Có thể nói, tác phẩm “Chống Đuy rinh” là một trong những tác phẩm lớn, đồ sộ trong hệ thống các tác phẩm của chủ nghĩa Mác Lênin. Tác phẩm này giữ một vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong kho tàng lý luận đồ sộ mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin để lại cho nhân loại. Nội dung của tác phẩm bao quát khá toàn diện. Đồng thời, nó khái quát một cách sâu sắc những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác. Lần đầu tiên, ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác (cả triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học) được đúc kết một cách hệ thống trong tác phẩm. Chính vì vậy, tác phẩm này được đánh giá như là một cuốn sách bách khoa toàn thư của chủ nghĩa Mác. Khi nhận xét về tác phẩm, Lênin cho rằng: đây là một trong những cuốn sách gối đầu giường của những người công nhân giác ngộ.
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH” VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG RÈN LUYỆN, PHÁT TRIỂN
TƯ DUY NGƯỜI CỘNG SẢN HIỆN NAY
Có thể nói, tác phẩm “Chống Đuy -rinh” là một trong những tác phẩmlớn, đồ sộ trong hệ thống các tác phẩm của chủ nghĩa Mác - Lênin Tác phẩmnày giữ một vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong kho tàng lý luận đồ sộ màcác nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin để lại cho nhân loại Nội dungcủa tác phẩm bao quát khá toàn diện Đồng thời, nó khái quát một cách sâusắc những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác Lần đầu tiên, ba bộ phận cấuthành của chủ nghĩa Mác (cả triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xãhội khoa học) được đúc kết một cách hệ thống trong tác phẩm Chính vì vậy,tác phẩm này được đánh giá như là một cuốn sách bách khoa toàn thư của chủnghĩa Mác Khi nhận xét về tác phẩm, Lênin cho rằng: đây là một trongnhững cuốn sách gối đầu giường của những người công nhân giác ngộ
Mặc dù nội dung của tác phẩm là sự tổng hợp của ba bộ phận cấu thànhchủ nghĩa Mác, nhưng chúng ta thấy tư tưởng về triết học là cơ bản, trong đó
tư tưởng về phép biện chứng duy vật được trình bày rõ nét nhất Vì vậy, việcnghiên cứu những vấn đề về phép biện chứng duy vật trong tác phẩm có ýnghĩa to lớn cả về mặt lịch sử và hiện thực, cả mặt lý luận và thực tiễn, cả vềnội dung khoa học và vấn đề rèn luyện, phát triển tư duy khoa học của cộngsản chân chính hiện nay
1 Về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Tác phẩm “Chống Đuy -rinh” được Ph Ăngghen viết từ tháng 9 năm
1876 đến tháng 6 năm 1878, lúc đầu các tư tưởng của tác phẩm chỉ được trìnhbày dưới dạng các bài báo, về sau này các bài báo được tập hợp lại và inthành sách để xuất bản Khi tác phẩm còn ở dạng bản thảo, Mác đã đọc bảnthảo đó và viết thêm chương X của phần II, trình bày một số vấn đề lịch sử
Trang 2kinh tế chính trị học Tuy nhiên, sau khi tác phẩm xuất bản không lâu thì bịchính quyền cấm lưu hành vì lý do chính trị.
Bối cảnh chính trị - xã hội, khi Ph Ăngghen viết tác phẩm này (cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX), lúc này chủ nghĩa tư bản đã phát triển rộng rãi ởChâu Âu và đã khẳng định ưu thế cũng như vị trí của nó đối với tiến trình pháttriển của lịch sử Bên cạnh những đóng nhất định đối với tiến trình phát triểncủa lịch sử, mà đặc biệt là sự phát triển của sản xuất vật chất xã hội, chủ nghĩa tưbản đã ngày càng bộc lộ rõ bản chất thối nát, phản động, phản tiến bộ Điều này
đã làm nảy sinh tính tất yếu đòi hỏi phải thay thế cái chế độ thối nát, bất công,phản tiến bộ đó bằng một chế độ mới về chất, xã hội cộng sản chủ nghĩa
Bản thân nước Đức lúc bấy giờ vẫn ở trong tình trạng một nước phongkiến lạc hậu, chậm phát triển, giai cấp tư sản Đức thì nhỏ lẻ, phân tán, trênthực tế nó vừa yếu về kinh tế vừa bạc nhược về chính trị Chính vì lẽ đó, giaicấp tư sản Đức chỉ dám làm cuộc cách mạng trong tư tưởng, chứ không dámtiến hành cuộc cách mạng xã hội trên thực tế Hơn nữa, chính giai cấp tư sảnĐức cũng tự ý thức được rằng, nếu như cách mạng thành công, nó sẽ phảitrực tiếp đối mặt với một giai cấp mới - giai cấp vô sản, một giai cấp đã thểhiện rõ sức mạnh của mình ở các nước tư bản Châu Âu thời đó Điều này đãphản ánh rõ tính hai mặt của giai cấp tư sản Đức Tuy nhiên, ngay chính giaicấp vô sản Đức lúc này cũng bị chia rẽ sâu sắc do sự thao túng của các tràolưu tư tưởng cơ hội, xét lại tiểu tư sản đang mọc ra như nấm sau một trận mưarào, như Ph Ăngghen từng nhận xét
Đặc biệt, vào năm 1875, Đuy -rinh đã viết một loạt bài công kích gay gắtchủ nghĩa Mác Những quan điểm triết học mà Đuy -rinh đưa ra là một món xúphầm chiết trung, hổ đốn cả chủ nghĩa duy vật tầm thường, cả chủ nghĩa thựcchứng, cũng như chủ nghĩa duy tâm trộn lẫn vào nhau Điều nguy hiểm là cái móntriết học hổ đốn, chiết trung ấy lại được một số thành viên của Đảng xã hội - dân
Trang 3chủ Đức vừa mới thành lập đồng tình, cố xuý và thậm chí còn định truyền bá rộngrãi cái học thuyết lộn phèo, phản động, phản khoa học đó.
Một đòi hỏi khách quan của thực tiễn lúc bấy giờ đặt ra, đó là: phảithanh toán toàn bộ những quan điểm phản động, ngăn chặn khuynh hướngchia rẽ trong nội bộ Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong tình hìnhmới Tác phẩm “Chống Đuy -rinh”, một tác phẩm mang tính bút chiến vàbách khoa về nội dung ra đời trong hoàn cảnh đó
2 Một số vấn đề phép biện chứng trong tác phẩm “Chống Đuy -rinh”
Như đã trình bày ở trên, đây là một tác phẩm hết sức đồ sộ, nội dungbao quát rộng lớn, trên tất cả ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác Trong nộidung bài thu hoạch này, tác giả chỉ tập trung bàn tới một số vấn đề cơ bản vềphép biện chứng mà Ph Ăngghen, trong quá trình luận chiến với Đuy - rinh,
đề cập tới trong tác phẩm “Chống Đuy -rinh”
* Sự ra đời của phép biện chứng duy vật như là một tất yếu khách quan.
Trước hết, chúng ta tìm hiểu đôi chút về ông Đuy rinh Ông Ơ Đuy rinh là một nhà triết học chiết trung chủ nghĩa, nhà kinh tế học tầm thường,nhà siêu hình, duy tâm và đại biểu cho tầng lớp tiểu tư sản phản động ở Đức.Đuy -rinh đã từng là phó giáo sư ở trường đại học béclin, ông có kiến thứckhá rộng cả về vật lý, toán học, cơ học và nói chung, ông là người khá uyênbác về khoa học tự nhiên
-Tuy nhiên, Đuy -rinh là một con người khá kiêu căng, tự cao, tự đạo.Chính vì vậy mà Đuy -rinh không coi ai ra gì, kể cả Hêghen và Mác Về lĩnhvực triết học, ông chỉ công nhận có ba người, đó là Cantơ, Hêghen và Mác.Trong đó, ông ta ngạo mạn cho rằng chỉ có Cantơ là tạm được còn sau Cantơthì cũng chẳng có gì đáng kể, ngay với Mác, ông ta cho rằng cùng lắm cũngchỉ như bác học người Tầu mà thôi
Trang 4Còn đối với lĩnh vực khoa học tự nhiên, ông ta chỉ công nhận có Đác uyn mà thôi Đuy -rinh có tham vọng lớn về chính trị, mong muốn xây dựngmột hệ thống lý luận đồ sộ mang tên chủ nghĩa Đuy -rinh để truyền bá vàophong trào sinh viên và công nhân Đức Song hệ thống triết học của Đuy -rinh, về thực chất là sự sao chép triết học của Hêghen, Cantơ, là chủ nghĩachiết trung, trộn lẫn giữa chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa thựcchứng, chủ nghĩa duy tâm và sự kết hợp với phép siêu hình của thế kỷ XVII,XVIII của khoa học tự nhiên.
-Chính vì vậy, khi nhận trách nhiệm chống lại những quan niệm, tưtưởng phản động, phản khoa học của Đuy -rinh, Ph Ăngghen cho rằng nógiống như người ta ngậm phải, hoặc ngậm vào một thứ quả vừa to, vừa chua
và đã chót ngậm phải thì buộc phải ăn cho bằng hết
Trái với quan điểm và tính cách của Đuy -rinh, Ph Ăngghen đã kế thừa
có chọn lọc, phê phán đồng thời phát triển toàn bộ tri thức của nhân loại Từchỗ chứng minh rằng, quá trình thay thế các thời kỳ của lịch sử triết học là cótính quy luật, nó được biểu hiện thông qua việc các hình thức của phép biệnchứng duy vật là một tất yếu khách quan Nó là tất yếu khách quan, bởi vì, nó
đã có đầy đủ các tiền đề về lý luận cũng như các tiền đề về khoa học tự nhiên
Về lĩnh vực khoa học tự nhiên, Ph Ăngghen đã chỉ ra những thành tựu
vĩ đại, vạch thời đại mà khoa học tự nhiên lúc bấy giờ đã đạt được Thông qua
đó, Ph ăngghen đã chỉ ra ý nghĩa to lớn của những thành tựu đó đối với sự rađời của phép biện chứng duy vật Ph Ăngghen viết: “Giới tự nhiên là hòn đáthử vàng đối với phép biện chứng, và cần phải nói rằng khoa học tự nhiênhiện đại đã cung cấp cho cuộc thử nghiệm đấy những vật liệu hết sức phongphú và mỗi ngày một tăng thêm, và do đó đã chứng minh rằng trong tự nhiên,rút cục lại, mọi cái đều diễn ra một cách biện chứng chứ không phải siêuhình”1 Một mặt đề cao những đóng góp của khoa học tự nhiên hiện đại, mặt
1 Mác-Ăngghen, To n t àn t ập, Tập 20, Nxb CTQG, sự thật, H.1994, tr 38 - 39.
Trang 5khác Ph Ăngghen cũng lưu ý là do thói quen của phương pháp đặc thù củakhoa học tự nhiên, nếu đem vào triết học thì sẽ dễ rơi vào phương pháp siêuhình, máy móc Theo Ph Ăngghen, phương pháp đó nếu ở trong bốn bứctường thì ông là bạn già đáng kính, nhưng nó bước vào thế giới bao la thì sẽ làhết sức liều lĩnh.
Về phép biện chứng trong lịch sử, mà đặc biệt là phép biện chứng duytâm khách quan của Hêghen; Ph Ăngghen đánh giá các hạt nhân hợp lý trongtriết học của Hêghen, đồng thời cũng chỉ ra tính duy tâm, bảo thủ, siêu hìnhcủa hệ thống triết học ấy Việc vạch ra các mâu thuẫn giữa hệ thống vàphương pháp trong triết học Hêghen đã cho phép Ph Ăngghen chỉ ra: “…chỉ
có Mác và tôi đã nghiên cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duytâm”2 Và “đối với tôi, vấn đề là ở chỗ không thể đưa những quy luật biệnchứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng trong giới tựnhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên”3
Mặt khác, thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp lúc bấy giờ, mà trực tiếp
là phong trào đấu tranh của giai cấp công Đức đòi hỏi phải có một lý luậnkhoa học, một phương pháp cách mạng soi đường, dẫn dắt nó thoát khỏiảnh hưởng của tư tưởng xã hội chủ nghĩa tiểu tư sản do Đuy -rinh khởixướng và là đại biểu Như vậy, Ph Ăngghen đã minh chứng hùng hồn cho
sự ra đời của phép biện chứng duy vật như là một tất yếu hợp quy luật Nóchính là thế giới quan, phương pháp luận cách mạng, khoa học của giai cấp
vô sản trong cuộc đấu tranh nhằm nhận thức và cải tạo thế giới Ph Ăngghennhận xét: “Như thế là đã giải thích được tiến trình của nền sản xuất tư bản chủnghĩa cũng sự sản xuất ra chính bản thân tư bản Hai phát hiện vĩ đại ấy -quan niệm duy vật lịch sử và bóc trần bí mật của nền sản xuất tư bản chủnghĩa nhờ giá trị thặng dư - là công lao của Mác Nhờ hai phát minh ấy, chủnghĩa xã hội đã trở thành một khoa học và giờ đây vấn đề trước hết là phải
2 Sđd, t20, tr 22.
3 Sđd, t20, tr 25.
Trang 6tiếp tục nghiên cứu nó trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ tượng hỗ củanó”4.
* Ph Ăngghen coi phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy khoa học và chỉ ra sự đối lập về nguyên tắc giữa phép biện chứng và phép siêu hình, sự khác nhau căn bản giữa phép biện chứng mácxít và phép biện chứng duy tâm của Hêghen
Xuất phát từ quan điểm cho rằng, sự ra đời của phép biện chứng duyvật như là một tất yếu khách quan hợp với quy luật phát triển của lịch sử tưtưởng nhân loại, Ph Ăngghen coi đó là hình thức phát triển cao nhất của tưduy khoa học và đồng thời vạch ra sự đối lập về nguyên tắc giữa phép biệnchứng và phép siêu hình Theo Ph Ăngghen, muốn làm rõ sự đối lập giữaphép biện chứng và phép siêu hình thì trước hết, phải chỉ ra cái bản chấtcủa từng phương pháp, trên cơ sở đó mà chỉ ra đặc trưng cơ bản của chúng,rồi sau đó mới có thể chứng minh được về sự đối lập giữa hai phương pháp
tư duy ấy Như vậy, để thấy được sự đối lập, chúng ta phải đi từ nội dungbản chất của chúng Và do vậy, thông qua phê phán Đuy -rinh, Ph Ăngghenlàm rõ thực chất và những hạn chế của phương pháp siêu hình, khẳng định sự
ra đời của thế giới quan siêu hình là tất yếu khách quan, là kết quả hợp quyluật đối với một giai đoạn lịch sử nhất định Ngay trong phần “nhận xétchung” Ph Ăngghen đã chỉ ra, những thành tựu mà khoa học tự nhiên đạtđược từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, đã đi sâu vào phân tích thế giới,bằng cách phân tích, mổ xẻ, phân chia chúng thành từng bộ phận và đã đạtđược “những tiến bộ khổng lồ”, giúp chúng ta nhận thức giới tự nhiên mộtcách rõ ràng, sâu sắc hơn về các sự vật, hiện tượng cụ thể của nó
Phương pháp ấy đã được Bêcơn, Lốccơ…đưa vào triết học và hìnhthành nên phương pháp tư duy siêu hình Ph Ăngghen cũng chỉ ra đặc trưng
4 Sđd, t20, tr 45.
Trang 7cơ bản của phương pháp siêu hình, chỉ ra thực chất của nó để thấy được sựđối lập về nguyên tắc giữa phép biện chứng và siêu hình
Ph Ăngghen viết: “Đối với nhà siêu hình học thì những sự vật và sựphản ánh của chúng trong tư duy, tức là những khái niệm, đều là những đốitượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ, vĩnh viễn, phải được xem xétcái này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia, cái này độc lập với cái kia.Nhà nước siêu hình học suy nghĩ bằng sự tương phản hoàn toàn trực tiếp; họnói: có là có, không là không; ngoài cái đó ra chỉ là trò xảo quyệt”5
Ph Ăngghen cũng cho rằng, quan điểm siêu hình “Chỉ thấy những sựvật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy,chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh
và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những
sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây màkhông thấy rừng”6
Trái với quan điểm đó, quan điểm biện chứng không chỉ thấy những sựvật riêng biệt mà còn thấy cả mối liên hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy
sự tồn tại mà còn thấy cả quá trình sinh thành, tiêu vong của sự vật, không chỉthấy trạng thái tĩnh mà còn nhìn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉthấy cây mà còn thấy cả rừng Ph Ăngghen nêu lên “điều căn bản” củaphương pháp biện chứng là “xem xét những sự vật và những phán ánh củachúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sựràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”7
Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trongtrạng thái biệt lập, ngưng đọng với một tư duy cứng nhắc; còn phương phápbiện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ, ràng buộc lẫnnhau và trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm
5 Sđd, t20, tr 36,37.
6 Sđd, t20, tr 37.
7 Sđd, t20, tr 38.
Trang 8dẻo, linh hoạt đó chính là sự khác nhau về nguyên tắc giữa phép biện chứng
và phương pháp siêu hình
Cùng với việc chỉ ra sự đối lập về nguyên tắc giữa phép biện chứng vàphép siêu hình, Ph Ăngghen cũng chỉ ra sự đối lập giữa phép biện chứng củaMác và phép biện chứng của Hêghen Ph Ăngghen đánh giá những thành tựu
và công lao to lớn của các nhà triết học trước Mác trong viện xây dựng nênphép biện chứng từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XIX Ph ăngghen cho rằng, cácnhà triết học cổ điển Đức đã có công xây dựng nên phép biện chứng tươngđối hoàn chỉnh Đặc biệt, Ph ăngghen đánh giá cao công lao của Hêghen:
“Nền triết học mới của Đức đã đạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thống củaHêghen, trong đó lần đầu tiên- và đây là công lao to lớn của ông - toàn bộ thếgiới tự nhiên,…được trình bày như một quá trình, nghĩa là luôn vận động,biến đổi, biến hoá và phát triển và ông đã cố vạch ra mối liên hệ nội tại của sựvận động và phát triển ấy”8 Bên cạnh đó, Ph Ăngghen cũng chỉ ra điểm hạnchế cốt tử của Hêghen Theo Ph Ăngghen, sở dĩ có những hạn chế đó là docái giới hạn không thể vượt qua của những tri thức bản thân, cũng như nhữngquan niệm của chính thời đại của Hêghen Ph Ăngghen cho rằng Hêghen làmột nhà duy tâm, vì vậy, mặc dù ông đã tạo ra bức tranh sống sinh động củathế giới, song bức tranh đó lại bị đặt lộn ngược Ph Ăngghen nhận xét: “Nhưvậy, tất cả đều bị đặt lộn ngược và mối liên hệ hiện thực của các hiện tượngcủa thế giới đều hoàn toàn bị đảo ngược”9
Ph Ăngghen cũng cho rằng, phép biện chứng duy vật ra đời, một phần
có sự đóng góp quan trọng của phép biện chứng duy tâm của Hêghen với tưcách là một nguồn lý luận trực tiếp, nhưng phép biện chứng của Mác khác vềchất với phép biện chứng duy tâm của Hêghen Ph Ăngghen cho rằng: “chủnghĩa duy vật hiện đại tổng hợp những thành tựu mới nhất của khoa học tựnhiên, mà theo đó thì giới tự nhiên cũng có lịch sử của bản thân nó trong thời
8 Sđd, t20, tr 39-40.
9 Sđd, t20, tr 41.
Trang 9gian,những thiên thể cũng nảy sinh và diệt vong giống như tất cả những loàihữu cơ sống trên những thiên thể ấy trong những điều kiện thuận lợi, vànhững vòng tuần hoàn, trong chừng mực chúng nói chung có thể diễn ra, cũng
có những quy mô vô cùng lớn hơn Trong hai trường hợp ấy, chủ nghĩa duyvật hiện đại về bản chất là biện chứng, và nó không cần đến bất cứ một triếthọc nào đứng trên các khoa học khác”10 Theo Ph Ăngghen, mấu chốt của sựđối lập giữa phép biện chứng của Mác với phép biện chứng của Hêghen chính
là ở chỗ nó là duy vật hay duy tâm Từ đó, Ph Ăngghen khẳng định: “Có thểnói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tựgiác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật
về tự nhiên và về lịch sử Song muốn có một quan niệm vừa biện chứng vừaduy vật về tự nhiên thì người ta phải biết toán học và khoa học tự nhiên”11
* Ph Ăngghen khẳng định phép biện chứng duy vật là khoa học đồng thời vạch ra đối tượng, nhiệm vụ và bản chất của phép biện chứng duy vật
Thứ nhất, Ph Ăngghen đã đưa ra định nghĩa phép biện chứng và khẳngđịnh phép biện chứng duy vật là khoa học Ph Ăngghen cho rằng, phép biệnchứng không chỉ là khoa học về tư duy, mà là “khoa học về những quy luậtphổ biến của sự vận động về sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người
và của tư duy”12 Ph Ăngghen cũng cho là có phép biện chứng tự phát vàphép biện chứng tự giác Theo ông, phép biện chứng tự phát là vốn có củahiện thực khách quan khi con người chưa nhận thức đúng được nó Còn phépbiện chứng tự giác là phép biện chứng khoa học, chính là phép biện chứngduy vật, nó được rút ra từ tự nhiên và lịch sử trên cơ sở con người nhận thứcđược các quy luật của tự nhiên và xã hội
10 Sđd, t20, tr 42.
11 Sđd, t20, tr 22.
12 Sđd, t20, tr 201.
Trang 10Thức hai, Ph Ăngghen vạch ra bản chất của phép biện chứng duy vật.Theo ông, “điều căn bản” của phép biện chứng duy vật đó là: “xem xét những
sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lạilẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêuvong của chúng”13 Ph Ăngghen cho rằng, tư duy biện chứng thừa nhận trongnhững trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là…hoặc là…” còn có cả cái
“vừa là…vừa là…” nữa Chẳng hạn, theo quan điểm biện chứng, một vật hữuhình trong mỗi lúc vừa là nó vừa không phải là nó; một cái tên đang bay trongmỗi lúc vừa ở vị vị trí A lại vừa không ở vị trí A; cái khẳng định và cái phủđịnh vừa loại trừ lẫn nhau lại vừa không lìa nhau, v.v…Tư tưởng này được
Ph Ăngghen trình bày ở trang 696 của tác phẩm: “Biện chứng tự nhiên”
Thứ ba, Ph Ăngghen cũng chỉ ra nhiệm vụ của phép biện chứng, đó làphải theo dõi quá trình vận động tất yếu, chứng minh tính tất yếu thông quacái ngẫu nhiên, bên ngoài, xem xét nó không phải chỉ ở trong tự nhiên mà chủyếu là ở trong xã hội để chứng minh tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tưbản Đây là một tư tưởng hết sức quan trọng, chính tư tưởng này đã trang bịcho giai cấp vô sản một thứ vũ khí sắc bén, củng cố niềm tin tất thắng vàoviệc thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Đồng thời, cũng chính tư tưởng này
đã làm cho kẻ thù của chủ nghĩa Mác nói chung, kẻ thù của phép biện chứngduy vật, mà đặc biệt là chủ nghĩa tư bản hiện đại hết sức run sợ Bởi vì, chínhphép biện chứng chứ không phải Mác đã chỉ ra tính tất yếu diệt vong của chủnghĩa tư bản Dù cho hiện nay chủ nghĩa tư bản có tự điều chỉnh thích nghi đểcủng cố kéo dài sự tồn tại, thì cuối cùng, sớm hay muộn nó cũng phải bị diệtvong để nhường chỗ cho một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, tiến bộ hơn
đó là xu thế vận động và phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người
* Về những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật được Ph Ăngghen trình bày trong tác phẩm
13 Sđd, t20, tr 38.
Trang 11Trong tác phẩm này, Ph Ăngghen lần đầu tiên, trình bày khá toàn diện
và đầy đủ ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật thốngnhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn); quy luật chuyểnhoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất và ngược lại;quy luật phủ định của phủ định Là sự phản ánh những mối liên hệ cơ bản vàphổ biến trong giới tự nhiên và lịch sử “Vậy là từ trong lịch sử của tự nhiên
và lịch sử của xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy luật củaphép biện chứng…Những quy luật biện chứng là những quy luật thực sự của
sự phát triển của giới tự nhiên…”14
Về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Mặc dù quy luật mâu thuẫn không được Ph Ăngghen xếp vào mộtchương riêng, độc lập trong tác phẩm, song nội dung của nó lại được trìnhbày khá sâu sắc Chính sự đối lập giữa phép biện chứng và phép siêu hìnhđược thể hiện rất rõ ràng thông qua nội dung của quy luật này Phê phán quanđiểm sai lầm, phản động, phản khoa học của Đuy -rinh, Ph Ăngghen chorằng: đối với một nhà siêu hình có hạng, cùng với tính cách tự cao, tự đại…Thì ông Đuy -rinh gạt bỏ mâu thuẫn một cách trắng trợn cũng không có gì là
lạ lùng cả Với ông Đuy -rinh: “Nguyên lý đầu tiên và quan trọng nhất vềnhững thuộc tính lôgíc cơ bản của tồn tại là gạt bỏ mâu thuẫn Mâu thuẫn làmột phạm trù chỉ có thể thuộc về sự kết hợp các tư tưởng chứ không thuộc vềhiện thực”15
Đuy -rinh cho rằng: trong các sự vật không hề có bất cứ một mâu thuẫnnào, hay nói cách khác, bản thân mâu thuẫn được coi như có thực, là một điều
vô nghĩa hết sức Và như vậy, xét cho cùng Đuy -rinh phủ nhận mâu thuẫn
Như vậy, khi xem xét quy luật mâu thuẫn, Ph Ăngghen đã chỉ ra tínhkhách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn Ông viết: “Mâu thuẫn tồn tại mộtcách khách quan ở trong bản thân sự vật và các quá trình và có thể bộc lộ ra
14 Sđd, t20, tr 510-511.
15 Sđd, t20, tr 171.
Trang 12dưới một hình thức hữu hình”16 Nếu xem xét sự vật như là đứng im và không
có sinh khí, cái nào riêng cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếpcái kia thì chắc chắn chúng ta không thấy được mâu thuẫn bên trong sự vật.Bản thân sự vật là một mâu thuẫn Điều này được ông khẳng định: “Sự sốngcũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, mộtmâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết và khi mâu thuẫn chấm dứtthì sự sống cũng không còn nữa và cái chết sảy đến”17 Như vậy, Ph Ăngghen
đã đưa ra tư tưởng về mâu thuẫn bắt đầu từ phương pháp xem xét sự vật từchính bản thân sự vật Và mặc dù, ngay bản thân sự vận động đã là mâuthuẫn, vì ngay như sự di động một cách máy móc và đơn giản sở dĩ có thểthực hiện được, cũng chỉ vì một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này vừa ởnơi khác…Nhưng đối với một nhà siêu hình thì không thể từ quan niệm tĩnh
mà chuyển sang quan niệm động được, vì cái mâu thuẫn nói trên đã chặnđứng mất đường đi rồi Và như vậy, thì làm sao ông Đuy -rinh thừa nhận mâuthuẫn
Trên cơ sở phê phán Đuy -rinh, Ph Ăngghen đã chỉ ra tính phổ biếncủa mâu thuẫn Mâu thuẫn là phổ biến, nó diễn ra trong tự nhiên, trong xã hội
và trong tư duy con người Với thế giới quan siêu hình, ông Đuy -rinh khônghiểu nổi điều này Theo Ph Ăngghen, vận động có khả năng biểu hiện bằngcách đối lập với nó, tức là thể tĩnh, nhưng cũng chỉ là tương đối Vận động cábiệt thì có xu hướng thăng bằng, song vận động toàn thể thì lại loại trừ thăngbằng Còn cái vô tận, không phải là một trừu tượng trống rỗng Bởi lẽ, “cái vôtận là một mâu thuẫn, và nó chứa đầy những mâu thuẫn…chính vì cái vô tận
là một mâu thuẫn nên nó là một quá trình vô tận diễn ra vô tận trong thời gian
và không gian” Tương tự như vậy, khi quan niệm rằng, vận động cơ giới đã
là một mâu thuẫn thì tất nhiên các hình thức khác của vận động phải chứađựng mâu thuẫn Rõ ràng là, nhờ có mâu thuẫn mà có sự vận động, phát triển,
16 Sđd, t20, tr 173.
17 Sđd, t20, tr 173-174.
Trang 13nếu mâu thuẫn kết thúc thì sự vật chấm rứt, có lẽ vì thế mà phép biện chứngthời cổ đại đã khẳng định rõ, mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự pháttriển.
Như vậy, mâu thuẫn rõ ràng không phải là sản phẩm của sự kết hợp các
tư tưởng khác nhau như ông Đuy -rinh quan niệm Đồng thời để chứng minhtính khách quan, phổ biến của mâu thuẫn, Ph Ăngghen đã minh hoạ bằngnhiều ví dụ cụ thể, điển hình trong những lĩnh vực khác nhau của sự nhận thứcgiới tự nhiên như cơ học, toán học, sinh vật học, trong xã hội, trong tư duy…
Ph Ăngghen viết: “Rằng trong lĩnh vực tư duy, chúng ta không thể thoát khỏimâu thuẫn”18 Thông qua sự chứng minh đó, Ph Ăngghen đã vạch trần sự kémcỏi, lối khoa trương của một người thích dùng từ ngữ kiểu “lối viết sử cao siêu”của Đuy -rinh Ph Ăngghen cũng cho rằng, mâu thuẫn của sự vật được thể hiện
ở mối liên hệ giữa hai mặt đối lập của nó, chúng vừa thống nhất lại vừa thâmnhập, chuyển hoá lẫn nhau Ph Ăngghen viết: “Theo quan điểm biện chứng,khả năng biểu hiện vận động bằng cái đối lập với nó, tức thể tĩnh, hoàn toànkhông phải là một điều gì khó khăn cả Theo quan điểm biện chứng, tất cả sựđối lập ấy, như chúng ta đã thấy, đều chỉ là tương đối; không thể có tĩnh tuyệtđối, sự thăng bằng vô điều kiện Vận động cá biệt thì có xu hướng thăng bằng,song vận động toàn thể thì lại loại trừ thăng bằng”19
Tóm lại, với mục đích chống quan điểm siêu hình của Đuy -rinh, Ph.Ăngghen đã trình bày tư tưởng biện chứng duy vật về mâu thuẫn trên nhữngnội dung cơ bản, nó đã trở thành phương luận quan trọng trong xem xét, đánhgiá và cải tạo sự vật, hiện tượng Sau này, Lênin đã kế thừa và phát triển,hoàn thiện tư tưởng biện chứng duy vật của Mác
Về quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những biến
đổi về chất và ngược lại
18 Sđd, t20, tr 174.
19 Sđd, t20, tr 93.
Trang 14Cũng như quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quyluật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất vàngược lại, cũng có tính khách quan, phổ biến Ph Ăngghen đã dẫn chứnghàng loạt các ví dụ trong các lĩnh vực khác nhau, cả tự nhiên, xã hội và tưduy Ông chỉ ra, bản chất của quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượngthành những biến đổi về chất và ngược lại là ở chỗ, trong thế giới hiện thực sựthay đổi về chất là kết quả của những sự thay đổi về lượng Quá trình chuyểnhoá từ chất này sang chất khác là sự đứt đoạn trong liên tục, là sự nhảy vọt vềchất Song đồng thời với quá trình đó, cũng diễn ra quá trình ngược lại,chuyển hoá từ những biến đổi về chất thành những biến đổi về lượng Theo
Ph Ăngghen: “thay đổi về lượng làm cho chất của sự vật biến đổi, cũng nhưthay đổi về chất làm cho lượng của sự vật biến đổi”20 Đối với Đuy -rinh, ôngrất căm ghét lối nói: lượng biến thành chất và ngược lại, tư tưởng của Đuy -rinh về quy luật này rất đơn giản và mang tính siêu hình Ông ta xuyên tạcMác một cách lố bịch khi cho: “Một món tiền đặt cọc, nếu đạt đến một giớihạn nào đó…thì trở thành tư bản chỉ vì tăng thêm đơn giản về lượng nhưvậy”21 Để phê phán và vạch trần sự xuyên tạc trắng trợn của Đuy -rinh, Ph.Ăngghen đã phải trích dẫn lại quan điểm của Mác ở trong bộ tư bản: “Khôngphải bất kỳ một số tiền nào, hoặc giá trị nào, cũng có thể chuyển hoá thành tưbản được, trái lại, tiền đề của sự chuyển hoá đó là một số tiền hoặc giá trị traođổi tối thiểu nhất định trong tay kẻ sở hữu tiền hay hàng hoá”22 Như vậy, sựthay đổi về lượng làm thay đổi về chất của các sự vật, cũng như sự thay đổi
về chất làm cho lượng của sự vật thay đổi Đây là quy luật khách quan và phổbiến
Về quy luật phủ định của phủ định
20 Sđd, t20, tr 181.
21 Sđd, t20, tr 178.
22 Sđd, t20, tr 178-179.