CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG DUY RINH” CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN. Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN Tác phẩm “Chống Đuyrinh” là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác. Nội dung của tác phẩm bao gồm cả ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học và lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học. Vì thế, quá trình nghiên cứu triết học Mác không thể thông nghiên cứu tác phẩm cơ bản này. V.I. Lênin lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX cho rằng, tác phẩm “Chống Đuyrinh” của C. Mác và Ph. Ăngghen là “một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích”, là một trong ba tác phẩm “gối đầu giường” của người công nhân có tri thức và là tác phẩm kinh điển đã đi vào kho tàng lý luận của nhân loại.
Trang 1CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG
TÁC PHẨM “CHỐNG DUY RINH” CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN.
Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN
-I hoàn cảnh ra đời, kết cấu, đặc điểm và những tư tưởng cơ bản của tác phẩm
“chống đuy-rinh” của C Mác và ph ăng-ghen
1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của tác phẩm
C Mác và Ph Ăng-ghen viết tác phẩm “Chống Đuy-rinh” trong bối cảnh lịch
sử có những nét nổi bật là:
Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽ ở châu Âu,Bắc Mỹ và đã trở thành một hệ thống, có ảnh hưởng lớn trên thế giới Cũng trongkhoảng thời gian này, tại châu á, Nhật Bản đã tiến hành cải cách và đã đưa nướcnày trở thành một trong những cường quốc tư bản Điều đáng chú ý là, trong thờigian đó, chủ nghĩa tư bản phát triển không chỉ bằng sức mạnh nội tại của nó màcòn bằng sự xâm chiếm thực dân, đặt ách thống trị lên các dân tộc khác Song songvới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp vô sản và phong trào công nhâncũng phát triển trở thành một lực lượng quốc tế
Trong lực lượng công nhân quốc tế thời bấy giờ, vốn đã có một bộ phận khálớn từng lấy chủ nghĩa Mác làm lý luận nền tảng, lại đang diễn ra quá trình nhậnthức lại chủ nghĩa Mác, trong đó có những vấn đề về thế giới quan, phương phápluận, đặc biệt là phương pháp luận đấu tranh cách mạng Sau thất bại của Công xãPa-ri (1789), các học thuyết xét lại (Revisionism) và cơ hội (Opportunism) đã đưa
ra những nội dung giải thích mới về chủ nghĩa Mác, xa rời với những luận điểm cơbản của học thuyết này Bằng việc sử dụng chiêu bài “nhân danh vì tiến bộ xã hội
và văn minh”, họ chủ trương dung hoà với trật tự của xã hội hiện tại và tìm kiếmmột cương lĩnh chính trị dựa trên sự thoả hiệp giai cấp, đã gây tác động tiêu cựckhông nhỏ đến phong trào công nhân quốc tế Tại Đức, trung tâm của phong trào
Trang 2công nhân là Đảng dân chủ - xã hội đã được thành lập, song lại chịu sự chi phốicủa khuynh hướng tư tưởng chiết trung và chủ nghĩa xã hội đạo đức, từng bị C.Mác và Ph Ăng-ghen phê phán.
Thực tế là, vào những năm 70 của thế kỷ này, các trào lưu triết học phi cổđiển và tôn giáo tiếp tục ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của các học giả ởcác nước Tây Âu, nhất là ở Đức và ở Pháp Các học giả này đã lợi dụng các thànhquả của khoa học tự nhiên và khoa học lịch sử để giải thích xuyên tạc các lĩnh vực
tự nhiên và xã hội, hòng bác bỏ chủ nghĩa Mác
Một trong những học giả ấy là Oi-ghen Các Đuy-rinh (1833-1921), giáo sư cơhọc trường Đại học Béc-lin, nhà tư tưởng đại diện cho chủ nghĩa xã hội tiểu tư sảnphản động, đã xuất hiện trên sân khấu triết học với tuyên bố về những khám phámới của mình, hành động đó của Đuy-rinh đã khiến cho các nhà hoạt động chínhtrị và các nhà nghiên cứu khoa học chú ý Thực chất của cái gọi là “khám phá” củaĐuy-rinh chẳng qua chỉ là sự chiết trung triết học, là sự dung nạp vô nguyên tắcgiữa chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật siêu hình tầm thường với chủ nghĩathực chứng và chủ nghĩa vô chính phủ trong chính trị Với cái “khám phá” đó,Đuy-rinh đã giải thích sai lệch các vấn đề về triết học, kinh tế chính trị học, chủnghĩa xã hội Đáng chú ý là, với việc cho xuất bản lần thứ hai cuốn “Lịch sử phêphán khoa kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội” và cho xuất bản cuốn “Bài giảng
về triết học” của mình, Đuy-rinh đã công kích gay gắt chủ nghĩa Mác, cho rằngchủ nghĩa Mác là “cũ rích”, là “phi khoa học”, là “sự nhắc lại chủ nghĩaG.Ph.Hêghen và làm mới chủ nghĩa L.Phoiơbắc”; đồng thời, Đuy-rinh còn ngạomạn tự nhận mình là một “người cộng sản” và nhấn mạnh chỉ có ông ta mới làngười trung thành với chủ nghĩa xã hội Tệ hại hơn, Đuy-rinh còn tuyên bố ầm ĩrằng, chỉ có tin và đi theo con đường mà ông ta vạch ra thì phong trào công nhânmới “có hy vọng”, mới rũ bỏ được “cuộc đời đau khổ” của họ Đặc biệt, từ đầunăm 1875, chủ nghĩa Đuy-rinh được truyền bá trên quy mô rộng lớn và trở nên cực
kỳ nguy hiểm Sự kiện này đã gây nên những ảnh hưởng tiêu cực cho cách mạng vì
Trang 3nó đã trực tiếp góp phần làm “tiêm nhiễm những tư tưởng độc hại” vào phong tràocông nhân.
Đảng dân chủ - xã hội Đức lúc bấy giờ không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó,thậm chí một số đảng viên chủ chốt của đảng này còn chịu ảnh hưởng nặng nề củachủ nghĩa Đuy-rinh, như: E.Béc-stanh đã tỏ thái độ hoan nghênh Đuy-rinh và đềxuất ý định thay thế chủ nghĩa Mác bằng thứ chủ nghĩa theo quan điểm chiết trungchính trị của Đuy-rinh, hơn thế nữa, A Bêben, một lãnh tụ của đảng đã viết hai bàiluận văn đăng trên tờ báo “Volksstaat” (“Nhà nước nhân dân”, cơ quan ngôn luậncủa trung ương Đảng dân chủ - xã hội Đức) để ca ngợi Đuy-rinh, gọi Đuy-rinh là
“người cộng sản mới”… Nhận thấy tác hại nghiêm trọng của việc truyền bá chủnghĩa Đuy-rinh trong phong trào công nhân và sự “tha hoá” tư tưởng ở một sốđảng viên Đảng dân chủ - xã hội Đức, V Lípnếch - một trong những người sánglập và là lãnh tụ của đảng đã trực tiếp đề nghị Ph Ăng-ghen viết bài chống lạiĐuy-rinh trên những trang báo“Volksstaat” Để ngăn chặn khuynh hướng chia rẽtrong nội bộ đảng và bảo vệ chủ nghĩa Mác, Ph Ăng-ghen đã nhận và hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ vẻ vang này
Riêng đối với C Mác và Ph Ăng-ghen, các ông đã thấy được việc phê phán
và vạch trần quan điểm sai lầm của Đuy-rinh là một vấn đề hệ trọng, công việc nàyvốn đã được bắt đầu từ năm 1868, khi Đuy-rinh cho đăng bài có nội dung nhận xétsai lệch và xuyên tạc nội dung tập 1 bộ “Tư bản” của C Mác; lúc đó, Ph Ăng-ghen đã buộc phải gác công việc bận rộn của mình để trực tiếp đấu tranh với Đuy-rinh Đến tháng 10/1875, sau khi A Bêben viết bài ca tụng Đuy-rinh và V.Lípnếch gửi cho Ph Ăng-ghen nội dung bút ký của A Enxơ (vốn là một môn đồcủa Đuy-rinh, tác giả của những bài báo sàm sỡ, báng bổ kịch liệt chủ nghĩa Mác)cùng với bài báo của I Môxtơ có nội dung tán dương Đuy-rinh “đến mức độ thôbỉ”, thì ngay lập tức, Ph Ăng-ghen cho rằng cần phải công khai nêu lên quan điểmchính kiến của chủ nghĩa Mác nhằm chống lại quan điểm sai lầm, cũng như sựngạo mạn của Đuy-rinh và những người theo quan điểm của ông ta Vì thế, Ph
Trang 4Ăng-ghen đó dừng “một số cụng việc quan trọng”, trong đú cú việc tạm ngừng viếttỏc phẩm nổi tiếng “Biện chứng của tự nhiờn” để thực hiện ý định của mỡnh; qua
đú Ph Ăng-ghen đó bảo vệ và phỏt triển chủ nghĩa Mỏc, làm cho nú thật sự là thếgiới quan khoa học, cỏch mạng, là “cụng cụ nhận thức vĩ đại” của giai cấp vụ sảntrong quỏ trỡnh nhận thức và cải tạo thế giới
Trong thư gửi C Mỏc vào ngày 24/5/1876, Ph Ăng-ghen đó nờu lờn sự cầnthiết và bày tỏ ý định phờ phỏn một số quan điểm sai lầm trong cỏc bài viết củaĐuy-rinh C Mỏc đó nồng nhiệt tỏn thành và ủng hộ ý định đú Tỏc phẩm “ChốngĐuy-rinh” đó được Ph Ăng-ghen viết trong suốt hai năm, từ cuối thỏng 5 năm
1876 đến đầu thỏng 7 năm 1878(1), C Mỏc đó đọc bản thảo của Ph Ăng-ghen vàviết thờm chương X, phần II của tỏc phẩm; tỏc phẩm “Chống Đuy-rinh” đó đượcđăng trờn bỏo “Vorwarts” (“Tiến lờn”)(2) in bằng tiếng Đức, từ ngày 03/01/1877đến ngày 07/7/1878 Lần đầu tiờn, toàn bộ tỏc phẩm với lời tựa của Ph Ăng-ghen
đó được in thành một cuốn sỏch riờng bằng tiếng Đức ở Lai-pxớch vào năm 1878,dưới nhan đề “ễng Oi-ghen Đuy-rinh đảo lộn khoa học Triết học Kinh tế chớnhtrị học Chủ nghĩa xó hội”, nhưng ngay sau đú tỏc phẩm này đó bị chớnh quyền Đứcđương thời cấm lưu hành
Những lần xuất bản tiếp sau cũng bằng tiếng Đức, cuốn sỏch vẫn giữ nhan đề
cũ nhưng khụng cú phụ đề “Triết học Kinh tế chớnh trị học Chủ nghĩa xó hội”.Tỏc phẩm được xuất bản lần thứ hai ở Xuy-rớch vào năm 1886 và được xuất bảnlần thứ ba (cú xem lại và bổ sung) ở Stỳt-gỏt vào năm 1894, đú là lần xuất bản cuốicựng cuốn “Chống Đuy-rinh” khi Ph Ăng-ghen cũn sống(3) Như vậy, do nhu cầutất yếu của phong trào cộng sản và cụng nhõn quốc tế, một tỏc phẩm kinh điển vĩđại dưới hỡnh thức bỳt chiến và bỏch khoa về nội dung của chủ nghĩa Mỏc đó rađời
(1) C Mác và Ph Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.896.
(2) Tờ báo “Vorwarts” (“Tiến lên”) là cơ quan trung ơng thống nhất của Đảng Dân chủ - xã hội Đức, đợc xuất bản thay cho các tờ báo “Volksstaat” (“Nhà nớc nhân dân”) và “Neuer Sozialdemokrat” (“Ngời dân chủ - xã hội mới”)
đã có trớc đó, theo quyết định tại Đại hội Gô-ta của Đảng này đợc tổ chức vào năm 1876.
(3) C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.897.
Trang 5Dựa theo bản in nguyên văn bằng tiếng Đức đã được xuất bản ở Stút-gát năm
1894 như đã đề cập ở trên, những người cách mạng Nga đã dịch sang tiếng củamình và lần đầu tiên xuất bản tác phẩm “Chống Đuy-rinh” ở Xanh Pê-téc-bua vàonăm 1907 Sau đó, Liên Xô tiếp tục đăng tác phẩm này trong bộ “Toàn tập C Mác
và Ph Ăng-ghen”, tập 20, do Nhà xuất bản sách Chính trị quốc gia Liên xô xuấtbản tại Mát-xcơ-va năm 1961
Theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,Hội đồng xuất bản toàn tập C Mác và Ph Ăng-ghen đã dựa theo bộ sách nguyênbản bằng tiếng Nga nói trên, dịch sang tiếng Việt và in trong bộ “Toàn tập C Mác
và Ph Ăng-ghen”, tập 20, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1994,
từ trang 07 đến trang 450
Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” là một trong những tác phẩm quan trọng nhấtcủa chủ nghĩa Mác Nội dung của tác phẩm bao gồm cả ba bộ phận cấu thành củachủ nghĩa Mác: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tếchính trị học và lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học Vì thế, quá trình nghiên cứutriết học Mác không thể thông nghiên cứu tác phẩm cơ bản này V.I Lênin - lãnh
tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong những thập kỷ đầucủa thế kỷ XX cho rằng, tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của C Mác và Ph Ăng-ghen
là “một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích”, là một trong ba tácphẩm “gối đầu giường” của người công nhân có tri thức và là tác phẩm kinh điển
đã đi vào kho tàng lý luận của nhân loại
“Chống Đuy-rinh” là một công trình tổng thể nhưng không dàn trải mà chỉ tậptrung vào những vấn đề cốt lõi, trong đó có những vấn đề được giải quyết mộtphần (vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề tồn tại, đạo đức, pháp quyền…), cónhững vấn đề được trình bày khá hoàn chỉnh, trở thành tư tưởng có tính kinh điển(phép biện chứng duy vật) Quá trình biên soạn tác phẩm, Ph Ăng-ghen đã luônđứng vững trên lập trường thế giới quan và phương pháp luận khoa học, ông đãdẫn chứng các chất liệu sống là thành quả của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên,
Trang 6để tăng sức thuyết phục cho quan điểm của mình Đây là một công việc rất khókhăn và phức tạp đối với Ph Ăng-ghen, nhưng một khi thực tiễn đã đặt ra thì buộcông phải tập trung giải quyết cho kỳ được Công việc ấy cũng như “ngoạm vào cáiquả chua… mà một khi đã ngoạm vào thì buộc phải nuốt cho kỳ hết Hơn nữa, nókhông những rất chua mà lại còn rất to”(1) Mặt khác, nội dung đấu tranh chống lạicác quan điểm sai lầm của Đuy-rinh có phạm vi rất rộng, như Ph Ăng-ghen đã môtả: “Hệ thống của ông Đuy-rinh được phê phán trong quyển sách này bao trùm mộtlĩnh vực lý luận rất rộng; tôi buộc phải dõi theo ông khắp nơi và đem những quanđiểm của tôi ra đối lập lại những quan điểm của ông ta Vì vậy, sự phê phán tiêucực đã trở thành tích cực; cuộc bút chiến chuyển thành một sự trình bày ít nhiều có
hệ thống về phương pháp biện chứng và thế giới quan cộng sản chủ nghĩa mà Mác
và tôi đã đại biểu - và trình bày như thế trên một loạt khá nhiều lĩnh vực…”(2).Thông qua tranh luận với Đuy –rinh về hàng loạt vấn đề triết học, kinh tế chính trị,chủ nghĩa xã hội, tác phẩm đã có tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh vạch trầncác quan điểm sai trái của vị giáo sư này và một số đảng viên Đảng dân chủ - xãhội Đức Vì vậy, tác phẩm “Chống Đuy-rinh” không chỉ có ý nghĩa là kết quả trựctiếp của cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận trong Đảng dân chủ - xã hội Đức mà còn
là sự trình bày chủ nghĩa Mác đầy đủ nhất, rõ ràng nhất Không những thế, “ChốngĐuy-rinh” còn đóng góp lớn về mặt lý luận trong quá trình tuyên truyền, giác ngộchủ nghĩa Mác cho phong trào công nhân quốc tế và các phong trào đấu tranh vìdân sinh, dân chủ và công bằng xã hội Những vấn đề được nêu ra và giải quyếttrong tác phẩm không chỉ đóng vai trò định hướng lý luận đối với phong trào côngnhân quốc tế mà còn tạo nên chủ nghĩa lạc quan có cơ sở khoa học trong sinh hoạttinh thần của xã hội lúc đó Lo sợ trước ảnh hưởng to lớn của tác phẩm, chínhquyền Đức đã phải ban hành một đạo lực đặc biệt để ngăn chặn việc xuất bản vàtruyền bá cuốn sách “Chống Đuy-rinh” của C Mác và Ph Ăng-ghen vào phongtrào công nhân thế giới, đồng thời cấm lưu hành tác phẩm này ở Đức Song, hành(1) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.16.
(2) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.20.
Trang 7vi cưỡng bức của chính quyền Đức không những không ngăn cản được ảnh hưởng
to lớn của tác phẩm, mà trái lại, nó càng có sức hút mạnh mẽ, làm tăng thêm sựquan tâm của nhiều người đọc ở các nước Nga, Thuỵ Sĩ, Pháp và nhiều nước khác
ở châu Âu thời bấy giờ
2 Kết cấu và những tư tưởng cơ bản của tác phẩm
Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của C Mác và Ph Ăng-ghen in trong C Mác
và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, 444trang, gồm lời tựa cho ba lần xuất bản (I, II, III), lời mở đầu (I: “Nhận xét chung”.II: “Ông Đuy-rinh hứa những gì”) và ba phần chính, trình bày ba bộ phận cấuthành của chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hộikhoa học
Trong “Lời nói đầu”, ngoài việc chứng minh sự thống nhất của ba bộ phậncấu thành chủ nghĩa Mác và phân tích phép biện chứng duy vật, cũng như chỉ ra sựkhác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vật với phép siêu hình và phép biệnchứng duy tâm của Hê-ghen; Ph Ăng-ghen đã tóm tắt sự phát triển của triết học vàchỉ ra tính tất yếu của sự hình thành chủ nghĩa Mác Ông đã chứng minh tính quyluật của quá trình thay thế các thời kỳ cơ bản của lịch sử triết học: phép biện chứng
tự phát thời cổ đại - phép siêu hình thế kỷ XVII, XVIII - phép biện chứng duy tâmcủa triết học cổ điển Đức - phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Đồngthời, Ph Ăng-ghen cũng chỉ ra rằng, chính sự mở rộng chủ nghĩa duy vật để tìmhiểu lịch sử xã hội đã tạo ra cơ sở khoa học cho sự nghiên cứu phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa và nghiên cứu học thuyết về giá trị thặng dư Hai phát minh
vĩ đại của Mác (chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư) đã đưachủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học Ngoài ra, ở phần này, Ph.Ăng-ghen cũng đánh giá sự đóng góp của nhiều thế hệ triết gia vào sự phát triểncủa tư duy triết học nhân loại và cho rằng, sự phát triển của khoa học tự nhiên vàthực tiễn của cuộc đấu tranh giai cấp là điều kiện của sự phát triển triết học
Trang 8Phần thứ nhất: Triết học (từ trang 53 đến trang 206 gồm 12 chương, từ
chương III đến chương XIV) Ph Ăng-ghen viết phần này từ thỏng 9/1876 đếnthỏng 01/1877 Tư tưởng chớnh trong phần này là, song song với việc phờ phỏnquan điểm của Đuy-rinh, Ph Ăng-ghen đó làm sỏng tỏ nội dung chủ yếu của triếthọc Mỏc ễng đó phõn tớch vấn đề cơ bản của triết học, tớnh thống nhất vật chấtcủa thế giới, cỏc phương thức tồn tại của vật chất, lý luận nhận thức, cỏc quy luật
cơ bản của phộp biện chứng duy vật và nờu lờn một số quan niệm duy vật về lịch
sử Cụ thể: trong chương III và IV, Ph Ăng-ghen viết về Chủ nghĩa tiờn nghiệm và
Đồ thức luận vũ trụ Bốn chương tiếp theo, từ chương V đến chương VIII, ụng viết
về triết học tự nhiờn Thụng qua phờ phỏn cỏc quan điểm sai lầm của Đuy-rinh vềcỏc vấn đề khụng gian, thời gian; thiờn thể học, vật lý học, hoỏ học; giới hữu cơ,
Ph Ăng-ghen đó trỡnh bày quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Cỏcchương IX, X, XI, Ph Ăng-ghen tập trung bàn về cỏc vấn đề đạo đức và phỏpquyền, phờ phỏn Đuy-rinh về quan điểm “chõn lý vĩnh cửu”, bỡnh đẳng, tự do vàtất yếu Trong chương XII và XIII, Ph Ăng-ghen trỡnh bày cỏc quy luật cơ bản củaphộp biện chứng duy vật Trong chương XIV, Ph Ăng-ghen trỡnh bày khỏi quỏtnhững kết luận chung
Hầu hết cỏc chương ở phần Triết học đó được C Mỏc và Ph Ăng-ghen chocụng bố trờn tạp chớ “Vorwarts” theo hỡnh thức những bài bỏo, dưới nhan đề: “ễngĐuy-rinh đảo lộn triết học”(1) từ thỏng 01 đến thỏng 5/1877 Lời mở đầu chung cho
cả ba phần chớnh của tỏc phẩm khi nú được xuất bản thành sỏch riờng, vốn là haichương đầu của phần 1, đó được C Mỏc và Ph Ăng-ghen tỏch ra kể từ lần xuấtbản thứ nhất
Phần thứ hai: Kinh tế chớnh trị học (từ trang 207 đến trang 355, gồm 10
chương, từ chương I đến chương X) Ph Ăng-ghen viết phần này từ thỏng 6 đếnthỏng 8/1877 Riờng chương X viết về quyển “Lịch sử phờ phỏn” do C Mỏc trực
(1) Nhan đề cuốn sách của C Mác và Ph Ăng-ghen đã mỉa mai nhại lại nhan đề tác phẩm của Đuy-rinh đã đợc xuất bản ở Muyn-sen năm 1865 “Kê-ri đảo lộn học thuyết về kinh tế quốc dân và khoa học xã hội” Trong tác phẩm này,
Đuy-rinh đã tán tụng nhà kinh tế học tầm thờng Kê-ri, thầy của ông ta trong lĩnh vực kinh tế chính trị học.
Trang 9tiếp biên soạn Tư tưởng chính của phần này là, bên cạnh việc phân tích những vấn
đề cơ bản của kinh tế chính trị học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, thông qua
đó, C Mác và Ph Ăng-ghen còn nêu lên những vấn đề về triết học trong lĩnh vực
xã hội Các chương của phần này đã được đăng tải dưới nhan đề: “Ông Đuy-rinhđảo lộn kinh tế chính trị học”, làm phụ lục khoa học cho báo “Vorwarts” từ tháng 7đến tháng 12/1877
Phần thứ ba: Chủ nghĩa xã hội (từ trang 356 đến trang 450, gồm 05 chương,
từ chương I đến chương V) Ph Ăng-ghen viết phần này từ tháng 8/1877 đến tháng4/1878 Tư tưởng chính của phần này là, sau khi tóm tắt lịch sử và lý luận về chủnghĩa xã hội khoa học, Ph Ăng-ghen đã chỉ rõ: chủ nghĩa xã hội khoa học là sựbiểu hiện về lý luận của phong trào vô sản, đồng thời, ông đã phác thảo những đặctrưng cơ bản của chủ nghĩa cộng sản tương lai Đứng vững trên quan điểm duy vậtbiện chứng về lịch sử, Ph Ăng-ghen đã phân tích sâu sắc mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất đã được xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếmhữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, mâu thuẫn đó biểu hiện về mặt xãhội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản; thông qua sự phân tíchlogic đó, ông cho rằng, chỉ có thể giải quyết mâu thuẫn cơ bản này bằng con đườngcách mạng vô sản Giai cấp vô sản sử dụng bạo lực cách mạng để giành chínhquyền về tay mình, xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phùhợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Trên cơ sở lực lượng sản xuấtphát triển cao, sự phân chia giai cấp trong xã hội sẽ không còn nữa Một khi chế
độ tư bản chủ nghĩa bị xoá bỏ và chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng, thì conngười mới thật sự có tự do, hạnh phúc, mới thật sự làm chủ tự nhiên và xã hội, mớinhảy vọt từ “vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do” Các chương củaphần này đã được đăng tải dưới nhan đề: “Ông Đuy-rinh đảo lộn chủ nghĩa xãhội”, làm phụ lục khoa học cho báo “Vorwarts” từ tháng 5 đến tháng 7/1878
II các vấn đề về phép biện chứng duy vật trong tác phẩm “chống đuy-rinh” của C Mác và ph ăng-ghen
Trang 101 Về lịch sử của phép biện chứng duy vật
Như đã nêu trong phần tư tưởng chính của tác phẩm, phép biện chứng là vấn
đề trung tâm của phần “Triết học” Để chống lại Đuy-rinh, Ph Ăng-ghen đã nêu vàphân tích phép biện chứng; đồng thời viện dẫn, áp dụng nó vào các lĩnh vực củatriết học, trong đó có chủ nghĩa duy vật lịch sử và những vấn đề triết học của khoahọc tự nhiên Trước hết, Ph Ăng-ghen coi phép biện chứng là hình thức cao nhấtcủa tư duy khoa học và khẳng định sự phát triển của nó luôn gắn liền với lịch sửphát triển của tư duy nhân loại Trong tác phẩm, Ph Ăng-ghen đã đề cập đến phépbiện chứng cổ đại, phép siêu hình và phép biện chứng của Hê-ghen
Đề cập đến phép biện chứng cổ đại, Ph Ăng-ghen cho rằng: “Những nhà triếthọc Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và A-ri-xtốt bộ
óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thứccăn bản nhất của tư duy biện chứng”(1) Về mặt giá trị, Ph Ăng-ghen đã chỉ ra tínhtích cực và mặt hạn chế của phương pháp biện chứng trên cơ sở phỏng đoán củathời kỳ này, ông viết: “Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chấtthì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đãđược Hê-ra-clít trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lạikhông tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vậtđều không ngừng phát sinh và tiêu vong Nhưng cách nhìn ấy, dù cho nó có nắmđúng tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng, vẫn không đủ đểgiải thích những chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ, và chừng nào chúng ta chưabiết được các chi tiết ấy thì chúng ta chưa thể hiểu rõ được bức tranh toàn bộ ấy.Muốn nhận thức được những chi tiết ấy, chúng ta buộc phải tách chúng ra khỏi mốiliên hệ tự nhiên hay lịch sử của chúng, và phải nghiên cứu riêng từng chi tiết mộttheo đặc tính của chúng, theo nguyên nhân và kết quả riêng của chúng…”(2)
(1) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.34.
(2) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.35.
Trang 11Song song với việc đánh giá phép biện chứng cổ đại, Ph Ăng-ghen đã chỉ ra
sự đối lập giữa nó với phép siêu hình Ông cho rằng, từ nửa cuối thế kỷ XV trở đithì nhân loại mới có một nền khoa học tự nhiên thật sự, bốn thế kỷ tiếp theo đó,nhờ việc phân chia giới tự nhiên ra thành những bộ phận riêng biệt cũng như việcnghiên cứu cấu tạo bên trong của những vật thể hữu cơ theo các hình thái giải phẫunhiều vẻ của nó, là những điều kiện căn bản khiến cho khoa học tự nhiên đã đạtđược những tiến bộ ngày càng nhanh chóng, thu được những thành tựu quan trọng,đem lại cho con người hệ thống tri thức lớn về giới tự nhiên Thế nhưng, theo Ph.Ăng-ghen thì phương pháp nói trên của khoa học tự nhiên cũng đã đem lại chongười ta một thói quen là xem xét những sự vật và quá trình tự nhiên trong trạngthái biệt lập, ở ngoài mối liên hệ chung, do đó không xem xét chúng trong trạngthái vận động mà xem xét trong trạng thái tĩnh, không coi chúng về cơ bản là biếnđổi mà coi chúng là bất biến vĩnh cửu, không xem xét chúng trong trạng thái sống
mà xem xét chúng trong trạng thái chết Đặc biệt, khi phương pháp nhận thức ấyđược vận dụng từ khoa học tự nhiên vào triết học thì nó sẽ dẫn đến tính hạn chếđặc thù của triết học duy vật siêu hình trong thế kỷ XVII, XVIII, mà người đầu tiên
có quan niệm theo phương pháp này là Bê-cơn và Lốc-cơ Ph Ăng-ghen viết: “Đốivới nhà siêu hình học, thì những sự vật và phản ánh của chúng vào tư duy, tức lànhững khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ,vĩnh viễn, phải được xem xét cái này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia”(1).Việc Ph Ăng-ghen đề cập đến hạn chế của phép siêu hình cũng chính là để nhấnmạnh giá trị của tư duy biện chứng
Khi xem xét phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, Ph Ăng-ghen đãcho rằng, Hê-ghen là người đem đến cách hiểu mới về khái niệm phép biện chứng,vượt qua giới hạn chủ quan ban đầu, tức nghệ thuật đối thoại mà người Hy Lạp cổđại từng nêu ra, để đạt tới ý nghĩa phổ quát của một phương pháp triết học, mộthọc thuyết xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ, tác động, chuyển hoá,(1) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.36.
Trang 12thâm nhập và chế ước lẫn nhau Ph Ăng-ghen viết: “Nền triết học mới của Đức đãđạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thống của Hê-ghen, trong đó, lần đầu tiên - và đây
là công lao to lớn của ông - toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần đượctrình bày như là một quá trình, nghĩa là luôn luôn vận động, biến đổi, biến hoá vàphát triển, và ông đã cố vạch ra mối liên hệ nội tại của sự vận động và sự phát triển
ấy Theo quan điểm ấy, lịch sử loài người […] là một quá trình phát triển của bảnthân loài người, và nhiệm vụ của tư duy hiện nay là phải theo dõi bước tiến tuần tựcủa quá trình ấy qua tất cả những khúc quanh co của nó và chứng minh tính quyluật bên trong của nó qua tất cả những cái ngẫu nhiên bề ngoài Việc Hê-ghenkhông giải quyết được nhiệm vụ ấy, thì điều đó ở đây đối với chúng ta không quantrọng gì Công lao lịch sử của ông ta là đã đề ra nhiệm vụ ấy”(1)
Nhận định trên của Ph Ăng-ghen về phép biện chứng của Hê-ghen trong triếthọc cổ điển Đức, đã cho thấy: C Mác và Ph Ăng-ghen đánh giá rất cao công laocống hiến của Hê-ghen trong tiến trình lịch sử triết học nói chung, lịch sử phépbiện chứng nói riêng, và trên thực tế, nhiều nội dung thuộc về phép biện chứngđược Hê-ghen trình bày đã trở thành “cái hạt nhân hợp lý” đối với sự phát triển của
tư duy triết học nhân loại, được C Mác và Ph Ăng-ghen trực tiếp kế thừa, hoànthiện Bên cạnh đó, do chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử thời đại mình,cho nên trong phép biện chứng Hê-ghen còn tồn tại những hạn chế cần được khắcphục, nhất là hạn chế về mặt thế giới quan, điều này đã dẫn đến mâu thuẫn giữa hệthống và phương pháp triết học của ông Đề cập đến vấn đề này, Ph Ăng-ghenviết: “Mặc dù Hê-ghen, cũng như Xanh-xi-mông, là một khối óc bách khoa nhấtcủa thời đại bấy giờ, song dù sao ông vẫn bị hạn chế, một là bởi những giới hạnkhông thể tránh được của những tri thức của bản thân ông, và hai là bởi những trithức và những quan niệm của thời đại ông… Ngoài ra còn có thêm một điều thứ banữa Hê-ghen là một nhà duy tâm, nghĩa là đối với ông thì những tư tưởng trongđầu óc của chúng ta không phải là những phản ánh ít nhiều trừu tượng của những(1) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.39, 40.
Trang 13sự vật và quá trình hiện thực, mà ngược lại, những sự vật và sự phát triển củachúng, đối với Hê-ghen, chỉ là những phản ánh thể hiện cái “ý niệm” nào đó tồn tại
ở một nơi nào đó ngay trước khi có thế giới”(2) Chính vì những hạn chế đó, chonên: “Mặc dù Hê-ghen đã nắm được một cách đúng đắn và thiên tài một số mốiliên hệ riêng biệt giữa các hiện tượng… Hê-ghen cũng không tránh khỏi gò ép, giảtạo, hư cấu, tóm lại là bị xuyên tạc Hệ thống Hê-ghen, với tính cách là một hệthống như vậy, là một cái thai đẻ non khổng lồ, nhưng đó cũng là cái thai đẻ noncuối cùng trong loại của nó”(3) Mặc dù có mâu thuẫn giữa hệ thống với phươngpháp triết học, song với những công lao cống hiến của Hê-ghen, phép biện chứngcủa ông cũng thật sự tiêu biểu cho hình thức lịch sử thứ hai của phép biện chứng -phép biện chứng duy tâm, hay nói như C Mác trong “Tư bản” thì đó là phép biệnchứng bị đặt lộn ngược đầu xuống đất
Những nhiệm vụ lịch sử về lĩnh vực triết học mà Hê-ghen vốn chỉ mới đặt ratrong phép biện chứng, đã được C Mác và Ph Ăng-ghen kế thừa và giải quyết.Trước hết, trong tác phẩm “Logic học” của mình, Hê-ghen đã trực tiếp đemđối lập phép biện chứng với phép siêu hình, nhất là phép siêu hình của thế kỷXVII, XVIII Tuy nhiên, phép biện chứng của Hê-ghen lại mang tính chất khôngtriệt để như đã đề cập ở trên và vẫn chưa loại trừ hết những yếu tố siêu hình trong
hệ thống của mình, điều này có thể nhận thấy ở phần triết học tự nhiên và triết họclịch sử của ông Tư tưởng phát triển với tính cách là nguyên lý khởi đầu của phépbiện chứng đã không được Hê-ghen phân tích thấu đáo, đi tới tận cùng của sựkhám phá chân lý Sau này, trong tác phẩm “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chungcủa triết học cổ điển Đức”, Ph Ăng-ghen đã vạch ra cơ sở xã hội của sự hạn chế
đó(1) Vì thế, điều cần thiết, theo Ph Ăng-ghen là phải rà soát lại lịch sử phép biệnchứng trong đó có phép biện chứng Hê-ghen, để từ điểm xuất phát này xác lậphình thức hiện đại của phép biện chứng - phép biện chứng duy vật
(2) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.40, 41.
(3) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.41.
(1) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.21, tr.391-451.
Trang 14Như vậy, việc chỉ ra bản chất “sai lầm” của chủ nghĩa duy tâm Đức, cũng nhưmặt tích cực và mặt hạn chế của nó là con đường đưa C Mác và Ph Ăng-ghen đếnvới chủ nghĩa duy vật Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác ra đời có sự kếthừa “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen với
tư cách là một tiền đề lý luận trực tiếp Tuy nhiên phép biện chứng duy vật của chủnghĩa Mác hoàn toàn khác, thậm chí còn đối lập với nó, như C Mác đã thừa nhận.Trong tác phẩm này, Ph Ăng-ghen đã khẳng định: “Có thể nói rằng, hầu như chỉ
có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết họcduy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử”(2).Trong chương XII và chương XIII, tính luận chiến trong sự trình bày các quanđiểm của chủ nghĩa Mác về phép biện chứng có tác dụng mở đường cho việc cụthể hoá các nội dung của nó Ph Ăng-ghen chỉ rõ, mặc dù Đuy-rinh đã “tái thiếtlại” phép biện chứng Hê-ghen bằng “phương pháp tổng quát” và “loại suy” điểnhình, song sự “tái thiết lại” ấy vẫn không che đậy được tư tưởng chống phép biệnchứng, vốn đặc trưng ở chủ nghĩa máy móc của ông ta, và cùng gắn với nó làphương pháp siêu hình, nghĩa là “xem xét các sự vật như là đứng im và không cósinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cáikia… không thấy được một mâu thuẫn nào trong các sự vật cả”(1) Phương pháp đốichiếu và tách biệt bên ngoài giữa các sự vật tuy có tác dụng nhất định trong đờisống, song theo Ph Ăng-ghen, nó sẽ tỏ ra bất lực một khi xem xét đến vấn đề vậnđộng, biến đổi, sự sống, sự tác động và chuyển hoá của các sự vật Nói cách khác,
óc suy nghĩ theo cách siêu hình không thể hiểu được rằng “sự sống cũng là mộtmâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình” Vì không hiểu điều
đó, nên Đuy-rinh đã từng tuyên bố phép biện chứng là “một điều thuần tuý vônghĩa”(2)
(2) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.22.
(1) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.172.
(2) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.132.
Trang 15Ph Ăng-ghen cũng phê phán thái độ xuyên tạc của Đuy-rinh đối với phépbiện chứng Mác-xít nói chung, phép biện chứng do C Mác thể hiện trong việcnghiên cứu hình thái kinh tế - xã hội (bộ “Tư bản”) nói riêng Đuy-rinh tỏ ra thiểncận khi gán cho C Mác là môn đệ của Hê-ghen(3), mà không hề thấy rằng, chính C.Mác không chỉ làm sống lại phép biện chứng Hê-ghen, mà còn khắc phục tính chất
tư biện của nó, bóc dần lớp vỏ thần bí, để phép biện chứng, từ đồ thức luận logicthuần tuý đến hoá thân trong hoạt động thực tiễn của con người và mang ý nghĩacải tạo thế giới thật sự Thái độ vô trách nhiệm ấy của Đuy-rinh đã khiến cho ông
ta không phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vật vớiphép biện chứng duy tâm Đó là sự “thành kiến triết học”, vì thế mà “gán cho C.Mác những điều trái với lời C Mác đã nói”(4)
Tóm lại, trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, C Mác và Ph Ăng-ghen đã trìnhbày một cách có hệ thống về lịch sử của phép biện chứng, xem sự ra đời của phépbiện chứng như là tất yếu khách quan, là sản phẩm của khoa học tự nhiên, khoahọc xã hội và khả năng tư duy con người phát triển đến một mức độ nhất định Bêncạnh đó, C Mác và Ph Ăng-ghen cũng chỉ rõ sự đối lập giữa phép biện chứng vớiphép siêu hình, nêu lên sự khác nhau, thậm chí đối lập nhau giữa phép biện chứngduy vật của chủ nghĩa Mác với phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen;đồng thời, các ông đã chỉ ra bản chất của phép biện chứng duy vật và khẳng định
đó là phương pháp tư duy khoa học, có khả năng đem lại cho con người tính tựgiác cao trong hoạt động thực tiễn
2 Về nội dung của phép biện chứng duy vật
Song song với việc phân tích về lịch sử của của phép biện chứng, chỉ rõ bảnchất của phép biện chứng duy vật… Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, C Mác và
Ph Ăng-ghen đã tập trung phân tích làm nổi bật những nguyên lý, quy luật của
(3) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.187.
(4) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.176, 179.
Trang 16phép biện chứng duy vật; đồng thời, chỉ ra tính khách quan và tính phổ biến củanhững quy luật đó Cụ thể là:
a) Nguyên lý về mối liên hệ và phát triển
Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, thông qua việc phê phán các quan điểmsai lầm, C Mác và Ph Ăng-ghen đã đề cập nhiều đến mối liên hệ phổ biến, về vậnđộng và phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Quá trình
đề cập nội dung này, các ông đã chỉ ra những vấn đề bản chất của nó
Theo quan điểm của C Mác và Ph Ăng-ghen thì, phép biện chứng duy vật là
sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp tư duy biệnchứng và giữa lý luận nhận thức với logic biện chứng Sự ra đời của phép biệnchứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học, là phươngpháp khác về chất so với các phương pháp tư duy trước đó; Ph Ăng-ghen viết “…đối với phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sựvật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫnnhau giữa chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong củachúng”(1) Nguyên lý về phát triển của phép biện chứng duy vật cũng phản ánh đặctrưng phổ quát nhất của thế giới Xét về bản chất, phép biện chứng duy vật khôngchỉ khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới, mà còn xem xét các sự vật,hiện tượng trong sự vận động và phát triển không ngừng theo những quy luật vốn
có của chúng, hơn thế nữa, các sự vật và hiện tượng không chỉ đơn giản vận động,
mà còn có sự thay đổi, phát triển về chất và về phương diện bản chất của mọi sựvận động, biến đổi của thế giới có xu hướng phát triển Chính vì thế, Ph Ăng-ghen
đã gọi phép biện chứng là khoa học về sự phát triển Ông viết tiếp và khẳng định:
“Như vậy, một quan niệm đúng đắn về vũ trụ, về sự phát triển của vũ trụ và sựphát triển của loài người, cũng như về sự phản ánh của sự phát triển ấy vào trongđều óc con người chỉ có thể có được bằng con đường biện chứng, với sự chú ý
(1) C M¸c vµ Ph ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.38.