1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU MÔN LUẬT SO SÁNH

30 838 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 67,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Câu 1: Trình bày Lịch sử hình thành phát triển dòng họ civil law 2 Câu 2: Trình bày Lịch sử hình thành phát triển dòng họ Common Law hay gọi đơn giản hơn là hệ thống pháp luật Anh Mỹ: 4 Câu 3: Những đặc điểm khác nhau cơ bản của hai hệ thống này được thể hiện rõ nét nhất ở 4 tiêu chí: nguồn gốc của luật (origin of law); tính chất pháp điển hóa (codification); thủ tục tố tụng (Procedure); Vai trò của thẩm phán và luật sư (Role of the Jurists) 5 Câu 4: lịch sử pháp luật Anh chia làm 4 giai đoạn chính: 8 Câu 5: Nguồn luật của luật Anh 9 Câu 6:Common law không phân chia thành luật công và luật tư vì các lí do sau đây: 11 Câu 7:Cấu trúc hệ thốngCivil law 11 Câu 8:Nguồn luậtCivil law 12 2. Một số nguồn luật khác như : tập quán pháp, các học thuyết pháp luật... đặc biệt là án lệ ngày càng được sử dụng nhiều hơn do tính mềm dẻo và thực tiễn của nó. 13 Câu 9: So sánh đào tạo luật ở anh và Mỹ 13 Câu 10:Hệ thống tòa án mỹ 16 Câu 11: So sánh : Hệ thống tòa án của anh và Mỹ 18 Câu 12: So sánh đào tạo nghề luật ở Anh và Mỹ 21 Câu 13: Đào tạo nghề luật sư ở anh và mỹ 22 Câu 14: Đào tạo Nghề thẩm phán ở anh và mỹ 24 Câu 15: Tại sao luật Mỹ cùng chung dòng họ với luật Anh có những điểm tương đồng và khác biệt? 25 Câu 16 Phân tích 4 đặc điểm pháp luật Hồi Giáo 26 Câu 17 Đặc điểm của hệ thống pháp luật TQ thời phong kiến. 27 Câu 18Nguồn luật hiện nay của TQ. 27 Câu 19: ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT Ở TQ. 28

Trang 1

LUẬT SO SÁNH

M C L C Ụ Ụ

Trang 2

Câu 1: Trình bày Lịch sử hình thành phát triển dòng họ civil law

1 Giai đoạn từ thế kỉ V TCN đến thế kỉ VI SCN

- Sự ra đời của luật La Mã được đánh dấu bằng sự ra đời của luật 12 Bảng (449 TCN).Luật 12 Bảng chủ yếu là các tập quán Latinh và vay mượn luật pháp Hi Lạp cổ đại.Đó làcác qui tắc cơ bản chứ chưa phải là các văn bản pháp luật hoàn chỉnh.Tuy nhiên đây đượccoi là pháp điển sớm nhất của luật La Mã

- Năm 528, hoàng đế Justinian I (527-565), với ý đồ kết hợp giá trị pháp lí truyền thống

và những thành tựu đương thời, đã ra lệnh tập hợp, củng cố, hệ thống hóa và điển chế hóaluật La Mã và Tập hợp các chế định luật dân sự Coprus Juris Civils ra đời

2 Giai đoan từ thế kỉ XI đến thế kỉ XVIII

- Từ thế kỉ V đến thế kỉ X, luật La Mã ở châu Âu bị lu mờ, thậm chí bị tầm thường hóabởi các tộc người Giecmanh xâm chiếm lãnh thổ La Mã

- Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIII, "thời kì phục hưng" của luật La Mã được đánh dấu bằng sựkiện Bộ tổng luật Corpus Juris Civils được nghiên cứu và đem vào giảng dạy tại cáctrường đại học tổng hợp châu Âu Trường đại học tổng hợp Bologna (Ý) là trung tâm đầutiên giảng dạy luật La Mã ở châu Âu cuối thế kỉ XI

Quá trình nghiên cứu và giảng dạy đã làm "sống lại" và dần hoàn thiện luật La Mã Kéotheo đó là sự ra đời của các trường phái mà mỗi trường phái nhấn mạnh tới và có mộtphương pháp riêng trong bình luận và giải thích luật La Mã (4) Đó là : trường phái củacác luật sư (glossators), trường phái của các nhà bình luận (post - glossators), trường pháicủa các nhà nhân văn (humanistes), trường phái của các nhà pháp điển hiện đại(pandectists), trường phái pháp luật tự nhiên (natural law) trong đó trường phái pháp luật

tự nhiên đóng vai trò quan trọng nhất

Thuyết pháp luật tự nhiên cho rằng luật tồn tại sẵn có trong tự nhiên mà những người làmluật nên cố gắng tuân theo Trường phái này không coi pháp luật như một hiện tượng tựnhiên mà là một sản phẩm của lí trí, phù hợp với điều kiện XH.Trường phái này khởixướng và hình thành xu hướng thay đổi nhận thức về vai trò pháp luật trong khoa họcpháp lí, bác bỏ lối nhận thức kinh viện, máy móc

Trường phái này có 2 sự thành công lớn nhất:

+ Khẳng định tầm quan trọng của việc phân chia luật công (Ius publicum) và luật tư (Iusprivatum) trong đó nhấn mạnh việc phát triển pháp luật công sẽ là cơ sở cho phát triển

Trang 3

pháp luật tư tức là bảo đảm các quyền tự nhiên của con người cũng như tự do của mỗi cánhân.

+ Nâng kĩ thuật lập pháp lên pháp điển hóa Tư tưởng của trường phái pháp luật tự nhiên

là biến pháp luật được giảng dạy tại các trường đại học thành pháp luật thực định.Tưtưởng này được đưa vào XH làm các nhà cầm quyền thấy cần phải xem xét lại toàn bộ hệthống pháp luật.Từ đó dẫn đến pháp điển hóa.Tuy nhiên việc pháp điển hóa các bộ luật ởcác nước khác nhau là khác nhau.Điều này dẫn đến việc Civil law được áp dụng linhhoạt, mềm dẻo tại các nước (khác với Common law được áp dụng một cách đồng bộ).Tuy nhiên pháp điển hóa - kết quả của trường phái luật tự nhiên cũng có mội số hạn chếnhư : coi trọng pháp luật quốc gia mà bỏ qua ý tưởng luật là qui tắc ứng xử XH và có bảnchất siêu quốc gia ; làm xuất hiện trường phái thực chứng pháp luật (legal positivist) đánhgiá quá cao pháp điển hóa, chỉ coi văn bản qui phạm pháp luật là nguồn và không côngnhận tư tưởng luật tự nhiên

3 Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nay

- Các nguyên tắc và nền tảng của luật La Mã tiếp tục được kế thừa phát triển ở giai đoạnCách mạng tư sản cuối thế kỉ XVIII cùng với tên tuổi của các nhà tư tưởng như :Montesquieu (1689 - 1775), Rousseau (1712 - 1778)

- Sang thế kỉ XIX, hệ thống pháp luật châu Âu diễn ra xu hướng pháp điển hóa mạnh mẽ.Nổi bật nhất là sự ra đời của Bộ luật Dân sự Pháp ( Bộ luật Napoleon 1804) Đây là bộluật dung hòa giữa pháp luật La Mã và pháp luật phong kiến, tập quán và luật thành văn,quan điểm tôn giáo và trào lưu phi tôn giáo

Bộ luật Dân sự Napoleon được coi là kinh điển cho các nước Civil law vì:

+ Hầu như mọi quan hệ dân sự chủ yếu trong XH đều được bộ luật điều chỉnh.+ Được coi là tạo ra cuộc cách mạng về kĩ thuật lập pháp : các chương, điều,qui phạmpháp luật được sắp xếp theo từng chế định, trình bày rõ ràng và logic ; các khái niệm,nguyên lí, nguyên tắc trong bộ luật được nêu ngắn gọn, chuẩn xác và đầy đủ

- Ngày nay, Civil law được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, có những học tập từnhững hệ thống pháp luật khác trên thế giới, đặc biệt là từ hệ thống Common law.Civil law được mở rộng ra thế giới thông qua 2 con đường.Thứ nhất là mở rộng thuộc địa(chủ yếu) Thứ hai là do sự học hỏi văn minh pháp lí phương Tây của các nước

Trang 4

Câu 2: Trình bày Lịch sử hình thành phát triển dòng họ Common Law hay gọi đơn giản hơn là hệ thống pháp luật Anh - Mỹ:

dòng họ Common Law là pháp luật ra đời ở Anh, sau này phát triển ở Mĩ và

những nước là thuộc địa của Anh, Mĩ trước đây Đây là hệ thống pháp luật phát triển từnhững tập quán (custom), hay còn được gọi là hệ thống pháp luật tập quán, hay hệ thốngpháp luật coi trọng tiền lệ (precedents/ judge made law)

Common Law hiện nay cần phải được hiểu theo 3 nghĩa khác nhau:

- Thứ nhất, đó là một hệ thống pháp luật lớn trên thế giới dựa trên truyền thống hệ thốngpháp luật của Anh;

- Thứ hai, trên phương diện nguồn luật, án lệ (Case law) của Common Law được tạo rabởi tòa án, phân biệt với đạo luật của Nghị viên;

- Thứ ba, trên phương diện hệ thống Tòa án, Tòa án và các án lệ của Common Law cũngkhác biệt với Tòa án và các án lệ của Equity Law

Về lịch sử hình thành, nguồn gốc của hệ thống luật này bắt đầu từ năm 1066 khi

người Normans xâm chiếm Anh quốc và Hoàng Đế William bắt đầu tập trung quyền lựcvào tay triều đình mới Thuật ngữ luật chung ( Common Law ) xuất phát từ quan điểmcho rằng các tòa án do nhà vua lập ra, áp dụng các tập quán chung ( Common Custom)của vương quốc, trái ngược với những tập tục luật pháp địa phương áp dụng ở các miềnhay ở các tòa án của điền trang, thái ấp phong kiến

Các nguyên tắc bền vững của luật chung đã được tạo ra bởi ba tòa án được vuaHenry II (1133 - 1189) thành lập là Tòa án Tài chính (Court of Exchequer) để xét xử cáctranh chấp về thuế; Tòa án thỉnh cầu phổ thông ( Court of Common Pleas) đối với nhữngvấn đề không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhà vua; và Tòa án Hoàng Đế ( Court

of the King’s Bench) để giải quyết những vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi củaHoàng gia

Thực chất, trước đó dưới thời của Hoàng đế William, những tập quán của Anh ítnhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa Đức ở Châu Âu lục địa Tòa án lúc đó là những ngườidân được triệu tập để cùng giải quyết tranh chấp và nếu không xử được người ta dùngphương pháp thử tội (ordeal) bằng việc bắt bị cáo cầm vào một miếng sắt nung đỏ, hoặccầm một viên đá đã được ngâm trong nước sôi, hoặc hình thức thề độc Nếu vết thương

đó lành sau một thời gian xác định, anh ta sẽ bị tuyên là vô tội và ngược lại

Năm 1154, Vua Henry II đã tạo ra một hệ thống luật chung và sáng tạo ra một hệthống tòa án thống nhất đầy quyền năng, ông đưa các thẩm phán từ tòa án Hoàng gia đi

Trang 5

khắp nơi trong nước và sưu tầm, chọn lọc cách thức giải quyết các tranh chấp Sau đónhững thẩm phán này sẽ trở về thành Luân đôn và thảo luận về những vụ tranh chấp đóvới các thẩm phán khác Những phán quyết này sẽ được ghi lại và dần trở thành án lệ(precedent), hay theo Tiếng Latin là stare decisis Theo đó, khi xét xử thẩm phán sẽ chịu

sự ràng buộc bởi những phán quyết đã có từ trước đó Thuật ngữ “Common Law” bắt đầuxuất hiện từ thời điểm đó.Như vậy trước khi Nghị viện ra đời trong lịch sử pháp luật củaAnh, Common Law đã được áp dụng trên toàn bộ vương quốc trong vài thế kỉ

Đến thế kỷ thứ 15, khi đó xuất hiện một thực tiễn pháp lý là khi luật “CommonLaw” không đủ sức để giải quyết một vụ việc, và người đi kiện cho rằng cách giải quyếtcủa Common Law là chưa thỏa đáng Thí dụ, trong một vụ kiện về đất đai, người đi kiệncho rằng khoản tiền bồi thường mà theo cách giải quyết của Common law là không đủbồi thường cho hành vi mà người xâm phạm đã cướp không của họ, họ yêu cầu rằngngười vi phạm này còn phải bị đuổi và phải trả lại phần đất lấn chiếm đó Chính điều này

là cơ sở để xuất hiện hệ thống mới là hệ thống pháp luật công bình (system of equity),đồng thời xuất hiện thiết chế Tòa công bình, do viên Tổng chưởng lý (Lord Chancellor)đứng đầu Về bản chất thì luật công bình vẫn chiếm ưu thế hơn so với luật Common Lawtrong trường hợp có sự xung đột.Điều này đã được nêu trong Đạo luật hệ thống tư pháp(Judicature Acts) năm 1873 và 1875

Ngày nay bên cạnh án lệ với tư cách là một loại nguồn pháp luật đặc thù của hệthống Common Law, luật thành văn và các loại qui tắc khác cũng được coi là một bộphận cấu thành của hệ thống pháp luật này Khi xét xử những nước theo hệ thống phápluật Common Law thường căn cứ vào hai câu hỏi lớn, đó là câu hỏi sự thật khách quan(question of fact) và câu hỏi về luật - theo nghĩa rộng(question of law) Trong bất cứ vụviệc nào, ngày nay khi xét xử các thẩm phán của Common Law vẫn dựa cả vào án lệ, luậtviết và những căn cứ thực tế để xét xử

Câu 3: Những đặc điểm khác nhau cơ bản của hai hệ thống này được thể hiện rõ nét nhất ở 4 tiêu chí: nguồn gốc của luật (origin of law); tính chất pháp điển hóa (codification); thủ tục tố tụng (Procedure); Vai trò của thẩm phán và luật sư (Role

of the Jurists)

3.1 Về nguồn gốc của luật:

Trong pháp luật lục địa, các quan hệ tài sản gắn liền với những nguyên tắc củaLuật dân sự La Mã - Tập hợp những qui định pháp luật làm nền tảng cho Luật dân sự La

Mã của Hoàng đế Justinian (Justinian’s Corpus Juris Civilis) Nói đến sự ảnh hưởng củaLuật La Mã, Mác đã từng nhận xét rằng pháp luật các nước Châu Âu không thể đem lại

Trang 6

những hoàn thiện đáng kể cho Luật La Mã cổ đại mà chỉ sao nó lại một cách cơ bản.Pháp luật Anh - Mỹ không ảnh hưởng sâu sắc và gắn bó mật thiết với những nguyên tắccủa luật dân sự La Mã như pháp luật lục địa.Tuy nhiên cả hai hệ thống pháp luật này đều

ít nhiều đều thừa hưởng sự giàu có và tính chuẩn mực của thuật ngữ pháp lý La Mã Ví

dụ : stare decisis (Phán quyết của Tòa án trước đó phải được công nhận như tiền lệ);pacta sunt servandas (Hợp đồng phải được tôn trọng)

Sự ảnh hưởng của các học thuyết pháp lý, với tư cách là một nguồn luật thì ởCommon Law có xu hướng áp dụng nhiều hơn so với các nước theo truyền thống Civillaw

3.2.Về tính chất pháp điển hóa

Quan niệm tiếp cận pháp luật của hai hệ thống pháp luật này là khác nhau Hệthống Civil law quan niệm luật pháp là phải từ các chế định cụ thể (All law resides ininstitutions), còn hệ thống Common law lại quan niệm luật pháp được hình thành từ tậpquán (All law is custom)

Ưu điểm rõ nét của các Bộ luật trong Civil Law là tính khái quát hóa, tính ổn địnhcao (certainty of law).Pháp luật Common Law dựa chủ yếu trên nguồn luật là tiền lệ pháp(Stare decisis Thẩm phán vừa là người xét xử vừa là người sáng tạo ra pháp luật mộtcách gián tiếp Ưu điểm rõ nét nhất của các tập quán là tính cụ thể, linh hoạt và phù hợpvới sự phát triển của các quan hệ xã hội

Pháp luật lục địa chia thành luật công (public law) và luật tư (private law), cònpháp luật Anh - Mỹ khó phân chia.Công pháp bao gồm các ngành luật, các chế định phápluật điều chỉnh các quan hệ về tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, những quan

hệ mà một bên tham gia là các cơ quan nhà nước.Còn tư pháp bao gồm các ngành luật,các chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến các cá nhân, tổ chức khác

3.3 Về thủ tục tố tụng

Hệ thống pháp luật lục địa phát triển hình thức tố tụng thẩm vấn, tố tụng viết(inquisitorial system/ written argument), còn Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ phát triểnhình thức tố tụng tranh tụng (Case system/ oral argument).Tuy nhiên cũng không hoàntoàn đúng nếu khẳng định rằng hệ thống Civil Law không hề áp dụng việc suy đoán vôtội (presumption of innocence)

Khi xét xử, các nước theo hệ thống Common Law rất coi trọng nguyên tắc Dueprocess Đây là nguyên tắc được nhắc đến trong tu chính án thứ 5 và 14 của Hoa Kỳ Nộidung chính của nguyên tắc này nói đến ba yêu cầu chính:

Trang 7

yêu cầu bình đẳng của các đương sự trong việc đưa ra chứng cứ trước Toà (equalfooting); yêu cầu qui trình xét xử phải được tiến hành bởi một Thẩm phán độc lập cóchuyên môn, cùng một bồi thẩm đoàn vô tư, khách quan (fair trial and impartial jury);yêu cầu luật pháp phải được qui định sao cho một người dân bình thường có thể hiểuđược hành vi phạm tội (Laws must be written so that a reasonable person can understandwhat is criminal behavior) Hệ thống Civil Law dựa trên qui trình tố tụng thẩm vấn(inquisitorial system) nên trong các vụ án hình sự, thẩm phán căn cứ chủ yếu vào Luậtthành văn, kết quả của cơ quan điều tra, và quá trình xét xử tại Toà để ra phán quyết.

Toà án ở các nước theo truyền thống Common Law được coi là cơ quan làm luậtlần thứ hai, hay cơ quan sáng tạo ra án lệ (The second Legislation) Ngược lại ở các nướctheo truyền thống Civil Law, chỉ có Nghị viện mới có quyền làm luật, còn Toà án chỉ là

cơ quan áp dụng pháp luật

Ở các nước theo truyền thống Common Law đa phần các hiệp định quốc tế khôngphải là một phần của luật quốc nội/ luật quốc gia (domestic law) Chúng chỉ có thể đượctoà án áp dụng khi các hiệp định quốc tế đã được nội luật hoá bởi cơ quan lập pháp Cácnước theo truyền thống Civil Law thì khác, ví dụ như ở Thụy Sĩ, các điều ước quốc tếđược áp dụng trực tiếp như là một phần của luật quốc nội, vì vậy các Toà án có thể trựctiếp áp dụng các điều ước quốc tế khi xét xử

3.4 Về vai trò của luật sư và thẩm phán, chứng cứ:

Pháp luật Anh - Mỹ do án lệ là nguồn cơ bản, đặc biệt với truyền thống coi trọngchứng cứ nên luật sư, thẩm phán rất được coi trọng Pháp luật lục địa do văn bản quiphạm pháp luật là nguồn chủ yếu, đồng thời do thông lệ "án tại hồ sơ" - quá trình điều traphụ thuộc phần lớn vào kết quả của cơ quan điều tra do vậy luật sư ban đầu ít được coitrọng như các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ Thẩm phán ở các nước Civil Lawchỉ tiến hành hoạt động xét xử mà không được tham gia hoạt động lập pháp, họ khôngđược tạo ra các chế định, các qui phạm pháp luật

Thẩm phán của Civil law được đào tạo theo một qui trình riêng, họ thường trước

đó không phải là các luật sư Nhưng ở Common Law thì khác, thẩm phán hầu hết đềuđược lựa chọn từ những luật sư rất danh tiếng;

Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau của hai hệ thống pháp luật này có rất nhiều, có

cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng cơ bản vẫn là do tiến trình phát triển củacách mạng tư sản khác nhau quyết định.Cách mạng tư sản ở các nước đã diễn ra với tínhchất, mức độ triệt để là khác nhau, có nước cách mạng chống phong kiến diễn ra triệt để,

có nước không triệt để

Trang 8

Câu 4: lịch sử pháp luật Anh chia làm 4 giai đoạn chính:

1 Giai đoạn trước năm 1066: Anglo – Saxon

- Từ thế kỉ I đến thế kỉ V, đế chế La Mã thống trị nước Anh song không để lại dấu tích gìđáng kể, kể cả về mặt pháp luật

- Thời kì này, nước Anh chia làm nhiều vương quốc nhỏ với các hệ thống pháp luật mangtính địa phương, chủ yếu là ảnh hưởng từ các qui tắc tập quán và thực tiễn của các bộ lạcngười Giecmanh (Germanic tribes)

- Khi các bên có tranh chấp thường áp dụng tập quán địa phương để phân xử Nhữngngười già sẽ đứng ra giải thích chính xác các tập quán địa phương áp dụng cho các tranhchấp đó

2 Giai đoạn 1066 - 1485: Common law ra đời

- Năm 1066 người Norman đánh bại người Anglo - Sacxon, thống trị nước Anh William(người Pháp) lên ngôi vua, mở ra một thời kì mới trong lịch sử nước Anh và mở đầu chogiai đoạn hình thành Common law.Ông vẫn duy trì tập quán pháp của Anh.Nhưng trênthức tế lại cố làm cho mọi người quên đi ảnh hưởng của quá khứ và xây dựng một chế độphong kiến tập quyền nhằm nắm độc quyền trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội kể cảlĩnh vực tư pháp

- Thời Henry II là giai đoạn phát triển của một hệ thống Common law có tính chất quốcgia (a national Common law) Ông gửi các thẩm phán hoàng gia tới nắm tòa án ở các nơi.Trong nhiều thập kỉ, họ đã phải cạnh tranh với các tòa án ở địa phương: tòa án của tỉnh(county), tòa án giáo hội, tòa án của lãnh chúa phong kiến Đến cuối thế kỉ XIII, các Tòa

án Hoàng gia thắng thế trong việc xét xử vì chất lượng xét xử tốt và trình độ chuyên môncao Dần dần, các tòa án địa phương lấy án lệ của Tòa án Hoàng gia làm khuôn mẫu.Common law bắt đầu chiếm vị trí quan trọng và thu hút nhiều công việc pháp lí, mặc dùtrong một thời gian dài đã phải cạnh tranh với nhiều hệ thống pháp lí:

luật tập quán địa phương, luật thương gia hay các qui tắc tập quán phong kiến

Và cũng không thể phủ nhận rằng Common law đã vay mượn nhiều vấn đề từ các hệthông pháp lí nói trên để đạt được sự tiến bộ to lớn (1)

Thời kì này cần phải nhắc đến sự ra đời và phát triển của hệ thống writ (gọi là trát haytạm dịch là lệnh gọi ra tòa) Một người muốn kiện lên tòa án Hoàng gia phải đến Ban thư

kí của nhà vua (chancery), đóng phí và được cấp writ Writ nêu rõ cơ sở pháp lí mà bênnguyên đưa ra cho vụ việc của mình

Có thể nói hệ thống writ là trái tim của Common law, no writ no remedy (tạm dịch

là không có writ thì không có chế tài) W.S.Holdsworth, một nhà sử học nổi tiếng vềCommon law đã tuyên bố về vai trò chính yếu của hệ thống writ: "Common law đã pháttriển xung quanh hệ thống writ của hoang gia Chúng đã tạo thành cơ sở để xây đắp nêntòa nhà của nó"

Trang 9

Hệ thống writ mang đặc trưng của pháp luật Common law, chứng tỏ vai trò quan trọngcủa các thủ tục tố tụng Đó cũng là lí do các luật gia Common law không tìm hiểu nộidung thực định phức tạp trong luật tư của Luật La Mã (họ cho rằng luật La Mã chỉ giúpcho việc tìm kiếm giải pháp đúng đắn cho tranh chấp nhưng chưa cho phép thắng kiện).

3 Giai đoạn 1485- 1832: phát triển Equity law

- Equity law (luật công bằng) được hình thành dựa trên cơ sở coi nhà vua là biểu tượngcủa công lí

- Trong trường hợp Common law không đáp ứng được cho bên bị thiệt hại tức là khôngđảm bảo được tính công bằng thì một công chức của tòa án (chancellor) sẽ trình vụ việclên nhà vua Thông qua các đơn từ gửi tới nhà vua và phán quyết của các chancellors, dẫnđến việc hình thành một hệ thống pháp luật thứ hai gọi là luật công bằng (Equity law hayChancery justice) Học thuyết về Equity law mang nhiều yếu tố của luật La Mã vì cácchancellors thường là các mục sư bị ảnh hưởng của luật giáo hội (cannon law)- một loạiluật có cơ sở gần gũi với luật La Mã (2)

4 Giai đoạn 1832- nay: giai đoạn hiện đại

- Đây là giai đoạn cải cách và phát triển pháp luật Anh với sự xuất hiện của nhiều luật,tòa án hành chính, văn bản hành chính Đặc biệt là việc gia nhập EEC năm 1972 có tácđộng đến sự phát triển của hệ thống pháp luật Anh

- Ngày nay, các luật gia Anh ngày càng quan tâm và có nhiều học hỏi từ hệ thống Civillaw

* Common law được mở rộng ra thế giới thông qua 2 con đường

Thứ nhất là chinh phục thuộc địa (chủ yếu)

Thứ hai là các nước chủ động tiếp thu, chấp nhận một cách tự nguyện với việc thiết lập

và thúc đẩy quan hệ chính trị, thương mại với Anh

Câu 5: Nguồn luật của luật Anh

1 Án lệ (case law)

- Án lệ là nguồn chính của các nước Common law, phân biệt với các nước Civil law coipháp luật thành văn (status law) làm nguồn chính Hệ thống án lệ này sẽ được phát triểnqua các vụ việc được tòa án xét xử

Việc sử dụng án lệ làm nguồn chính cho thấy đặc điểm tư duy pháp lí củaCommon law: đó là chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricism) hay lối suy luận qui nạp đi từtrường hợp cá biệt đến cái tổng quát, nguyên tắc Hệ quả tích cực của nó là làm thành một

hệ thống Common law mở, gần gũi với đời sống thực tế, tạo nên tính chủ động sáng tạo,mềm dẻo và linh hoạt trong tư duy pháp luật Đồng thời cũng hạn chế sự phát sinh củaluật (trong trường hợp nhiều vụ án tương tự nhau có thể cùng áp dụng một án lệ)

Trang 10

Tuy nhiên việc sử dụng án lệ là nguồn chính cũng có mặt tiêu cực Nguyên nhân là

vì án lệ là một nguồn mà cần phải liên tục thay đổi Điều này vi phạm nguyên tắc cơ bảncủa pháp luật: đó là tính ổn định (dù chỉ ở mức tương đối) Có 2 lí do chính cần phải đổimới hệ thống án lệ Thứ nhất là do bản thân án lệ ngay từ đầu đã bất hợp lí nên thay đổi

là cần thiết Thứ hai là do cuộc sống thay đổi liên tục và ngày càng phức tạp Án lệ có thể

đã tồn tại trong một khoảng thời gian nhưng những qui phạm tiềm ẩn trong án lệ khôngcòn phù hợp để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội

- Đặc điểm của án lệ:

+ Phải đáp ứng được điều kiện về nguyên tắc, đòi hỏi của thực tiễn đời sống và pháp luật

Nó khiến cho pháp luật gần gũi hơn với đời sống thực tế

+ Phải đảm bảo tính chắc chắn và ổn định của hệ thống pháp luật

+ Nguyên tắc stare decisis (học thuyết án lệ): tranh chấp tương tự cần đạt kết quả pháp lítương tự Thẩm phán phải tuân thủ các phán quyết đã được tuyên trước đó, đặc biệt đốivới những phán quyết của tòa án cấp cao hơn Điều này góp phần tạo nên một hệ thốngpháp luật thống nhất, tránh được hiên tượng một vụ án mà tòa án các cấp khác nhau đưa

ra chế tài khác nhau

+ Tồn tại từ lâu phù hợp với vụ án cần xét xử Thẩm phán chính là người tìm ra và ápdụng án lệ Tuy nhiên trên thực tế công việc này hết sức khó khăn vì tìm ra một án lệ phùhợp trong cả một hệ thống án lệ đồ sộ để áp dụng một cách thỏa đáng không phải là dễ.+ Chỉ có những bản án có tính chất bắt buộc mới trở thành án lệ và có tính pháp lí Còncác bản án khác chỉ có tính gợi ý, tham khảo Ví dụ như ở Anh, chỉ có Tòa án tối cao mớiđược phép ban hành án lệ, các tòa án cấp dưới phải tuân theo Các án lệ bắt buộc đượcviết trong Law Reports, All England Law Reports, Weekly Law Reports tức là nhìn ởkhía cạnh nào đó là đã được pháp điển hóa Đây có thể coi là một minh chứng cho sựxích lại gần nhau của 2 hệ thống Common law và Civil law

2 Lẽ phải

- Lẽ phải cũng là một nguồn luật thể hiện nét đặc thù của Common law

- Trong trường hợp một vụ án phát sinh không có tiền lệ pháp phù hợp, không có luậtthành văn hay tập quán pháp thì thẩm phán chính là ngưới tạo ra luật pháp bằng cách sửdụng lẽ phải thông qua việc:

+ Viện dẫn các tập quán không có giá trị bắt buộc hoặc bản án không phải là án lệ hoặccác obiter dicta (bình luận, nhận xét của thẩm phán)

+ Viện dẫn các án lệ nước ngoài (Mỹ, Canada ) thậm chí cả án lệ của các nước Civillaw

3 Một số nguồn luật khác như: học thuyết pháp luật, tập quán pháp đặc biệt là

các văn bản pháp luật ngày càng được sử dụng nhiều ở các nước Common law như là hệquả của việc học tập hệ thống luật lục địa

Trang 11

* Có thể thấy vai trò của các thẩm phán và luật sư tại các nước Common law là rấtquan trọng:

Thẩm phán vừa là người sáng tạo ra luật pháp (người ta thường gọi Common law

là hệ thống pháp luật được tạo nên bởi các thẩm phán (judge - made law)), vừa là ngườigiải thích và áp dụng lật pháp, kiểm soát các thủ tục tố tụng rất được coi trọng ở các nướcCommon law Tuy nhiên trong giải thích các văn bản pháp luật, các thẩm phán coi đó làchỉ thị của cấp trên phải tuân theo song lại hạn chế tối đa việc làm xáo trộn hệ thống án

lệ Đó là do truyền thống là nhằm tới việc cung cấp giải pháp cho từng vụ việc cụ thể hơn

là tạo ra các công thức pháp lí nói chung nhằm điều chỉnh các quan hệ trong tương lainhư ở hệ thống Civil law

Thẩm phán được lựa chọn từ một tổ chức gồm các luật sư thực hành(barrister).Những luật sư thực hành được phân cấp và thẩm phán chỉ được lựa chọn từnhứng luật sư thực hành cấp cao hơn, giỏi và giàu kinh nghiệm (thường là có từ 10 nămkinh nghiệm trở lên)

Luật sư tại các nước Common law đặc biệt rất được coi trọng Do thủ tục tố tụngmang tính tranh tụng: các bên tham gia váo thủ tục tố tụng được coi là có địa vị pháp líbình đẳng với nhau, thẩm phán chỉ có vai trò người trung gian phân xử, không tham giavào quá trình tranh tụng nhưng lại là người đưa ra phán xét cho vụ án Họ chủ yếu Vì vậybên nguyên hay bên bị, bên nào muốn thắng kiện thì hoàn toàn dựa vào tài biện hộ củaluật sư bên đó

Câu 6:Common law không phân chia thành luật công và luật tư vì các lí do sau đây:

- Sự phân biệt này ít có ý nghĩa trong thời kì phong kiến ở Anh, giai đoạn đầu của

sự phát triển Common law, vì các quyền công và tư được xác định thông qua quyền lợi vềtài sản, nhưng không có sự phân biệt giữa sở hữu tài sản và các sơ quan công theo kiểuCivil law

- Có một hệ thống tòa án trở thành nơi xem xét các hoati động lập pháp, hànhpháp, kể cả trong tranh chấp tư Do vậy không có sự phân biệt hoàn toàn về quyền lựctheo kiểu Civil law

- Các học giả Mỹ ban đầu đã có khuynh hướng lờ đi sự phân biệt đó và xem nhưkhông cần thiết cho xu hướng tổng hợp các quyết định phán xử

Câu 7:Cấu trúc hệ thốngCivil law

- Civil law đặc biệt nhấn mạnh phân chia các ngành luật, đặc biệt là phân chiathành luật công và luật tư

Luật công điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan nhà nước và cá nhân hoặc giữa các cơquan nhà nước với nhau Đặc điểm của luật công là:

Trang 12

+ QPPL mang tính tổng quát.

+ Đối tượng điều chỉnh: lợi ích công

+ Phương pháp điều chỉnh: mệnh lệnh, thể hiện ý chí đơn phương của các cơ quan

có thẩm quyền

+ Mang tính bất bình đẳng, cơ quan nhà nước có đặc quyền

Luật tư điều chỉnh quan hệ giữa các cá nhân với nhau Đặc điểm của luật tư là:

+ Đối tượng điều chỉnh: lợi ích, tự do cá nhân

+ Phương pháp điều chỉnh: thỏa thuận ý chí

+ Mang tính chất công bằng hơn, bảo vệ được lợi ích của công dân

- Nguyên nhân Civil law phân chia luật công và luật tư là do các luật gia quan niêm

rằng:

+ Quan hệ giữa người bị trị và người bị trị là quan hệ đặc thù cần phải có QPPL riêng đểđiều chỉnh

+ Lợi ích công và tư là không thể so sánh

Đây cũng chính là thành công của xu hướng pháp điển hóa

Câu 8:Nguồn luậtCivil law

1 Luật thành văn (qui phạm pháp luật, hiến pháp, điều ước quốc tế, bộ luật, đạo luật )

- Luật thành văn là nguồn chính của Civil law trong đó quan trọng nhất là các qui phạm

pháp luật

Việc sử dụng luật thành văn làm nguồn chính cho thấy đặc điểm tư duy pháp lí của Civillaw: đó là chủ nghĩa duy lí (rationalism) hay tư duy theo lối diễn dịch, đi từ cái phổ quátđến trường hợp cá biệt Phương pháp tư duy này bắt nguồn từ viêc coi trọng pháp điểnhóa, khái quát các trường hợp của cuộc sống Nó dẫn tới hệ quả quan trọng là làm thànhmột hệ thống pháp luật đóng, kém linh động, giới hạn các thẩm phán trong việc áp dụngcác văn bản pháp luật có sẵn, từ đó dẫn đến sự ỷ lại, bị động và kém sáng tạo trong hoạtđộng xét xử

- Đặc điểm của qui phạm pháp luật :

+ Được pháp điển hóa trong các văn bản pháp luật và thường là do cơ quan lập pháp cóthẩm quyền ban hành Các thẩm phán trong quá trình xét xử có nhiệm vụ áp dụng các quiphạm pháp luật mà không được tự tạo ra qui phạm pháp luật tức là không được tham giavào hoạt động lập pháp.Phán quyết của tòa không tạo thành tiền lệ pháp

+ Nguyên tắc sự thống trị của luật (règle de droit) : hầu hết các qui phạm pháp luật đượcxây dựng sao cho mang tính khái quát nhất, toàn diện nhất, chính xác nhất để thẩm phán

có thể tìm thấy ngay trong qui phạm pháp luật giải pháp cho mọi tranh chấp nảy sinh cóliên quan, không cần phải giải thích

Trang 13

Tuy nhiên các nhà lập pháp thì không thể khái quát toàn bộ cuộc sống.Vì thế mà khi đưa

ra giải pháp cho trường hợp cụ thể thì không thể áp dụng ngay một QPPL mà cần phảisuy xét nó trong cả một hệ thống.Điều này tạo nên rắc rối rất lớn, có thể xảy ra trườnghợp các QPPL mâu thuẫn nhau trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống XH

2 Một số nguồn luật khác như : tập quán pháp, các học thuyết pháp luật đặc biệt là án

lệ ngày càng được sử dụng nhiều hơn do tính mềm dẻo và thực tiễn của nó

Câu 9: So sánh đào tạo luật ở anh và Mỹ

a Điểm giống nhau:

Thứ nhất, về tuyển sinh đầu vào Ở cả Anh và Mỹ đều tuyển sinh đầu vào rất khắt khe.

Các thí sinh muốn thi vào khoa luật ở một trường đại học nào đó của Anh thường phải lànhững học sinh xuất sắc, có điểm thi đầu vào đạt mức “ A “ Vì vậy, trong tiềm thức củangười Anh, một khi đã trở thành sinh viên luật thì sinh viên đó hiển nhiênphải tốt nghiệp đại học và sẽ có bằng cử nhân luật Còn ở Mỹ, một số khoa luật chỉchọn được một sinh viên trong số năm hoặc mười người dự tuyển Việc tuyển sinh vào

trường luật có tính chọn lọc cao.

vd: Đầu vào tương đối khó, trên cơ sở tuyển lựa những thí sinh có thành tích cao nhất trong học tập, sau đó là một kỳ kiểm tra gắt gao, gọi tắt là LSAT Chẳng hạn, hàng năm

có khoảng 5000 thí sinh thi tuyển vào trường Luật Yale, nhưng chỉ có khoảng 170 người được nhận .

Thứ hai, về chương trình đào tạo : Các môn học được đưa vào chương trình giảng dậy

cũng tương tự các môn học nhiều nơi trên thế giới như: Những môn học bắt buộc gồm:luật đất đai, luật hình sự, luật hợp đồng, luật bồi thường trách nhiệm dân sự ngoài hợpđồng, luật hiến pháp… Tiếp theo là những môn học chuyên ngành và thảo luận

Thứ ba: thời gian đào tạo: 3 năm tại khoa luật

Thứ tư, về phương pháp giảng dậy, ở cả hai nước Anh và Mỹ việc học đều do sinh viên

chủ động, giảng viên chỉ là người hướng dẫn Có sự tương tác giữa giáo viên với sinhviên Kết hợp giữa lí thuyết và thực hành

b sự khác nhau

Trang 14

STT Tiêu chí ANH MỸ

1 Đối tượng đào

tạo Các học sinh sau khi tốt nghiệpphổ thông, vượt qua kì thi đầu

vào

Sinh viên là những người đã tốtnghiệp đại học.độ tuổi trungbình cho tốt nghiệp sinh khoaluật là 29

Nhiều sinh viên vào học khi

đã già,có kinh nghiệm làm việchoặc có 1 bằng đại học khác

4 Địa điểm đào

tạo

ở trường đại học : đào tạo cửnhân luật và các cơ sở được cấpphép bởi đoàn luật sư và bởi hộiluật gia

Các khoa luật ở các trường đại

học.Trên nước Mỹ hiện có

khoảng 185 trường Luật được Hội luật sư quốc gia công nhận với khoảng 2000 giảng viên chính thức.

5 Mục tiêu đào

tạo 2 mục tiêu: (1) trang bị kiếnthức khoa học pháp lí , sau khi

kết thúc khoa học sẽ được cấpbằng cử nhân luật: người họcchỉ có kiến thức khoa học hànlâm ,chưa thể làm được việcngay

(2) dạy nghề: cấp chứng chỉhành nghề luật

Như vậy đào tạo ở các trườngđại học chủ yếu dạy kiến thức

cơ bản mà không chú trọng đàotạo kĩ năng làm việc như 1 luật

sư thực thụ

Không nhằm truyền đạt kiếnthức thuộc lòng mà nhằm đàotạo ra những luật sư có khảnăng làm việc ngay và thắngkiện

Trang 15

Môn học tự chọn: do chương

trình trong trường quy định

Cua học đại cương: luật hợp

đồng,bồi thường trách nhiệmdân sự ngoài hợp đồng,sở hữu,

tố tụng,hình sự, hiến pháp

Cua học chuyên nghành và thảo luận

+hình thức tổ chức:

Chủ tọa: giáo sư luật hoặc

người đang hành nghề luật ởđịa phương

Nhóm: sinh viên tách thành 2

nhóm để cạnh tranh với nhauthông qua đưa ra lập luận trongtình huống giả định

trong các buổi phù đạo sinhviên được phép đưa ra câu hỏi

và giải quyết những thắc mắc

phương pháp truyền thống:

các cán bộ giảng dạy thuyếtgiảng trên lớp

kết thúc môn: sinh viên phải

viết bài luận để đánh giá kết

Phương pháp giảng dạy phùhợp với xã hội đa dạng, phứctạp luôn thay đổi

Chú trọng phương pháp tình huống:

Các nguyên tắc pháp lý chungkhông trình bày qua việc giảngdạy lý thuyết trừu tượng mà rút

ra từ việc nghiên cứu tìnhhuống

-giáo viên không dạy về các tìhhuống mà yêu cầu sinh viênthuật lại tình huống sau đó sẽchất vấn để rèn luyện kĩ năngphản ứng

-giáo viên hiếm khi đưa ra ýkiến về tình huống và phápluật thành văn mà khuyếnkhích sinh viên phát triểnnhững phân tích của mình vềtình huống và luật thành văn

có liên quan một cách sâu sắc

Ngày đăng: 25/08/2017, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w