Luật Đầu tư năm 2014 đã khẳng định rõ hơn quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc thu hút đầu tư như hạn chế dần sự tồn tại của các luật “khung”, luật “ống” trước đây, bổ sung sửa đổi nhiều quy định có thể áp dụng ngay mà không cần phải chờ hướng dẫn thực hiện bằng các văn bản dưới luật. Các nhà đầu tư sẽ có môi trường đầu tư hấp dẫn hơn, thông thoáng hơn, công khai minh bạch hơn và nhất là bình đẳng hơn, giảm bớt cơ chế “ xincho”. Môi trường đầu tư mới đó không chỉ giúp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào nước ta mà còn giúp đẩy mạnh đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài dựa trên năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung, của từng doanh nghiệp và nhà đầu tư nói riêng. Các quy định của Luật Đầu tư năm 2014 đã góp phần tạo lập môi trường pháp lý phù hợp, tạo sự thông thoáng, bình đẳng trong môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp – nhà đầu tư, hướng tới gia tăng thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần tạo bước phát triển mạnh mẽ và bền vừng cho nền kinh tế Việt Nam. Do đó nhóm đã tìm hiểu và chọn chủ đề: “Các quy định của Luật đầu tư 2014 ngày càng mang tính hấp dẫn nhà đầu tư”
Trang 1Chủ đề: Các quy định của Luật đầu tư 2014 ngày càng mang tính hấp dẫn nhà đầu tư.
Lời mở đầu
Luật đầu tư năm 2014 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26/11/2014 thay thế Luật Đầu tư năm 2005 So với Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014 một mặt kế thừa những nguyên tắc tiến bộ, những quy định có tính phù hợp của Luật Đầu tư năm 2005, mặt khác đã sửa đổi căn bản và
bổ sung nhiều quy định mới thông thoáng hơn, có tinh thần mở hơn, phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn, có những nội dung sửa đổi quan trọng theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 là người dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm thay vì chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép trước đây Rõ ràng không gian cho các nhà đầu tư, cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đã mở rộng hơn rất nhiều so với trước đây
Luật Đầu tư năm 2014 đã khẳng định rõ hơn quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc thu hút đầu tư như hạn chế dần sự tồn tại của các luật “khung”, luật “ống” trước đây, bổ sung sửa đổi nhiều quy định có thể áp dụng ngay mà không cần phải chờ hướng dẫn thực hiện bằng các văn bản dưới luật Các nhà đầu tư sẽ có môi trường đầu tư hấp dẫn hơn, thông thoáng hơn, công khai minh bạch hơn và nhất là bình đẳng hơn, giảm bớt cơ chế “ xin-cho” Môi trường đầu tư mới đó không chỉ giúp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào nước ta
mà còn giúp đẩy mạnh đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài dựa trên năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung, của từng doanh nghiệp và nhà đầu tư nói riêng
Các quy định của Luật Đầu tư năm 2014 đã góp phần tạo lập môi trường pháp lý phù hợp, tạo sự thông thoáng, bình đẳng trong môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp – nhà đầu tư, hướng tới gia tăng thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần tạo bước phát triển mạnh mẽ và bền vừng cho nền kinh tế Việt Nam Do đó nhóm đã tìm hiểu và chọn chủ
đề: “Các quy định của Luật đầu tư 2014 ngày càng mang tính hấp dẫn nhà đầu tư”
Trang 2Nội dung
I Giới thiệu khái quát về luật đầu tư 2014
1.1 Sơ lược quá trình xây dựng và phát triển của Luật Đầu tư ở Việt Nam
Hoạt động đầu tư là một phần không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường nhằm huy động nguồn lực trong và ngoài nước để làm động lực phát triển nền kinh tế Đầu tư thực chất
là hoạt động huy động vốn mà chủ yếu là huy đọng vốn từ bên ngoài đầu tư vào Việt Nam (còn vốn đầu tư trong nước chiếm tỷ lệ nhỏ không đáng kể)
Luật Đầu tư là bộ luật quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền
và nghĩa vụ của nhà đầu tư; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích
và ưu đãi đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài
Các mốc chính trong quá trình xây dựng, phát triển và sự ra đời của Luật Đầu tư 2014
- trước đổi mới, vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước, đất nước
ta đứng trước mâu thuẫn lớn giữa tiềm năng và yêu cầu phát triển với thực trạng khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, các ngành sản xuất trì trệ Chính sách các chính phủ lúc đó cấm kinh doanh, chủ yếu theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã độc quyền kinh doanh theo kiểu bao cấp
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 15-18/12/1986 Đây được coi là “mốc son” đáng nhớ nhất, “bước ngoặt của sự đổi mới” đối với nền kinh tế Việt nam lúc bấy giờ Đại hội đã đề ra đường lối mới, trong đó quan trọng nhất là đổi mới trong tư duy mà trước hêt là tư duy trong kinh tế, chủ trương nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu khác nhau tham gia kinh doanh Nhờ đó kinh tế sống động, đạt tốc độ tăng trưởng cao, đời
sống nhân dân từng bước được cải thiện (Nghị định 115/CP ngày 18/7/1977 của chính phủ ban hành quy định Điều lệ về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).
- Năm 1987 tức khoảng sau một năm, Luật đầu tư đầu tiên của nước ta ra đời, khi đó dòng vốn đầu tư chủ yếu là từ Úc, Singapore… vào nước ta Thực tế Luật Đầu tư còn quá mới, nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc soạn thảo và thi hành luật này do vậy đã
mời chuyên gia Ấn Độ về tư vấn và sửa đổi luật lần đầu vào vào năm 1987 (Luật Đầu tư
Trang 3nước ngoài ngày 29/12/1987), sau đó Luật này được sửa đổi và bổ sung nhiều lần nữa vào
năm 1990, 1992
- Khi sự đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn thêm vào đó là các chính sách của nhà nước đối với hoạt đọng đầu tư có nhiều đổi mới, khi đó Nhà nước ban hành Luật đầu tư nước ngoài
ngày 12/11/1996, thay cho Luật Đầu tư 1987 Ngày 20/5/1998, Quốc hội thông qua Luật Khuyến khích đầu tư trong nước.
- Vào những năm 2005 – 2007, khi nước ta chuẩn bị gia nhập WTO,trước yêu cầu thực
tế và sức ép của thế giới ngày 29/11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư Có hiệu lực
từ ngày 1/7/2006 đề cập đến vấn đề đầu tư ở Việt Nam và chủ yếu nhắm đén các nhà đầu tư nước ngoài
- Đến ngày 26-11-2014, Luật Đầu tư năm 2014 (LĐT 2014) được Quốc hội thông qua
và thay thế Luật Đầu tư năm 2005 (LĐT 2005) So với LĐT 2005, LĐT 2014 có tinh thần mở hơn, phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn Dù vậy, đâu đó vẫn còn một sự lưỡng lự giữa mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài và bảo hộ đầu tư trong nước, giữa quyền quản lý của Nhà nước và quyền tự do đầu tư của nhà đầu tư
1.2 Sơ lược về nội dung Luật Đầu tư 2014
Theo thông tin từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính chung cả cấp mới và tăng vốn trong 12 tháng năm 2014, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 20,23 tỷ USD, bằng 93,5% so với cùng kỳ 2013 và tăng 19% so với kế hoạch 2014 (17 tỷ USD)
Từ con số trên, có thể thấy bất chấp kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, Việt Nam vẫn
là một điểm đến quan trọng của giới đầu tư quốc tế
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư (sửa đổi) với 7 chương, 76 điều, quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài:
CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG 2: ĐẢM BẢO ĐẦU TƯ
CHƯƠNG 3: ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
CHƯƠNG 4: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
CHƯƠNG 5: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI
CHƯƠNG 6: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ
CHƯƠNG 7: TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Trang 4Giới thiệu khái quát các nội dung mới của Luật đầu tư 2014.
Thứ nhất: Luật đã quy định rõ khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể như sau:
Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam
Thứ hai: Luật quy định thêm các đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư như dự án có quy
mô vốn từ 6000 tỷ đồng trở lên, dự án đầu tư tại vùng nông thôn có sử dụng từ 500 lao động trở lên…
Thứ ba: Luật bổ sung ngành, nghề ưu đãi đầu tư mới: sản phẩm công nghiệp hỗ trợ
công nghệ cao; sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên; sản phẩm tiết kiêm năng lượng; Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô…
Thứ tư: Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức
kinh tế, trừ các trường hợp sau:
- Trường hợp thứ nhất: tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết,
công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật chuyê ngành về chứng khoán
- Trường hợp thứ hai: tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp
nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước
- Trường hợp thứ ba: tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc hai quy định
trên, thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Thứ năm: Luật cũng sửa đổi, bổ sung ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; Danh mục
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh thu hẹp lại còn 6 ngành, nghề và có 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
II Tác động của luật đầu tư 2014
2.1 Bãi bỏ qui định cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong nước
Về cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (CNĐKĐT)
Theo Điều 45 Luật Đầu tư năm 2005 dự án đầu tư trong nước có qui mô vốn từ mười lăm tỷ trở lên hoặc dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì phải xin giấy chứng nhận đầu tư
Nay, việc cải cách thủ tục hành chính gắn liền với việc nâng cao trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc triển khai thực hiện dự án đầu tư, bao gồm: Bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận
Trang 5đăng ký đầu tư đối với tất cả các dự án đầu tư trong nước; đơn giản hóa hồ sơ, trình tự, thủ tục và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài (từ 45 ngày theo Luật Đầu tư 2005 xuống còn 15 ngày trong Luật Đầu tư 2014) Theo Luật Đầu tư 2014 thì dự án của nhà đầu tư trong nước sẽ không phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư1 Do đó nhà đầu tư chỉ cần hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) là được và đủ nhưng đối với trường hợp có nhu cầu cấp GCNĐKĐT, nhà đầu tư có quyền đề nghị cơ quan
có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp giấy này
Cởi trói cho đầu tư trong nước
Theo Luật Đầu tư 2005, dự án đầu tư trong nước có quy mô từ 15 tỉ đồng trở lên hoặc thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì phải xin giấy chứng nhận đầu tư, bất kể vốn đầu tư là vốn trong nước hay nước ngoài2 Vậy nên có chuyện một ông bác sĩ muốn mở phòng mạch nho nhỏ cũng có thể phải xin giấy phép đầu tư vì hoạt động đầu tư này thể bị xếp vào “lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng”
Giờ đây, theo Luật Đầu tư 2014, dự án của nhà đầu tư trong nước sẽ không phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và doanh nghiệp chỉ cần hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là đủ Điều này sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước tham gia vào hoạt động đầu tư
Luật Đầu tư 2014 bãi bỏ quy trình thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với nhà đầu
tư nước ngoài, áp dụng quy trình cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với thời hạn tối đa 15 ngày thay vì 45 ngày như Luật Đầu tư 2005 (Từ 3 quy trình: đăng ký cấp GCNĐT, thẩm tra cấp GCNĐT, cấp GCNĐT đối với dự án chấp thuận chủ trương đầu tư xuống còn 02 quy trình: cấp GCNĐKĐT và cấp GCNĐKĐT đối với dự án chấp thuận chủ trương đầu tư) Đồng thời, cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh thay vì cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư như hiện nay
Thời gian gần đây, không chỉ nhà đầu tư Việt Nam, mà báo chí quốc tế như Ý, Đức… cũng cho rằng Việt Nam đang có cải tiến rõ về thể chế và môi trường đầu tư Chính vì vậy trong tương lai gần sẽ có càng nhiều nhà đầu tư đầu tư vào Việt Nam
1 Theo Điểm a – Khoản 2 – Luật Đầu tư 2014
2 Theo Khoản 2 – Luật Đầu tư 2005
Trang 6Rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Theo điều 37 của Luật Đầu tư 2014, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho các dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư là năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư; còn đối với các dự án khác là 15 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan cấp phép nhận đủ hồ sơ Điều 40, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng
ký đầu tư điều chỉnh là 10 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan cấp phép nhận đủ hồ sơ
Có thể nói, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đã được Luật Đầu tư 2014 rút ngắn đáng kể so với Luật Đầu tư 2005 Tuy nhiên, xem xét thực tế cấp giấy chứng nhận đầu
tư hiện hành, chúng tôi thấy rất ít trường hợp nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận đầu tư đúng thời hạn theo quy định của Luật Đầu tư 2005 Liệu các nhà đầu tư có thể trông chờ vào bước đột phá của cơ quan cấp phép về mặt thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư?
Câu hỏi sẽ có câu trả lời sau khi Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2015.
2.2 Qui định về cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) cho dự án đầu tư có vốn nước ngoài
Theo Luật Đầu tư 2005 thì một trở ngại đối với nhà đầu tư là sự xung đột quy định giữa Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp Theo quy định luật Đầu tư 20053, nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế; Giấy chứng nhận đầu tư cấp cho nhà đầu tư nước ngoài đồng thời là Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh Lúc này, doanh nghiệp rơi vào tình trạng một cổ hai tròng, vừa phải tuân thủ Luật Đầu tư vừa phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong thời gian qua, việc thực hiện quy định về cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) cho dự án đầu tư
có vốn nước ngoài gặp nhiều vướng mắc mà trước hết là vướng mắc trong cách hiểu thế nào
là “lần đầu đầu tư vào Việt Nam” Quy định về Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhằm mục tiêu đơn giản hóa thủ tục cho nhà đầu tư nước ngoài, nhưng lại dẫn đến rất nhiều khó khăn cho nhà đầu tư bởi đây là hai loại giấy tờ khác nhau về bản chất pháp lý
Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM, theo quy định, thời gian cấp giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài là 45 ngày, nhưng trên thực tế thường mất nhiều tháng,
3 Khoản 1-Điều 51-Luật Đầu tư 2005
Trang 7thậm chí là vài năm Nguyên nhân dẫn đến sự bất cập kể trên, được ông Nguyễn Đình Cung, Quyền viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương chỉ ra, đó là, ở cả Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đều quy định giấy chứng nhận đầu tư cũng đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; trong khi để cấp giấy chứng nhận đầu tư các cơ quan chức năng phải xem xét đến rất nhiều yếu tố
Chính vì thực trạng trên, trong Luật Đầu tư 2014 đã quy định tách nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp ra khỏi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (hiện nay là giấy chứng nhận đầu tư), chỉ điều chỉnh các dự án đầu tư, còn việc thành lập doanh nghiệp sẽ do Luật Doanh nghiệp điều chỉnh Do vậy, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư giờ đây chỉ ghi nhận thông tin về dự án đầu tư
Khi tách thủ tục thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài gắn với thủ tục đầu
tư thành thủ tục đăng ký đầu tư cộng thủ tục thành lập doanh nghiệp với các thay đổi như sau: + Cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký doanh nghiệp như nhà đầu tư trong nước
+ Minh bạch, rõ ràng từng quy trình để thuận tiện trong thực hiện thủ tục hành chính, rút ngắn tổng thời gian thực hiện thủ tục
- Quy trình cụ thể: nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy CNĐKĐT tại cơ quan đăng ký đầu tư với thời hạn tối đa 15 ngày (trừ dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, UBND cấp tỉnh) sau đó đăng ký thành lập doanh
nghiệp trong thời hạn 3 ngày (Điều 22)
Qua quy định của Luật Đầu tư 2014 về trình thủ tục thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài giúp nhà đầu tư nước ngoài (FDI) thuận lợi hơn khi làm thủ tục đầu tư kinh doanh ở Việt Nam
2.3 Qui định về ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, đầu tư kinh doanh có điều kiện Quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư 2014 đã vạch rõ giới hạn của các ngành nghề cấm đầu
tư kinh doanh, thay vì cấm không rõ ràng chung chung trước đây tại Điều 30 Luật Đầu tư
2005 Thay đổi quan trọng nhất của Luật Đầu tư 2014 là việc tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch
để bảo đảm thực hiện nguyên tắc Hiến định về quyền tự do đầu tư kinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà Luật không cấm thông qua các quy định về ngành, nghề cấm đầu
tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện
Trang 8Việc tập hợp, rà soát và quy định cụ thể Danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh
và đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật Đầu tư 2014 theo phương pháp loại trừ (chọn bỏ)
đã góp phần đổi mới căn bản nguyên tắc áp dụng pháp luật, từ việc nhà đầu tư chỉ được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật cho phép sang nguyên tắc được tự do đầu tư kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà Luật này không cấm hoặc quy định phải có điều kiện
Cụ thể, trên cơ sở rà soát, loại bỏ các ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanh trùng lặp theo các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Thương mại, Luật Đầu tư 2014 quy định 06 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh bao gồm: (i) kinh doanh các chất ma túy theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Luật; (ii) kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật độc hại quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Luật; (iii) kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã theo quy định tại Phụ lục 1 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục
3 ban hành kèm theo Luật (iv) kinh doanh mại dâm; (v) mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; (vi) các hoạt động liên quan đến sinh sản vô tính trên người
Về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện: Trên cơ sở rà soát 386 ngành, nghề đầu
tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành, Luật đã quy định cụ thể Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh theo nguyên tắc:
+ Bãi bỏ các ngành, nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh không hợp lý, không rõ ràng, tạo ra gánh nặng chi phí tuân thủ đối với nhà đầu tư;
+ Sửa đổi một số điều kiện đầu tư kinh doanh theo hướng giảm thiểu hình thức cấp phép, xác nhận hoặc chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chuyển sang áp dụng chủ yếu hình thức ban hành quy định về tiêu chuẩn, điều kiện để nhà đầu tư tự đăng ký thực hiện và cơ quan quản lý tiến hành hậu kiểm;
+ Cập nhật, chuẩn xác tên gọi và hệ thống một số ngành, nghề nhằm phản ánh chính xác, minh bạch các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, tránh trùng lặp và tạo thuận lợi cho việc thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề này
Trang 9Trên cở sở nguyên tắc nêu trên, Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Phụ lục 4 của Luật Đầu tư 2014 gồm có 267 ngành, nghề
Luật cũng sửa đổi thẩm quyền quy định về ngành, nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh Theo đó, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện chỉ được quy định tại Luật Đầu tư còn điều kiện cụ thể đối với từng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Kể từ ngày Luật có hiệu lực thi hành (1/7/2015), ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác sẽ hết hiệu lực thi hành Các điều kiện áp dụng đối với 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư 2014 đang được quy định tại các văn bản dưới nghị định tiếp tục được áp dụng cho đến ngày 01/7/2016
Việc quy định về ngành nghề cấm đầu tư, ngành nghề kinh doanh có điều kiện là nhằm:
+ Dễ xác định ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, đầu tư kinh doanh có điều kiện do các ngành, nghề này được quy định tại một văn bản Luật;
+ Tăng tính minh bạch về việc cấm đầu tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Danh mục được quy định
+ Kiểm soát tập trung, giám sát chặt chẽ việc quy định các điều kiện đầu tư kinh doanh
*Hạn chế:
Tuy nhiên, còn chưa đầy 2 tháng nữa Luật Đầu tư (sửa đổi) sẽ có hiệu lực, song sự thiếu vắng các quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh trong hàng chục ngành nghề đang khiến các doanh nghiệp lúng túng
Thực hiện quy định của Luật Đầu tư mới có hiệu lực từ 1/7/2015, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư (KH&ĐT) đã rà soát, tập hợp và công bố điều kiện kinh doanh đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Thế nhưng theo kết quả được công bố thì vẫn có tới 21 ngành nghề mà doanh nghiệp vẫn chưa biết sẽ phải đáp ứng điều kiện gì để có thể được kinh doanh
Có thể kể đến một số lĩnh vực như kinh doanh pháo hiệu hàng hải; kinh doanh các loại pháo thuộc lĩnh vực quốc phòng; kinh doanh súng bắn sơn; kinh doanh quân trang, quân dụng
Trang 10cho lực lượng vũ trang, vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng cho quân sự, công an; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng; cung cấp dịch vụ nội dung thông tin, dịch vụ công nghệ thông tin trên mạng viễn thông di động, mạng Internet; kinh doanh sản phẩm và dịch vụ
an toàn thông tin; kinh doanh dịch vụ thu hồi, vận chuyển, xử lý sản phẩm thải bỏ…
Tại một hội thảo mới đây, ông Nguyễn Nội, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT), đặt vấn đề, khi chưa có điều kiện kinh doanh, ai muốn kinh doanh trong lĩnh vực này cũng được hay là cơ quan chức năng tạm dừng, không cấp phép những lĩnh vực này? Một ví dụ là lĩnh vực kinh doanh quân trang, quân dụng Trước đây, theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP của Chính phủ thì quân trang, quân dụng là các mặt hàng cấm kinh doanh Tương tự, theo Quyết định số 80/2006/QĐ-BQP ngày 9/5/2006 của Bộ Quốc phòng, đây là những mặt hàng cấm xuất nhập khẩu
Trên thực tế, quy định cấm sản xuất, kinh doanh mặt hàng này đã gây không ít khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp
Theo bà Đặng Phương Dung, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, đã có trường hợp doanh nghiệp dệt may bỏ lỡ một đơn hàng trị giá 2 tỷ USD từ Hoa Kỳ do vướng mắc từ quy định cấm nói trên
Lý do là hai bên đã thỏa thuận, nhưng khi gửi mẫu về Việt Nam thì đối tác kêu là hàng mẫu bị ách lại ở hải quan “Lúc ấy quả thật là tôi cũng không biết có quy định cấm đó”, bà Dung thừa nhận Tất nhiên qua rất nhiều thủ tục phức tạp thì doanh nghiệp cũng nhận được hàng mẫu sau cả tháng chờ đợi Nhưng đã muộn
Theo các doanh nghiệp, quy định nói trên không hợp lý Bởi dệt may cũng như nhiều ngành khác, việc sản xuất gia công theo đơn đặt hàng rất phổ biến Khi quân đội các nước có nhu cầu, ai thắng thầu thì sẽ được quyền sản xuất và cung ứng mặt hàng đó, cũng như quyền đặt các đối tác trên thế giới để sản xuất
Mỗi đơn hàng như vậy, doanh nghiệp lại phải gửi công văn tới Bộ Công Thương xin được sản xuất, xuất khẩu mặt hàng đó Nhưng Bộ Công Thương cũng không có quyền quyết định mà chỉ ghi nhận ý kiến, sau đó phối hợp với Bộ Quốc phòng trả lời doanh nghiệp