Mục đích nghiên cứu của luận án: Luận án phân tích và làm rõ ảnh hưởng của sự cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA đến ĐLDT của các nướctrong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015, đồng t
Trang 1HÀ NỘI - 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
ẢNH HUỬNG CẠNH TRANH CHIẾN LUỌTC
MỸ - TRUNG TẠI ĐÔNG NAM Á ĐẾN ĐỘC
LẬP DÂN TỘC CUA CÁC NUỚC TRONG KHU
VỤC TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ
Trang 2NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
ẢNH HUỬNG CẠNH TRANH CHIẾN LUỌTC
MỸ - TRUNG TẠI ĐÔNG NAM Á ĐẾN ĐỘC LẬP DÂN TỘC CUA CÁC NUỚC TRONG KHU VỤC TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ
C huyên ngà nh : Lịch sử Phong trào cộng sản, công nhân
quôc tê và giải phóng dân tộc
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Hoàng Giáp
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát từ yêu cầu trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận án được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được công bố trước đây.
Tác giả luận án
Trang 4Nguyễn Thị Hải YếnMỤC LỤC
MỞ ĐẦU NỘI DUNG
C hương 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình liên quan đến Đông Nam Á trong chiến lược của Mỹ
2.3 Đông Nam Á trong lợi ích chiến lược của Mỹ và Trung Quốc
2.4 Diễn biến quan hệ Mỹ - Trung
C hương 3 : THỰC TRẠNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á TRONG CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC MỸ - TRUNG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015
3.1 Diễn biến cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại Đông Nam Á
3.2 Ảnh hưởng đến độc lập dân tộc của các nước Đông Nam Á
3.3 Ảnh hưởng đến độc lập dân tộc của Việt Nam
Trang 54.1 C hương 4 : NHẬN XÉT VỀ ẢNH HƯỞNG CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC MỸ - TRUNG TẠI ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015 VÀ ĐỐI SÁCH CỦA CÁC NƯỚC KHU VựC NHẰM BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘCNhận xét về ảnh hưởng cạnh
tranh chiến lược Mỹ - Trung đối với độc lập dân tộc của các nước ĐôngNam Á
4.2 Đối sách của ASEAN và các nước Đông Nam Á trước ảnh hưởngcạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đến độc lập dân tộc của các nước trongkhu vực
4.3 Kinh nghiệm về đối sách của các nước Đông Nam Á và đề xuất đốisách với Việt Nam trước ảnh hưởng từ cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trungtại Đông Nam Á nhằm bảo vệ độc lập dân tộc hiện nay
1 AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
2 APEC Asia-Pacific Economic
4 ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN
5 A SC ASEAN Security Community Cộng đồng an ninh ASEAN
6 A SEAN Association of Southeast Asian
Asia Pacific Châu Á - Thái Bình Dương
9 C OC Code of Conduct Bộ Quy tắc ứng xử của các bên về
Biển Đông
10 C AFTA China - ASEAN Free Trade Area Khu vực Thương mại tự do Trung
Quốc - ASEAN
11 D OC Declaration on Conduct of the
Parties in the South China Sea
Tuyên bố về Ứng xử của các bên ởBiển Đông
010606
51
516997
113
137
153157157 183
Trang 6CÁC TỪ VIẾT TẮT
13 ĐLDT National independence Độc lập dân tộc
14 EAS East Asia Summit Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á
15 EU European Union Liên minh châu Âu
16 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
17 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
18 FTAAP Free Trade Area of the Asia -Pacific Khu vực Thương mại Tự do Châu Á -Thái Bình Dương
19 QHQT International Relations Quan hệ quốc tế
20 R CEP RegionalEconomic PartnershipComprehensive Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu
vực
21 TAC Treaty of Amity and Cooperation
in Southeast Asia Hiệp ước thân thiện và Hợp tác ĐôngNam Á
23 TPP Trans-Pacific Partnership Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược
xuyên Thái Bình Dương
24 TIFA Trade and Investment Framed
Agreement
Thương mại và Đầu tư ASEAN - Mỹ
25 ODA Official Development Assistant Nguồn vốn vay ưu đãi từ nước ngoài
26 UNCLOS United Nations Convention on
Law of the Sea
Công ước Liên Hợp Quốc về Luậtbiển
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, tình hình khu vực và thế giới có những thay đổi to lớn
và nhanh chóng Châu Á - Thái Bình Dương (CA-TBD) trong đó có khu vực ĐôngNam Á (ĐNA) đang trở thành trung tâm phát triển năng động của thế giới, là địa bàncạnh tranh chiến lược của các nước lớn, trong đó có Mỹ và Trung Quốc Sau gần bốnthập niên tiến hành cải cách, Trung Quốc nổi lên trở thành một cường quốc ở khu vực
đe dọa vị trí bá chủ thế giới của Mỹ Sự kiện 11/9/2001 cùng với những mâu thuẫn,xung đột tại khu vực và hành động ngang nhiên độc chiếm Biển Đông và biển HoaĐông của Trung Quốc, Mỹ nhận ra sự lơ là của mình ở CA-TBD đặc biệt là ở ĐNA
Do đó, Mỹ đã quyết định thực hiện chiến lược “xoay trục” từ châu Âu - Đại TâyDương sang CA- TBD nhằm duy trì việc kiểm soát tốt hơn lợi ích của mình trước sựvươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc Những thay đổi lớn này kéo theo các nước lớn,các thực thể khác cũng thay đổi chính sách đối ngoại, can dự nhiều hơn vào ĐNA,điều này tác động không nhỏ đến nhận thức và hành động chiến lược của các nướctrong khu vực xây dựng và bảo vệ đất nước
ĐNA có vị trí quan trọng trong chiến lược của các cường quốc trên thế giới.Khu vực này không chỉ là nơi có nền kinh tế năng động, phát triển với tốc độ cao màcòn có các tuyến hàng hải huyết mạch của thế giới, có nguồn tài nguyên phong phú,quý hiếm, và đặc biệt là nơi Trung Quốc dễ dàng hơn trong việc xác lập quyền lựcđối với Tây Thái Bình Dương Đây là một trong những nhân tố hàng đầu thúc đẩy cácnước lớn, trong đó có Mỹ và Trung Quốc ngày càng gia tăng cạnh tranh chiến lượcnhằm mở rộng ảnh hưởng tại ĐNA hiện nay Trong 15 năm qua, cạnh tranh chiếnlược giữa Mỹ - Trung tại ĐNA khá phức tạp, tác động đa chiều đến tương quan ảnhhưởng và trật tự quyền lực, đến các hình thức hợp lực lượng, đến an ninh và pháttriển nói chung, đến độc lập dân tộc (ĐLDT) của các quốc gia và sự đoàn kết củaASEAN Chính vì vậy, việc nhận diện, đánh giá tác động can dự các nước lớn, nhất là
Trang 8cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đến an ninh và hợp tác khu vực, của từng nướcASEAN trong đó có Việt Nam là nhu cầu của thực tiễn Từ đó, nghiên cứu này gópphần đề xuất đối sách cho Việt Nam xây dựng một chính sách đối ngoại khôn khéo,mềm dẻo nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, ĐLDT duy trì môi trường hòabình để phát triển bền vững
Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại Đông Nam Á đến độc lập dân tộc các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015" làm luận án Tiến sỹ chuyên ngành Lịch sử Phong trào cộng
sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc
2 Mục đích và nh iệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án: Luận án phân tích và làm rõ ảnh
hưởng của sự cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA đến ĐLDT của các nướctrong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015, đồng thời đề xuất những đối sách nhằmbảo vệ vững chắc ĐLDT và chủ quyền quốc gia của Việt Nam trong bối cảnh gia tăngcan dự của các nước lớn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, làm rõ khung khái niệm cơ bản và khung lý thuyết làm cơ sở để
triển khai và phân tích các nội dung trong luận án; làm nổi bật những nhân tố ảnhhưởng đến cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA hiện nay
Thứ hai, làm rõ thực trạng cạnh tranh chiến lược của Mỹ - Trung tại ĐNA từ
năm 2001 đến năm 2015; phân tích ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược của Mỹ - Trungtại ĐNA đến ĐLDT của các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam
Thứ ba, rút ra những nhận xét, đối sách và kinh nghiệm trong việc bảo vệ và
củng cố ĐLDT của các nước ĐNA và đề xuất đối sách với Việt Nam trước ảnh hưởngcạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu ảnh hưởng của cạnh tranh chiến lược của Mỹ
-Trung đến ĐLDT của các nước ĐNA
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Luận án sẽ đi sâu phân tích ảnh hưởng của cạnh tranh
chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA trên một số lĩnh vực chủ yếu như an ninh, chủ quyềnquốc gia, phát triển đất nước và khu vực, vị thế quốc tế và tập hợp lực lượng của cácnước ĐNA
- Phạm vi không gian: nghiên cứu tại các nước ĐNA, tập trung chủ yếu vào
các nước trong khối ASEAN
- Phạm vi thời gian: tập trung nghiên cứu những diễn biến diễn ra trong 15 năm đầu của thế kỷ XXI Xuất phát từ ba lý do sau: Một là, vụ khủng bố 11/09/2001
ở Mỹ gây ra những ảnh hưởng phức tạp tới tình hình chính trị khu vực và thế giới, tuynhiên, nó lại là cơ hội giúp Mỹ tập hợp lực lượng, áp dụng lối ứng xử của một siêu
cường ĐNA được Mỹ coi là “mặt trận thứ hai” chống khủng bố Hai là, trong giai
đoạn này, Trung Quốc trỗi dậy nhanh chóng, cả Mỹ và Trung Quốc đều thay đổi cácchiến lược, chiến thuật trong chính sách đối ngoại nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng vàđẩy lùi ảnh hưởng của nước kia ra khỏi khu vực gây ra những hệ lụy cho nền ĐLDT
của các nước ĐNA Ba là, sự ra đời của Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015 đã
giúp các nước thành viên có điều kiện để củng cố nền độc lập đất nước và dân tộc
4 Cơ sở lý luận và p hương pháp ngh iên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Hệ thống các quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, lý luận quan hệ quốc tế, lý thuyết chủ nghĩa hiện thực để lý giảinhững ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA; những quan điểmđường lối, chính sách đối ngoại, các chủ trương chính sách trong cương lĩnh, vănkiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước Việt Nam để đề
Trang 10xuất những biện pháp bảo vệ ĐLDT ở khu vực trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ
- Trung
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: luận án đặt trong tiến trình lịch sử cụ thể, không gian,
thời gian là bối cảnh chung của quan hệ Mỹ - Trung, tình hình thế giới, khu vực từnăm 2001 đến năm 2015; theo giai đoạn phát triển nhất định; phù hợp với logic lịchsử
- Phương pháp phân tích địa- chính trị: luận án được xem xét trước hết dưới
góc độ cạnh tranh địa- chính trị, cạnh tranh quyền lực trong không gian địa lý tựnhiên và địa lý nhân văn của khu vực, từ đây thấy rõ lợi ích, mục tiêu chính trị chiếnlược của Mỹ - Trung tranh giành ảnh hưởng đối với khu vực
- Phương pháp lôgic, nghiên cứu tình huống, so sánh hệ thống: Các nghiên
cứu sẽ phải từ những thay đổi chính sách của Mỹ và Trung Quốc tại ĐNA, diễn biến,
sự kiện đã và đang xảy ra để phân tích được tầm ảnh hưởng của cạnh tranh này đốivới khu vực và từ đó rút ra được những kinh nghiệm, những đối sách thích hợp chocác nước trong khu vực trong công cuộc xây dựng và củng cố ĐLDT
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để thu thập và đánh giá
các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài, bao gồm văn kiện của Đảng các khóa gần đây,nhất là khóa XI và XII, chủ trương chính sách của Nhà nước, các công trình nghiêncứu trong và ngoài nước về các chủ đề liên quan đến đề tài
Ngoài ra tác giả luận án còn sử dụng phương pháp sưu tầm tư liệu, hệ thống,đính chính, phân loại, thống kê, phương pháp liên ngành lịch sử, quan hệ quốc tế,chính trị quốc tế được sử dụng làm phương pháp bổ trợ
5 Đón g góp mới về khoa học của luận án
5.1 Làm rõ những ảnh hưởng của sự gia tăng cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung ở ĐNA đến các khía cạnh của ĐLDT
Trang 115.2 Làm rõ đối sách của các nước ĐNA (chủ yếu là các nước thuộc ASEAN)đến đấu tranh duy trì và bảo vệ nền ĐLDT trước sự gia tăng can dự và cạnh tranh địachính trị giữa Mỹ và Trung Quốc
5.3 Từ thực tiễn đấu tranh, rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam trongduy trì nền độc lập, phát triển và hội nhập quốc tế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Về lý luận: Góp phần làm rõ thêm những nội dung về vấn đề mới trong
bối cảnh gia tăng cạnh tranh địa chính trị và hội nhập quốc tế
Xác định rõ và hệ thống hóa khái niệm cạnh tranh chiến lược, ĐLDT và cáckhái niệm có liên quan, góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho chuyên ngành Lịch sửphong trào cộng sản, công nhân Quốc tế và giải phóng dân tộc
6.2 Về thực tiễn: Nhận diện các khía cạnh tác động của cạnh tranh chiến lược
Mỹ - Trung và phản ứng của các nước trong khu vực, từ đó góp phần cung cấp các cứliệu khoa học cho hoạch định chính sách và giảng dạy về lịch sử phong trào cộng sản,công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc, về lịch sử thế giới hiện đại và quan hệ chínhtrị quốc tế
7 Kết cấu của luận án
Trang 12Ngoài phần
mở đầu, kếtluận, mụclục và danhmục chữviết tắt, tàiliệu thamkhảo, nộidung luận
án được kếtcấu gồm 4chương, 13
tiết.NỘI DUNG C hương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA đến ĐLDT các nướctrong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015 là đề tài được giới nghiên cứu trong vàngoài nước quan tâm Tuy nhiên, nghiên cứu về đề tài này không có nhiều mà chủyếu nghiên cứu về cạnh tranh chiến lược của Mỹ - Trung ở Đông Á, CA-TBD hoặccạnh tranh chiến lược của các nước lớn ở ĐNA Vì vậy, cho đến nay, đề tài của luận
án ở trong cũng như ngoài nước chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính hệthống, chuyên sâu, tổng hợp, phân tích và đánh giá một cách toàn diện về ảnh hưởng
Trang 13của cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung ở ĐNA đối với ĐLDT của các nước ở khuvực trong 15 năm đầu của thế kỷ XXI.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án hiện nay chủ yếu tập trung
theo 3 hướng: thứ nhất, ĐNA trong chiến lược của Mỹ và Trung Quốc; thứ hai, ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ -Trung tại ĐNA đến khu vực; thứ ba, đối sách của
các nước ĐNA trước ảnh hưởng của sự cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐÉN ĐÔNG NAM Á TRONG CHIÉN LƯỢC CỦA MỸ VÀ TRUNG QUỐC
1.1.1 Các nghiên cứu trong nước
Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu như: sách “Những vấn đề chính trị, kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXT" của Trần Khánh (2006) [89] đã
tập trung xem xét ĐNA trong các vòng xoáy chiến lược tạo nên bởi xu thế toàn cầuhóa và sự thay đổi địa chính trị khu vực; chuyển động phức tạp của ASEAN hiện nay;
cơ hội và thách thức đối với khu vực, từng quốc gia để từ đó cải cách và đẩy mạnhhội nhập sâu rộng hơn tạo cho ĐNA hòa bình ổn định và năng động có tính cạnhtranh cao Những dữ liệu này giúp tác giả trong việc phân tích tình hình chính trị,kinh tế của ĐNA hiện nay
Cuốn sách “Biển Đông: Địa chính trị, lợi ích, chính sách và hoạt động của các bên liên quan”, của Đặng Đình Quý và Nguyễn Minh Ngọc (2013) [155], đã
khẳng định tầm quan trọng địa chính trị của Biển Đông và chỉ ra những tính toánphức tạp của các nước liên quan và ngoài khu vực Theo các tác giả thì chính nhữngmâu thuẫn lợi ích và cạnh tranh chiến lược này đang tác động trực tiếp đến nhữngdiễn biến hàng ngày trên Biển Đông và đặt ra nhu cầu bức thiết và quản lý xung đột,hướng tới giải quyết tranh chấp cùng hợp tác và phát triển thịnh vượng Đây là cuốnsách để tác giả kế thừa để làm rõ vai trò địa chính trị của Biển Đông
Sách “Tri thức Đông Nam Á” của Lương Ninh và Vũ Dương Ninh (2008) [144] và sách chuyên khảo “Địa chính trị thế giới” của Nguyễn Thị Quế và Ngô
Thúy Hiền (2014) [154] đã trình bày những kiến thức cơ bản về đặc điểm địa lý tựnhiên, lịch sử và văn hóa và quá trình vận động địa - chính trị của ĐNA, qua đó giúp
Trang 14tác giả luận án có cơ sở phân tích, giải thích các diễn biến chính trị trên nền của cácyếu tố địa lý, sự ảnh hưởng tác động qua lại giữa yếu tố địa lý và chính trị đối với sựphát triển quốc gia, khu vực.
Trên tạp chí khoa học cũng có hàng loạt nghiên cứu về ĐNA trong lợi ích
chiến lược của Mỹ và Trung Quốc như: bài “Châu Á - Thái Bình Dương trong chiến lược của Mỹ và Trung Quốc” của Nguyễn Ngọc Ánh (2012) [7], bài “Châu Á - Thái Bình Dương: Tâm điểm quan hệ của các nước lớn” của Nguyễn Thành Đồng (2014) [40], bài “Đông Nam Á trong lợi ích chiến lược của Mỹ và Trung Quốc” của Lê Minh Trang và Trần Khánh (2014) [200], bài “Nhân tố ASEAN trong Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đầu thế kỷ XX” của Lưu Việt Hà (2014) [54] và bài “Vị thế của ASEAN trong cuộc cạnh tranh giành thị trường châu Á của Trung Quốc và Mỹ" của
Hồ Văn Chiểu (2015) [25] Các công trình nghiên cứu đều khẳng định: ĐNA có một
vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược của các nước lớn ĐNA không chỉ có tuyếnhàng hải và hàng không huyết mạch của thế giới mà còn có nhiều tài nguyên phongphú và quý hiếm Ngoài ra, khu vực này đông dân cư, có chế độ chính trị hết sức đadạng, là khu vực đa sắc tộc và tôn giáo, có nền kinh tế phát triển với tốc độ cao nhưngkhông đồng đều chính những nhân tố này đã biến ĐNA trở thành tâm điểm trongcuộc “ganh đua” giữa các nước lớn Hiện nay, khi Trung Quốc đang nổi lên tháchthức vị trí bá quyền của Mỹ trong khu vực và thế giới, ĐNA bị rơi vào “vòng xoáy”cạnh tranh chiến lược của Mỹ - Trung và các cường quốc khác Các công trình khoahọc này đã giúp tác giả phân tích rõ nét hơn về các nhân tố tác động đến ảnh hưởngcạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA
Đặc biệt có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về Biển Đông như bài
“Lợi ích của Mỹ ở Biển Đông' của Phạm Thùy Trang (2009) [201], bài “An ninh Biển Đông nhìn từ tranh chấp lợi ích kinh tế giữa các nước liên quan” của Đỗ Minh Cao (2010) [20], bài ‘ Lợi ích của các cường quốc và thể chế khu vực trong vấn đề an ninh Biển Đông’ của Đỗ Minh Thái (2011) [167] và bài “Vì sao các nước quan tâm hơn đến Biển Đông?” của Nguyễn Nhâm (2015) [140] Các công trình nghiên cứu
này đã đã đưa ra những đánh giá về vai trò của Biển Đông không chỉ liên quan đến
Trang 15lợi ích của các nước ASEAN và Trung Quốc, mà còn gắn liền với lợi ích nhiều mặtcủa các cường quốc cũng như nhiều nước khác ngoài khu vực, đặc biệt là Mỹ Các tácgiả đề cập đến lợi ích chiến lược đang thay đổi của Mỹ và Trung Quốc ở ĐNA để từ
đó góp phần giải thích tại sao hai cường quốc này ngày càng gia tăng can dự nhiềuhơn vào khu vực, cả về hợp tác và cạnh tranh
1.1.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Công trình của các nhà nghiên cứu đi sâu phân tích sự biến đổi của tình hình
an ninh khu vực ĐNA như : “Ethnic Conflic in Southeast Asia” (Mâu thuẫn dân tộc ở Đông Nam Á), Singapore (2005); “The New Global Polictics of the Asia - Pacific”
(Chính trị toàn cầu mới của Châu Á - Thái Bình Dương), của các tác giả MichaelK.Connors, Resmy Davison (Australia) và Jorn Dosch (Anh) (2004) [251], đã phântích tình hình an ninh khu vực, đặc biệt là điểm nóng Biển Đông, Hồi giáo cực đoan
và các nhóm nổi dậy địa phương do kinh tế còn yếu kém và thiếu một mạng lưới anninh khu vực Đây là những tư liệu hữu ích cung cấp thông tin bổ ích giúp tác giảtrong quá trình nghiên cứu nội dung tình hình khu vực ĐNA hiện nay
Bài “Tình hình cơ bản Việt Nam và quan hệ Trung - Việt” (Vietnam Basic
Situation and the China - Vietnam Relationship) của Cổ Tiểu Tùng (2009) [234], giáo
sư Cốc Nguyên Dương cũng có hàng loạt bài viết như: “Bàn cờ ĐNA và nước cờ đột phá Việt Nam ” (The Southeart Asia Chessboard and the Ground - breaking Movement of Vietnam), “Trung - Việt chung ý thức hệ và quan hệ thương mại sâu sắc hơn” (Chinese - Vietnamese Joint Ideology and Deeper Trade Relation) và bài
“Trung - Việt đã giải quyết 2/3 tranh chấp lãnh thổ” (China - Vietnam have Resolved
2/3 of Territorial Disputes) [235] Các tác giả đều nhận định ĐNA là trọng điểm bố tríchiến lược của Trung Quốc cũng là nơi được các nước lớn bên ngoài khu vực quantâm “chăm sóc” vì lợi ích của chính họ khiến tình hình nơi này thiếu ổn định Tác giảcũng phân tích vai trò địa kinh tế và chính trị của Việt Nam từ đó đề xuất Trung Quốccần coi trọng ý nghĩa của ĐNA trong địa chính trị toàn cầu Việt Nam nên trở thànhmột trong những quốc gia trọng điểm được coi trọng của Trung Quốc và hợp tác kinh
Trang 16tế toàn diện với Việt Nam; nên là một trong những trọng điểm để tăng cường ngoạigiao xung quanh với ĐNA của Trung Quốc.
Nhìn chung, những công trình trên đã phân tích khá toàn diện toàn cảnh vềtình hình chính trị, an ninh, kinh tế tại khu vực và vai trò địa - chính trị của ĐNA đốivới các cường quốc, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc Đây là những nghiên cứu quantrọng giúp tác giả khái quát bối cảnh quốc tế, khu vực CA-TBD và ĐNA hiện nay, từ
đó phân tích sâu sắc hơn lý do nào đã khiến Mỹ và Trung Quốc điều chỉnh chiến lược
ở ĐNA tạo nên những ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định của các quốc gia trong khuvực Tuy nhiên, do hướng nghiên cứu khác với luận án nên các công trình trên chưathể hiện một cách đầy đủ bối cảnh quốc tế và khu vực, cũng như vai trò địa chiếnlược của ĐNA ảnh hưởng đến ĐLDT của các quốc gia ĐNA
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐÉN ẢNH HƯỞNG CẠNH TRANH CHIÉN LƯỢC MỸ - TRUNG TẠI ĐÔNG NAM Á TỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VựC
1.2.1 Các nghiên cứu tron g nước
Những công trình nghiên cứu có tính hệ thống, chuyên sâu mang tầm chiếnlược về cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở ĐNA và Việt Nam phải kể đến đề tài
“Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI và tác động đến Việt Nam ” của Nguyễn Hoàng Giáp (2010)
[46], đã tập trung phân tích những diễn biến chủ yếu của các cặp quan hệ cạnh tranhchiến lược giữa một số nước lớn có vị trí, vai trò quan trọng ở ĐNA từ đó làm rõ quátrình cạnh tranh chiến lược và ảnh hưởng của một số nước lớn trong khu vực cùngvới khuynh hướng biến đổi của quá trình đó trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, đồngthời chỉ ra tác động của nó đến an ninh và phát triển của Việt Nam hiện nay
Công trình khoa học thứ hai là “Hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung
ở Đông Nam Á ba thập niên đầu sau chiến tranh lạnh” của Trần Khánh (2014), Nxb
Thế giới Tác giả đã tập trung nghiên cứu sự vận động, biến đổi của hợp tác và cạnhtranh chiến lược Mỹ - Trung ở ĐNA thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, từ đó góp phầnviệc nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo và tư vấn chính sách liên quan đến cácvấn đề chính trị quốc tế Đây là một đề tài nghiên cứu mang tính khoa học và thực
Trang 17tiễn cao, chứa đựng nội dung rộng lớn và hết sức phức tạp, đa diện của vấn đề hợp tác
và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung cả ở cấp độ khu vực và toàn cầu thời kỳ sauChiến tranh Lạnh
Hai công trình trên là những nghiên cứu quan trọng giúp tác giả luận án phântích, định hướng đúng đắn, có những tài liệu sát thực để nghiên cứu đề tài của mình
Đề cập đến mối quan hệ Mỹ và Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay, các
nghiên cứu trong nước có các sách tiêu biểu như: Sách tham khảo “Quan hệ Trung
-Mỹ có gì m ớ f " của Nguyễn Văn Lập (2001) [104], sách “Quan hệ của -Mỹ với các nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương’" của Vũ Dương Huân (2003) [74], đề
“Quan hệ Trung - Mỹ giai đoạn 2006 - 2010: Triển vọng và tác động’" của Bộ Ngoại giao (2010) [19], tác giả Nguyễn Thái Yên Hương (2011) với cuốn sách “Quan hệ
Mỹ - Trung hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực” [85], sách “Quan hệ Mỹ - Trung Quốc: thập nên đầu thế kỷ XXĨ" của Lê Khương Thùy
(2012) [186] Các tác giả đều nêu rõ quan điểm về quan hệ Trung - Mỹ sẽ phát triểntheo hình sin: quan hệ phụ thuộc, đan xen lẫn nhau giữa hợp tác - kiềm chế, phối hợp
- cạnh tranh, bạn bè - đối thủ Các nghiên cứu này đã đề cập tới quan hệ Trung - Mỹtrong giai đoạn nghiên cứu, lợi ích của hai nước ở ĐNA và nhấn mạnh để bảo vệ lợiích của mình Mỹ và Trung Quốc đều coi trọng việc lôi kéo, tập hợp lực lượng trongkhu vực, tăng cường ảnh hưởng tạo lợi thế chiến lược nhằm chi phối khống chế cácquan hệ quốc tế ở ĐNA, CA - TBD Đây là những tư liệu hữu ích để tác giả hiểu rõhơn bản chất trong quan hệ Mỹ - Trung trước những biến đổi chính trị của thế giớihiện nay
Ngoài ra, còn có một số bài báo viết về vấn đề này như: Bài “Xu hướng và bản chất của quan hệ Mỹ - Trung thời kỳ sau Chiến tranh lạnh" của tác giả Trần Khánh
(2014) [96], nhận định rằng: trong hai thập niên đầu sau Chiến tranh lạnh, mối quan
hệ Mỹ - Trung tiếp tục thiếu ổn định và tính cạnh tranh ngày càng lớn trên tất cả cácmặt, trong đó tính chất tranh thủ, lợi dụng lẫn nhau giảm đi, tính kiềm chế, xung độtlợi ích nhất là về kinh tế, an ninh quân sự và địa chính trị tăng lên chứa đựng nhiềunguy cơ bất ổn không chỉ cho họ mà còn cho cả ĐNA và nhân loại
Trang 18Bài “Tìm hiểu về khuôn khổ “mối quan hệ nước lớn kiểu mới” Trung - Mỹ”
của Linh Tú và Dương Đăng (2014) [206], đã nêu lên quan điểm của hai nước TrungQuốc và Mỹ về mối quan hệ nước lớn kiểu mới Tác giả nhận định mối quan hệ haibên sẽ vẫn dựa trên cơ sở duy trì hiện trạng để phát triển, nhưng tránh xung đột, đốikháng và cạnh tranh trong hợp tác thì đó là những bước mở đầu cho mối quan hệnước lớn kiểu mới Trung - Mỹ trong tương lai
Các công trình đề cập đến vấn đề chiến lược của Mỹ và Trung Quốc phải kể
đến sách tham khảo “Tìm hiểu những thay đổi lớn trong chiến lược quân sự của Mỹ" của Trần Bá Khoa (2000) [99], sách “Nhân tố địa - chính trị trong chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á" của tác giả Nguyễn Văn Lan (2007) [101], công trình “Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ với Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh”, của các tác giả Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Thị Lệ (2007) [49], sách “Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷXXT" của Nguyễn Xuân Sơn và Nguyễn Văn Du [160]; sách “Chính sách đối ngoại của các nước lớh" của Phạm Minh Sơn (2010) [161] đã
phân tích các giai đoạn chuyển biến và sự điều chỉnh chiến lược và quá trình triểnkhai của Mỹ và Trung Quốc sau chiến tranh lạnh trong đó có khu vực ĐNA và ViệtNam Đây là các tư liệu hữu ích giúp tác giả có nhận định đúng hướng trước những ý
đồ và mục tiêu chiến lược của Mỹ và Trung Quốc tại ĐNA
Các công trình nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung tại CA-TBD và ĐNA được đề cập khá nhiều ở các bài báo khoa học trong
-nước tiêu biểu như: bài viết “Can dự và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXĨ" của tác giả Trần Khánh (2009) [92] đã nhấn mạnh,
sự gia tăng can dự của cả Mỹ và Trung Quốc đối với ĐNA đang tác động và làmphân hóa quá trình tập hợp lực lượng và hình thành cục diện cân bằng mới trong trật
tự ĐNA và Đông Á cũng như ở CA-TBD
Bài viết “Mỹ - Trung Quốc liệu có giải quyết được tình hình căng thẳng trên Biển Đông” của tác giả Đỗ Trung (2010) [204], khẳng định những bất đồng xung
Trang 19quanh vấn đề pháp lý về biển và mục tiêu, lợi ích khác nhau khiến cho hai nước khó
có thể giải quyết được tình hình căng thẳng ở Biển Đông
Bài “Ảnh hưởng của cuộc ganh đua Mỹ - Trung đối với các nước Đông Nam
Á" của tác giả Huệ Anh (2013) [3], có những kết luận cuộc “ganh đua" giữa haicường quốc này sẽ tác động ảnh hưởng tới khu vực ĐNA, làm cho các nước ASEANkhó xử, “lâm vào thế kẹt" trong quan hệ đối ngoại với hai nước Tuy nhiên, do tác giảnghiên cứu vấn đề này trên khía cạnh QHQT vì vậy đã không đi sâu phân tích kỹ sựcạnh tranh Mỹ - Trung tại ĐNA tác động thế nào tới an ninh quốc gia, đến sự pháttriển của đất nước và vị thế quốc tế của các nước ASEAN
Tác giả Mai Hoài Anh (2013) với bài “Tác động cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở Đông Nam Á với Việt Nam [4] đã phân tích rõ những tác động tích
cực như: tăng vai trò, vị thế chính trị; thuận lợi trong việc theo đuổi chiến lược đốingoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; xu hướng hợp tác tăng lên; thuậnlợi trong tiếp xúc giao lưu văn hóa và tác động tiêu cực như: ảnh hưởng đến anninh, ĐLDT, ổn định và phát triển khu vực; thách thức cho phát triển kinh tế củaViệt Nam trước cạnh tranh chiến lược các nước lớn
Các tác giả Trần Khánh và Hồ Thị Ái Phương (2015) viết bài “Triển vọng ASEAN và sự chi phối của các nước lớn - Những thách thức đối với Việt Nam’" [98]
thì cho rằng tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đối với triển vọng Cộngđồng ASEAN gồm: về mặt tích cực, tạo ra cú hích mới cho ASEAN; thúc đẩy liên kếtnội khối; làm tăng vị thế của ASEAN; về những thách thức, làm cho các mâu thuẫn,xung đột địa chính trị của khu vục tăng nhanh, kéo theo nó là làm chạy đua vũ trang;tác động đến Việt Nam, đã tạo ra cơ hội thuận lợi hơn cho Việt Nam trong việc theođuổi chính sách “đa cửa”, “đa đối tác”, “cân bằng chiến lược"; tăng sức đề kháng dântộc
Đề cập đến ảnh hưởng chiến lược của Mỹ tại ĐNA có hàng loạt các bài viết
như bài viết “Mỹ trở lại Đông Nam Á có tác động thế nào đối với an ninh Biển Đông”
của tác giả Quang Huy (2011) [79] đã đưa ra đánh giá rằng việc Mỹ “quay trở lại"ĐNA ảnh hưởng nhiều đến tình hình an ninh Biển Đông, thái độ của các nước ĐNA
Trang 20về vấn đề Biển Đông sẽ chịu sự “cổ vũ” trực tiếp hơn, sự quan tâm chú ý của cácnước lớn ngoài khu vực như Nhật Bản, Ân Độ.
Bài “Chiến lược toàn cầu của Mỹ và những tác động ảnh hưởng tới môi trường hòa bình quốc tế” của Trịnh Thanh Liêm (2013) [107] thì cho rằng để thực
hiện ý đồ tiếp tục lãnh đạo thế giới trong bối cảnh điều kiện quốc tế có những sự pháttriển mới, Mỹ thực hiện điều chỉnh chiến lược quân sự toàn cầu Sự điều chỉnh nàycủa Mỹ không chỉ tác động đến cục diện khu vực CA-TBD mà cả toàn thế giới
Tác giả Lê Khương Thùy (2014) với bài “Điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc và tác động đến ĐNA/ASEAN" [187], đã cho rằng chính sách Mỹ đối
với Trung Quốc đã làm tăng phức tạp về an ninh buộc các nước phải điều chỉnh chiếnlược bảo vệ tổ quốc và tăng cường quan hệ đa phương, liên kết các nước ĐNA
Các bài báo nghiên cứu về ảnh hưởng chiến lược của Trung Quốc tới ĐNA
gồm: bài “Tham vọng biển của Trung Quốc và phản ứng của Mỹ” của tác giả Nguyễn
Vĩnh Thuận (2012) [185], cho rằng tham vọng về biển cuả Trung Quốc bằng hànhđộng răn đe, gây sức ép với các nước láng giềng và chiếm lĩnh, quân sự hóa các hònđảo mà họ chiếm đóng ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh khu vực
Tác giả Hoàng Đình Nhàn (2015) với bài “Sự phát triển của hải quân Trung Quốc và những tác động đối với an ninh khu vực CA-TBD” [139] đã phân tích sự phát
triển của hải quân Trung Quốc và hành động cứng rắn ở Biển Đông đã tác động trựctiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở khu vực
Bài “Điều chỉnh chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện nay” của Đinh
Công Tuấn (2015) [207] đã phân tích rằng sự điều chỉnh chính sách đối ngoại củaTrung Quốc đã tác động tiêu cực đến các nước trong khu vực về kinh tế, văn hóa, xãhội, gây chia rẽ nội khối, nguy cơ chạy đua vũ trang và xung đột vũ trang
Các bài báo đề cập đến việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm đối với ĐNA
như: bài “Bàn về sức mạnh của Trung Quốc” của tác giả Ngô Xuân Bình (2008) [11], bài ‘ ‘Xu hướng gia tăng hợp tác kinh tế và chiến lược của Trung Quốc với Đông Nam Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XXF của tác giả Trần Khánh và Đàm Huy Hoàng (2014) [96], bài “Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm văn hóa ở khu vực Đông Nam Á” của tác giả Nguyễn Thu Phương [148] và hai tác giả Nguyễn Thị Thu
Trang 21Phương, Nguyễn Thu Hiền (2014) có bài “Học viện Khổng Tử và một số khuyến nghị đối với Việt Nam’" [149] đã khái quát xu hướng gia tăng hợp tác kinh tế và văn hóa
của Trung Quốc với ĐNA thông qua việc lập các thể chế và thúc đẩy hợp tác songphương, đa phương giữa Trung Quốc với khu vực này, đồng thời cũng cảnh báo cuộc
“tấn công mê hoặc” của Trung Quốc đang làm ĐNA đứng trước nhiều thách thức vàrủi ro, nguy cơ xâm lăng văn hóa, xâm phạm môi trường thể chế giáo dục bất chấpquy định pháp luật của nước sở tại
Những bài viết trên là tài liệu quan trọng giúp tác giả phân tích ảnh hưởng vềlĩnh vực kinh tế, văn hóa - giáo dục trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA
Đề cập tới vấn đề ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược của Mỹ và Trung Quốc đối
với từng nước trong khu vực có các bài nghiên cứu như: “Quan hệ Trung Quốc Thái Lan: thực trạng và xu hướng phát triển” của Nguyễn Văn Diện
-(2013) [32] và bài “Thái Lan trong chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng giữa Trung Quốc và Mỹ thời kỳ hậu chiến tranh lạnh” của tác giả Nguyễn Quốc Toản và Dương
Văn Huy (2014) [198] cho rằng chiến lược cạnh trạnh giữa Mỹ và Trung Quốc đã tácđộng đến Thái Lan về mọi mặt, việc khôn khéo trong ngoại giao của Thái Lan khivừa gia tăng đồng minh chính trị và quân sự với Mỹ vừa tăng cường quan hệ về kinh
tế với Trung Quốc đã thu được những thành công nhất định và là bài học kinh nghiệmcho các quốc gia ASEAN trong việc ứng xử với các cường quốc trong giai đoạn hiệnnay
Bài “Cạnh tranh chiến lược Trung - Mỹ ở Campuchia” của tác giả Nguyễn Thị Hằng (2014) [62] và bài “ Sự tiến triển của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Campuchia - Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Thành Văn (2014) [215] đã
phân tích lý do vì sao cả Mỹ và Trung Quốc đều sử dụng sức mạnh trên tất cả các lĩnhvực để gia tăng ảnh hướng với Campuchia Điều đó buộc Campuchia phải khéo léotrong việc củng cố quan hệ với Trung Quốc và mở rộng quan hệ với Mỹ
Bài “Vấn đề Biển Đông và những tác động của nó tới quan hệ thương mại Việt - Trung và nền kinh tế Việt Nam’", của Lê Kim Thoa và Ngô Hoàng Long
Trang 22(2014) [172], đã phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của vấn đề Biển Đôngtác động đến quan hệ thương mại hai nước và từ đó đề xuất kiến nghị giải quyếtkhông để lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc.
Bài “Cạnh tranh ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc tại Mi-an-ma từ năm
2009 đến nay” của tác giả Nguyễn Thu Mỹ và Đàm Huy Hoàng (2016) [129] đã phân
tích ảnh hưởng cạnh tranh Mỹ - Trung tại Myanmar đã đem lại cho đất nước nàynhiều cơ hội trước hết là từng bước dỡ bỏ trừng phạt kinh tế với Mỹ và các nướcphương Tây, phục hồi quan hệ ngoại giao với các bên liên quan Thứ hai là, Myanmarkhông còn bị xem là “chư hầu” của Trung Quốc mà là quốc gia độc lập có chủ quyền
và đang nỗ lực vươn lên trên con đường dẫn tới dân chủ và phồn vinh
Theo các tác giả cho rằng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đã tạo cho cácquốc gia ĐNA có cơ hội tiếp xúc nhiều nguồn vốn, nguồn đầu tư từ hai cường quốcnày Tuy nhiên, ĐNA cũng đứng trước thách thức suy yếu liên kết nội khối củaASEAN, tăng thêm cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, ảnh hưởng đến ngoại giaosong phương và đa phương Các công trình nghiên cứu này đã giúp tác giả có cơ sở
lý luận cũng như thực tiễn để nhìn nhận, đánh giá tác động của sự gia tăng can dựcạnh tranh Mỹ - Trung đến các nước trong khu vực, nhất là đến độc lập, chủ quyềnquốc gia dân tộc
1.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung được nhiều tác giả thế giới quan tâm nghiêncứu Có thể nêu ra một số công trình có liên quan chủ yếu sau:
Hai tác giả Ikenberry.J và Mastanduno.M trong công trình “International Relations Theory and the Asia Pacific” (Lý thuyết quan hệ quốc tế và khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương) (Columbia University, New York, 2003) [243] cho rằngtranh chấp giữa các nước ở Biển Đông sẽ lôi cuốn sự quan tâm của các nước lớnngoài khu vực, nhất là Mỹ Xu hướng chung là Mỹ sẽ ngày càng can dự sâu hơn vàovấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm đảm bảo lợi ích an ninh chủ yếu của mình và điều
đó đặt quan hệ Mỹ - Trung luôn đứng trước trạng thái vừa hợp tác, vừa đấu tranh vàkiềm chế lẫn nhau
Trang 23Công trình “America ’s Role in Asia and the South China Sea” (Vai trò của
Mỹ ở Châu Á và Biển Đông) của Amitar Acharya (2004) [227] đã phân tích sự điềuchỉnh chiến lược của Mỹ đối với châu Á, trong đó có ĐNA Công trình này nêu bậtnhững cố gắng của Mỹ những năm đầu thế kỷ XXI, nhằm gia tăng vai trò ở ĐNA,trong đó cùng với việc tăng cường sự hiện diện ở khu vực, Mỹ ngày càng quan tâmđến tình hình an ninh Biển Đông trước việc Trung Quốc tăng cường các hoạt độngquân sự và khẳng định chủ quyền ở Biển Đông
Nhận định chung của hai công trình “China’s Rise and the Balance of Influence in Asia” (Sự phát triển và cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Châu Á) (2007) [267] và “Southeast Asia in the Sino - US Strategic Balance” (Đông Nam Á
trong cân bằng chiến lược Trung - Mỹ) (2009) [268] của các tác giả WilliamW.Keller và Thomas G.Rawski cho rằng quan hệ Mỹ - Trung tác động đến phươngthức tập hợp lực lượng không chỉ ở ĐNA mà cả ở khu vực CA - TBD, điều này tạo ranhững tình huống không dễ xử lý đối với các nước trong khu vực và làm gia tăng tínhphức tạp trong QHQT
Sách tham khảo “Chiến lược và chính sách ngoại giao của Trung Quốc”
(Chinese Diplomatic Strategy and Policy) của tác giả Sở Thụ Long và Kim Uy (chủbiên), (2008) [109], đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chiến lược và chínhsách ngoại giao của Trung Quốc đối với tất cả các khu vực trên thế giới, trong đó cóĐNA Cuốn sách được chia thành bốn phần, trong đó phần III, cung cấp cho bạn đọcnhững thông tin về chiến lược và chính sách của Trung Quốc đối với Châu lục và vàmột số nước lớn, đi sâu phân tích mối quan hệ và chính sách của Trung Quốc đối vớikhu vực Đông Nam Á, Nam Á, Trung Á, Bán đảo Triều Tiên, Trung Đông Cuốnsách đã cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho tác giả luận án tham khảo khi đưa ranhững đề xuất đối sách trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đếnĐLDT của Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, trong cuốn sách này có một số luận chứngtác giả nêu trên quan điểm lập trường của mình và của Trung Quốc khác với ViệtNam và không phù hợp với luật pháp quốc tế
Sách “Obama and China ’s Rise in America ’s Asian Atrategy” (Obama và sự
trỗi dậy của Trung Quốc trong chiến lược châu Á của Mỹ), của Jeffrey A.Bader
Trang 24(2015) [87], đã phân tích chính sách đối ngoại của chính quyền Obama không nhữngphát triển quan hệ với Trung Quốc, mà còn duy trì quan hệ tốt đẹp với các đối tác -đồng minh chủ chốt khác ở châu Á như Nhật Bản và Hàn Quốc; đồng thời tập trungnhiều hơn vào Đông Nam Á - ASEAN Tuy nhiên, tác giả mới chỉ phân tích khíacạnh một số nước ĐNA mong muốn sự hiện diện của Mỹ tại khu vực mà chưa đề cậpđến chiến lược này phục vụ chính bản thân nước Mỹ trước những nguy cơ tiềm tàngcủa sự “trỗi dậy” của Trung Quốc đe dọa vị trí số 1 của Mỹ trên trường quốc tế.
Trên báo và tạp chí quốc tế có rất nhiều bài viết về vấn đề này như: Tác giả
David Capie và Paul Evans trong bài “The Asia - Facific Securities Lexicon” (Từ điển an ninh Châu Á - Thái Bình Dương), (2002) [238] và bài viết “Seeking Security
in Dragon ’s shadow: China and Southeast Asia in the Emerging Asian Order” (Tìm
kiếm an ninh dưới bóng con rồng: Trung Quốc và Đông Nam Á trong trật tự Châu Ámới nổi), của tác giả Amitar Acharya ( 2003) [226] chỉ ra rằng, cạnh tranh giữa cácnước lớn ở ĐNA, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc đều có liên quan trực tiếp đến
an ninh ở ĐNA, CA - TBD Cuộc cạnh tranh này càng cho thấy rõ vai trò của vấn đề
an ninh hàng hải trên Biển Đông đối với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, NhậtBản
Tác giả Shi Yinhong có các bài viết như: bài “The United States and China in East Asia: Dynamics of A Volatile”, (Mỹ và Trung Quốc ở Đông Á: Sự năng động của một biến động bất ổn) [261] và bài “The Strategic Situation and Prospects of China-U.S Relations'” (Tình hình chiến lược và tiềm năng của quan hệ Trung - Mỹ)
[262] đã khảo sát ở bề rộng và chiều sâu sự biến động của cạnh tranh Mỹ - Trung ảnhhưởng ở ĐNA, và nhận định hiện nay ảnh hưởng ngoại giao của Trung Quốc đã bịthu hẹp đáng kể, trong khi đó Mỹ đã giành được rất nhiều lợi thế mới tại khu vựcĐNA
Trong bài “The United States and China in Southeast Asia: Conflict or Convergence” (Mỹ và Trung Quốc ở Đông Nam Á: Mâu thuẫn hay hội tụ), tác giả
Robert Sutter (2010) [259] đã phân tích sự phụ thuộc lẫn nhau trong lợi ích của Mỹ Trung Quốc, đặc biệt là trong phát triển kinh tế; sự khác biệt trong lợi ích giữa TrungQuốc và Mỹ đã tác động không nhỏ đến khu vực ĐNA
Trang 25-Bài “China ’s Rise and Capability of Territory Expansion in the Perspective
of International Relations'” (Sự trỗi dậy của Trung Quốc và khả năng bành trướng
lãnh thổ của nước này dưới góc độ lý thuyết quan hệ quốc tế) của M.Taylor Fravel(2010) [249] nhận định rằng các hành vi gây hấn của Trung Quốc đã châm ngòi choquá trình hình thành các liên minh quốc tế với mục tiêu kiềm chế Trung Quốc
Bài “The United States in Multilateral East Asia Dealing with the rise of China ” (Mỹ trong Đông Á đa phương đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc), của
tác giả Chika Yamamoto (2011) [232], thì cho rằng sức mạnh bá chủ và sức mạnhđang lên sẽ luôn luôn đối đầu nhau gây ra ảnh hưởng rất lớn, đặt Trung Quốc trongbối cảnh của một sự cạnh tranh bá chủ
Bài “Island Building” Strategy and China’s Ambition of Regional Hegemony”
(Chiến lược “xây dựng đảo” và tham vọng bá quyền khu vực của Trung Quốc), củaPatrick M.Cronin (2015) [254] đã điểm lại các hành vi hung hăng và mang tínhcưỡng ép của Trung Quốc Theo tác giả thì những hành động này nhằm giảm ảnhhưởng của Mỹ và gia tăng sự thống trị của Trung Quốc đối với khu vực CA- TBD
Trong bài “Phân tích con đường xây dựng sức mạnh mềm văn hóa quốc gia của Mỹ" (An Analysis of America’s Path of Building National Soft Cultural Power),
tác giả Lý Bách Linh (2015) [248] đã phân tích sức mạnh mềm văn hóa đã trở thànhnguyên nhân chủ yếu và nguồn tài nguyên quan trọng của Mỹ đối với năng lực lãnhđạo, sức ảnh hưởng, sức hấp dẫn của sản xuất toàn cầu hóa
Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho việcluận giải các tác động từ sự trỗi dậy của Trung Quốc và cạnh tranh chiến lược Mỹ -Trung đến ổn định và phát triển của ĐNA nói chung và độc lâọ chủ quyền của cácnước trong khu vực nói riêng
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐÉN ĐỐI SÁCH CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CẠNH TRANH CHIÉN LƯỢC
MỸ - TRUNG
1.3.1 Các nghiên cứu trong nước
Trước hết phải kể đến cuốn “Độc lập dân tộc của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa” của tác giả Thái Văn Long (2006) [110], đã phân tích rất
Trang 26chi tiết về những nội dung cơ bản về đấu tranh vì ĐLDT của các nước đang phát triểnhiện nay Chương 4, tác giả đã phân tích nội dung Việt Nam đấu tranh bảo vệ và củng
cố ĐLDT trong TCH, qua đó tác giả đã phân tích đóng góp của Việt Nam vào cuộcđấu tranh chung của các nước đang phát triển hiện nay và nêu một số bài học kinhnghiệm rút ra từ cuộc đấu tranh này
Cùng đề cập vấn đề trên còn có cuốn sách “Chủ quyền quốc gia dân tộc trong
xu thế toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra với Việt Nam’" do tác giả Phan Văn Rân và
Nguyễn Hoàng Giáp (2010) đồng chủ biên [157] Đây là công trình chuyên sâunghiên cứu về bảo vệ ĐLDT của các nước đang phát triển Các tác giả đã phân tíchđối sách của một số nước nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trước xu thế toàn cầu hóa;tập trung làm rõ nội dung về chủ quyền quốc gia của Việt Nam trong xu thế toàn cầuhóa Từ đó, các tác giả nêu lên một số khuyến nghị nhằm tăng cường bảo vệ chủquyền quốc gia dân tộc và hội nhập quốc tế của Việt Nam
Hai công trình nghiên cứu trên giúp tác giả hiểu rõ những vấn đề lý luận vàthực tiễn về chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa Các công trình này
là tài liệu quý giá gợi mở cho tác giả hướng tiếp cận về cách thức bảo vệ ĐLDT củacác quốc gia tại khu vực ĐNA
Đề cập đến đối sách của các nước tại khu vực phải kể đến sách “Hợp tác liên kết ASEAN hiện nay và sự tham gia của Việt Nam’" của các tác giả Nguyễn Hoàng
Giáp, Nguyễn Hữu Cát và Nguyễn Thị Quế (2006) [48] đã góp phần làm rõ thêmnhững bước phát triển mới và triển vọng của quá trình phát triển hợp tác, liên kếtASEAN sau Chiến tranh lạnh trong một số lĩnh vực chủ yếu, đồng thời cũng nêu bật
sự tham gia và đóng góp của Việt Nam đối với quá trình này Cuốn sách này giúp tácgiả có thêm tư liệu để viết phần đối sách của ASEAN trước ảnh hưởng cạnh tranhchiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA
Sách "‘Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam’" (1986-2012)", tác giả
Phạm Quang Minh (2012) [123] đã phân tích quá trình chính sách đối ngoại đổi mớicủa Việt Nam hình thành và phát triển, đồng thời đánh giá những thành tựu đạt được
Trang 27và những hạn chế còn tồn tại, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách đối ngoại trong giai đoạn sau
Sách "‘Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016)" [38] và cuốn "30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam’" [82] là các công
trình tổng kết lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt với sự nghiệp đổi mớitoàn diện mà Đảng và toàn dân đang đẩy mạnh Hai cuốn sách làm cơ sở cho tác giảluận án xác định những giải pháp, đề xuất mới trong việc xây dựng và bảo vệ ĐLDTcho Việt Nam trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung
Trên các tạp chí và báo có các viết tiêu biểu như: Tác giả Lương Văn Kế
(2014) với bài "Tính chất địa chính trị của liên kết song phương Việt Nam với các nước láng giềng" [88] đã cho rằng tạo mối quan hệ hòa hiếu với các nước láng giềng
là một trong các nguyên tắc lớn của truyền thống chính sách đối ngoại; tạo dựng quan
hệ đồng minh với láng giềng để cùng nhau phát triển và bảo vệ tổ quốc
Đề cập đến vấn đề đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt
Nam có hàng loạt bài viết như “ Độc lập, tự chủ - định hướng và nguyên tắc bất biến của đối ngoại Việt Nam’", tác giả Phạm Bình Minh (2014) [121], bài "Sự sáng tạo trong đường lối đối ngoại của Đảng ta thời kỳ đổi mới", tác giả Nguyễn Tất Giáp
(2015) [50], bài " Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của tác giả Ngô Xuân Lịch (2015) [106] và bài " Nhìn lại chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới của Việt Nam đối với khu vực Đông Nam Á", của Phạm Quang Minh (2016) [125] Các
tác giả đã phân tích sự đổi mới tư duy của Đảng về đường lối đối ngoại, những sángtạo này đã góp phần kết hợp một cách hiệu quả sức mạnh dân tộc và sức mạnh thờiđại, đưa nước ta ngày càng chủ động và tích cực hội nhập sâu rộng với khu vực và thếgiới vì mục tiêu phát triển Các công trình trên là nguồn tư liệu quý giá để tác
giả nghiên cứu trong vấn đề đối sách của Việt Nam trong việc xây dựng và củng cố ĐLDTtrước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung
Bài “Tầm nhìn của Cộng đồng kinh tế ASEAN sau 2015 và một số vấn đề đặt ra”, của Nguyễn Huy Hoàng và Ngô Thảo Quỳnh (2015) [70] và bài “Vấn đề Biển Đông những tác động của nó tới quan hệ thương mại Việt - Trung và nền kinh tế Việt
Trang 28Nam”, của Lê Minh Thoa, Ngô Hoàng Đại Long (2014) [172], đã đề xuất ASEAN
cần giải quyết tốt việc phát triển kinh tế hòa nhập với khu vực và quốc tế
Đề tài cấp Bộ “Quan hệ với các nước láng giềng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam từ 1991 đến nay" (2010) [44] và đề tài cấp cơ sở “Sự phát triển, hợp tác liên kết ASEAN và đóng góp của Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh lạnh" (2008)
[43] do Nguyễn Hoàng Giáp chủ nhiệm đã làm rõ những bước phát triển hợp tác, liênkết ASEAN sau chiến tranh lạnh, đồng thời nêu bật những đóng góp của Việt Namđối với quá trình này Nêu khuyến nghị nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả sự hợptác của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác, liên kết ASEAN hiện nay cũng như trongnhững năm tới
Các luận án tiến sỹ “Công cuộc bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1975 đến năm 2010” của tác giả Uông Minh Long (2012) [113], “Quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc của liên bang Malaysia tư năm 1957 đến năm 1990” của Trịnh Thị Hoa (2014) [65]
và “Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của Vương quốc Campuchia từ năm 1993 đến năm 2013"" của Sok Dareth (2015) [159], đã nghiên cứu quá trình đấu tranh bảo vệ
ĐLDT và đánh giá những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm trong sựnghiệp bảo vệ, củng cố ĐLDT của một số nước tại khu vực ĐNA trong giai đoạn hiệnnay Các công trình này là nguồn tài liệu quí giá giúp tác giả phân tích đối sách củacác nước ở ĐNA bảo vệ và củng cố ĐLDT trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược
Mỹ - Trung hiện nay
Ngoài ra, các tài liệu Văn kiện Đại hội Đảng các khóa VIII, IX, X, XI, XI, XII
đã giúp tác giả luận án, nhận thức rõ hơn về đường lối đối ngoại của Đảng và Nhànước ta trong giai đoạn hiện nay
1.3.2 Các nghiên cứu nước ngo ài
Các chuyên gia đầu ngành về ĐNA cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm ứngphó với tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung hiện nay như: Takashi
Shiraishi với bài “China’s Rise and the Meaningful lesson to East Asia” (Sự trỗi dậy của Trung Quốc và bài học ý nghĩa đối với Đông Á) [165] và “The Effect of US -
Trang 29China’s Competition on Southeast Asian Countries” (Ảnh hưởng của cuộc ganh đua
Mỹ - Trung đối với các nước Đông Nam Á) [164] đã phân tích đối sách của từngnước ASEAN và hầu hết các nước ASEAN đều lựa chọn phương án cùng quan hệ với
Mỹ và Trung Quốc để phát triển đất nước để tránh bị lệ thuộc vào bất kỳ cường quốcnào
Bài “In Search of a Southeast Asian Response to Chinas Bid for Dominance”
(Tìm kiếm phản ứng của Đông Nam Á trước tham vọng thống trị của Trung Quốc),
của tác giả Patrick Cronin (2015) [253] và bài “South China Sea Crisis How should the US Respond" (Khủng hoảng Biển Đông Mỹ nên hành xử như thế nào), của tác giả
Richard Javad Heydarian (Philippines), (2015) [258], cho rằng giải pháp là các nướcASEAN cần phải đoàn kết nhiều hơn nữa trước những hành động nguy hiểm củaTrung Quốc ở Biển Đông
Giáo sư Carlyle Thayer (2015) với bài “Not Falling to the “Orbit” to Prevent from Dependence” (Không rơi vào “quỹ đạo” để tránh bị lệ thuộc) [21] thì cho rằng
Việt Nam cần tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạnghóa
Bên cạnh đó, còn phải kể đến một số cơ quan nghiên cứu quốc tế trong nướcViện Nghiên cứu châu Mỹ, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện nghiên cứu ĐôngNam Á (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoạigiao), Viện Quan hệ Quốc tế (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh),
Ngoài ra, người viết luận án còn nghiên cứu các tài liệu nghiên cứu trên cáctrang mạng điện tử, của các hãng thông tấn, truyền thông có uy tín như: Thông tấn xãViệt Nam, Vietnamnet, Vietnamplus, Nghiên cứu Biển Đông, Nghiên cứu Quốc tế,website Tổng cục Thống kê, Foreign Affairs, National Interest, Washington Post,New York Times, Reuters
Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu tron g và n go ài nước
Nhìn chung, các nghiên cứu về ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược của Mỹ Trung tại ĐNA trên thế giới là hết sức phong phú, đa dạng, tương đối có tính chấtchuyên sâu và hệ thống hơn so với nghiên cứu trong nước Do xuất phát từ mục đích
Trang 30-nghiên cứu và yêu cầu cụ thể, lập trường tư tưởng, quan điểm của từng quốc gia khácnhau nên các nhà nghiên cứu nước ngoài có những quan điểm, cách đánh giá khácnhau Các công trình trong nước cũng như ngoài nước thường đi theo hướng phântích ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung trên góc độ QHQT mà chưa cócông trình nào đi sâu nghiên cứu tác động của quá trình trên đến ĐLDT.
Những vấn đề chưa được giải quyết:
Thứ nhất, các tác giả chưa đề cập phân tích sâu vấn đề quyền tự quyết và khả
năng “đề kháng” của các nước ĐNA trước sự gia tăng can dự và cạnh tranh chiến
lược Mỹ - Trung Thứ hai, các nghiên cứu đưa ra chưa phân tích sâu các khía cạnh tác
động, nhất là về kinh tế trước sự tấn công mê hoặc của Trung Quốc và truyền bá giátrị văn hóa của cả Mỹ và Trung Quốc
Tóm lại, do hướng nghiên cứu khác nhau nên các công trình trên chưa đề cậpmột cách cụ thể và hệ thống sự ảnh hưởng của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đếncác mặt của ĐLDT
Kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đi trước, luận án tập trung lý giải và
làm rõ các vấn đề chủ yếu sau: Một là, nhận diện các khía cạnh tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung, nhất là đến chủ quyền, an ninh quốc gia Hai là, đánh
gia về nhận thức và hành động chiến lược của các nước ĐNA (chủ yếu là các nướcViệt Nam, Lào , Campuchia, Philipines, Malaysia) trước sự gia tăng cạnh tranh chiến
lược Mỹ - Trung Ba là, từ kinh nghiệm thực tiễn, góp phần làm phong phú thêm kiến
thức về ĐLDT trong bối cảnh mới
Đây cũng là những vấn đề cơ bản mà tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu trong luận ánnày
Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ Ả NH HƯỞNG CẠNH TRANH CHIÉN LƯỢC
Trang 31MỸ - TRUNG TẠI ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 2001 ĐÉN NĂM 2015
2.1 MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CẠNH TRANH CHIÉN LƯỢC VÀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
2.1.1 Khái niệm cạnh tranh chiến lược
Trong chính trị quốc tế, khái niệm cạnh tranh được hiểu là tranh đua chính trị,
là cạnh tranh cho quyền lực chính trị Kết quả của kiểu cạnh tranh này thường dẫnđến tình trạng căng thẳng trên toàn thế giới và đôi khi có thể biến thành một cuộcchiến tranh [228]
Chiến lược theo nghĩa rộng là sự quan trọng có tính toàn cục, then chốt và có
giá trị tương đối lâu dài về mặt thời gian Chiến lược là tổng thể các phương châm, vàmưu lược được hoạch định để xác định mục tiêu, sắp xếp, quy tụ lực lượng và đề ragiải pháp nhằm đạt một mục đích nhất định bằng con đường có lợi nhất, tạo ra trạngthái phát triển mới của một lĩnh vực, toàn xã hội hoặc toàn thế giới trong một thời kỳnhất định [211, tr.211]
Chiến lược đối ngoại của một nước lớn là đường lối chỉ đạo việc huy động và
phối hợp mọi nguồn lực quốc gia, mọi điều kiện khách quan bên trong và bên ngoài
để bảo vệ lợi ích quốc gia của nước lớn đó, chủ yếu là bảo đảm an ninh, điều kiệnquốc tế thuận lợi cho sự phát triển, bảo đảm khẳng định và nâng cao địa vị nước lớncủa nước đó trên trường quốc tế [160, tr.26]
Từ những cách lý giải trên về thuật ngữ “cạnh tranh” và “chiến lược” cho thấy
khái niệm “cạnh tranh chiến lược” trong QHQT có đặc điểm sau: Một là, hành động
ganh đua, đấu tranh chống lại đối thủ để giành phần hơn về vị thế, quyền lực hay ảnh
hưởng, lợi ích cho mình Hai là, tổng thể các phương châm, mưu lược, sách lược
được hoạch định trong một thời kỳ nhất định nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra bằng
con đường có lợi nhất Ba là, mục tiêu mang tính toàn diện trên phạm vi rộng, có tầm
quan trọng đối với quốc gia
Với ba đặc điểm này, có thể hiểu khái niệm “cạnh tranh chiến lược” trong
QHQT như sau: Cạnh tranh chiến lược là sự ganh đua, đấu tranh của một nước hoặc
Trang 32liên minh các nước với đối thủ của mình về phương châm, phương cách, chính sách
và mưu lược được hoạch định trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra để giành phần hơn, phần thắng về vị thế, quyền lực, sự ảnh hưởng hay lợi ích trên toàn phương diện.
Cạnh tranh quyền lực trong QHQT được hiểu là hình thái đối kháng (trực tiếp
- gián tiếp) giữa hai (hoặc nhiều) chủ thể nhằm tranh giành ảnh hưởng đối với phụctùng ý chí của mình [84]
Từ khái niệm về cạnh tranh chiến lược và cạnh tranh quyền lực nêu trên có thểthấy chúng có cùng đặc điểm là tranh giành ảnh hưởng, vị thế đối với phục tùng ý chícủa mình Tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược là nói đến việc chủ thể triển khai phươngchâm, phương cách, chính sách và mưu lược trước đối thủ để đạt được mục đích củamình, còn cạnh tranh quyền lực là việc chủ thể tìm mọi cách để tăng cường sức mạnhthay đổi cán cân quyền lực có lợi cho mình
Quan hệ giữa các nước lớn là nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển thếgiới; chi phối QHQT và quá trình hình thành, cơ chế vận hành của trật tự thế giới.Lịch sử hơn 500 năm qua đã chứng minh sự cường thịnh của một quốc gia này lànguyên nhân của mối quan tâm của một hay một số quốc gia khác và cuối cùng dẫnđến chiến tranh hay cạnh tranh giữa các cường quốc với nhau Cạnh tranh chiến lượcgiữa các nước lớn hiện nay có những chuyển biến rất cơ bản Trạng thái cạnh tranhđan xen, phức tạp; giữa hợp tác và đấu tranh với nhau, giữa can dự và kiềm chế lẫnnhau Trong giai đoạn hiện nay, các cường quốc ngoài việc chi phối về chính trị, còn
có khả năng to lớn về kinh tế, tài chính, điều này đã làm tăng tính phụ thuộc của cácnước đang phát triển vào các nước lớn, kéo theo việc tập hợp lực lượng của cáccường quốc đang có những thay đổi hết sức phức tạp, gây ra những biến chuyển địachính trị, địa kinh tế và tác động trực tiếp đến lợi ích của các nước khác Sự dịchchuyển, cọ xát trong chiến lược giữa các nước lớn không chỉ ảnh hưởng đến cáccường quốc mà còn làm nóng lên hay dịu đi tại các điểm nóng tranh chấp lãnh thổ, vịthế của các tổ chức quốc tế, khu vực và các nước vừa và nhỏ ngày càng được nâng
Trang 33cao Tuy nhiên, điều này còn tạo ra nhiều thách thức về ĐLDT đối với các nước đangphát triển trong xử lý quan hệ với các nước lớn Các nước chậm phát triển hiện naykhông có một sự độc lập thực sự về kinh tế vì còn phải nương tựa quá nhiều vào nềnkinh tế của các cường quốc kéo theo nó là nhân tố chính trị và quân sự cũng bị ảnhhưởng sâu sắc Tình trạng khủng hoảng chính trị, lệ thuộc kinh tế của một số nướcxảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc chính phủ bế tắc và thất bại trong việcdung hòa quan hệ với các nước lớn dựa trên nền tảng đảm bảo an ninh quốc gia, nềnkinh tế, xã hội phát triển độc lập, tự chủ, nâng cao vị thế tránh rơi vào chiến tranh hay
bị lệ thuộc nước lớn
Hiện nay sức mạnh quân sự, kinh tế, chính trị của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ
và Trung Quốc vẫn là nhân tố tác động chi phối đời sống thế giới trên nhiều phươngdiện Trật tự khu vực phụ thuộc nhiều vào cách Mỹ và Trung Quốc triển khai sứcmạnh và ứng xử với lợi ích cốt lõi của nhau Do đó, mối quan hệ Trung - Mỹ ổn định
và lành mạnh sẽ là nền tảng cho hòa bình và phát triển trong khu vực, và ngược lạinếu mối quan hệ này xấu đi sẽ gây ra nhiều nguy hại cho thế giới Các nước nhỏ nếukhông xử lý khôn khéo trong mối quan hệ với các cường quốc này sẽ có thể dẫn đếnđối đầu và thậm trí là chiến tranh khu vực đe dọa nền ĐLDT của mỗi quốc gia
Tại ĐNA hiện nay tồn tại cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung Quốc, TrungQuốc - Nhật Bản, Trung Quốc - Ấn Độ; Nhật Bản với Mỹ, Ấn Độ và Liên minh Châu
Âu (EU), Ấn Độ - Mỹ - Nga và EU, giữa Nga với Mỹ và Nhật Bản Các nước lớnđặc biệt là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Ấn Độ đều thực hiện chiến lược cạnhtranh ảnh hưởng của mình, có những chính sách chi phối ảnh hưởng đến khu vực vớinhững mức độ khác nhau, đồng thời tìm cách thỏa hiệp, hợp tác và cả kiềm chế cácđối thủ khác trong cạnh tranh ảnh hưởng đối với khu vực, xác lập vị trí của mình ởĐNA theo hướng có lợi cho mình [47, tr.252]
2.1.2 Khái niệm Độc lập dân tộc
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, ĐLDT là có chủ quyền, không phụ thuộc vàonước khác, dân tộc khác
Trang 34Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ĐLDT bao hàm trong đó cả nộidung dân tộc và dân chủ Trong tư tưởng của Người, một dân tộc độc lập thì phải cóquyền tự quyết định trên tất cả các mặt kinh tế chính trị, quân sự, ngoại giao, toàn vẹnlãnh thổ, mà trước hết và quan trọng nhất là quyền quyết định về chính trị; ĐLDTphải gắn liền với thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; ĐLDT baogiờ cũng gắn với tự do, dân chủ, ấm no hạnh phúc của nhân dân lao động [117].
Nghiên cứu về ĐLDT, PGS.TS Thái Văn Long cho rằng: ĐLDT là cái đíchtrực tiếp của công cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, đô hộ và xâm lược từ bênngoài để khẳng định quyền làm chủ đất nước và quyền phát triển của dân tộc, là sựthống nhất lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, là sự độc lập và tự chủ trong mối quan hệvới các quốc gia dân tộc khác với cộng đồng quốc tế, là ấm no, tự do, hạnh phúc củanhân dân [110, tr.81]
Như vây, ĐLDT bao hàm quyền tối cao trong việc định đoạt các vấn đề trongnước và quyền được bình đẳng trong QHQT, cũng như quyền tự quyết định các vấn
đề đối ngoại của quốc gia dân tộc [153, tr.117]
Trước thập niên 90 của thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ
và củng cố ĐLDT của các nước đang phát triển là một quá trình đấu tranh lâu dài,gian khổ nhưng đã làm thay đổi một cách sâu sắc bức tranh toàn cảnh của thế giớihiện đại, nhất là hệ thống tư bản chủ nghĩa Việc giành được ĐLDT là một thành tựu
có tính chất lịch sử không chỉ của các nước thuộc địa, mà còn là của tất cả các lựclượng tiến bộ trên thế giới
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã làm đảo lộncục diện thế giới và đời sống kinh tế quốc tế đặt vấn đề bảo vệ ĐLDT của các nướcđang phát triển trước những cơ hội, thời cơ mới và cả những thách thức nghiêm trọng.Hiện nay, ĐLDT đang chịu những tác động không nhỏ trước sự xâm hại của chủnghĩa đế quốc và mặt trái của toàn cầu hóa (TCH) ĐNA hầu hết đang là các nướcđang phát triển, giành được độc lập về chính trị, nhưng về kinh tế, văn hóa, khoa học
- kỹ thuật ít nhiều còn phụ thuộc vào các nước phát triển
Để giành vị thế có lợi, các quốc gia dân tộc đều điều chỉnh chính sách, tạo cơhội tận dụng, tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại, vốn đầu tư và
Trang 35những kinh nghiệm quản lý tiên tiến để phát triển kinh tế - xã hội Đối với các nướcđang phát triển, do phải phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển về khoa học, côngnghệ, vốn đầu tư , nên những nước này đang đứng trước nhiều thách thức lớn Trongbối cảnh đó, các nước vừa và nhỏ luôn nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tựcường, đấu tranh chống sự áp đặt và can thiệp của các nước lớn.
Các nước lớn cậy thế ức hiếp nước nhỏ, áp đặt các luật lệ cùng giá trị văn hóathu vén lợi ích cho mình tạo nên sự bất bình đẳng Thông qua chính sách đầu tư, hỗtrợ, viện trợ về kinh tế các nước lớn thường ra giá, mặc cả các điều kiện về chính trị,dùng kinh tế để đổi lấy chính trị tạo ra nguy cơ xâm phạm đến ĐLDT, chủ quyền và
an ninh quốc gia Các nước lớn thường can thiệp vào nội bộ của các nước khác đặcbiệt là các nước đang phát triển, theo những phương cách thô bạo, cường quyền Điềunày gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chế chính trị và an ninh cho các nước nhỏkhi tham gia, dẫn đến lệ thuộc vào các nước lớn trong tất cả các lĩnh vực của quốcgia Thậm chí, một số cường quốc sử dụng các thủ đoạn, cơ hội làm gia tăng mâuthuẫn, trầm trọng thêm những khó khăn nhằm đẩy nhanh việc thay đổi chế độ chínhtrị đối với những nước khác biệt về chế độ chính trị, hoặc thu hút các nước đó vàokhu vực ảnh hưởng của họ Trong điều kiện đó, độc lập, chủ quyền và an ninh quốcgia bị uy hiếp nghiêm trọng, thậm chí bị xâm phạm [209]
Hiện nay, trên thế giới, người ta thường nhấn mạnh đến 3 yếu tố: an ninh, pháttriển và vị thế quốc tế để nhìn nhận về ĐLDT của một quốc gia Để bảo vệ và củng cốĐLDT, các nước ĐNA cần phải có những chính sách phát triển đất nước, lấy pháttriển kinh tế làm trọng tâm, giữ vững ổn định chính trị, tạo lập sự đoàn kết, đồngthuận xã hội; mặt khác cần chú trọng xử lý các vấn đề đối ngoại để tận dụng cơ hộiphát triển và hạn chế những khó khăn, thách thức do ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược
Mỹ - Trung đem lại Đoàn kết và cùng nhau phát triển bền vững, giữ vững ổn định anninh - chính trị, phát triển kinh tế quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tăngcường hội nhập quốc tế là việc làm cấp bách và cần thiết hiện nay nhằm bảo vệ vàcủng cố ĐLDT, ứng phó với các ảnh hưởng từ cạnh tranh Mỹ - Trung đem lại
Trang 362.1.3 Quan điểm của chủ n ghĩa Mác - Lênin về cạnh tranh chiến lược
Học thuyết Mác - Lenin cho rằng quan hệ xã hội trong đó có QHQT suy chocùng do quan hệ vật chất quyết định Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cạnhtranh chủ yếu đề cập tới mâu thuẫn trong đấu tranh giai cấp và các chế độ xã hội; giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng.Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp giữa giai cấpthống trị và bị trị
Mác và Ăngghen lập luận rằng các dân tộc lớn và tiến bộ có vai tròlịch sử trong việc hoàn thành cách mạng thế giới, trong khi liên kết vớinhiều dân tộc nhỏ khác và tạo điều kiện cho chủ nghĩa xã hội thành công.Nhưng các ông cũng phản đối một số người theo quan điểm “dân tộc phảnđộng” và những phong trào dân tộc bị các cường quốc lợi dụng nhằmchống lại cách mạng thế giới
Sau này, Lênin phát triển chủ nghĩa Mác, và cho rằng, chính vì sựphụ thuộc chặt chẽ của hệ thống kinh tế tư bản vào thị trường và nguồn tàinguyên hải ngoại, nên xung đột quốc tế là căn bệnh cố hữu trong thế giớicủa các nước tư bản Chủ nghĩa đế quốc đã biến thế giới thành hai mảng,một bên là các dân tộc bị áp bức và kia là đi áp bức Chính sự phát triểnkhông đồng đều của các nước tư bản dẫn tới chiến tranh đế quốc và phânchia thuộc địa Nhà nước xã hội chủ nghĩa không thể quan hệ sinh tồn vớicác nước tư bản chủ nghĩa
Khi bàn về lợi ích dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, lợi íchquốc gia là sự phổ cập hóa lợi ích giai cấp này đối với giai cấp khác và đưađến cộng đồng hóa trong toàn xã hội Xã hội quốc tế là một hệ thống thếgiới, trong đó xung đột quốc tế, hợp tác quốc tế, cục diện thế giới v.v cơbản được giải quyết bởi quan hệ giữa hai giai cấp với nhau Muốn loại bỏchiến tranh xâm lược và thái độ cường quyền của các nước lớn thì phảilàm cách mạng vô sản, loại trừ các nước tư bản Khi lực lượng sản xuất vàgiao lưu quốc tế phát triển cao sẽ đưa thế giới đến đại đồng [216, tr.100-102]
Trang 37Theo các nhà tư tưởng Mác-xít, các nước tư bản sẽ rơi vào khủng hoảng, bấtlực trước tình trạng bạo lực tăng cao và suy yếu khi uy tín của chính quyền bị suygiảm Trung Quốc sẽ trở thành một nền kinh tế hùng mạnh, lãnh đạo các quốc giakém phát triển trong cuộc chiến với các nước phát triển - đứng đầu là Mỹ [10, tr.31].
2.1.4 Lý thuyết của Chủ n ghĩa hiện thực về cạnh tranh giữa các nước lớn
Nội dung chính của Chủ nghĩa hiện thực đó là: lợi ích là yếu tố căn bản trongQHQT và được đảm bảo bằng quyền lực QHQT được mô tả như một cuộc cạnhtranh giành quyền lực giữa các nước theo đuổi lợi ích quốc gia, xung đột là bản chấtcủa QHQT
Trong đời sống chính trị quốc tế, không phải tất cả các quốc gia đều bình đẳngnhư nhau, mà các nước lớn thường nắm vai trò chi phối, định đoạt Nước lớn luôn cóthiên hướng chi phối không gian chiến lược xung quanh họ, trong khi nước nhỏ luôntìm cách thích nghi và trong nhiều trường hợp phải chấp nhận, cam chịu [193, tr.108]
Để tự cứu mình, các nước có thể sử dụng chính sách liên minh Trong các cuộc xungđột, các quốc gia có thể có lợi ích nhất định nhưng tất cả sẽ thay đổi một khi tươngquan so sánh lực lượng thay đổi và xung đột chấm dứt theo hướng có lợi cho họ Liênminh của các quốc gia không bền vững, hôm nay có thể là bạn bè nhưng ngày mai cóthể trở thành đối thủ, thậm chí là kẻ thù và ngược lại chỉ vì lợi ích khác biệt Nhữngkhác biệt về lợi ích chính là nguyên nhân dẫn đến xung đột, cạnh tranh giữa các nướcnhất là các nước lớn
Từ Chủ nghĩa hiện thực, các cường quốc cho rằng chỉ có con đường duy nhất
là trở thành nước mạnh nhất trong hệ thống quốc tế mới đảm bảo được sự tồn vongcủa mình
Các nước lớn đều nuôi tham vọng trở thành bá quyền khu vực vàquốc tế, dùng “khu vực sân sau” làm bàn đạp để tiến xa hơn Khi giànhđược vị trí bá quyền nước lớn tìm cách ngăn không cho các nước lớn khácxâm nhập vào vùng ảnh hưởng của mình Nếu một nước có khả năng làm
bá quyền xuất hiện, mà các nước lớn trong khu vực không có khả năngkiềm chế, nước bá quyền ngoài khu vực sẽ sử dụng các biện pháp thíchhợp để xử lý nước mới nổi lên đó [73, tr.63]
Trang 38Hiện nay, Mỹ có địa vị bá quyền thống trị Tây bán cầu và có ảnh hưởng lớn tớicác khu vực khác trên thế giới Tuy nhiên, Trung Quốc nổi lên trở thành một cườngquốc đang thách thức vị thế bá quyền của Mỹ trên thế giới Vì vậy, cạnh tranh, xungđột giữa hai nước là điều khó tránh khỏi.
Các nước lớn do quyền lợi khác biệt nhau nên có nhiều mâu thuẫn, song xuhướng chung là các nước này thường thỏa hiệp, phân chia lợi ích với nhau và điềunày làm phương hại đến lợi ích các nước vừa và nhỏ Các nước lớn luôn tìm mọi cáchlàm thay đổi cục diện thế giới đồng thời tác động, gây ảnh hưởng tới các nước đangphát triển, các nước nhỏ hơn mình, hi sinh quyền lợi của các nước nhỏ để thỏa mãnquyền lợi của các nước lớn Trên thực tế khả năng giữ ĐLDT của các nước nhỏ luônlép vế về thế và lực so với các nước lớn [113, tr.32] Lịch sử đã chứng minh, một sốcác nước lớn đã bàn bạc và quyết định các vấn đề liên quan đến vận mệnh các nướcnhỏ mà không có sự tham gia của các nước này Vì vậy, các nước nhỏ phải tỉnh táo,cảnh giác để bảo vệ nền ĐLDT của đất nước mình Các nước vừa và nhỏ thường theođuổi chính sách cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, tận dụng cơ hội, hạn chếtiêu cực do cạnh tranh của các nước lớn mang lại để phát triển đất nước, bảo vệĐLDT
Lý thuyết hiện thực đã đưa ra những lý giải về cạnh tranh, va chạm, xung độtgiữa các nước lớn, ảnh hưởng của nó đến ĐLDT của các nước nhỏ Trong môi trườngcạnh tranh các nước lớn vẫn có thể tìm thấy cơ hội hợp tác nếu như có điểm tươngđồng về lợi ích và đạt được sự tin tưởng lẫn nhau [133, tr 14]
Như vậy, chủ nghĩa Hiện thực và chủ nghĩa Mác - Lênin góp phần quan trọngtrong việc nhận diện các nguyên nhân đưa đến cạnh tranh quốc tế và tác động đến độclập chủ quyền của các nước đang phát triển cũng như công cuộc bảo vệ ĐLDT củacác nước này Trong đó, Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ rằng mâu thuẫn và lợi ích giaicấp, sự khác nhau về ý thức hệ chính trị tư tưởng và tham vọng đế quốc là một trongnhững nguyên nhân chính tạo ra cạnh tranh chiến lược giữa các nước với nhau, nhất
Trang 39là các nước khác nhau về chế độ chính trị [94, tr.21] gây ảnh hưởng nghiêm trọng đếnĐLDT, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của các
nước nhỏ; Chủ nghĩa hiện thực thì cho rằng sự khác biệt về lợi ích là nguyên nhân chínhtạo ra sự cạnh tranh, xung đột của các nước lớn
2.2 NHÂN TỐ QUỐC TÉ VÀ KHU VựC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG 2.2.1 Những biến đổi của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, QHQT có nhiều biến chuyển và phức tạphơn Hệ thống quốc tế Yanta tan rã kéo theo quá trình tan rã của trật tự thế giới haicực Xô - Mỹ Thế giới đang quá độ sang trật tự thế giới mới, trật tự đa cực Hiện nay,ngoài siêu cường Mỹ còn có các cường quốc như: Nga và Trung Quốc, Nhật Bản, ÂnĐộ , tổ chức của các khu vực, EU, nhóm BRICS tác động tới tình hình chính trịthế giới đương đại Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Mỹ phát động cuộc chiếnchống khủng bố, thực hiện 2 cuộc chiến tranh với Afghanistan và Iraq nhưng sa lầytại các cuộc chiến này Cuộc chiến chống khủng bố sau sự kiện 11/9, cùng sự lớnmạnh của Trung Quốc và những mâu thuẫn, bất đồng xung đột ở khu vực Đông Á vàĐNA đã khiến Mỹ nhận ra đã bỏ trống quyền lực một thời gian dài ở CA-TBD đặcbiệt là ĐNA là nơi duy nhất để Trung Quốc dễ dàng biến thành “bàn đạp” mở rộng rathế giới Mỹ buộc phải dần chuyển trọng tâm “chiến lược toàn cầu” của mình từ châu
Âu - Đại Tây Dương về khu vực này, đẩy mạnh quá trình điều chỉnh chính sách anninh và đối ngoại, coi chống khủng bố là ưu tiên cao nhất và là chuẩn mực để đánhgiá quan hệ của Mỹ với các nước Thách thức của Mỹ hiện nay không phải ở tầm toàncầu mà là một chuỗi các thách thức khu vực Đó là sự cứng rắn của Nga và cuộckhủng hoảng di cư ở châu Âu; là Trung Quốc mở rộng, cải tạo đảo đá ở Biển Đông;
là chủ trương tiếp tục phát triển chương trình hạt nhân của Triều Tiên; là tình hìnhbạo lực ở Trung Đông Mỹ tuy vẫn là cường quốc số một thế giới, nhưng ở từng khuvực, vị trí Mỹ chỉ đứng thứ hai, thứ ba Vị thế lãnh đạo của Mỹ đang bị lung lay, trật
tự thế giới do Mỹ đề xuất và thực hiện đang bị thách thức
Cục diện thế giới hiện nay với xu thế hòa bình hợp tác và phát triển tạo ra môitrường quốc tế thuận lợi cho việc bảo vệ và củng cố ĐLDT của các nước đang phát
Trang 40triển Xu thế này giúp các nước này tránh được phần nào sự lôi kéo, tranh giành ảnhhưởng của các nước lớn; tự chủ hơn trong việc hoạch định đường lối, chính sách; chủđộng hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để cùng hướng tới hòa bình, ổn định và phát triển tạothuận lợi trong đoàn kết nội bộ; tạo điều kiện cho việc giải quyết các xung đột sắctộc, dân tộc theo hướng hòa bình, hòa hợp dân tộc và hợp tác, cùng các nước pháttriển xây dựng những định chế quốc tế có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triểnchung trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, chiến tranh cục bộ, xung đột và chạy đua vũ trang, xung đột sắctộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, tàinguyên và cạnh tranh kinh tế vẫn diễn ra gay gắt Các vấn đề toàn cầu, an ninh truyềnthống và an ninh phi truyền thống diễn biến ngày càng phức tạp Các nước lớn vừahợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh gay gắt, chi phối và làm phức tạp hơn các QHQT[82, tr.14-15] ĐLDT và chủ quyền quốc gia của các nước trên thế giới nói chung, cácnước đang phát triển nói riêng đang bị tham vọng của các cường quốc đe dọa Chínhtrị của các nước đang phát triển diễn ra hết sức phức tạp, thường rơi vào thế bị động
và chịu nhiều thua thiệt trong QHQT, ảnh hưởng đến ĐLDT bởi tham vọng của cáccường quốc đe dọa
Thế giới hiện nay đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu đe dọa đến sự sống
và sự phát triển bền vững của nhân loại, không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tựgiải quyết được nếu không có sự hợp tác đa phương Những nỗ lực chung của cộngđồng quốc tế nhiều năm qua đã đưa lại một số kết quả trong việc làm giảm thiểu hiệuứng nhà kính, xử lý nguồn nước và rác thải, chữa trị các bệnh lây nhiễm HIV/AIDS,SARS, dịch cúm gia cầm nhưng tính chất nghiêm trọng và phức tạp của những vấn
đề toàn cầu đang đòi hỏi các nước đóng góp tích cực hơn nữa trong sự phối hợp, hợptác hành động một cách hiệu quả, thiết thực để đối phó
Toàn cầu hóa (TCH) đã giúp các nước đang phát triển có cơ hội để phát triểnkinh tế, xã hội, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia và đấu tranh giành vị thếtrong hệ thống phân công lao động quốc tế, từng bước vươn lên giành độc lập về kinh
tế, củng cố độc lập về chính trị [132, tr.78] Tuy nhiên mặt trái của TCH là làm thay