Về phép biện chứng cổ đại Ăngghen viết “Khi chúng ta dùng tư duy để xem xét giới tự nhiên, lịch sử loài người hay hoạt động tinh thần của bản thân chúng ta thì trước nhất, chúng ta thấy
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục 4
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I PHÉP BIỆN CHỨNG THỂ HIỆN TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG DUY RINH” VA “BIỆN CHỨNG TỰ NHIÊN” CỦA ĂNGGHEN 6
1.1 Lịch sử phép biện chứng qua hai tác phẩm “Chống ĐuyRinh” và “Biện chứng tự nhiên” 6
1.2 Sự đối lập phương pháp tư duy biện chứng và phương pháp tư duy siêu hình qua hai tác phẩm 12
1.3 Quy luật của phép biện chứng qua hai tác phẩm “Chống Đuyrinh” và “Biện chứng tự nhiên” 18
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG HAI TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUYRINH” VÀ “BIỆN CHỨNG TỰ NHIÊN” ĐỐI VỚI VIỆC DẠY VÀ HỌC TRIẾT HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA 45
2.1 Phép biện chứng trong các giáo trình hiện nay ở nước ta 45
2.2 Y nghĩa của việc tìm hiểu phép biện chứng đối với việc giảng dạy và
học tập triết học trong giai đoạn hiện nay ở nước ta và giải pháp 49
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Phép biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận
động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” [201.1]
Phép biện chứng là “chìa khóa để giúp con người nhận thức và chinh phục thế
giới” [5.8], nắm vững nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy
vật không những là nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan khoa học mà còn
là điều kiện tiên quyết cho sự sáng tạo của chính Đảng cách mạng
Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cách mạng cho thấy, khi nào chúng ta nắm
vững lý luận phép biện chứng, biết vận dụng đúng các nguyên tắc, các phương
pháp của nó một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, biết lấy cái “bất
biến” ứng vào cái “vạn biến” – Hồ Chí Minh – thì việc cải tạo tự nhiên, xã hội
được tăng cường
“Hệ vấn đề phép biện chứng hiện nay trở nên đặc biệt cấp bách là do tính
chất biện chứng trong sự phát triển của xã hội và của nhận thức khoa học hiện
đại ngày càng bộc lộ rõ nét hơn” [16]; những chuyển biến mang tính toàn cầu -
đa dạng đang diễn ra khắp hành tinh chúng ta Bên cạnh đó khoa học tự nhiên
trong quá trình phát triển của mình gặp không ít các vấn đề biện chứng của
chính sự phát triển Giờ đây, sự tiến hóa của giới tự nhiên đang được nghiên cứu
ở mọi cấp độ vi và vĩ mô Sự phát triển của sinh học trong những năm gần đây
đã thâm nhập sâu hơn vào cấu trúc, sự phát triển của thế giới vật chất sống, bí
mật của sự tự phát triển của cơ thể sống, cơ sở phân tử, dưới phân tử của phát
triển cá thể và của phát triển nói chung đang được mở ra
Bên cạnh những thành tựu to lớn đó, cách mạng khoa học công nghệ hiện đại
cũng bộc lộ những mâu thuẫn của sự tiến hóa mà trong quá khứ được xem như
là sự làm chủ của con người đối với lực lượng tự nhiên thì giờ đây con người
không kiểm soát được nó
Trang 3Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước, việc nghiên cứu phép biện chứng một cách có hệ thống là một bức
thiết đối với đổi mới tư duy.Tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Tư
tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới là công cụ tư duy sắc bén đưa nước
ta dành thắng lợi trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Tuy vậy, hiện nay cái sai, sự xuyên tạc phổ biến là tách nguyên lý, quy
luật… của phép biện chứng ra khỏi bối cảnh lịch sử của nó, tách luận điểm ra
khỏi hệ thống lý luận… Chính vì lẽ đó việc khẳng định giá trị của triết học Mác
trước hết phải xuất phát từ việc khẳng định giá trị kinh điển của nó Lịch sử triết
học Mác cho thấy Ăngghen đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện phép
biện chứng Nếu trong bộ “Tư Bản” Mác chỉ ra phép biện chứng trong lĩnh vực
xã hội thì trong hai tác phẩm “Chống ĐuyRinh” và “Biện chứng của tự nhiên”
Ăngghen đã tập trung minh chứng cho giá trị phổ biến của phép biện chứng duy
vật trong lĩnh vực tự nhiên
Xuất phát tự những lý do trên tác giả chọn đề tài phép biện chứng trong hai
tác phẩm của Ăngghen làm khóa luận tốt nghiệp của mình Nhưng do thời gian
có hạn nên tác giả chỉ giải quyết “Một số vấn đề phép biện chứng trong tác
phẩm “Chống ĐuyRinh” và “Biện chứng tự nhiên của Ăngghen và ý nghĩa
của nó trong giảng dạy và học tập triết học hiện nay ở nước ta” mà thôi Tác giả
hy vọng góp phần khằng định giá trị của tác phẩm và vai trò của nó trong giai
đoạn hiện nay
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về phép biện chứng không phải là vấn đề mới bởi trước nay
không ít người đào sâu tìm hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hêghen
Về phép biện chứng trong hệ thống triết học của Mác - Ăngghen cũng vậy Có
không ít bài báo, chương sách… viết về phép biện chứng của các nhà kinh điển
tiêu biểu như bài báo của Vũ Thị Kiều Phương, của Phùng Văn Thiết… Những
chương sách trong triết học mở và xã hội mở… của Ilencov, Rodentan… Những
luận văn tốt nghiệp đại học và cao học…
Trang 4Tuy vậy tựu chung lại hầu như các tác giả chỉ khai thác, xem xét một khía
cạnh, một mặt nào đó của phép biện chứng hay nghiên cứu phép biện chứng của
các tác giả kinh điển nói chung, thường ta chưa thấy sự nghiên cứu sâu về phép
biện chứng trong riêng hai tác phẩm “Chống ĐuyRinh” và “Biện chứng tự
nhiên” của Ăngghen để thấy công hoàn thiện phép biện chứng của Ăngghen
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ
Mục đích: “Hiểu được phép biện chứng của Ăngghen thể hiện trong hai tác
phẩm “Chống ĐuyRinh” và “Biện chứng tự nhiên””
Nhiệm vụ:
-Hiểu được phép biện chứng qua hai tác phẩm
-Hiểu được ý nghĩa phép biện chứng trong giai đoạn hiện nay
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
-Đối trọng nghiên cứu: Phép biện chứng trong hai tác phẩm “Chống
ĐuyRinh” và “Biện chứng tự nhiên” của Ăngghen
-Phạm vi nghiên cứu: Tác giả chỉ đi vào tìm hiểu một số nội dung của phép
biện chứng trong hai tác phẩm mà thôi (Phương pháp tư duy siêu hình và
phương pháp tư duy biện chứng; lịch sử phép biện chứng; ba quy luật phép biện
chứng)
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp: Duy vật biện chứng – Duy vật lịch sử, phương
pháp logic – lịch sử, phân tích – tổng hợp…
6 BỐ CỤC
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận có phần nội dung và tài liệu tham
khảo Trong đó, phần nội dung có hai chương với 5 tiết
Chương I: Phép biện chứng thể hiện trong tác phẩm “Chống ĐuyRing” và
“Biện chứng tự nhiên” của Ăngghen
Trang 51.1 Lịch sử phép biện chứng qua hai tác phẩm”Chống Đuyrinh” và “Biện
chứng tự nhiên” của Ăngghen
1.2 Sự đối lập của phương pháp tư duy biện chứng và phương pháp tư duy
siêu hình
1.3 Quy luật phép biện chứng qua hai tác phẩm”Chống Đuyrinh” và “Biện
chứng tự nhiên” của Ăngghen
Chương II: Ý nghĩa của việc nghiên cứu phép biện chứng qua hai tác phẩm
đối với việc giảng dạy và học tập triết học trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
2.1 Phép biện chứng trong các giáo trình trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu phép biện chứng đối với việc giảng dạy và
học tập triết học hiện nay ở nước ta và giải pháp
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 PHÉP BIỆN CHỨNG THỂ HIỆN TRONG TÁC
PHẨM “CHỐNG ĐUYRINH” VÀ “BIỆN CHỨNG TỰ NHIÊN”
CỦA ĂNGGHEN
Ăngghen trong tác phẩm “Chống ĐuyRinh” đã định nghĩa “ Phép biện
chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát
triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy” [201.1] Vậy, trọng tâm của phép
biện chứng chính là vấn đề quy luật của phép biện chứng Tuy vậy, để xem xét
vấn đề quy luật trong hai tác phẩm trên ta phải phân định rạch ròi được: Phương
pháp tư duy biện chứng và phương pháp tư duy siêu hình, phép biện chứng duy
tâm và phép biện chứng duy vật như một phông nền hết sức cần thiết
1.1 LỊCH SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG QUA HAI TÁC PHẨM “CHỐNG
ĐUYRINH” VÀ “BIỆN CHỨNG TỰ NHIÊN”
Phép biện chứng duy vật do Mác- Angghen xây dựng, Lênin phát triển- phép
biện chứng mà ngày nay chúng ta học đó là đỉnh cao, là phương pháp tư duy cao
nhất trong lịch sử nhận thức nhân loại Đó là kết quả của một quá trình lâu dài,
qua các giai đoạn khác nhau mà về cơ bản phép biện chứng ngày nay đã trải qua
hai giai đoạn trước đó Về điều này trong tác phẩm của mình Angghen đã trình
bày khá rõ nét ba giai đoạn của phép biện chứng
Về phép biện chứng cổ đại Ăngghen viết “Khi chúng ta dùng tư duy để xem
xét giới tự nhiên, lịch sử loài người hay hoạt động tinh thần của bản thân chúng
ta thì trước nhất, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những
mối liên hệ và những sự tác động qua lại trong đó không có cái gì là đứng
nguyên, không thay đổi, mà tất cả điều vận động, biến đổi, phát sinh và mất đi
Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ nhưng xét về thực chất thì đúng đó là thế
giới quan của các nhà triết học Hylạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclit
trình bày một cách rõ ràng: Mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì
mọi vật đang trôi đi, ,mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều không
Trang 7ngừng phát sinh và tiêu vong Nhưng cách nhìn ấy, dù cho nó có nắm đúng tính
chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng, vẫn không đủ để giải thích
nhiều chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ, và chừng nào chúng ta chưa biết
được các chi tiết ấy thì chúng ta chưa hiểu rõ được bức tranh toàn bộ ấy Muốn
nhận thức được những chi tiết ấy chúng ta buộc phải tách chúng ra khỏi mối liên
hệ tự nhiên hay lịch sử của chúng, và phải nghiên cứu riêng từng chi tiết một
theo đặc tính của chúng, theo nguyên nhân và kết quả riêng của chúng… Đó là
nhiệm vụ của khoa học tự nhiên…” [1.35]
Với đoạn viết trên ta thấy ưu điểm của phép biện chứng cổ đại là nói cho ta
thấy “một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và sự tác
động qua lại trong đó không có cái gì là đứng nguyên, không thay đổi mà tất cả
đều vận động, biến đổi, phát sinh và mất đi” tức là phản ánh thế giới như nó tồn
tại Do vậy, nó nắm đúng tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các sự vật
hiện tượng Như vậy phép biện chứng cổ đại là phép biện chứng chất phác,
ngây thơ trong đó người ta thấy: thế giới là một chỉnh thể thống nhất giữa các bộ
phận có mối liên hệ qua lại với nhau, thế giới và các bộ phận thế giới không
ngừng vận động và phát triển
Tuy vậy, Ăngghen cũng chỉ ra những hạn chế của phép biện chứng cổ đại:
Tuy nó cho ta bức tranh chung về thế giới nhưng chưa đầy đủ: “Dù cho nó có
nắm đúng tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng, vẫn không
đủ để giải thích những chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ và chừng nào chúng
ta chưa biết được các chi tiết ấy thì chúng ta chưa thể hiểu rõ được bức tranh
toàn bộ ấy” Vậy là, để hiểu thế giới xung quanh chúng ta thực sự thì phép biện
chứng cổ đại vẫn chưa đủ bởi nó cho ta bức tranh chung về thế giới nhưng
không cho ta những chi tiết của bức tranh ấy Để hiểu về thế giới nó đòi hỏi
những bổ sung, hiểu biết chi tiết về thế giới, Ăngghen đã khéo léo chuyển chúng
ta sang hình thức hay giai đoạn phép biện chứng thứ hai
Để khắc phục hạn chế của phép biện chứng cổ đại, đáp ứng nhu cầu thực tiễn
của con người, con người đã tiến hành nghiên cứu các bộ phận khác nhau của
Trang 8thế giới Ngừơi ta đã “phân chia tự nhiên ra thành những bộ phận riêng biệt
Việc tách riêng các loại quá trình tự nhiên và các sự vật tự nhiên khác nhau
thành những loại nhất định, việc nghiên cứu cấu tạo bên trong của những vật thể
hữu cơ theo các hình thái giải phẫu nhiều vẻ của nó…” Và tất cả những cái đó
tạo điều kiện” cơ bản cho những tiến bộ khổng lồ mà 400 năm gần đây đã đem
lại cho chúng ta trong lĩnh vực nhận thức giới tự nhiên Tuy vậy nó đã để lại
cho chúng ta một “thói quen là xem xét những sự vật tự nhiên và quá trình tự
nhiên trong trạng thái biệt lập của chúng, ở bên ngoài mối liên hệ to lớn, và do
đó không xem xét chúng trong trạng thái vận động mà xem xét chúng trong
trạng thái tĩnh, không coi chúng về cơ bản lại biến đổi mà coi chúng vĩnh viễn
không biến đổi, không xem xét chúng trong trạng thái sống mà xem xét chúng
trong trạng thái chết Đó tức là phương pháp tư duy siêu hình.” [1.36]
Từ thế kỷ XVIII, khoa học tự nhiên chuyển dần trọng tâm sang nghiên cứu
các quá trình trong liên hệ, vận động, phát triển của chúng Những thành quả
trong khoa học tự nhiên chứng minh rằng tự bản thân thế giới tồn tại biện chứng
Việc phủ nhận vai trò phép siêu hình dẫn đến việc xác lập phép biện chứng duy
tâm khách quan mà đỉnh cao của nó là trong triết học của Heghen Ưu điểm của
phép biện chứng duy tâm mà đỉnh cao của nó trong hệ thống của Heghen “là
trong đó lần đầu tiên- và đây là công lao to lớn của ông- toàn bộ giới tự nhiên,
lịch sử và tư tưởng được trình bày như một quá trình, nghĩa là luôn luôn vận
động, biến đổi, biến hóa và phát triển, và ông đã cố vạch ra mối liên hệ nội tạ
của sự vận động và sự phát triển ấy” [1.39-40] Heghen đã xây dựng được một
hệ thống khái niệm, quy luật, phạm trù, nghiên cứu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa
các phạm trù, quy luật đó, luận chứng một cách sâu sắc và toàn diện quá trình
vận động của tự nhiên- lịch sử và tư tưởng Những quy luật cơ bản của phép
biện chứng cũng đã được Heghen trình bày
Như vậy, phép biện chứng duy tâm trong tay Heghen đã nhìn thế giới trong
sự vận động, phát triển, biến đổi của nó, trong mối liên hệ chằng chịt của nó Ở
đây, những phàm trù quy luật… đã được xây dựng và đây là điều tiến bộ hơn
Trang 9hẳn phép biện chứng cổ đại Nhưng so với phép biện chứng cổ đại, phép biện
chứng duy tâm không hề có bức thụt lùi nào? Phép biện chứng cổ đại tuy nhìn
thế giới còn ngây thơ, chất phác nhưng nó cũng đã thấy sự vận động, biến đổi
của thế giới dù chưa nhìn thấy tính biện chứng của thế giới, đặc biệt nó đã đứng
trên lập trường duy vật để tìm hiểu thế giới Đây là điều sai lầm mà phép biện
chứng trong tay Heghen mắc phải
Phép biện chứng trong tay Heghen bị “đặt độc ngựơc”, đó là phép biện
chứng duy tâm Angghen viết “Heghen là một nhà duy tâm, nghĩa là đối với ông
thì những tư tưởng trong đầu óc chúng ta không phải là những phản ánh ít nhiều
trừu tượng của những sự vật và quá trình hiện thực mà ngược lại, những sự vật
và sự phát triển của chúng đối với Heghen chỉ là những phản ánh thể hiện cái “ý
nghĩa” nào đó tồn tại ở một nơi nào đó ngay trước khi có thế giới” [1.40-41] Vì
vậy “tất cả đều bị đặt lộn ngược và mối liên hệ hiện thực của các hiện tượng của
thế giới hoàn toàn bị đảo ngược” [1.41] Vậy là theo Heghen thế giới là sản
phẩm của sự phát triển cuả tư tưởng, của ý niệm do vậy các quy luật, phạm trù…
không phải cái vốn có thế giới, không tồn tại cách quan độc lập với tư tưởng mà
đó là quy luật, phạm trù …của ý niệm, có trước thế giới này rồi mới tha hoá vào
tự nhiên và xã hội
Phép biện chứng duy tâm có ưu điểm là nhìn thế giới trong tính biện chứng
của nó nhưng hạn chế là duy tâm, tức cho rằng tất cả thế giới này là sự tha hoá
của ý niệm nào đó Đánh giá về Heghen - về phép biện chứng duy tâm Mác viết:
“tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải trong tay Heghen tuyệt nhiên
không ngăn cản Heghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và
có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Heghen,
phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện
đựơc cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vẻ thần bí của nó” [1.494]
“ Việc hiểu được tính chất hoàn toàn sai lầm của chủ nghĩa duy tâm Đức
hiện đạng tồn tại, nhất định sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy vật” [1.41] Và phép biện
chứng duy vật ra đời như một đòi hỏi tất yếu
Trang 10Phép biện chứng duy vật theo Ăngghen: nó đã “vứt bỏ đơn thuần cái tính
chất cách mạng ngây thơ, toàn bộ lịch sử đã có từ trước, chủ nghĩa duy vật hiện
đại coi lịch sử là một quá trình phát triển cuả loài người và đặt cho minh nhiệm
vụ là phát hiện ra những quy luật vận động của quá trình ấy” [1.41]
Vậy phép biện chứng duy vật ra đời trên cơ sở tổng hợp những yếu tố tích
cực hợp lý của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trước đấy, trên cơ sở
khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên Đó thực sự là tinh hoa nhân
loại, là sự hội tụ của trí tuệ nhân loại trong trí tuệ của những con người thiên tài
Và nhiệm vụ của phép biện chứng duy vật chính là phát hiện ra những quy luật
của tự nhiên - xã hội và tư duy con người
Để nói về sự khác nhau về chất của phép biện chứng duy vật Ănghen viết:
“ngược lại với quan niệm về tự nhiên thịnh hành ở người Pháp thế kỷ XVIII
cũng như ở Heghen, coi tự nhiên là một chỉnh thể không thay đổi, vận động
trong những vòng tuần hoàn chật hẹp với những thiên thể vĩnh cửu như Niuton
đã dạy, với những loại sự vật hữu cơ không thay đổi nhưng LeNe đã dạy, ngược
lại với quan niệm tự nhiên ấy chủ nghĩa duy vật hiện đại tổng hợp những thành
tựu mới nhất của khoa học tự nhiên mà theo nó thì giới tự nhiên cũng có lịch sử
của bản thân nó trong thời gian, những thiên thể ấy cũng nảy sinh và diệt vong
giống như tất cả các loài hữu cơ trên những thiên thể ấy trong những điều kiện
thuận lợi…” [1.42] So với chủ nghĩa duy tâm thì phép biện chứng duy vật chỉ
thừa nhận: tư tưởng tinh thần là sản phẩm của vật chất, vật chất tồn tại khách
quan, ý thức là sự phản ánh của tồn tại khách quan So với phép biện chứng duy
vật trước đó thì phép biện chứng duy vật hiện đại thấy ý thức là sự phản ánh tồn
tại khách quan, ý thức có tính độc lập của nó, ý thức tác động vào vật chất thông
qua hoạt động thực tiễn của con người Đó chính là sự khác nhau về bản chất
của phép biện chứng duy vật cổ đại và phép biện chứng duy tâm Ăngghen đã
khẳng định “chủ nghĩa duy vật hiện đại về bản chất là biện chứng” [1.42]
Phép biện chứng ra đời là của một cuộc cách mạng trong thế giới quan và
thông qua chức năng này của mình phép biện chứng duy vật đã thể hiện vai trò
Trang 11ngày càng lớn của mình đối với cuộc sống con ngừơi, đối với xã hội Sở dĩ phép
biện chứng duy vật làm được điều đó là do nó đã giải quyết đúng đắn vấn đề cơ
bản của triết học Trong "Luận cương về Phoiơbach” Mác đã phê phán chủ
nghĩa duy tâm trước đây thiếu quan điểm thực tiễn, không xem thực tiễn là cơ sở
của hiện thực, vì vậy ý thức chỉ là sự phản ánh thụ động vật chất, tức là không
thấy vai trò của hiện thực, không giải quyết triệt để mối quan hệ của tư duy - tồn
tại Mác đã chỉ ra sự thống nhất của tư duy và tồn tại và ông đã đưa ra phạm trù
thực tiễn, khẳng định mối quan hệ vật chất và ý thức, khẳng định qua thực tiễn
mà con người hiện thực hóa được tư duy Tức là phép biện chứng đã giải quyết
được vấn đề cơ bản của triết học
Thứ hai phép biện chứng duy vật là sự thống nhất thế giới quan duy vật và
phương pháp tư duy biện chứng Trước đây chủ nghĩa duy vật thường tách rời
phép biện chứng, còn phép biện chứng thường gắn với chủ nghĩa duy tâm Phép
biện chứng duy vật ra đời trên cơ sở kế thừa, cải tạo tinh hoa nhân loại trước đó
kết hợp với trí tuệ nhân loại đã khắc phục hạn chế của hai phương hướng trên
kết hợp được hạt nhân hợp lý của chúng để đưa ra phép biện chứng lên đỉnh cao
của nó - phép biện chứng hiện đại nhất, hợp lý nhất
Thứ 3, phép biện chứng duy tâm là thế giới quan, hệ tư tưởng của giai cấp
tiên tiến nhất, cách mạng nhất, đại diện cho lực lượng sản xuất xã hội hoá cao
Do vậy phép biện chứng duy vật mang tính cách mạng và tính khoa học phản
ánh được lợi ích nhu cầu xu hướng phát triển của lịch sử nhân loại
Với tất cả những đặc điểm cơ bản trên mà phép biện chứng duy vật là giai
đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng Tuy vậy, để áp dụng phép biện
chứng ấy vào trong đời sống, học tập, nghiên cứu… không phải là dễ ràng Đó
là vấn đề đang được đặt ra cấp bách trong giai đoạn hiện nay của nước ta Làm
như thế nào để không vận dụng sai lệch, xuyên tạc phép biện chứng duy vật hiện
đại, để phép biện chứng ấy hoá thân sinh động vào hoàn cảnh đổi mới của nước
ta…
Trang 12Như vậy, với việc tìm hiểu ba giai đoạn phát triển phép biện chứng trong hai
tác phẩm của Angghen “ Chống Đuy Rinh” và “Biện chứng tự nhiên” ta thấy
phép biện chứng duy vật mà ngày nay chúng ta có không phải là con đường
giản đơn Nó là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài, phức tạp Cũng qua
đây ta thấy sự khác nhau rất căn bản của phép biện chứng duy tâm và phép biện
chứng duy vật Sự phân biệt chúng có một ý nghĩa vô cùng lớn lao bởi chỉ khi
thấm nhuần sự khác nhau về chất của chúng ta mới đứng vững trên lập trường
phép biện chứng duy vật để xem xét và vận dụng, ta mới có nền tảng để đi vào
xem xét những vấn đề triết học khác
1.2 SỰ ĐỐI LẬP PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY BIỆN CHỨNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY SIÊU HÌNH QUA HAI TÁC PHẨM
Cùng với việc làm sáng tỏ các giai đoạn phát triển của phép biện chứng trong
hai tác phẩm “ Chống ĐuyRinh” và “Biện chứng tự nhiên” đặc biệt trong tác
phẩm “Chống ĐuyRinh” Ăngghen đã làm sáng tỏ phương pháp tư duy biện
chứng và phương pháp tư duy siêu hình Việc làm sáng tỏ hai phương pháp này,
sự khác nhau về chất của chúng có một vai trò vô cùng quan trọng, có tính
phương pháp luật đối với việc nhìn nhận, xem xét các vấn đề khác của tác phẩm
Khi trình bày về phương pháp tư duy siêu hình Ăngghen đã làm sáng tỏ một
loạt các vấn đề: định nghĩa thế nào là phương pháp tư duy siêu hình, nguồn gốc,
đặc trưng, bản chất, giới hạn đúng của phương pháp, ưu và nhược điểm của
phương pháp
Ăngghen viết: “… xem xét những sự vật tự nhiên và quá trình tự nhiên trong
trạng thái biệt lập của chúng ở bên nghoài mối liên hệ to lớn chung, và do đó
không xem xét chúng trong trạng thái vận động mà xem xét chúng trong trạng
thái tĩnh, không coi chúng về cơ bản là biến đổi mà coi chúng là vĩnh viễn
không biến đổi, không xem xét chúng trong trạng thái sống mà xem xét chúng
trong trạng thái chết… Tức phương pháp tư duy siêu hình” [1.36] Đây có thể
xem là một định nghĩa khá hoàn chỉnh, đầy đủ về phương pháp tư duy siêu hình
của Ăngghen Với định nghĩa này Angghen đã vạch ra những đặc trưng rất cơ
Trang 13bản của phương pháp tư duy siêu hình là : Đặt sự vật trong trạng thái biệt lập với
bên ngoài, với mối liên hệ to lớn chung của sự vật, do vậy sự vật không được
xem xét trong trạng thái vận động mà tĩnh - không biến đổi - trạng thái chết
cứng
Ăngghen cũng đã vạch ra cho chúng ta thấy nguyên nhân hay nguồn gốc của
phương pháp tư duy này chính là: do ảnh của sự phát triển khoa học tự nhiên
cuối thế kỷ XV, do nhu cầu nhận thức mà con người phân chia thế thành các bộ
phận riêng biệt để nghiên cứu từ đó tạo ra phương pháp tư duy siêu hình Về
điều này Angghen viết: “ Từ nửa cuối thế Kỷ XVIII mới có một nền khoa học tự
nhiên thực sự mà từ bấy đến nay khoa học đó đã đạt được những tiến bộ ngày
càng nhanh chóng Việc phân chia giới tự nhiên ra thành những một bộ phận
riêng biệt, việc tách riêng các quá trình tự nhiên và các sự vật tự nhiên khác
nhau thành những loại nhất định, việc nghiên cứu cấu tạo bên trong của các vật
thể hữu cơ theo các hình thái giải phẫu nhiều vẻ của nó- tất cả những cái đó là
điều kiện cơ bản cho nhiều tiến bộ khổng lồ mà 400 năm gần đây đã đem lại cho
chúng ta trong lĩnh vực nhận thức giới tự nhiên … Và khi phương pháp hiện
thức ấy được đưa từ khoa học tự nhiên vào triết học thì nó tạo ra tính hạn chế
đặc thù của những thế kỷ gần đây” [1.36]
Vậy về bản chất phương pháp tư duy siêu hình là phương pháp xem xét sự
vật trong sự tách rời, tĩnh tại tuyệt đối mà không xem xét chúng trong sự phát
sinh, mất đi của các sự vật Ăngghen viết: “Đối với nhà siêu hình học… Những
khái niệm, đều là những đặc trưng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ,vĩnh
viễn, phải được xem xét cái này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia” [1.36]
Với họ “Có là có , không là không, ngoài cái đó ra chỉ là trò xảo quyệt” [1.37]
Vậy phương pháp tư duy này có ưu điểm và nhược điểm gì? Giới hạn áp
dụng của nó ra sao? Angghen đã trình bày trong tác phẩm của mình một cách
khá rõ ràng
Để nói về giới hạn sử dụng của phương pháp tư duy này Angghen đã vận
dụng những hình ảnh rất sống động… “Tuy là người bạn đường rất đáng kính
Trang 14trong bốn bức tường sinh hoạt của gia đình, cũng sẽ trải qua những cuộc phưu
lưu kỳ lạ nhất một khi nó mạo hiểm bước vào thế giới nghiên cứu rộng lớn
Phương pháp tư duy siêu hình dù được coi là xứng đáng và thậm trí được coi là
cần thiết trong những lĩnh vực nhất định ít nhiều rộng lớn tuỳ theo tính chất của
đối tượng nghiên cứu” hay “cái hoặc là…Hoặc là” ngày càng trở nên không đủ
Trong những động vật hạ đẳng, không thể xác định được một cách rõ rệt khái
niệm cá thể, không những chỉ theo nghĩa là không biến một động vật nào đó là
một cá thể hay một quần thể mà còn ở vấn đề là trong quá trình phát triển thì cá
thể này chấm dứt ở đâu và cá thể khác bắt đầu từ đâu… Đối với giai đoạn phát
triển như thế của khoa học tự nhiên… Thì phương pháp tư duy siêu hình cũ kĩ
không còn đủ nữa” [1.696]
Trong khi chỉ ra giới hạn sử dụng của phương pháp này Angghen đã khẳng
định giá trị của phương pháp tư duy siêu hình “Là người bạn đường rất đáng
kính trong bốn bức tường của sinh hoạt gia đình” Thực tế là phương pháp tư
duy naỳ trong giai đoạn lịch sử nhất định đã giúp cho các ngành khoa học thu
được những thành tựu đáng kể trong thu thập các tri thức riêng lẻ về thế giới,
đào sâu những hiểu biết của chúng ta về những mảng nhỏ, riêng biệt ấy Vậy là,
phương pháp tư duy siêu hình không phải không có giá trị trong những giới hạn
nhất định và có ứng dụng khá rộng lớn Tuy vậy Angghen chỉ ra những nhược
điểm của phương pháp tư duy này: “Chóng hay chày nó cũng sẽ gặp phải một
gianh giới mà nếu vượt qua thì nó trở thành phiến diện, hạn chế, trừu tượng và
sa vào những mâu thuẫn không thể nào giải quyết được, vì nó nhìn thấy những
sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại với những sự vật ấy, chỉ
nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự
tiêu vong của chúng, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của sự vật ấy mà quên mất sự
vận động của sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” [1.37] Để minh
chứng cho điều này Angghen đã lấy một loạt ví dụ “thí dụ, trong sinh hoạt hàng
ngày chúng ta biết và có thể nói một cách chắc chắn rằng một con vật đang tồn
tại hay không tồn tại, nhưng nghiên cứu kỹ hơn nữa thì chúng ta lại thấy rằng
đôi khi đó là một vấn đề hết sức phức tạp, như các luật sư hiểu rất rõ điều đó khi
Trang 15phải vò đầu bứt tai để tìm ra một giới hạn hợp lý mà nếu vượt quá thì việc giết
một cái thai trong bụng mẹ sẽ bị coi là tội giết người Cũng như thế không thể
xác định một cách chính xác lúc chết là lúc nào, bởi vì sinh lý học chứng minh
rằng cái chết không thể là một sự kiện đột ngột và trong khoảnh khắc mà là một
quá trình lâu dài” [1.37] “Chúng ta thấy rằng nguyên nhân và kết quả là những
khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân kết quả khi được áp dụng vào một
trường hợp riêng biệt nhất định… Nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị
trí cho nhau, cái ở đây hay trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc ở
lúc khác lại là kết quả ngược lại” [1.38]
Khi đánh giá về việc trình bày phương pháp tư duy siêu hình của Ăngghen
trong hai tác phẩm “Chống ĐuyRinh”, và “Biện chứng tự nhiên” mà đặc biệt
trong “Chống ĐuyRinh” có tác giả đã viết “Ăngghen nêu lên đặc trưng sâu sắc
và hiển nhiên về bản chất của phương pháp tư duy siêu hình Khó lòng trình bày
nguyên nhân xuất hiện của phương pháp tư duy siêu hình và bản chất của nó tốt
hơn nhiều Angghen đã làm trong “Chống ĐuyRinh” [8.598-599] Không những
chỉ ra bản chất giá trị và hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình một cách sâu
sắc Angghen trong 2 tác phẩm này còn chỉ ra sự đối lập giữa phương pháp tư
duy siêu hình và phương pháp tư duy biện chứng chỉ ra định nghĩa, bản chất, giá
trị… của phương pháp tư duy biện chứng
Xung quanh quan niệm về phương pháp tư duy biện chứng hiện đang có
hai quan điểm khác nhau: một loại đồng nhất phương pháp tư duy biện chứng
với phép biện chứng; một loại cho rằng hai cái này khác nhau Theo tác giả quan
điểm thứ hai có điểm hợp lý hơn Phép biện chứng bao gồm hệ thống lý thuyết
(lý luận của nó) và trên cơ sở đó rút ra phương pháp tư duy gọi là phương pháp
tư duy biện chứng Tuy vậy, trong một số trường hợp thì quan điểm thứ nhất vẫn
được sử dụng với nghĩa rút ra ý nghĩa của phép biện chứng hay của phương
pháp tư duy biện chứng Ở đây tác giả phân biện như vậy để nhấn mạnh sự đối
lập của hai phương pháp tư duy: Siêu hình và biện chứng:
Trang 16Để nói về sự đối lập của hai phương pháp này Ăngghen không chỉ sử
dụng ngôn ngữ trực tiếp: “Trái lại đối với phép biện chứng…” [1.38] mà ông sử
dụng cả sự phân tích của mình để chỉ rõ sự khác nhau sử đối lập nhau của hai
phương pháp này về bản chất giới hạn ứng dụng… Ăngghen viết: “Phương pháp
tư duy biện chứng không còn biết đến cái hard and fast lines, đến những phép
“hoặc là …hoặc là” vô điều kiện và dùng được ở mọi nơi, phép biện chứng làm
cho những sự khác biệt siêu hình cố định chuyển hoá lẫn nhau, phép biện chứng
thừa nhận trong những trường hợp cần thiết, là bên cạnh cái “hoặc là…hoặc là”
thì có cả “cái này lẫn cái kia”, và thực hiện sự môi giới giữa các mặt đối lập”
[1.996] Vậy, phương pháp tư duy biện chứng được sử dụng mọi nơi; trường
ứng dụng của nó rất rộng lớn, nó xem xét sự vật hiện tượng trong sự vận động,
phát triển, tiêu vong, trong mối liên hệ của nó, nó không chỉ nhìn thấy cái hoặc
là…hoặc là mà bên cạnh đó nó còn nhìn thấy cái này lẫn cái kia
Tuy không đưa ra một định nghĩa trực tiếp theo kiểu “phương pháp tư duy
biện chứng là…“ nhưng trong tác phẩm của mình Ăngghen đã gián tiếp định
nghĩa phương pháp tư duy biện chứng là: “phương pháp mà điều căn bản là nó
xem xét những sự vật và những phản án của chúng trong tư tưởng trong mối liên
hệ lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và tiêu
vong của chúng” [1.38] Đây rõ ràng là một định nghĩa đã chỉ ra những đặc
trưng cơ bản của phương pháp tư duy biện chứng
Vậy bản chất của phương pháp tư duy này chính là: Xem xét sự vật và
những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau,
trong sự vận động, phát sinh và tiêu vong của chúng Về điều này Ăngghen
trong quá trình phân tích của mình đã chỉ ra đây là điều đã được Hêghen nói đến
“toàn bộ thế giới tự nhiên lịch sử và tư tưởng được trình bày như một quá trình
nghĩa là luôn vận động, biến đổi, biến hoá và phát triển và ông đã cố vạch ra mối
liên hệ nội tại của sự vật động và sự phát triển ấy” [1.38- 40] Rằng “Heghen …
đã đề ra nhiệm vụ ấy” [1.40] Nhưng nó đã mắc sai lầm là đứng trên lập trường
duy tâm Mác- Ăngghen đã dựng nó dậy, đưa vào cho nó luồng sinh khí mới
Trang 17Phương pháp này không những được giới tự nhiên mà được sự kiểm
nghiệm của thành tựu khoa học tự nhiên đương thời Ăngghen viết: “giới tự
nhiên là hòn đá thử vàng đối với phép biện chứng” [1.38] Rằng “khoa học tự
nhiên hiện đại đã cung cấp cho sự kiểm nghiệm ấy những vật liệu hết sức phong
phú và mỗi ngày một tăng thêm” [1.38] Cũng qua đây Ăngghen đưa ra thực
trạng thiếu phương pháp tư duy biện chứng bấy giờ và đến ngày nay lời cảnh
tỉnh của Người vẫn còn nguyên giá trị: “Nhưng vì cả cho đến nay có thể đếm
được trên đầu ngón tay con số những nhà nghiên cứu tự nhiên đã học được cái
suy nghĩ một cách biện chứng cho nên sự sung đột giữa kết quả đạt được và
phương pháp lâu đời hoàn toàn giải thích được tình trạng hết sức lẫn lộn hiện
nay đang thống trị trong ngành khoa học tự nhiên lý thuyết khiến cho cả thầy
lẫn trò cả người viết lẫn người đọc đều tuyệt vọng” [1.39] Vâng, để phát triển
khoa học nói chung, khoa học tự nhiên nói riêng thì các nhà khoa học phải được
trang bị phương pháp tư duy biện chứng để không gặp những mâu thuẫn, những
rắc rối Đây cũng là một cách gián tiếp Ăngghen khẳng định giá trị của phương
pháp tư duy này
Nói về giá trị của phương pháp này Ăngghen còn viết: “Một quan niệm
đứng đắn về vũ trụ, về sự phát triển của vũ trụ và sự phát triển của loài người
cũng như sự phản ánh của sự phát triển ấy vào trong đầu óc con người chỉ có thể
được bằng con đường biện chứng, với sự chú ý thường xuyên đến những tác
động qua lại phổ biến giữ sự phát sinh và sự tiêu vong, giữa sự biến đổi tiến bộ
và sự tiến bộ thụt lùi [1.39] Một lần nữa Ăngghen khẳng định chỉ có nhận thức
đúng đắn khi ta có phương pháp tư duy biện chứng Trong một chỗ khác
Ăngghen viết: “ phương pháp tư duy biện chứng là phương pháp tư duy cao
nhất, thích hợp nhất với giai đoạn phát triển hiện nay của khoa học tự nhiên”
[1.696]
Như vậy, phương pháp tư duy biện chứng không những là phương pháp
tổng kết tinh hoa trước đó của nhân loại mà nó còn biết cải biến, kế thừa, bổ
sung làm phong phú mình bằng thành tựu khoa học tự nhiên hiện đại, kiểm
Trang 18nghiệm bằng thực tiễn… Do vậy, đó là phương pháp thích dụng trong mọi
trường hợp, là phương pháp tư duy cao nhất trong giai đoạn hiện nay Vậy là
phương pháp tư duy của Mác không “tạo ra phép mầu nhiệm biện chứng cho các
tín đồ của mình” [1.176] như Đuyrinh xuyên tạc mà nó tạo ra sức hấp dẫn với
những tín đồ sáng suốt Ngày nay phương pháp biện chứng vẫn còn nguyên giá
trị và đòi hỏi với những người nhận thức, cải tạo thế giới về một phương pháp tư
duy như thế vẫn luôn được đặt ra
Có một vấn đề đặt ra khi ta tìm hiểu sự đối lập của 2 phương pháp là: Vậy
phương pháp tư duy biện chứng ra đời- như một phương pháp tư duy cao nhất
thì phương pháp tư duy siêu hình không còn giá trị, không còn được sử dụng?
Có thể trả lời rõ ràng rằng không phải như vậy! Như chúng ta biết: lịch sử nhân
loại nói chung, lịch sử nhận thức nói riêng của chúng ta ở đương đại như một
vòng khâu lớn mà nó đã dồn nét trong đó những vòng khâu nhỏ hơn (tương ứng
với những nhận thức trước đó) do vậy phương pháp tư duy biện chứng ra đời
như một vòng khâu lớn, nó rồn nén bao chứa trong đó tất cả phương pháp tư duy
trước đó Nói như vậy để thấy không phải phương pháp tư duy biện chứng ra đời
đã loại bỏ phương pháp tư duy siêu hình hay phương pháp tư duy siêu hình
không còn giá trị Ăngghen đã khẳng định rất rõ ràng rằng: “Dĩ nhiên đối với
việc ứng dụng hàng ngày và đối với sự trao đổi nhỏ trong khoa học thì những
phạm trù siêu hình vẫn còn tác dụng” [1.696]
1.3 QUY LUẬT CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG QUA HAI TÁC PHẨM
“CHỐNG ĐUYRINH” VÀ “BIỆN CHỨNG TỰ NHIÊN”
Phạm trù “quy luật” là vấn đề trọng tâm của phép biện chứng Tuy vậy
tuỳ từng giai đoạn, điều kiện lịch sử hay lập trường giai cấp mà các nhà triết học
có cách tiếp cận, cách quan niệm khác nhau về quy luật Mác - Ăngghen những
nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không có ý định xây dựng cuốn sách giáo khoa triết
học mà xây dựng một thứ triết học mô tả về tư duy và phương thức hoạt động
của con người hiện thực- những con người cải tạo thế giới xung quan và cải tạo
chính mình Vì vậy những khái niệm, những nguyên lý không được những nhà
kinh điển trực tiếp đưa ra mà chủ yếu trong quá trình giải quyết các vấn đề cụ
Trang 19thể các ông làm phong phú nội hàm, đặc điểm của các khái niệm, nguyên lý đó
Khái niệm “quy luật” cũng vậy
Ăngghen qua hai tác phẩm “Chống Đuyrinh” và “Biện chứng tự nhiên”
không đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về quy luật mà chỉ đưa ra đặc trưng của
quy luật Ăngghen nhấn mạnh tính phổ biến của quy luật ông cho rằng quy luật
là cái xẩy ra ở bất cứ nơi nào lúc nào khi có những điều kiện cho phép được thực
hiện Ăngghen viết: “hình thức của tính phổ biến trong tự nhiên là quy luật”
[1.724] Nếu Hêghen mới chỉ coi quy luật là tính phổ biến của tinh thần, của ý
niệm tuyệt đối thì Ăngghen quan niệm quy luật trên cơ sở duy vật, quy luật là
tính phổ biến của tự nhiên là cái tất nhiên thể hiện ra thông qua vô vàn cái ngẫu
nhiên cái hỗn độn của vô số biến đổi Dựa trên sự tổng kết thành tựu khoa học tự
nhiên Ăngghen đã khẳng định rằng: Quy luật là cái chi phối tính ngẫu nhiên bề
ngoài của sự kiện, quy luật là cái bản chất, cái tất nhiên của sự vật nhưng nó lại
chi phối và được biểu hiện thông qua vô số sự biến đổi
Mặc dù không đưa ra khái niệm quy luật nhưng Ăngghen nhấn mạnh đặc
trưng: Tính phổ biến, tính tất nhiên của quy luật góp phần hình thành và hoàn
thiện quan niệm quy luật mà ngày này ta có: Quy luật là những liên hệ căn bản,
phổ biến lặp đi lặp lại trong các sự vật hiện tượng quy định sự tồn tại và phát
triển của chúng
Từ trước đến nay dường như khi tìm hiểu về quy luật trong hai tác phẩm
của Ăngghen “Chống Đuyrinh” và “Biện chứng tự nhiên” chúng ta chỉ tập trung
tìm hiểu nội dung ba quy luật cơ bản của phép biện chứng mà không chú ý đến
tính khách quan, tính lịch sử, mối quan hệ giữa quy luật của hiện thực và quy
luật của tư duy, đặc điểm của quy luật biện chứng trong hai tác phẩm trên Tuy
nhiên, đây là những vẫn đề rất quan trọng và góp phần lớn vào việc làm sâu sắc
hơn ba quy luật cơ bản của phép biện chứng
1.3.1 TÍNH KHÁCH QUAN VÀ TÍNH LỊCH SỬ CỦA QUY LUẬT
Trong lịch sử triết học đã có quan niệm cho rằng quy luật không tồn tại một
cách khách quan mà chỉ tồn tại trong quan hệ với chủ thể, quy luật được ấn định
Trang 20một cách tiên nghiệm cho các hiện tượng Điều này là hoàn toàn vô lý bởi lẽ quy
luật tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý muốn chủ quan của con người
Ăngghen khẳng định nguồn gốc khách quan của quy luật trong luận điểm "Sau
cùng đối với chúng tôi không thể là đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài
vào giới tự nhiên mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ
giới tự nhiên" [1;25] Quy luật là những liên hệ cơ bản phổ biến và tất yếu của
bản thân sự vật và tuyệt nhiên không thể có những quy luật tồn tại một cách độc
lập bên ngoài các sự vật hiện tượng, bên ngoài thế giới vật chất và được đưa vào
thế giới vật chất Quan niệm cho rằng quy luật là sự phản ánh, triển khai của "ý
niệm tuyệt đối" là hạn chế cơ bản của triết học Hêghen Quan điểm này đã được
Ăngghen khắc phục bằng cách giải quyết vấn đề quy luật trên cơ sở duy vật biện
chứng Cái khác nhau cơ bản giữa triết học Hêghen và triết học của Ăngghen là
ở chỗ Hêghen xây dựng quan điểm triết học của mình trên cơ sở duy tâm khách
quan Chính vì vậy, dù cùng khẳng định tính khách quan của quy luật như quan
điểm của Ăngghen khác về chất so với quan điểm của Hêghen Quy luật trong
triết học Hêghen mang mầu sắc thần bí, còn Ăngghen khi kế thừa quan điểm
biện chứng của Hêghen về quy luật đã khẳng dịnh "Và một trong những nguyện
vọng của chúng tôi là tách những quy luật đó ra khỏi cái vỏ thần bí và trình bày
chúng một cách rõ ràng với tất cả tính đơn giản và tính phổ biến của chúng"
[1;23]
Quy luật nằm chính trong sự vật hiện tượng, trong những mối liên hệ của
chúng, quy định sự tồn tại của chúng Điều đó đúng với cả quy luật của giới tự
nhiên và quy luật xã hội, thậm chí là quy luật của tư duy cũng không phụ thuộc
vào ý muốn chủ quan của con người Sở dĩ, vẫn có những ý đồ muốn coi quy
luật là sản phẩm thuần tuý của tinh thần do quy luật là cái không dễ nhìn thấy,
không dễ nắm bắt, nó thường được che đậy bởi tính ngẫu nhiên Mọi quy luật
dưới dạng thuần tuý đều là kết quả của sự khái quát về mặt lý luận những hình
thức tồn tại hiện thực của quy luật, có nghĩa rằng đều là sự trừu tượng Việc
nhận thức quy luật thường trên cơ sở trừu tượng hoá những cái ngẫu nhiên Như
Ăngghen nói: "Nhưng cũng như trong mọi lĩnh vực tư duy, đến một trình độ
Trang 21phát triển nào đó, quy luật được rút ra bằng con đường trừu tượng hoá từ thế
giới hiện thực cũng bị tách ra khỏi thế giới hiện thực, đem đối lập với thế giới
hiện thực như là một cái gì độc lập, như là những quy luật từ bên ngoài mà thế
giới phải thích ứng theo" [1;59] Chính vì vậy, những quan niệm tuyệt đối hoá
vai trò của ý thức, vai trò của tinh thần dễ lợi dụng tính trừu tượng của quy luật
để khoác cho nó một sức mạnh thần bí, tách nó tuyệt đối ra khỏi thế giới hiện
thực rồi lại cho nó chi phối thế giới hiện thực không phải với tư cách là quy luật
nội tại mà một quy luật được đưa từ ngoài vào Trong thực tế không tồn tại
những quy luật dưới dạng thuần tuý như thế, mà mỗi quy luật đều có hình thức
biểu hiện nhất định trong những điều kiện lịch sử cụ thể Việc nhận thức các
hình thức biểu hiện của quy luật một cách khách quan là cần thiết để vận dụng
những quy luật đó
Tính khách quan của quy luật còn thể hiện ở chỗ, trong lĩnh vực xã hội mặc
dù nhân tố hoạt động hoàn toàn là con người có ý thức, hoạt động có mục đích,
mỗi người đều có mong muốn riêng của mình song không vì thế mà quy luật xã
hội phụ thuộc vào mục đích, mong muốn của những cá nhân riêng lẻ Ngược lại
quá trình hoạt động của những cá nhân riêng lẻ với tư cách là cái ngẫu nhiên vẫn
luôn bị chi phối bởi những quy luật nội tại của xã hội Vì lẽ đó con người trong
quá trình hoạt động theo mục đích của mình không nên đem ý kiến cá nhân áp
đặt cho thế giới hiện thực, không được tuỳ tiện đưa ra những quy luật rồi khuôn
tự nhiên theo những quy luật ấy Vấn đề là phải phát hiện ra quy luật của tự
nhiên và xã hội trong những ngẫu nhiên bề ngoài, từ đó hoạt động tuân theo tính
khách quan của quy luật,
Quy luật có tính khách quan là mối liên hệ tồn tại một cách phổ biến trong
thế giới khách quan Nhưng như vậy không có nghĩa là có thể đem áp dụng quy
luật một cách tuỳ ý, không có nghĩa là khi đã phát hiện ra quy luật thì quy luật
tồn tại vĩnh viễn bất biến Mỗi quy luật chỉ có tác động trong một lĩnh vực nhất
định, những điều kiện nhất định Vì vậy cần đề cập tới tính lịch sử của quy luật
Tính lịch sử của quy luật biểu hiện dưới hai dạng: đó là mỗi quy luật đều tồn tại
Trang 22và tác động trong những điều kiện lịch sử nhất định; thứ hai là tính lịch sử của
quy luật biểu hiện ở mức độ thuần khiết của điều kiện sẽ tác động đến mức độ
biểu hiện của quy luật Hình thức biểu hiện thứ hai thường thấy nhiều trong các
quy luật xã hội Trong các tác phẩm của mình Ăngghen ít đề cập đến khía cạnh
này mà yếu tập trung phân tích hình thức biểu hiện thứ nhất Ông cho rằng mỗi
quy luật chỉ tác động trong những điều kiện nhất định Quy luật tồn tại khi
những điều kiện tồn tại, nó mất đi cùng với sự mất đi của những điều kiện ấy
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên", ông đã chỉ ra "những quy luật vĩnh
viễn của tự nhiên cũng ngày càng chuyển hoá thành những quy luật của lịch sử
Nước ở thể lỏng trong khoảng từ 0 độ đến 100 độ C đó là quy luật vĩnh viễn của
tự nhiên Nhưng muốn cho quy luất ấy có hiệu lực thì cần phải có 1) Nước, 2)
Một nhiệt độ nhất định và 3) Một áp suất bình thường Trên mặt trăng không có
nước; trên mặt trời chỉ có nguyên tố của nước thôi, và đối với những thiên thể ấy
quy luật nói trên không tồn tại" [1;730] Ăngghen, những điều kiện nước nhiệt
độ nhất định, áp suát bình thường là những yếu tố đảm bảo cho quy luật "nước ở
thể lỏng từ 0 độ đến 100 độ C" tồn tại Thiếu một trong ba điều kiện ấy thì quy
luật trên cũng không phát huy tác dụng Một minh hoạ khác Ăngghen cho rằng,
những quy luật của khí tượng học cũng vĩnh viễn nhưng chỉ đối với trái đất,
hoặc đối với một thiên thể nào có kích thước, tỷ trọng, độ nghiêng vào nhiệt độ
của trái đất và giả thiết rằng thiên thể ấy bị bao bọc bởi một khí quyển với một
sự hỗn hợp của khí ôxy và nitơ như vậy và với một số lượng hơi bốc lên và
ngưng tụ như vậy trên mặt trăng hoàn toàn không có khí quyển; mặt trời có khí
quyển do những hơi kim loại cháy đỏ tạo nên; vì thế mặt trăng hoàn toàn không
có khí tượng học, còn khí tượng học trên mặt trời thì hoàn toàn khác ở ta"
'[1;730']'
Bằng những minh họa cụ thể từ lĩnh vực khoa học tự nhiên, Ăngghen đã
chứng minh tính lịch sử của quy luật tự nhiên Tính lịch sử của quy luật cũng
biểu hiện rõ trong quy luật xã hội nhưng trong tác phẩm của mình Ăngghen
không đề cập đến vấn đề đó Ta có thể tìm hiểu trong một số tác phẩm của Mác
để rõ hơn điều này Mác viêt "nếu tôi xoá bỏ lao động làm thuê thì cố nhiên tôi
Trang 23cũng xoá bỏ luôn cả những quy luật của nó, dù cho những quy luật ấy bằng sắt
hay bằng bọt biển thì cũng thế" (9.41)
Ta thấy rằng thế giới vật chất tồn tại vô số quy luật, nhưng mỗi quy luật chỉ
tồn tại, tác động trong những lĩnh vực, những điều kiện nhất định Ta không thể
đem quy luật của tự nhiên áp dụng cho lĩnh vực xã hội, cũng không thể đem quy
luật khí tượng học lên mặt trăng để kiểm chứng kết quả Như vậy tính phổ biến
của quy luật không đồng nhất với tính phi lịch sử của quy luật, nhưng chúng
luôn liên hệ chặt chẽ với nhau
Quy luật là mối liên hệ phổ biến, bản chất, tất yếu của sự vật hiện tượng
nhưng nó chỉ phổ biến trong những điều kiện mà ở đó tồn tại Quán triệt quan
điểm này khi xem xét bất cứ một quy luật tự nhiên hay xã hội để vân dụng trong
hoạt động thực hiện, cần phải xem xét những điều kiện quy định sự tồn tại của
quy luật đó để có thể áp dụng quy luật một cách chính xác
1.3.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY LUẬT CỦA HIỆN THỰC VÀ QUY LUẬT
CỦA TƯ DUY
Khi xem xét mối quan hệ giữa quy luật của hiện thực với quy luật của tư
duy, các nhà triết học trước Mác đã có những điểm khác nhau Các nhà duy vật
siêu hình xuất phát từ quan điểm cho rằng mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại một
cách cô lập, tách rời, không có sự liên hệ, nên họ không lý giải được mối quan
hệ giữa quy luật của hiện thực khách quan và quy luật của tư duy Họ không thể
thấy được sự thống nhất giữa các quy luật phát triển của thế giới vật chất với
những quy luật phát triển của ý thức, tư duy con người Những nhà triết học duy
vật siêu hình không thể hiểu được rằng nhận thức của con người về thế giới vật
chất với những quy luật phát triển của ý thức, tư duy con người Những nhà triết
học duy vật siêu hình không thể hiểu được rằng nhận thức của con người về thế
giới vật chất là sự phản ánh thế giới đó vào đầu óc người ta Bởi vậy nhận thức
ấy không thể được thực hiện theo những quy luật hoàn toàn khác so với quy luật
của bản thân thế giới vật chất
Trang 24Trong các nhà triết học tư sản phản động hiện đại, việc tách rời nhận thức
của con người khỏi sự phát triển của thế giới khách quan vẫn luôn được thực
hiện thậm chí còn mang những hình thức hết sức phản động Họ cho rằng nhận
thức của con người không phải là sự phản ánh các sự vật hiện tượng khách quan
mà chỉ là sự cấu tạo chủ quan của lý trí con người Rằng những quy luật phát
triển của tồn tại không có gì chung với những quy luật phát triển của tư duy và
nhận thức, rằng khi nhận thức thế giới xung quanh, chúng ta không được dựa
vào những học thuyết về quy luật phát triển của thế giới vật chất khách quan, mà
phải xây dựng nên một vực sâu ngăn cách giữa thế giới hiện thực với sự nhận
thức thế giới ấy Họ phủ định tất cả những mối liên hệ giữa quy luật của tư duy
với quy luật của hiện thực Chỉ đến Hêgel, mối liên hệ giữa quy luật của tư duy
với quy luật của hiện thực mới được thừa nhận Tuy nhiên, mối quan hệ đó lại
được xây dựng trên cơ sở thế giới quan biện chứng duy tâm khách quan Mối
quan hệ biện chứng giữa quy luật của tư duy với quy luật của tồn tại được Hêgel
giải thích theo cách quy luật của hiện thực là sự biểu hiện, sự triển khai của ý
niệm tuyệt đối
Khắc phục hạn chế của Hêgel và kiên quyết chống lại quan điểm siêu hình,
Ăngghen giải quyết mối quan hệ giữa quy luật của hiện thực với quy luật của tư
duy trên lập trường duy vật biện chứng Xuất phát từ việc giải quyết một cách
biện chứng mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, Ăngghen cho rằng quy luật của
hiện thực và quy luật của nhận thức thực chất chỉ khác nhau về hình thức biểu
hiện còn đồng nhất về mặt nội dung Quy luật của hiện thực là mối liên hệ căn
bản, phổ biến của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, còn quy luật của
nhận thức là sự phản ánh những mối liên hệ ấy vào bộ não con người Ông viết:
"Người ta ắt phải hết sức ngạc nhiên khi thấy ý thức và giới tự nhiên; tư duy và
tồn tại, những quy luật của tư duy và những quy luật của thế giới tự nhiên lại
phù hợp với nhau đến thế Nhưng sau đó, nếu người ta đặt câu hỏi rằng tư duy
và ý thức là gì, chúng từ đâu đến, thì người ta sẽ thấy rằng chúng là sản vật của
bộ óc con người và bản thân con người, là sản vật của giới tự nhiên, một sản vật
phát triển trong môi trường nhất định và cùng với môi trường đó Vì vậy, lẽ tự
Trang 25nhiên là những sản vật của bộ óc con người - quy đến cùng, cũng là sản vật của
giới tự nhiên - không mâu thuẫn mà còn phù hợp với mối liên hệ còn lại của giới
tự nhiên" [1; 55]
Như vậy là cùng với việc khẳng định mối liên hệ đồng nhất tương đối giữa
quy luật của tồn tại và quy luật của tư duy, Ăngghen đã chỉ rõ nguồn gốc của sự
đồng nhất đó chính là thuộc tính phản ánh của vật chất Mối liên hệ giữa hai
hình thức quy luật ấy thực chất cũng là phản ánh mối liên hệ phổ biến của thế
giới vật chất Việc tách rời một cách tuyệt đối giữa quy luật của hiện thực với
quy luật của tư duy sẽ hạn chế khả năng nhận thức của con người Người ta sẽ
lúng túng khi trả lời câu hỏi, thực chất quy luật của tư duy là gì, quy luật của tư
duy do đâu mà có? Nếu xuất phát từ chỗ phủ nhận mối liên hệ giữa hai hình thức
quy luật thì cuối cùng sẽ dẫn đến lý giải quy luật của tư duy rút ra từ chính bản
thân tư duy Như vậy vấn đề sẽ bị đảo ngược lại, quy luật không được rút ra từ
giới tự nhiên mà được đưa vào giới tự nhiên như một cách tiên nghiệm, có sẵn
Quy luật không phải là kết quả của quá trình nhận thức mà là điểm xuất phát của
quá trình nhận thức Điều đó cũng có nghĩa là người ta biết bản chất của sự vật
trước khi biết sự vật đó như thế nào Cách giải quyết siêu hình về quan hệ giữa
quy luật của tồn tại và quy luật của tư duy dẫn đến giải thích một cách phi lịch
sử về quy luật, quy luật tồn tại như là cái bất biến Từ việc hống lại quan điểm
siêu hình, cụ thể là quan điểm của Đuyrinh, Ăngghen đã giải quyết một cách
khoa học mối liên hệ giữa hai loại quy luật nói trên Trong tác phẩm "Biện
chứng của tự nhiên" khi chỉ ra sự khô khan trong cách phân loại, phán đoán của
Hêghen, Ăngghen cũng nhận xét rằng nó có cơ sở sâu sắc không chỉ trong quy
luật của tư duy mà cả trong quy luật của giới tự nhiên "cái mà Hêghen gọi là sự
phát triển hình thức của tư duy của phán đoán với tính cách là phán đoán thì ở
đây đã thành ra sự phát triển của tri thức lý luận của chúng ta Về bản chất của
vận động nói chung, tri thức dựa trên một cơ sở kinh nghiệm Chính cái đó
chứng minh rằng những quy luật của tư duy và những quy luật của tự nhiên nhất
trí với nhau một cách tất nhiên nếu như người ta hiểu chúng một cách đúng đắn”
[1;712] Quy luật của thế giới bên ngoài và của tư duy về thực chất là đồng nhất
Trang 26Bởi vậy nhận thức của con người càng gần với tự nhiên thì tri thức của con
người về thế giới càng được nâng cao, càng gần với chân lý khách quan Cái
khác nhau giữa hai quy luật trên là ở chỗ quy luật của tự nhiên xã hội có thể tự
mở cho mình đường đi giữa một loạt những ngẫu nhiên bề ngoài Còn bộ óc của
con người có thể vận dụng những quy luật đó một cách có ý thức Luận điểm
"vận dụng quy luật một cách có ý thức" của Ăngghen ở đây không có nghĩa là
trong lĩnh vực tư duy quy luật hình thành tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của
chủ thể, mà nó chỉ có nghĩa rằng con người có khả năng nhận thức quy luật của
hiện thực, phản ánh quy luật ấy vào trong tư duy Quá trình phản ánh quy luật và
tư duy cũng luôn phải đảm bảo tính khách quan của quy luật Tư duy của con
người chỉ có thể có trên cơ sở nhận thức đúng đắn về quy luật hiện thực và chỉ
đạo hoạt động thực tiễn tuân theo những quy luật ấy
Phát triển tư tưởng của Ăngghen, sau này Lênin khẳng định: "Thế giới là
một sự vận động có quy luật của vật chất, và nhận thức của chúng ta - sản phẩm
cao nhất của giới tự nhiên - chỉ có thể phản ánh tính quy luật đó mà thôi [7;201]
Quán triệt quan điểm trên, khi nhận thức quy luật, chúng ta phải quan tâm,
phát hiện ra sự liên hệ giữa quy luật của tồn tại và của tư duy Nếu không có cái
nhìn biện chứng khi xem xét mối liên hệ này thì trong khoa học sẽ rất dễ rơi vào
tự biện, coi thường nguồn gốc khách quan của quy luật Ở đây một lần nữa ta
thấy sức mạnh của quan điểm duy vật biện chứng trong việc soi sáng vấn đề quy
luật
1.3.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA QUY LUẬT BIỆN CHỨNG
Thế giới vật chất tồn tại rất nhiều quy luật, tuỳ vào phạm vi tác động của
chúng mà người ta phân ra thành quy luật phổ biến, quy luật đặc thù và quy luật
chung Quy luật phổ biến hay quy luật của phép biện chứng có phạm vi tác động
rộng nhất Nó chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy Trong thời đại của
Ăngghen, việc tổng kết, khái quát quy luật của phép biện chứng duy vật là một
nhiệm vụ lịch sử cấp thiết Chúng ta thấy rằng trình độ lý luận của sự phát triển
khoa học tự nhiên lúc này rất cao, đòi hỏi phải có một phương pháp tư duy đúng
Trang 27đắn, tức là phương pháp tư duy biện chứng duy vật phát hiện ra không tồn tại
bên cạnh những mối liên hệ cơ bản phổ biến, đặc trưng cho sự vận động và phát
triển của hiện thực khách quan Nói khác đi, phép biện chứng không phải là học
thuyết về một lĩnh vực riêng biệt nào của hiện thực, độc lập với các lĩnh vực
hiện thức khác với tư cách là đối tượng cua khoa học cụ thể Khi nghiên cứu tự
nhiên và xã hội, các khoa học cụ thể đều đụng chạm một cách có ý thức hoặc
không có ý thức đến những biểu hiện của các quy luật của phép biện chứng
khách quan Cái khác nhau giữa quy luật biện chứng và các quy luật cụ thể
chính là ở phạm vi tác động của nó Ngoài ra quy luật biện chứng cũng có chung
những đặc điểm như các quy luật cụ thể khác
Tính khách quan của quy luật biện chứng được Ăngghen khẳng định: "Chính
từ lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội loài người mà người ta đã rút ra được những
quy luật của phép biện chứng Những quy luật không phải là cái gì khác hơn là
những quy luật chung nhất của hai giai đoạn phát triển lịch sử ấy cũng như bản
thân tư duy Về thực chất các quy luật ấy quy lại thành ba quy luật sau:
Quy luật về sự chuyển hoá từ số lượng thành chất lượng và ngược lại; Quy
luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập; Quy luật về sự phủ định của
phủ định [1;510]
Con người nhận biết được những quy luật chung nhất này là do phân tích về
măt triết học những quy luật và những mối liên hệ riêng lẻ Tuy nhiên, phép biện
chứng không mang đến mệnh lệnh mà chỉ thực hiện vai trò định hướng về mặt
phương pháp luận với nghiên cứu tự nhiên, xã hội và tư duy Theo Ăngghen,
phép biện chứng là phương pháp tìm hiểu thế giới về mặt lý luận và đồng thời
nó là phương pháp phổ biến hoàn toàn có triển vọng như truyền thống tư duy lâu
dài đã chứng thực Phương pháp không thể gán cho công trình nghiên cứu
những kết quả có sẵn mà nó hướng việc nghiên cứu vào con đường có thể bảo
đảm thu được kết quả
Trên cơ sở cho rằng các quy luật có nội dung khách quan, phản ánh bản chất
của hiện thực, đồng thời chúng lại mang hình thức chủ quan khi được sản sinh ra
Trang 28trong đầu óc con người Ăngghen xác định sự thống nhất giữa phép biện chứng
khách quan và phép biện chứng chủ quan: "Biện chứng được gọi là khách quan
thì chi phối toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy
biện chứng thì chỉ phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên" [1;694]
Trong "Lutvích Phơbách và sự cáo chung của triết học ổ điển Đức", Ăngghen
viêt: "phép biện chứng được quy thành khoa học về các quy luật chung của sự
vận động của thế giới bên ngoài cũng như tư duy của con người, - với hai loại
quy luật đồng nhất về thực chất, nhưng khác nhau về biểu hiện; theo ý nghĩa là
bộ óc con người có thể vận dụng các quy luật đó một cách có ý thức, còn trong
tự nhiên, - và cho đến nay, phần lớn cả trong lịch sử loài người - những quy luật
đó tự mở cho mình con đường đi, một cách vô ý thức, dưới hình thức tất yếu bên
ngoài, giữa một loạt vô cùng tận những sự ngẫu nhiên bề ngoài Nhưng như vậy
thì bản thân biện chứng của ý niệm cũng chỉ tồn tại đơn thuần là sự phản ánh có
ý thức của vận động biện chứng của thế giới hiện thực" [1; 429-430] Như vậy
là, quy luật biện chứng của tư duy chỉ là sự phản ánh quy luật của thực tại Việc
Ăngghen khẳng định biện chứng của ý niệm là sự phản ánh biện chứng của hiện
thực đã khắc phục quan điểm duy tâm của Hêghen Nó là cho phép biện chứng
của Hêghen từ chỗ "đứng bằng đầu" nay được đặt "đứng bằng chân" Mối quan
hệ giữa biện chứng của tư duy với biện chứng của hiện thực đã được giải quyết
một cách khoa học Việc tách quy luật biện chứng của tư duy với biện chứng của
hiện thực, cái này ra khỏi cái kia cùng lắm cũng chỉ thực hiện được trong ý nghĩ
của con người chứ hoàn toàn không thể phân chia trong thực tế Ý đồ tách chúng
một cách độc lập thì chỉ có thể thực hiện bằng phương pháp siêu hình và trước
sau cũng rơi vào duy tâm
Với tư cách là các quy luật phổ biến, quy luật biện chứng có phạm vi tác
động rộng hơn rất nhiều so với các quy luật của khoa học cụ thể Những quy luật
này không bị hạn chế bởi những điều kiện nhất định hoặc những nhóm sự vật
đặc thù nào cả
Trang 29Những quy luật của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa lớn đối với nhận
thức của con người về thế giới khách quan Cũng như quy luật của các khoa học
khác, các quy luật của phép biện chứng duy vật phản ánh mối liên hệ bản chất
của thế giới Nhưng quy luật của phép biện chứng duy vật khác với các quy luật
của khoa học tự nhiên và xã hội ở chỗ, quy luật của khoa học cụ thể phản ánh
những loại hình riêng biệt của sự vận động vật chất, do đó chúng chỉ tác động
trong những điều kiện, những nơi có giới hạn và được xác định Còn quy luật
của phép biện chứng duy vật lại là cơ sở của mọi sự vận động, chi phối mọi loại
hình của phép biện chứng cũng là cơ sở của mọi quá trình nhận thức Nghiên
cứu bất cứ lĩnh vực nào của thực tế, bất cứ sự vật hiện tượng nào trong lĩnh vực
đó, trước hết ta phải biết sự biến đổi, sự phát triển, chuyển hoá về chất lượng của
nó trước đây đã được thực hiện và sau này sẽ được thực hiện theo những quy
luật của phép biện chứng duy vật Điều đó cho phép ta có khả năng vạch ra quá
khứ của những hiện thực đó, tìm ra mối liên hệ của nó với các hiện tượng khác,
xác định khuynh hướng phát triển sau này của nó và cuối cùng điều này giúp ta
hiểu một cách sâu sắc của bản chất của hiện tượng Nhận thức, nắm bắt được
các quy luật của phép biện chứng duy vật sẽ trang bị cho ta phương pháp luận,
giúp tìm được cách giải quyết triệt để các vấn đề của hiện thực cũng như của tư
duy Đồng thời nó còn là cơ sở phương pháp luận cho việc phát hiện ra quy luật
của các khoa học cụ thể
Như trên đã nói, quy luật biện chứng phổ biến đối với cả tự nhiên, xã hội và
tư duy song trong các tác phẩm của mình, do yêu cầu của hoàn cảnh lịch sử cụ
thể, quan điểm về quy luật biện chứng của Ăngghen chủ yếu được nêu ra trong
những trình bày về lĩnh vực khoa học tự nhiên Đặc biệt trong tác phẩm "Biện
chứng của tự nhiên", Ăngghen khẳng định "ở đây chúng tôi không có ý định viết
một cuốn sách phổ thông về phép biện chứng mà chúng tôi chỉ muốn chứng
minh rằng những quy luật biệưn chứng là những quy luật thật sự của sjư phát
triển của giới tự nhiên, tức là những quy luật đó có giá trị đối với khoa học tự
nhiên nhiên lý thuyết Vì thế cho nên chúng tôi không thể xem xét một cách chi
tiết mối liên hệ bên trong giữa những quy luật ấy với nhau" [1; 511] Tuy tự