar
Nhà nghiên cứu Maung Aung Myoe tiếp tục tìm hiểu chính sách đối ngoại
của Chính phủ Thein Sein trong bài Myanmar’s Foreign Policy under USDP Goverment:Continuities and Changes (Chính sách đối ngoại của Myanmar dưới
thời Chính phủ USDP: Sự tiếp tục và thay đổi) [112] Tác giả phân tích sự kế thừa các nguyên tắc đối ngoại cơ bản của Myanmar (độc lập, tích cực, không liên kết) và mục tiêu tái hòa nhập cộng đồng quốc của Chính phủ Thein Sein Theo tác giả, chiến lược đối ngoại mới của Myanmar là cân bằng tế nhị lợi ích chiến lược của các nước lớn, theo đuổi chủ nghĩa đa phương trên cơ sở nhấn mạnh hợp tác khu vực và các thể chế khu vực Mục tiêu này không xung đột với các nguyên tắc cơ bản, cũng không thay thế mà bổ sung để quan hệ đối ngoại của Myanmar trở nên tích cực, năng động và có tính quốc tế hơn
Về kinh tế, trong bài viết Policy Dilemmas and Economic Development:A Case Study of Myanmar Economy in Transition (Tình trạng nan giải chính sách
và sự phát triển kinh tế: Trường hợp kinh tế Myanmar trong quá trình chuyển
Trang 25đổi) [179] tác giả Tin Soe phân tích môi trường kinh tế vĩ mô và những kết quả kinh tế, đặc điểm nổi bật của các chính sách kinh tế của Myanmar (mâu thuẫn và bất ổn định, không liên tục, cứng nhắc, tầm nhìn hạn chế, thiếu minh bạch ), những tác động tiêu cực của các chính sách đó Tác giả cho rằng, các nhà hoạch định chính sách Myanmar cần phải thay đổi nhận thức về tài nguyên thiên nhiên
và nguồn nhân lực, phải nhận rõ tính cấp thiết của việc phát triển nguồn nhân lực, từ đó nâng cao chất lượng của các thể chế kinh tế-xã hội trong đó hệ thống giáo dục là ưu tiên hàng đầu
Bài viết Respongding to Strategies and Programmes of Myanmar’s Military Regime, An Economic Viewpoint (Phản ứng trước các chiến lược và
chương trình của chế độ quân sự Myanmar, một quan điểm kinh tế) [49] phân tích nguồn gốc của khủng hoảng kinh tế nửa cuối thập niên 2000, các biện pháp khắc phục, sự tác động đến đời sống nhân dân, nền kinh tế và sự tồn tại của chế
độ Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải cải cách kinh tế, điều đó không chỉ nhằm khắc phục sự quản lý yếu kém mà còn là nhu cầu cấp thiết của nhân dân
Trong bài viết The Political Economy of Myanmar’s Transition (Kinh tế
chính trị trong quá trình chuyển đổi của Myanmar) [98] tác giả Lee Jones xem xét kinh tế chính trị trong quá trình chuyển đổi kép của Myanmar từ chủ nghĩa
xã hội sang chủ nghĩa tư bản và từ chế độ độc tài sang dân chủ Tác giả phân tích những thay đổi trong xã hội Myanmar từ góc độ kinh tế chính trị để nhìn nhận sự phát triển này trong xu hướng phát triển chung của khu vực và đánh giá xu hướng hiện tại của đất nước Tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự nổi lên của chủ nghĩa tư bản do nhà nước làm trung gian và tổ hợp chính trị - kinh doanh ở vùng biên giới Myanmar
Building the Tamadaw Myanmar Armed Forces since 1948 (Xây dựng
Lực lượng vũ trang Myanmar Tamadaw) [108] là công trình lớn của tác giả Muang Aung Myoe về đề tài an ninh quốc phòng Myanmar Tác giả nghiên cứu quá trình xây dựng Quân đội Myanmar từ năm 1948 đến nửa thập niên đầu thế kỷ 21 trên các phương diện: Học thuyết và chiến lược quân sự, Tổ chức và cơ cấu lực lượng, Hiện đại hóa lực lượng, Huấn luyện quân sự và đào
Trang 26tạo sĩ quan, Tài chính cho việc hiện đại hóa lực lượng và phúc lợi quân nhân Khi nghiên cứu năng lực của Quân đội Myanmar, tác giả không chỉ nhìn vào quá trình hiện đại hóa lực lượng mà còn dựa trên bốn phương diện theo quan điểm lịch sử: Học thuyết và chiến lược quân sự, Tổ chức và cơ cấu lực lượng, Hiện đại hóa lực lượng, Huấn luyện quân sự và đào tạo sĩ quan Những nghiên cứu hệ thống của tác giả bổ sung cho nguồn tư liệu đang còn hạn chế
về vấn đề xây dựng Quân đội Myanmar
Tác giả Adrew Selth với bài viết "Strong, Fully Efficient and Modern":Myanmar’s New Look Armed Forces (Sức mạnh, hiệu quả và hiện đại:
Lực lượng vũ trang Myanmar từ cách nhìn mới) [45] đề cập đến mục tiêu củng
cố Quân đội Myanmar dưới thời Tổng thống Thein Sein theo hướng chuyên nghiệp hơn, tinh nhuệ hơn, được tôn trọng hơn trong nước và quốc tế bao gồm hiện đại hóa vũ khí và tăng cường hợp tác quốc tế Tác giả cũng phân tích vai trò chính trị của Quân đội Myanmar và những vấn đề mà họ phải đối mặt trong môi trường chính trị mới
Công trình Myanmar’s Military:Back to the Barracks? (Quân đội
Myanmar có trở về doanh trại?) [80] của Nhóm Khủng hoảng quốc tế (International Crisis Group) nghiên cứu khả năng "trở lại doanh trại" của Quân đội Myanmar trong thời kỳ chuyển đổi dân chủ Các tác giả đề cập đến một số vấn đề về Quân đội Myanmar sau chuyển giao quyền lực như sự can thiệp của Quân đội vào nền kinh tế và chính trị đất nước, họ có chịu sự kiểm soát dân sự không và khi nào sẽ như vậy Các tác giả cho rằng, việc chuyển từ một tổ chức
có quyền lực tuyệt đối sang một tổ chức phải chấp nhận sự kiềm soát quyền lực theo cơ chế dân chủ là một thách thức lớn đối với Quân đội Myanmar
Nhìn chung, những nghiên cứu đã đề cập khái quát hoặc đi sâu tìm hiểu các vấn đề cụ thể trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của Myanmar Các công trình này đã giải quyết được các vấn đề cơ bản sau: Lịch sử hình thành
và phát triển của Myanmar cùng với những đặc trưng về văn hóa, tôn giáo, dân tộc ; Quá trình bị thực dân Anh xâm chiếm, thiết lập chế độ cai trị và cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc; Chính sách phát triển của Myanmar
Trang 27trong các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng với những đặc điểm riêng của từng thời kỳ Đây là nguồn tài liệu phong phú
để NCS có thể kế thừa, tham khảo cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luận án
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHƯA ĐƯỢC GIẢI QUYẾT VÀ LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG LÀM RÕ
1.2.1 Những vấn đề chưa được giải quyết
Sau khi giành độc lập, với bất kỳ quốc gia nào, lựa chọn con đường phát triển không chỉ hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, đảm bảo đời sống nhân dân thịnh vượng mà còn là cách thức bảo vệ độc lập dân tộc vững chắc nhất Trong thời kỳ độc lập, ở Myanmar hiện hữu nhiều nguy cơ đe dọa độc lập, chủ quyền quốc gia như xung đột vũ trang, xu hướng ly khai, sự phụ thuộc vào Trung Quốc, nguy cơ can thiệp từ bên ngoài do những bất ổn trong nước Vì vậy, các chính phủ Myanmar luôn coi bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia là nhiệm vụ quốc gia hàng đầu.Tuy nhiên, các nghiên cứu hầu như chưa đề cập đến mối quan hệ giữa
sự lựa chọn con đường phát triển và mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc của Myanmar
Chính sách đối nội và đối ngoại luôn có mối quan hệ gắn kết với nhau Điều này thể hiện rất rõ ở Myanmar trong vài thập kỷ gần đây dưới thời chính phủ quân sự và thời kỳ chuyển đổi dân chủ Các nghiên cứu đi sâu phân tích chính sách đối nội, đối ngoại của Myanmar từ những góc độ khác nhau nhưng chưa chỉ ra sự tác động lẫn nhau giữa hai loại chính sách này Các nghiên cứu cũng chưa chỉ ra được tính đặc thù trong các chính sách phát triển của Myanmar trong quá trình phát triển, bảo vệ độc lập dân tộc
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung làm rõ
Trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, phân tích làm rõ các nhân tố chủ quan và khách quan tác động
đến quá trình bảo vệ, củng cố độc lập của Myanmar (2003-2015)
Thứ hai, phân tích làm rõ quá trình triển khai các biện pháp bảo vệ, củng
cố độc lập dân tộc của Myanmar trên các lĩnh vực chủ yếu là chính trị, đối ngoại, kinh tế, an ninh - quốc phòng (2003-2015)
Trang 28Thứ ba, đánh giá quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar
(2003-2015) và rút ra một số kinh nghiệm cho các nước đang phát triển
Tiếp cận nguồn tài liệu phong phú về Myanmar của các nhà nghiên cứu đi trước, NCS hệ thống hóa, xử lý phục vụ nội dung nghiên cứu của luận án Luận
án là công trình nghiên cứu quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Myanmar trên cơ sở tìm hiểu chính sách phát triển trên các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, kinh tế, an ninh - quốc phòng giai đoạn 2003-2015 Trong khuôn khổ một luận án những vấn đề nêu ra chỉ được giải quyết được phần nào hoặc có những vấn đề chưa được nghiên cứu sâu, NCS sẽ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện
Trang 29Chương 2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH BẢO VỆ,
CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA LIÊN BANG MYANMAR (2003-2015)
2.1 NHÂN TỐ CHỦ QUAN
2.1.1 Khái quát cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Myanmar
Myanmar nằm ở phía Tây Bắc Đông Nam Á, phía Bắc và Đông Bắc giáp Trung Quốc; phía Đông giáp Lào; phía Đông và Đông Nam giáp Thái Lan, phía Tây giáp Ấn Độ và Bangladesh; phía Nam giáp biển Andaman và vịnh Bengal Myanmar là cầu nối giữa Đông Nam Á với Tây Á, Đông Bắc Á, là điểm trung chuyển cho việc giao lưu buôn bán qua Ấn Độ Dương
Ở vùng biên giới, địa hình đồi núi chiếm ưu thế, tạo cho Myanmar thế khép kín trước các nước láng giềng Vùng núi phía Bắc và phía Tây kéo dài từ cực bắc xuống đến phía Tây gồm các bang Chin, Kachin và vùng Sagaing, Ayeyrwady Các dải núi vùng biên giới và cao nguyên bao quanh khu vực trung tâm rộng lớn với các thung lũng màu mỡ, các dải đồng bằng dọc sông Irrawaddy Phía Đông là cao nguyên Shan cao trung bình 1.000m, hình thành biên giới giữa Myanmar, Trung Quốc, Lào, Thái Lan Miền Nam gồm các dãy núi dài và bình nguyên chạy dọc bờ biển Andaman với bang Mon và vùng Tanintharyi Ba con sông lớn Irrawaddy, Thanlwin và Sittang chạy từ Bắc xuống Nam bồi đắp nên những vùng đồng bằng rộng lớn và màu mỡ như đồng bằng Irrawaddy Ba con sông này không chỉ là những tuyến đường thủy quan trọng
mà còn chứa tiềm năng thủy điện lớn của Myanmar
Myanmar giàu tài nguyên thiên nhiên với nhiều loại đá quý và các khoáng sản khác như dầu mỏ, khí đốt, than, kẽm, đồng, thiếc…với trữ lượng lớn Tếch là loại cây quý nhất của Myanmar, chiếm ¾ sản lượng thế giới
Ngoài thủ đô Naypyitaw, Myanmar được chia thành bảy vùng, nơi đa số người Miến sinh sống và bảy bang, nơi đa số các dân tộc thiểu số sinh sống Các vùng gồm Ayeyarwardy, Bago, Mandalay, Magway,Taninthayi, Sagaing,
Trang 30Yangon; các bang gồm Chin, Kachin, Kayan, Kayin, Mon, Rakhine (Arakan), Shan Tên của các bang được lấy theo tên của dân tộc sống đông nhất trong bang
đó, ví dụ, tên bang Shan được lấy theo tên của người Shan, dân tộc chiếm đa số
ở bang này Ngoài ra, trong các vùng, bang còn có các khu tự trị
Theo kết quả điều tra dân số của Myanmar năm 2014, tổng dân số Myanmar là 51,4 triệu người, 70% dân số sống ở vùng nông thôn, 30% sống ở khu vực thành thị Myanmar là đất nước đa sắc tộc với 135 dân tộc trong đó có tám nhóm dân tộc chính là người Miến (chiếm 2/3 dân số), Shan, Kayin (Karen), Kachin, Rakhine (Arakan), Mon, Chin, Kayah (Karenni) Ngoài ra còn có các dân tộc ngoại lai như người Miến gốc Ấn, người Miến gốc Hoa Ở bang Rakhine còn có nhóm người Rohingya Hồi giáo sinh sống, họ không được công nhận là công dân Myanmar theo Luật công dân Miến Điện năm 1982
Myanmar cũng là đất nước đa tôn giáo trong đó Phật giáo chiếm 89,3% dân số Ngoài ra còn có Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Hindu giáo, Do Thái, Đa thần giáo, Vật linh giáo Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống xã hội Myanmar, từng được công nhận là quốc giáo
Từ thế kỷ XVI, Đông Nam Á đã trở thành điểm đến trong hành trình tìm kiếm thuộc địa của thực dân phương Tây với việc xâm chiếm Indonesia, Philippines Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XX, thực dân phương Tây đẩy mạnh mở rộng thuộc địa ở châu Á, châu Phi, vì vậy, nhiều nước Đông Nam Á tiếp tục bị xâm chiếm như các nước Đông Dương, Malaysia, Miến Điện (tên gọi của Myanmar trước năm 1989) Thực dân Anh phải mất gần một thế kỷ (1795-1885) với ba cuộc chiến tranh lớn (1824 -1826, 1852-1853, 1885) mới chiếm được toàn bộ Miến Điện Sau đó, Anh đã sáp nhập Miến Điện thành một bang của Ấn Độ thuộc Anh và áp đặt chế độ cai trị một cách hệ thống Miến Điện từ một nước phong kiến độc lập đã trở thành thuộc địa của Anh (chế độ thuộc địa của thuộc địa) và từ đây bắt đầu cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Miến Điện
* Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến năm 1940
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, cùng chung số phận thuộc địa của thực dân phương Tây, phong trào đấu tranh giành độc lập của Miến Điện có những
Trang 31đặc điểm chung của khu vực này Giai đoạn đầu sau khi bị xâm chiếm, phong trào đấu tranh ở Miến Điện mang tính chất phong kiến, chủ yếu do tầng lớp trên lãnh đạo với mục tiêu khôi phục vương triều phong kiến và độc lập dân tộc Phong trào chống thực dân Anh diễn ra rộng khắp với sự tham gia của nhiều tầng lớp xã hội dưới sự lãnh đạo của các hoàng thân, quốc thích, các sĩ quan trong quân đội hoàng gia Mặc dù tinh thần chiến đấu kiên cường với quy mô rộng lớn nhưng cuộc kháng chiến của nhân dân Miến Điện cuối cùng đã bị thất bại Tuy vậy, nó đã đặt nền móng cho các cuộc đấu tranh giành độc lập trong các giai đoạn tiếp theo
Đầu thế kỷ XX, tính chất xã hội ở các nước Đông Nam Á có sự thay đổi Các giai cấp cũ bị phân hóa và bắt đầu xuất hiện những giai cấp mới như giai cấp tư sản dân tộc, tiểu tư sản Bên cạnh đó, tư tưởng dân chủ tư sản ở châu Âu, cuộc duy tân của Minh Trị ở Nhật Bản, tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn, phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ đã khơi dậy ý thức dân tộc của nhân dân các nước Đông Nam Á và truyền bá tư tưởng dân chủ, vượt qua mục tiêu phục hồi vương triều phong kiến, hướng tới chế độ dân chủ tiến bộ hơn.Tư tưởng dân chủ tư sản làm cho không khí chính trị ở Đông Nam Á sôi động hơn với nhiều hình thức hoạt động mới như thành lập các hội, trường học, xuất bản báo chí truyền bá tư tưởng và nền giáo dục mới với nội dung thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí phục hưng dân tộc, khuyến khích phát triển doanh nghiệp, tiếp thu khoa học kỹ thuật mới
Theo xu hướng đó, phong trào đấu tranh giành độc lập ở Miến Điện giai đoạn này cũng mang màu sắc mới Giai cấp tư sản dân tộc trở thành người đại diện cho nguyện vọng độc lập chung của các tầng lớp nhân dân Ở Miến Điện, Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội và giới tăng lữ là một lực lượng chính trị - xã hội quan trọng Chính sách cai trị về văn hóa-giáo dục của thực dân Anh đã làm suy yếu vai trò, vị trí của Phật giáo và giới tăng lữ Do vậy, cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ và phát triển văn hóa, tín ngưỡng dân tộc ở Miến Điện bắt đầu từ việc bảo vệ và trấn hưng Phật giáo, trong đó nổi lên vai trò của các tổ chức Phật giáo Các tổ chức này thành lập trường học dân tộc, chú trọng dạy lịch sử tôn vinh quá khứ dân tộc, xuất bản sách báo khơi dậy tinh thần dân tộc, phản đối thực dân Anh xúc phạm văn hóa và tôn giáo của người Miến, đòi
Trang 32tham gia rộng rãi hơn vào việc quản lý đất nước Một số tổ chức Phật giáo ra đời như Hội Phật giáo (1897), Hội Liên hiệp Phật giáo (1904), Hội Phật giáo thanh niên (1906), Hội truyên truyền Phật giáo (1907) trong đó nổi lên vai trò dẫn đầu của Hội Phật giáo thanh niên với các chi nhánh ở các nơi Hội chủ trương phục hưng Phật giáo, phổ cập giáo dục phổ thông sơ cấp không mất tiền, đòi bình đẳng giáo dục giữa người Anh và người Miến, đấu tranh với những tập tục xấu, đòi người Âu phải tôn trọng văn hóa dân tộc, giáo dục tình cảm yêu nước trong nhân dân Hội xuất bản báo chí khơi dậy tinh thần dân tộc như tuần báo Người Miến, nguyệt san Phật tử Miến, nhật báo bằng tiếng Miến Thuriad (Mặt trời) Đại hội thường niên năm 1916 của Hội đã thông qua nghị quyết yêu cầu tất cả mọi người dù là Âu hay Á đều phải đi chân đất trong các khu vực đền chùa Nghị quyết này được hưởng ứng rộng khắp và "vấn đề đôi giày" trở thành tiêu điểm của cuộc đấu tranh chống thực dân Anh Bởi theo phong tục Miến Điện, khi vào đền chùa phải bỏ giày, dép nhưng người Anh đã xâm phạm truyền thống này, làm tổn thương nghiêm trọng tình cảm tôn giáo, dân tộc thiêng liêng của nhân dân Miến Điện Nghị quyết cũng nâng cao uy tín của Hội Phật giáo thanh niên và đây
là cuộc đối mặt công khai đầu tiên với chính quyền thuộc địa Đại hội năm 1917 đưa ra những quyết định đánh dấu sự chuyển biến sang hoạt động chính trị Ngoài
"vấn đề đôi giày", Đại hội còn cử đoàn đại biểu đến Cancutta gặp Quốc vụ khanh
về Ấn Độ đề nghị thành lập Chính phủ Miến Điện tách khỏi Ấn Độ và áp dụng cải cách như nhau giữa hai nước [32, tr.314] Đại hội năm 1920 kêu gọi tẩy chay hàng hóa nước ngoài, phổ biến rộng rãi tư tưởng của Gandi
Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Miến Điện còn xuất hiện
những hội liên hiệp thế tục bao gồm các đại biểu nông dân, thợ thủ công, tư sản dân tộc, trí thức, địa chủ với mục đích giáo dục và tuyên truyền ý thức dân tộc Sau đó, phần lớn các hội này sáp nhập với Hội Phật giáo thanh niên, vì vậy, đến năm 1918, Hội Phật giáo thanh niên đã trở thành một tổ chức lớn mạnh hoạt động trên phạm vi cả nước với nòng cốt là các trí thức
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, xuất hiện thêm xu hướng vô sản trong cuộc đấu tranh giành độc lập ở Đông Nam Á Đó là kết quả của nền công nghiệp
Trang 33thuộc địa bao gồm nền công nghiệp dân tộc, sự trưởng thành của giai cấp công nhân, ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga Đảng cộng sản Miến Điện ra đời năm 1939 trong bối cảnh này đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống thực dân
Trong thập niên 20, 30 của thế kỷ XX, phong trào dân tộc tư sản ở Đông
Nam Á đã có những bước tiến rõ rệt so với những năm đầu thế kỷ Mục tiêu giành độc lập dân tộc cụ thể hơn, đó là đòi quyền tự chủ về chính trị, quyền tự do kinh doanh, quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục Các chính đảng của tư sản dân tộc được thành lập với tôn chỉ, mục đích rõ ràng Lực lượng đóng vai trò nổi bật trong phong trào dân chủ tư sản là giới trí thức như học sinh, sinh viên, viên chức tiếp thu ảnh hưởng văn hóa, tư tưởng dân chủ từ nước ngoài và trở thành bộ phận cấp tiến trong giai cấp tư sản và tiểu tư sản, là ngòi nổ trong các cuộc đấu tranh ở Đông Nam Á [29, tr.71] Ở Miến Điện ra đời thế hệ trí thức trẻ tiếp thu tinh thần dân tộc của Gandhi, khát vọng tìm lối thoát cho dân tộc qua tư tưởng của J.J.Rouseau, Fabien, chủ nghĩa Mác-Lênin Dù trình độ nhận thức, hoàn cảnh, lựa chọn tư tưởng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc Những tổ chức sinh viên Miến Điện dấy lên cuộc đấu tranh đòi cải cách quy chế đại học, tự trị, dẫn đến phong trào Thakin Thakin trong tiếng Miến có nghĩa là ông chủ, ngài Khi lấy tên này, những người Thakin muốn khẳng định quyền độc lập của Miến Điện và địa vị chủ nhân của người Miến Những người Thakin nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị
có uy tín trong nước Phong trào phát triển thành các cuộc đấu tranh quyết liệt hơn như cuộc khởi nghĩa nông dân do Xay Xan lãnh đạo (1930-1932), phong trào bãi công của công nhân hầm mỏ, phong trào học sinh chống Anh do Đảng Thakin lãnh đạo năm 1930 [2, tr.270]
Do phong trào đấu tranh của nhân dân, từ năm 1921, Quốc hội Anh quyết định mở rộng chế độ lưỡng quyền (Dyarchie) sang Miến Điện, theo đó, Miến Điện được hưởng mức độ tự trị nhất định từ trung ương tới địa phương Người Miến được tham gia vào chính quyền New Delhi và được quyền bầu cử [11, tr.1061] Tháng 3/1935, Nghị viện Anh thông qua đạo luật cho phép Miến Điện
từ tháng 4/1937 có một chính phủ riêng dưới sự quản lý của Toàn quyền Anh Trong thể chế mới, Chính phủ Miến Điện chịu trách nhiệm trước Nghị viện Anh
Trang 34và Quốc vụ khanh về Ấn Độ và Miến Điện Thể chế mới chỉ áp dụng trong Khu vực người Miến chính danh, còn Khu vực biên giới không nằm trong thể chế mới của Chính phủ Miến Điện [32, tr.332] Tuy vậy, việc tách khỏi Ấn Độ đã chấm dứt chế độ "thuộc địa của thuộc địa", đánh dấu sự chuyển biến đáng kể của phong trào giải phóng dân tộc Miến Điện
* Giai đoạn 1941-1948
Năm 1940, phát xít Nhật tràn vào Đông Nam Á và nhanh chóng chiếm trọn khu vực này từ thực dân phương Tây Do vậy, cuộc đấu tranh của Đông Nam Á từ đây tập trung vào chủ nghĩa phát xít Nhật Nét mới của cuộc đấu tranh giành độc lập giai đoạn này là sự thành lập ở hầu hết các nước mặt trận dân tộc thống nhất và lực lượng vũ trang cách mạng [29, tr.73]
Ở Miến Điện, lãnh tụ Đảng Thakin Aung San hy vọng vào sự giúp đỡ của Nhật để giành độc lập Aung San đã ký thỏa ước với Nhật, theo đó, những người Thakin hỗ trợ quân sự cho Nhật đánh đuổi Anh, còn Nhật phải trao trả độc lập cho Miến Điện, thành lập quân đội Miến Điện độc lập, đào tạo sĩ quan, cung cấp
vũ khí…[2, tr.276].Với sự hỗ trợ của Nhật, tháng 12/1941, Quân đội Miến Điện độc lập được thành lập tại Thái Lan và sau đó trở về Miến Điện đánh đuổi Anh Tuy nhiên, khi chiếm được Miến Điện, Nhật đã bội hứa, không những không trao trả độc lập cho Miến Điện mà còn thay Anh cai trị Miến Điện với chính sách
hà khắc hơn Aung San và Đảng Thakin đã liên minh với Đảng cộng sản Miến Điện kháng chiến chống Nhật Tháng 8/1944, Liên đoàn tự do nhân dân chống
phát xít (AFPLF) thành lập do Aung San làm Chủ tịch, lãnh tụ Đảng Cộng sản
Thakin Xu làm thư ký AFPLF quyết định phối hợp với quân Đồng minh (quân Anh) để đánh đuổi phát xít Nhật Tháng 5/1945, quân Miến Điện cùng quân Đồng minh đã chiếm được Yangon Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện và rút khỏi Miến Điện
Tuy nhiên, thời cơ giành độc lập của Miến Điện lại lần nữa bị bỏ lỡ bởi sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, với danh nghĩa quân Đồng minh thắng trận, Anh quay lại tước vũ khí của Quân đội Miến Điện và thống trị trở lại Miến Điện Cuộc đấu tranh chống Anh lại tiếp tục dưới sự dẫn dắt của AFPFL
Trang 35nhưng chủ yếu bằng đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang Trước cuộc đấu tranh của nhân dân Miến Điện, ngày 17/5/1945, Anh tuyên bố trao trả quyền tự trị hoàn toàn cho Miến Điện nhưng yêu cầu Miến Điện phải gia nhập Khối Liên hiệp Anh Với mục tiêu độc lập hoàn toàn, Aung San và AFPFL đã phản đối yêu cầu này Đại hội lần thứ nhất của AFPFL tại Yangon tháng 1/1946 đã lên án âm mưu phục hồi chế độ thực dân của Anh, đòi thành lập chính phủ dân tộc và triệu tập Quốc hội lập hiến để quyết định vận mệnh của Miến Điện Tháng 1/1947, đoàn đại biểu Miến Điện do Aung San dẫn đầu đến London ký Hiệp ước Aung San -Attlee với các điều khoản sau: 1 Sẽ tổ chức tổng tuyển cử sau 3 tháng ký hiệp ước để bầu ra Hội đồng lập hiến; 2 Anh công nhận nội các Aung San là chính phủ lâm thời có quyền lực của một nội các tự trị; 3 Sẽ tổ chức một hội nghị với sự tham gia của đại diện nghị viện Anh, nội các Aung San và các dân tộc Chin, Kachin, Karen để bàn về tương lai các dân tộc ít người; 4 Anh sẽ cho Miến Điện vay tiền để tái thiết đất nước và giúp nước này vào Liên hợp quốc [32, tr.392] Các điều khoản không rõ ràng về nền độc lập của Miến Điện
đã làm bùng phát cuộc đấu tranh mạnh mẽ trong nhân dân Miến Điện Trước tình hình đó, Aung San đề xuất chủ trương đấu tranh đòi thực dân Anh trao trả độc lập hoàn toàn trong thời hạn một năm đồng thời xây dựng một chính phủ dân tộc có đại biểu của Đảng Cộng sản và các tổ chức cánh tả [21, tr.436]
Theo Hiệp ước Aung San - Attlee, tháng 4/1947, Miến Điện tiến hành bầu
cử Quốc hội lập hiến và thành lập chính phủ lâm thời do Aung San đứng đầu Ngày 10/6/1947, Quốc hội họp phiên đầu tiên, thông qua dự thảo hiến pháp và tuyên bố Miến Điện phải độc lập hoàn toàn, không nằm trong Khối Liên hiệp Anh Chính phủ lâm thời đã đàm phán với Anh về việc chuyển giao chính quyền nhưng không có kết quả Trong lúc đó, ngày 19/7/1947, Aung San và 6 bộ trưởng trong chính phủ lâm thời bị các phần tử đối lập ám sát Cái chết của Aung San là tổn thất lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc Miến Điện, thổi bùng thêm ngọn lửa đấu tranh của nhân dân Trước sức ép của cuộc đấu tranh, Chính phủ Anh phải đàm phán với chính phủ lâm thời của Thủ tướng U Nu (thay thế Aung San) về nền độc lập của Miến Điện Ngày 17/10/1947, tại London, hai thủ
Trang 36tướng Attlee và U Nu đã ký hiệp ước Anh-Miến trong đó có điều khoản công nhận Miến Điện là quốc gia hoàn toàn độc lập, có chủ quyền Ngày 4/1/1948, Liên bang Miến Điện chính thức tuyên bố độc lập, kết thúc gần một thế kỷ thuộc địa của Anh
Sau hơn nửa thế kỷ đấu tranh bền bỉ chống ngoại xâm, cuối cùng, Miến Điện
đã giành độc lập hoàn toàn Lịch sử bị xâm chiếm và cuộc đấu tranh giành độc lập gian khổ đã củng cố quyết tâm giữ vững độc lập dân tộc của các thế hệ người Miến Điện sau này Cuộc đấu tranh đã để lại những kinh nghiệm quý về sự đoàn kết, thống nhất dân tộc, sự thận trọng khi kết thân với lực lượng bên ngoài, tinh thần độc lập tuyệt đối…
2.1.2 Thực trạng kinh tế, chính trị - xã hội Myanmar cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI
2.1.2.1 Nền kinh tế sơ khai, lạc hậu
Quá trình phát triển kinh tế của Myanmar từ khi độc lập đến nay chia thành ba giai đoạn: Kinh tế hỗn hợp giữa kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thời kỳ Dân chủ nghị viện (1948-1962); Kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa thời kỳ Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa (1962-1988); Kinh tế định hướng thị trường (từ năm 1988)
* Giai đoạn 1948-1962 Chính phủ xây dựng cơ cấu sở hữu kinh tế nhà
nước, loại bỏ các thế lực tư bản độc quyền nước ngoài, xây dựng chương trình công nghiệp hóa, quốc hữu hóa ruộng đất và các cơ sở công nghiệp nhằm loại bỏ quan hệ kinh tế xã hội thuộc địa phong kiến Chính phủ phát triển kinh tế thông qua các kế hoạch đầy tham vọng như Kế hoạch Pyidawtha (1952-1957), Kế hoạch bốn năm (1957-1961) Tuy nhiên, do tư tưởng chủ quan, duy ý chí, không dựa vào điều kiện thực tế của Myanmar và cùng những bất ổn chính trị như với
sự chia rẽ, tranh giành quyền lực nội bộ nên các kế hoạch này đều thất bại
* Giai đoạn 1962-1988 Chính phủ can thiệp mạnh vào các hoạt động
kinh tế, tập trung quyền lực kinh tế trong tay nhà nước, quốc hữu hóa tư liệu sản xuất, độc quyền phân phối và xuất nhập khẩu hàng hóa, cấm khu vực tư nhân, loại bỏ yếu tố nước ngoài, thực hiện chính sách tự lực cánh sinh, không nhận
Trang 37viện trợ nước ngoài Các chính sách này đã kìm hãm nền kinh tế, kết quả là, năm
1987, Myanmar bị LHQ xếp vào nhóm nước kém phát triển nhất thế giới
* Giai đoạn sau năm 1988 Chính phủ quân sự xóa bỏ kinh tế xã hội chủ
nghĩa, phát triển kinh tế định hướng thị trường, thực hiện cải cách mở cửa như kêu gọi đầu tư nước ngoài, giải phóng khu vực tư nhân, cải cách doanh nghiệp nhà nước Nhờ đó, nền kinh tế có sự khởi sắc sau thời gian dài đóng cửa tự lực nhưng vẫn chưa thể bứt phá do nhiều yếu tố như cải cách có tính cục bộ, ngắn hạn, những hạn chế trong quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách, di sản nặng nề của nền kinh tế kế hoạch hóa…
Qua ba giai đoạn với những mô hình kinh tế khác nhau, bất chấp những
nỗ lực cải cách của các chính phủ Myanmar, kinh tế Myanmar hội tụ đầy đủ những đặc điểm của một nền kinh tế trì trệ, lạc hậu
Thứ nhất, môi trường kinh tế vĩ mô không thúc đẩy phát triển kinh tế
Môi trường kinh tế vĩ mô có vai trò thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế nhưng ở Myanmar các yếu tố môi trường kinh tế vĩ mô cơ bản như lạm phát, tỷ giá hối đoái, thị trường đã không đảm bảo được vai trò này
Hệ thống tỷ giá hối đoái ở Myanmar rất phức tạp bao gồm tỷ giá chính thức, bán chính thức và không chính thức, việc sử dụng tùy thuộc vào người sử dụng và mục đích sử dụng trong từng điều kiện, trường hợp cụ thể Đồng kyat được chính thức cố định 6kyat/1USD từ ngày 2/5/1977 và không đổi trong hơn
ba thập kỷ, bất chấp những thay đổi môi trường, điều kiện kinh tế ở các nước khác và hoàn toàn nằm ngoài mối liên kết với xu hướng giá cả khu vực và quốc
tế [179, tr.5] Trong khi đó, tỷ giá hối đoái không chính thức liên tục tăng, từ 42K/USD năm 1988 lên 1280-1400K/USD năm 2007 Tình trạng này không những làm tổn hại đến tính minh bạch mà còn bóp méo giá cả, phân bố nguồn lực không hiệu quả, nguy hiểm cho sự ổn định kinh tế vĩ mô và sự phát triển kinh tế
Tỷ lệ lạm phát của Myanmar luôn ở mức cao trong hai thập kỷ gần đây và
có xu hướng tăng Năm 1996 xấp xỉ 16,2%, năm 1997 là 29,5%, năm 1998 trên
50 % Tỷ lệ trong các năm 2002, 2003, 2004 lần lượt là 34,6%, 58% và 26,8%
Trang 38[196, tr.71] So sánh với các nước trong khu vực, tỷ lệ lạm phát trung bình của Myanmar giai đoạn 2000-2005 là 23%, cao gấp 5 lần tỷ lệ trung bình của 15 nước châu Á (4,1%) và tỷ lệ trung bình của 8 nước ASEAN (4,2%) trong cùng thời kỳ [124, tr.208, 209] Lạm phát ở Myanmar chủ yếu do việc cung tiền tăng quá nhanh, khoảng 25% mỗi năm, dẫn đến giá cả tăng 15-25%/năm [65, tr.5] Tỷ giá hối đoái bất hợp lý, tỷ lệ lạm phát cao phá hủy nghiêm trọng nền kinh tế, cho thấy trình độ quản lý kinh tế yếu kém của chính phủ
Thị trường Myanmar không hoàn thiện với nạn đầu cơ tích trữ, môi trường không chắc chắn, không an toàn, là hệ quả của chính sách mâu thuẫn và kém hiệu quả, kiểm soát chặt chẽ đầu vào (bao gồm cả thông tin) và đầu ra Quá trình toàn cầu hóa đòi hỏi sự hướng ngoại với mức độ cạnh tranh cao nhưng các chính sách của Myanmar vẫn hướng nội bởi ngày càng nhiều những quy định và hạn chế phá
vỡ tính hiệu quả của thị trường, kiềm chế tiềm năng tăng trưởng định hướng thị trường Mặc dù hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã bị xóa bỏ nhưng sự tập trung hóa, kiểm soát và can thiệp của nhà nước vẫn tồn tại, ảnh hưởng đến hiệu quả phân bố nguồn lực, sản xuất, thương mại và đầu tư…[179, tr.3-4]
Môi trường kinh tế vĩ mô không thuận lợi là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến kết quả kinh tế ảm đạm, thể hiện ở một số chỉ số kinh tế cơ bản của Myanmar vài thập niên gần đây
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Phát triển kinh tế Myanmar (MNPED), tăng trưởng GDP trung bình giai đoạn 1992-2010 đạt 10,2%; giai đoạn 2000-
2010 đạt 12,2% (Phụ lục 2) Tuy nhiên, IMF và ADB cho rằng, tỷ lệ tăng trưởng
mà Myanmar công bố không chính xác do khả năng xử lý số liệu yếu kém và phương pháp lỗi tính toán lỗi thời của Myanmar Hơn nữa, đa số các nhà phân tích kinh tế cho rằng, tỷ lệ cao bất thường liên tiếp trong thời gian bị cấm vận là trái với thực tế vì không có nước nào có thể đạt được tỷ lệ tăng trưởng đó trong môi trường quốc tế như vậy Có thể so sánh với tăng trưởng GDP trung bình giai đoạn 2000-2005 của các nước và vùng lãnh thổ châu Á: Trung Quốc: 8,5%, Hàn Quốc: 5,2%, Hồng Kông: 4,9%, Singapore: 4,2%, Đài Loan: 3,5% [42] Theo IMF, tăng trưởng GDP trung bình của Myanmar giai đoạn 2002-2010 chỉ đạt 4,6%, thấp hơn Campuchia, Lào, Việt Nam
Trang 39Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Myanmar ở mức thấp và thấp hơn nhiều so với nhóm nước kém phát triển trong ASEAN
Bảng 2.1: GDP/người của Myanmar và một số nước ASEAN (2000-2005)
Cơ cấu kinh tế của Myanmar lạc hậu, phát triển không bình thường, hầu
như không thay đổi sau nhiều thập kỷ Tỷ lệ công nghiệp tăng nhẹ từ 12% năm
1970 lên 13,6% năm 2003, chỉ tăng 1,6% trong 3 thập kỷ, thấp nhất trong các nước ASEAN; tỷ lệ dịch vụ còn giảm từ 38,5 năm 1970 xuống 34,5 năm 2003 [179, tr.11] (Phụ lục 3)
Thứ hai, hệ thống tài chính ngân hàng sơ khai
Hệ thống tài chính ngân hàng Myanmar yếu kém nhất trong khu vực Đông Nam Á Các ngân hàng nhà nước giữ vai trò chi phối khu vực tài chính Myanmar không có thị trường liên ngân hàng nên chức năng của Ngân hàng trung ương chủ yếu là tài trợ thâm hụt ngân sách của nhà nước Ngân hàng trung ương là một bộ phận của Bộ Tài chính, không có chính sách tiền tệ độc lập và kiểm soát lạm phát hiệu quả [43, tr.5] Chính phủ kiểm soát chặt chẽ Ngân hàng trung ương, ra lệnh độc đoán như in tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách khiến tỷ lệ lạm phát luôn dao động ở mức cao [59, tr.19] Các ngân hàng không phục vụ lợi ích của đa số nhân dân mà chủ yếu
vì lợi ích hạn hẹp của các ông chủ Ba lần hủy tiền và cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 2003 đã làm mất lòng tin của nhân dân vào hệ thống ngân hàng Nhu cầu cần phải có một hệ thống ngân hàng với các thể chế thị trường minh bạch, lành mạnh, cạnh tranh cao, đáp ứng sự phát triển của các khu vực kinh tế ngày càng lớn
Trang 40Thứ ba, môi trường đầu tư nước ngoài không thuận lợi
Mặc dù Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1988 và có một số biện pháp thu hút FDI được thực hiện nhưng Myanmar vẫn không phải là nước nhận đầu tư lớn do những yếu tố rủi ro cao như chính sách không hợp tác, cơ sở hạ tầng yếu kém, thị trường tài chính không ổn định, tỷ giá hối đoái phức tạp, cấm vận kinh tế Cấu trúc đầu tư của Myanmar không đồng đều giữa các lĩnh vực, chủ yếu tập trung vào khai thác tài nguyên thiên nhiên như điện, dầu khí, đá quý Các lĩnh vực có ý nghĩa với chiến lược thay thế nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm, khả năng lợi nhuận cao, ít tác động xấu đến môi trường như giao thông, viễn thông, nông nghiệp, may mặc lại không hấp dẫn các nhà đầu tư
Thứ tư, cơ sở hạ tầng lạc hậu, nguồn nhân lực kém chất lượng
Hệ thống cơ sở hạ tầng của Myanmar như mạng lưới giao thông, thông tin, viễn thông…rất yếu kém so với khu vực Myanmar thiếu hệ thống giao thông kết nối với các nước trong khu vực, do đó, cản trở sự tham gia của nền kinh tế Myanmar vào hệ thống khu vực và toàn cầu Chi phí giao thông, viễn thông, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi đã hạn chế đáng kể khả năng tiếp cận với các dịch vụ kinh tế - xã hội của người dân
Tăng trưởng kinh tế và nguồn nhân lực có tác dụng tương hỗ nhưng ở Myanmar thiếu trầm trọng nguồn lao động được đào tạo Myanmar luôn nằm trong nhóm nước có Chỉ số phát triển con người (HDI) thấp, chủ yếu do đầu tư cho y tế và giáo dục thấp, thiếu chính sách giáo dục gắn kết và liên tục, không tạo được cơ hội việc làm trên cơ sở tri thức (Phụ lục 4) Hơn nữa, việc đóng cửa thường xuyên các trường đại học do bất ổn chính trị và những thay đổi trong hệ thống giáo dục trong hơn hai thập kỷ qua đã ảnh hưởng xấu đến chất lượng giáo dục Các yếu tố đó khiến các chỉ số giáo dục của Myanmar thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực [174, tr.57]
Thứ năm, tệ nạn tham nhũng tràn lan
Theo Tổ chức minh bạch quốc tế, Chỉ số nhận thức tham nhũng của Myanmar luôn nằm trong nhóm cuối cùng với một số nước châu Phi, Nam Á