Đất nước Việt Nam, con người Việt Nam luôn tự hào có một nền văn hiến lâu đời với hơn 4000 nghìn năm lịch sử hào hùng
Trang 1Viện Đại học Mở Hà Nội
Trang 2ĐỀ TÀI : HỒ QUÝ LY 133
Người thực hiê ̣n: Trần Đình Hưng 133
Lớp: A3K18 133
I.TIỂU SỬ 133
Người thực hiê ̣n: Nguyễn Xuân Huy 143
Lớp: A3K18 143
I TIỂU SỬ .143
II CUỘC ĐỜI 143
1.Gặp gỡ Nguyễn Trãi 143
2.Vụ án Lệ Chi Viên 144
* Quan điểm của các sử gia 144
* Trong văn học nghệ thuật 146
3.Được lập miếu thờ 146
4.Truyền thuyết rắn báo oán 147
1.Bùi Thị Xuân : Nữ tướng tài ba 168
2.Tính Cách Của Một Nữ Tướng 169
a) Có tấm lòng thương dân 169
b)Không vì tình riêng 169
c)Bại trận vẫn hiên ngang 169
Ngoài thái độ hiên ngang khi bị hành hình, người ta còn truyền rằng khi nghe Bùi Thị Xuân bị bắt, chúa Nguyễn Ánh bèn sai người áp giải đến trước mặt rồi hỏi với giọng đắc chí: Ta và Nguyễn Huệ ai hơn? 169
ĐỀ TÀI: TRẦN KHÁT CHÂN 178
Người thực hiê ̣n: Nguyễn Văn Ma ̣nh 178
I TIỂU SỬ 179
3 Vinh danh 181
III HUYỀN TRÂN VỚI THI CA NGHỆ THUẬT 185
185
iii TƯỞNG NHỚ 185
Đền thờ Huyền Trân công chúa 185
Địa chỉ: thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 185
1.Hoàng hậu Nhà Lý 187
2.Góp phần xây dựng nhà Trần 187
3.Mối quan hệ với Trần Thủ Độ 188
ĐỀ TÀI: LÊ PHỤNG HIỂU 189
Người thực hiê ̣n: Đỗ Quang Minh 189
I.TIỂU SỬ 189
Lê Phụng Hiểu (? - ?) là một đại tướng nhà Lý, phụng sự ba triều vua đầu tiên của nhà Lý đó là vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông Ông là người có công rất lớn trong việc phò vua Lý Thái Tông tức Lý Phật Mã lên ngôi 189
II SỰ NGHIỆP 190
1 Phò tá nhà Lý 190
a Dẹp loạn Tam Vương 190
b Nhậm chức Đô thống Thượng tướng quân 190
2 Giai thoại 190
a) Một mình địch lại cả một làng 190
b) Lê Phụng Hiểu và sự tích thác đao điền 191
ĐỀ TÀI: NGUYỄN CẢNH CHÂN 192
Người thực hiê ̣n: Trịnh Thị Ngân 192
ĐỀ TÀI: QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ 197
Người thực hiê ̣n: Nguyễn Quỳnh Như 197
1.Công hộ giá 202
2.Anh dũng hy sinh 202
Trang 3ĐỀ TÀI: MẠC ĐĂNG DUNG 208
Người thực hiê ̣n: Vũ Thi ̣ Nhuần 208
2 Làm vua 214
3 Quan hệ với nhà Minh 215
.216
a Năm 1528 216
b Đầu hàng năm 1540 216
II CUỘC ĐỜI 224
1.Người học trò xuất sắc của Chu Văn An 224
Ông là một trong những học trò xuất sắc của Chu Văn An, đỗ Thái học sinh (Tiến sỹ) và ra làm quan vào năm 1323, dưới thời vua Trần Minh Tông Năm 1345, ông được cử làm Chánh sứ sang thương thảo với nhà Nguyên; sau khi trở về, ông được giao giữ chức Chưởng bạ thư khiêm khu mật tham chính, và 12 năm sau ông được thăng đến chức Nhập nội hành khiển tri khu mật viện sự, rồi thăng lên chức Nhâ ̣p nô ̣i na ̣p ngôn Vào những năm 60 của thế kỉ 14, ông đươ ̣c cử trông coi viê ̣c phòng thủ biên cương 224
Pha ̣m Sư Ma ̣nh là ba ̣n thân của Lê Quát, cả hai đều nổi tiếng về văn ho ̣c cũng như đa ̣o đức cuối đời Trần Đã nhiều lần ông cũng Lê Quát muốn sửa đổi mô ̣t số chế đô ̣ nhà Trần, song không được nghe theo Phạm Sư Mạnh là một trí thức Nho giáo, sống có hoài bão, mang nặng ưu tư trước bao biến thiên của thời cuộc Ông có nhiều trăn trở trước sự suy thoái của đạo Thánh hiền ở cuối đời Trần Người ta thường nói đến thái độ bài Phật của Lê Quát, và đôi khi còn gán ghép cho ông, nhưng đọc lại bài văn bia của Lê Quát viết về chùa Thiệu Phúc (Bắc Giang), và bài văn bia do ông viết ở chùa Sùng Hưng (núi Văn Lỗi), chúng ta chẳng tìm thấy có điểm nào được gọi là “bài Phật”, mà nói như Gs Nguyễn Huệ Chi, bài văn bia của Lê Quát “thực chất chỉ là một lời tự thú về cái bất lực của một tín đồ nhà Nho trước cảnh hiu quạnh của môn phái mình” mà thôi 224
Tuy là một nhà Nho nặng lòng trắc ẩn với đạo Thánh hiền, nhưng Phạm Sư Mạnh lại là người có những chiêm nghiệm rất thâm trầm về triết lý nhà Phật Qua những tác phẩm thơ văn ông để lại, đặc biệt là bài thơ đề vịnh chùa Báo Thiên và bài văn bia chùa Sùng Hưng, chúng ta thấy rằng, Phạm Sư Mạnh là người có ý thức rất rõ trong việc giữ gìn các giá trị truyền thống và nguồn mạch tâm linh của dân tộc Theo ông, ngôi chùa không chỉ là nơi quy hướng tâm linh của người dân mà còn là điểm hội tụ của hồn thiêng sông núi, là giềng mối muôn đời hộ trì cho sự an nguy của nước nhà Nếu không có được một tâm thức như vậy thì trong bài bi minh chùa Sùng Hưng, núi Vân Lỗi, ông cũng không thể viết được rằng: Kề non Vân Lỗi, Am cỏ bên sông, Người đứng xây dựng, Giới tuệ viên thông, Kẻ sống người chết, Nghìn năm phúc chung, Chúng sinh cứu vớt, Từ bi rủ lòng, Bến mê dẫn đặt, Muôn loài qua sông, Mọi người hớn hở, Khắp chốn ngóng trông, Đạo huyền sâu lắng, Bờ bến khôn cùng…” 224
2 Nhà thơ yêu nước 224
Ngoài viê ̣c là mô ̣t vi ̣ quan tài giỏi, ông còn là nhà thơ yêu nước có tập "Hiệp Thạch tập" Tại núi Kính Chủ ở quê hương ông, trên vách đá có khắc bài thơ và bút tích của ông 224
Trước tác của Phạm Sư Mạnh còn lại không nhiều, ngoài bài văn bia chùa Sùng Hưng nói trên, hiện chỉ còn 33 bài thơ được chép rải rác trong Việt âm thi tập, Trích tuyển chư gia luật thi, Trích diễm thi tập và Toàn Việt thi lục Trong đó, có khá nhiều bài thơ vịnh cảnh những ngôi chùa nổi tiếng ở Thăng Long và những vùng lân cận,như Đề Cam Lộ tự (Đề vịnh chùa Cam Lộ), Đông Sơn tự hồ thượng lâu (Lầu trên hồ chùa đông Sơn), Du Phật Tích Sơn ngẫu đề (Thăm chùa núi Phật Tích ngẫu hứng đề thơ)… 225
Đặc biệt, bài thơ Đề Báo Thiên tháp mà ông để lại, đối với hậu thế hôm nay, đó là một lời hoài vọng ngậm ngùi, và cũng là một tư liệu lịch sử quý giá, là “của tin còn lại” về một danh lam bậc nhất của đất Thăng Long xưa, từng được tôn vinh An Nam tứ đại khí trong suốt hơn 800 năm, trước khi bị Giám mục Puginier cấu kết với gian thần Nguyễn Hữu độ cho triệt phá để xây dựng nhà thờ Lớn, Hà Nội vào năm 1883: 225 Trấn áp đông tây củng đế kỳ
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy
Sơn hà bất động kình thiên trụ
Trang 4Kim cổ nan ma lập địa chùy
Phong bãi chung linh thời ứng đáp
Tinh di đăng chúc dạ quang huy
Ngã lai dục thử đề danh bút
Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn trì 225
Trấn áp đông tây giữ đế đô 225
Hiên ngang ngọn tháp đứng trơ trơ 225
Non sông vững chãi tay trời chống 225
Kim cổ khôn mòn đỉnh tháp nhô 225
Thỉnh thoảng gió lay chuông ứng đáp 225
Đêm đêm sao xế đuốc khôn mờ 225
Tới đây những muốn dầm ngòi bút 225
Chiếm cả dòng sông mài mực thơ 225
(Đào Thái Tôn dịch ) 225
Bài thơ này có thể được Phạm Sư Mạnh trước tác trước năm 1368, trong thời gian ông còn làm quan ở kinh thành Thăng Long Sau năm 1368, ông được cử đi xét duyệt quân binh ở các lộ rồi lui về ở ẩn, và không biết ông đã mất vào năm nào .225
III TƯỞNG NHỚ 226
Hiê ̣n nay các văn bia của Pha ̣m Sư Ma ̣nh được tìm thấy ở động Kính Chủ hay còn gọi là Động Dương Cốc từng được phong là “Nam Thiên đệ lục động” Đây là mô ̣t trong 22 hang đô ̣ng trên núi Dương Nham (xã Phạm Mệnh) , huyê ̣n Kinh Môn, Hải Dương 226
Ngoài ra bài vi ̣ của ông cũng được thờ ở văn miếu Mao Điền ở làng Mậu Tài, xã Cẩm Điền (Cầm Giàng, Hải Dương) với lịch sử hơn 500 năm, cùng với bài vi ̣ của Khổng Tử, ông tổ của đạo Nho , các bài vị của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, thầy giáo Chu Văn An, Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nhà toán học Vũ Hữu, Danh y Tuệ Tĩnh, nữ tiến sĩ đầu tiên Nguyễn Thị Duệ 226
Tên của Pha ̣m Sư Ma ̣nh cũng được dùng để đă ̣t tên mô ̣t con phố nhỏ ở HN Phố Phạm Sư Mạnh là đất cũ trong Cục Bảo Toàn Phố này vốn ngày xưa là nơi đúc tiền thời Nguyễn (còn gọi là Tràng Tiền), do đó thời Pháp thuộc gọi là phố "Xưởng đúc tiền" (Rue de la Sapèquerie) Sau năm 1945, phố được mang tên Phạm Sư Mạnh 226
Hậu thế hôm nay, mỗi khi hoài niệm về chùa Báo Thiên, gợi nhắc lại An Nam tứ đại khí, vẫn mãi biết ơn ông về bài thơ này Khắp các tỉnh thành cả nước, hiện đều có những con đường được mang tên ông 226
I.TIỂU SỬ 227
II CUỘC ĐỜI 227
1 Nã đại bác vào tòa khâm sứ đồn Mang Cá 227
ĐỀ TÀI: CÁC CHÚA NGUYỄN 257
Người thực hiện: Đặng Thị Thu Thảo 257
Lớp: A3K18 257
I CHÍN CHÚA 257
1 Xuất thân 261
2 Thời gian tại kinh thành Huế 261
3 Phong trào Cần Vương 261
II CUỘC ĐỜI LƯU VONG 262
1 Lưu vong 262
IV KẾT LUẬN 263
Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước Việt Nam, mà còn đi vào văn học, tiểu thuyết nước ngoài như một câu chuyện cổ tích thần kỳ 263
ĐỀ TÀI: TỐNG DUY TÂN 274
Người thực hiện: Vũ Thị Thu 274
Lục long thiên ngoại cách yên phân 281
Ngoài trời xe ngựa khói mây mờ 281
1 Bối cảnh lịch sử 319
Trang 52 Diễn biến 320
ĐỀ TÀI: LẠC LONG QUÂN VÀ ÂU CƠ
Người thực hiện: Lê Thị Ngọc Ánh Lớp: A3K18
Đất nước Việt Nam, con người Việt Nam luôn tự hào có một nền văn hiến lâu đời với hơn
4000 nghìn năm lịch sử hào hùng Có được những trang sử hào hùng ấy là nhờ công lao của biếtbao thế hệ cha ông, tổ tiên và các bậc tiền nhân hào kiệt đã nối tiếp nhau thêu dệt nên Đặc biệtphải kể đến những trang sử vẻ vang của buổi đầu dựng nước khi khai thiên lập địa,đánh dấu sựkhởi đầu của đất nước ta, làm nên bước ngoặt cho lịch sử dân tộc Việt Đó là trang sử về LạcLong Quân và Âu Cơ – về tổ tiên con dân nước Việt, về nguồn cội dòng giống dân tộc Việt và sựhình thành nhà nước đầu tiên của chúng ta
Tác phẩm nghiên cứu lịch sử mang tên “Lạc long Quân và Âu Cơ” hứa hẹn sẽ mang lại chocác bạn nguồn cảm hứng, cái nhìn toàn diện, những khám phá mới mẻ, hoài niệm thú vị về đề tàiLạc long Quân và Âu Cơ
Tác phẩm gồm 5 phần xuyên suốt và thống nhất theo một chủ đề
• Phần I: Lạc Long Quân và Âu Cơ
• Phần II: Ý nghĩa và giá trị
• Phần III: Chuyện bên lề
• Phần IV: Con Rồng Cháu Tiên
Trang 6khoẻ, một tay có thể nhấc bổng lên cao tảng đá hai người ôm Cũng như cha, Sùng Lâm có tài đilại dưới nước như đi trên cạn Khi nối nghiệp cha, chàng lấy hiệu là Lạc Long Quân.
Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyếtchí đi du ngoạn khắp nơi
Chàng đã giúp dân trừ được rất nhiều tai ương, hoạn nạn như diệt Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh.Không những thế chàng còn chỉ cho nhân dân biết cách trồng lúa, đánh cá, làm nhà mà làm ănsinh sống Chàng được nhân dân khắp mọi nơi yêu quý, khâm phục
Lạc Long Quân đi tuần thú gặp Âu Cơ (con gái Đế Lai-người từ phương Bắc) ở động LăngXương (nay là huyện Thanh Thủy, Phú Thọ) kết duyên thành vợ chồng, đưa về núi Nghĩa Lĩnh.Tục truyền rằng, Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở thành trăm con trai Khi các con lớn lên,Lạc Long Quân đã nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắcnhau, chung hợp thật khó ” Vì thế, hai vị đã chia 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người contheo cha xuống biển để lưu truyền được lâu dài
Vương thứ nhất, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, chia nước làm 15 bộ Nơivua ở là bộ Văn Lang, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, tướng văn gọi
là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, các quan gọi là Bồ chính, đời đời cha truyền con nối gọi làPhụ đạo.Tương truyền đã truyền cho nhau 18 đời vua đều lấy hiệu là Hùng Vương, trị vì đất nướctrong 2621 năm (từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN đến năm 258 TCN), trở thành tổ tiên của các tộcngười, dòng họ Việt Nam ngày nay
Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân Vua Hùng làngười dựng nước, truyền nối được mười tám đời Do sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, nên dântộc Việt Nam vẫn kể mình là dòng giống Tiên Rồng
Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên lần đầu tiên được chép trong cuốn Lĩnh Nam Chích Quáicủa Trần Thế Pháp với tựa đề Hồng Bàng Thị
Không đơn thuần chỉ phản ánh một nguồn cội con người, một giống nòi dân tộc, truyền thuyết
về Lạc Long Quân và Âu Cơ còn chứa đựng biết bao ý nghĩa sâu xa toát lên ở nhiều khía cạnh vềđất nước và con người Việt Nam: về lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội, tâm linh…
Câu chuyện thần thoại mà thấm đẫm ý nghĩa, giá trị lịch sử và nhân văn cao cả; ăn sâu vào nếpnghĩ và tâm hồn người Việt
Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ đánh dấu sự ra đời nhà nước đầu tiên của dân tộc ta,quốc hiệu là Văn Lang, kinh đô đóng ở Phong Châu (Phú Thọ), chia nước làm 15 bộ (bao gồm:Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phú Lộc, Việt Thường, Cửu Đức, Ninh Hải, Dương Tuyền, LụcHải,Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, nơi vua ở là bộ Văn Lang ) đều là đấtthần thuộc của Hùng Vương Nhà nước Văn Lang từ khi thành lập đã là một nhà nước độc lập, tự
Trang 7chủ, có bờ cõi, lãnh thổ riêng, có tổ chức chính trị riêng, được phân công quản lí rõ ràng , đứngđầu là vua Hùng.
Qua câu chuyện, chúng ta có thể thấy sự hình thành nhiều tập tục trong đời sống sinh hoạt, sảnxuất và văn hóa có giá trị sâu sắc còn lưu truyền đến ngày nay như: Làm nhà sàn, trồng lúa nếp,thổi cơm lam, tục vẽ mình, vẽ mắt thuyền khi ra khơi đánh bắt…Nhân dân biết giúp đỡ nhau , dựavào nhau cùng chung sống
Với sức mạnh phi thường của Lạc Long Quân, chàng đã cứu giúp nhân dân khỏi 3 hoạn lớn.Những địa danh nổi tiếng như: núi Cẩu Đầu Sơn, Cẩu Đầu Thủy, đảo Bạch Long Vĩ đã được hìnhthành từ việc giết Ngư Tinh Và đầm Xác Cáo, nay là Tây Hồ có tên nhờ việc diệt Hồ Tinh VùngQuỷ Xương Cuồng cũng nhờ dự đánh đuổi Mộc Tinh của chàng
Cộng đồng người Việt đã góp mặt vào cộng đồng nhân loại từ rất lâu đời cách đây hơn 4000năm, sinh sống và phát triển thành một xã hội to lớn Con người Việt Nam từ buổi sơ khai hìnhthành đã có những phẩm chất tốt đẹp đáng quý không thua kém gì con người trên khắp thế giới.Người Việt có tiếng nói riêng và có ý thức dân tộc sâu sắc; cùng nhau thêu dệt nên bản sắc dân tộcViệt
Người Việt Nam tin rằng mình vốn thuộc dòng giống Tiên Rồng ,bởi thế đối với người ViệtNam nói riêng, con rồng thực sự là một con vật hết sức thiêng liêng và cao quý Rồng là tổ tiêncủa con người Việt Nam Nó tượng trưng cho sức mạnh, quyền lực của dân tộc Việt Nam và đượcnhân dân khắp nơi quý trọng, tôn thờ Con rồng trong Phật giáo là linh vật Hộ Pháp, tức là bảo vệcho giáo lí Phật giáo và những ai theo đuổi giáo lí đó Con rồng được xem là một trong tứ quý:Long, Lân, Quy, Phụng Nhiều nơi người ta lập đền thờ để thờ con rồng
Tiên được quan niệm là người sống trên núi, hiền từ thanh thoát, sống mãi không chết Cònrồng thì được coi là chúa tể của biển cả, làm mưa làm gió, thiên biến vạn hóa
Qua biểu tượng rồng tiên trên đây ông bà tổ tiên muốn dạy chúng ta rằng: con người là mộtkết hợp vừa biến hóa vừa trường cửu, vừa vật chất, vừa siêu phàm, vừa linh ẩn, vừa thường hằng,vừa xinh đẹp dịu hiền, vừa hùng dũng cương quyết, vừa tình vừa lý, vừa chan chứa yêu thương,vừa uy lực vô song
Và để tưởng nhớ các bậc thủy tố, các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước ,nhândân Việt Nam nhiều nơi đã xây các công trình đền thờ, khu di tích lịch sử, bảo tàng văn hóa lịch
sử về Lạc Long Quân, Âu Cơ và các vị vua Hùng nhằm thể hiện truyền thống “uống nước nhớnguồn”,tấm lòng hiếu đạo của những người con đất Việt Hàng năm nhân dân đều tổ chức các lễhội, lễ hành hương, các chương trình văn hóa nghệ thuật để bày tỏ tình cảm của mình với tổ tiên.Như đền Mẫu Âu Cơ ở Hạ Hòa – Phú Thọ, đền Báo Ân ở Hưng Yên; đền Lạc Long Quân ở ViệtTrì – Phú Thọ, đền Kim Liên ở Hà Nội, đền Tổ đình Quốc tổ Lạc Hồng ở phường 3 – Gò Vấp- tp
Hồ Chí Minh
Trang 8Thời Hùng Vương đã trở thành huyền sử; có sót lại chăng chỉ còn là những tục ngữ ca dao và
cổ tích lưu truyền trong dân gian Nhưng ngày giỗ Tổ Hùng Vương vẫn ăn sâu vào tâm linh ngườiLạc Việt Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc dưới ách đô hộ phong kiến Bắc phương; tiếp theo là
1000 năm hưng quốc với bao thăng trầm của lịch sử; tâm linh của người Lạc Việt vẫn luôn nhớ vềcội nguồn Ngày giỗ Tổ 10 – 3 là một trong những ngày lễ hội thiêng liêng nhất của người Lạc
Việt Dù đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa Nhớ ngày giỗ tổ hang ba mùng mười
Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ mãi mãi trường tồn với non nước, con người ViệtNam Nó không những trở thành một ý niệm thiêng liêng, lòng tự hào , tự tôn dân tộc của nhândân Việt Nam, mà còn là một biểu tượng cao đẹp của dân tộc Việt Nam mà bạn bè khắp nămchâu luôn ngưỡng mộ
Câu chuyện thuở xưa còn gìn giữ đến ngày nay đã phản ánh rất sinh động linh hồn ngườiViệt, xứng đáng mang một tầm vóc lịch sử quốc gia của một dân tộc anh hùng
Trang 9ĐỀ TÀI: SỰ TÍCH BÁNH CHƯNG BÁNH DÀY
Người thực hiện: Đặng Tuấn Anh Lớp: A3K18
Trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam, bánh chưng là món ăn truyền thồng nhằm thểhiện lòng biết ơn của con cháu với cha ông và trời đất, xứ sở Nó có nguồn gốc từ thời vua Hùngthứ VI Bánh chưng song hành cùng lịch sử dân tộc và trở thành biểu tượng của ngày Tết cổtruyền Việt Nam
Bánh chưng được gói từ lá dong với thịt lợn, đỗ xanh, gạo nếp Bánh được làm vào các dịp TếtNguyên Đán và ngày giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 Âm lịch) Dịp Tết ngày nay ít thấycảnh các bà các chị tất bật chuẩn bị làm bánh chưng, nào rửa lá dong, nào ngâm gạo hay đãi đỗ,cảnh trẻ con háo hức xem bố mẹ gói bánh, cảnh già trẻ lớn bé ngồi quây quần bên bếp lửa nấubánh chưng, mặc cho ngoài trời sương lạnh giá Với nhiều thế hệ, chiếc bánh chưng là niềm hânhoan của ngày Tết sum vầy, đoàn tụ Những chiếc bánh đẹp, đầy đặn, vuông vức được dành riêng
để cúng Tổ tiên Bánh chưng vẫn nhắc nhở con cháu ngàn đời về truyền thống dân tộc Ngày nay,nguyên liệu làm bánh chưng vẫn vậy, vẫn gạo nếp, lá dong, thịt mỡ, đỗ xanh Bánh muốn ngon thìphải chuẩn bị nguyên liệu thật kĩ: gạo ngâm đãi thật kĩ,đậu xanh đồ vừa chín tới, thịt phải có cả
mỡ, nạc, bì, ướp đủ gia vị, gói xong phải luộc ngay bánh mới xanh Để chiếc bánh vuông đẹp,chín rền thì lúc gói phải “ đỗ trong gạo, gạo trong lá”, gói chặt tay, không cần ép mà bánh vẫn đểđược lâu, miếng bánh sau khi cắt nhân đỗ, thịt nạc luôn cân đối ở tất cả các phần
Lại nói về cách cắt bánh, ngày nay, mọi người cắt bánh thành 4 hoặc 8 phần Lạt được tướcnhỏ, đặt theo hình chữ thập chính giữa bánh, rồi lại đặt 2 chiếc lạt theo 4 góc thành một hình chữthập nữa Kế đó, lật ngược chiếc bánh lên, thắt lạt lại theo thứ tự để cắt bánh Với cách cắt này,các miếng bánh thật đều nhau, đều có cả thịt và nhân đỗ Thế nhưng, rất ít người biết đến cáchbánh của người xưa Người xưa cắt bánh thành 9-16 miếng vuông vức Những miếng bánh ở giữađược dành cho người lớn tuổi Nhưng miếng bánh xung quanh được dành cho cha mẹ,tiếp theonữa là dành cho con cháu Điều dó thể hiện truyền thống tôn trọng người cao tuổi,"kính già, già đểtuổi cho" của dân tộc
Song hành với bánh chưng là bánh dày Bánh có hình tròn, thường được làm bằng gạo nếp.Bánh được làm chủ yếu trong dịp giỗ tổ Hùng Vương Cách làm bành tuy đơn giản nhưng lại rất
kì công Người ta chọn loại gạo nếp ngon, đồ kỹ (có thể đồ hai lượt), rồi giã trong cối tới khi cóđược một khối bột nếp chín dẻo quánh Đây là công việc đòi hỏi sức vóc, thường chỉ nam thanhniên làm vì bột nếp chín đặc biệt dính và quánh, việc nhấc chày lên cũng không đơn giản Nếu giãkhông nhuyễn hẳn ăn còn hạt gạo sẽ mất ngon, dễ bị "lại" bánh Thường thường người ta có thểdùng chút mỡ lau vào đầu chày giã cho đỡ bị bết dính, nhưng óc lợn hấp chín được sử dụng cho
Trang 10mục đích này nhiều hơn Bánh dày loại phổ biến nhất là loại bánh dày trắng không nhân, nhỏ bằnglòng bàn tay, nặn hình tròn dày chừng 1 đến 2 cm Cứ 2 cái bánh thì thành một cặp Người mua cóthể chọn mua một cái hay cả cặp và thường kẹp ăn chung với giò lụa, ruốc…
Có một địa danh gắn liền với bánh dày, đó là bánh dày Quán Gánh (trên đường từ Hà Nội điHải Dương Khi đi qua địa danh giáp Hà Nội này, người ta thường gặp nhiều sạp bán bánh dàyQuán Gánh Loại bánh này thường bán thành một cọc gồm 5 bánh, nhân mặn hoặc nhân ngọt, góitrong lá chuối tươi
Các loại bánh của nông thôn miền bắc Việt Nam kể trên thường để không được lâu, có lẽ chỉmột ngày là se mặt hoặc lại gạo hoặc ôi thiu
Với loại bánh dày của người vùng cao thì khác Bánh được chế biến cùng cách kể trên mỗi dịpTết, song được nặn to như cái bánh đa Bánh được trữ trên gác bếp, để khô cả năm trời và là món
ăn quý Mỗi khi dùng, người ta xắt bánh ra thành miếng nhỏ, rồi nướng phồng trên bếp than nhưbánh tổ
Dáng vuông của bánh chưng, dáng tròn của bánh dày đã thể hiện vũ trụ quan của người Việt
cổ Hình tròn tượng trưng cho bầu trời,hình vuông tượng trưng cho mặt đất.Người xưa đã khéo léolựa chọn hai sản vật thật đặc biệt dâng lên trời đất, dâng lên tổ tiên Hai thứ bánh này cũng thểhiện sụ tương giao hòa hợp của hai hình thể "rỗng" và "đặc", "vuông" và "tròn"- tuy tương khắcnhau như "trời" và "đất", "đàn ông" và "đàn bà" nhưng phải kết giao với nhau, tạo nên vạn vật
"Lễ vuông tròn" của bánh chưng - bánh dày thể hiện tình cảm gắn bó thủy chung của vợ chồng,giống như câu thơ của Nguyễn Du:
"Trăm năm tính cuộc vuông tròn Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông."
Bánh chưng - bánh dày đã trở thành món ăn truyền thống của dân tộc Việt Nam Qua hàngngàn năm,bánh chưng-bánh dày vẫn trường tồn,vẫn cách làm ấy,vẫn nguyên liệu ấy, vẫn hương vịấy Bánh chưng-bánh dày thể hiện truyền thống quý báu của nhân dân ta Đặc biệt,chiếc bánhchưng là tín hiệu của ngày Tết,là biểu tượng của sum họp,đoàn tụ,là món ăn không thể thiếu trongmâm cỗ ngày Tết:
"Thịt mỡ,dưa hành,câu đối đỏ, Cây nêu,tràng pháo,bánh chưng xanh."
Trang 11ĐỀ TÀI: NỮ TƯỚNG LÊ CHÂN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Mai Anh Lớp A3K18
Nữ tướng Lê Chân không chỉ là niềm tự hào của người dân Hải Phòng nói riêng mà còn làniềm tự hào của dân tộc ta đặc biệt là đối với người phụ nữ Việt Nam
I TIỂU SỬ
Về nữ tướng Lê Chân hiện nay không rõ cụ thể
năm sinh năm mất, chỉ biết bà xuất thân trong một gia
đình có truyền thống dạy học và chữa bệnh Cha bà là
Lê Đạo nổi tiếng là ngươi nhân đức luôn sẵn lòng giúp
đỡ những người dân nghèo khổ Mẹ bà là Trần Thị
Châu – một người phụ nữ đảm đang hiền thục Hai
người lấy nhau đã lâu sau một lần đến vùng đất Yên
Tử linh thiêng thành tâm cầu khấn mới sinh hạ được
Lê Chân Nàng không chỉ xinh đẹp tài năng mà còn
đặc biệt có chí hơn người Chính sắc đẹp của nàng là
nguyên nhân gây ra thảm họa cho cả gia đình
II CUỘC ĐỜI
Vào mùa xuân năm Kiến Vũ thứ 16 tức tháng ba năm 40 TCN, thời gian đó, quân Hán đangxâm lược nước ta trong một lần đi kinh lý qua vùng Đông Triều, tên Thái thú nhà Hán là Tô Địnhnghe kẻ nịnh thần tâu về sắc đẹp như tiên nữ giáng trần của Lê Chân Hắn ngỏ ý muốn lấy nànglàm thiếp nhưng Lê Chân và cha mẹ nhất mực khước từ Tức giận vì việc cầu hôn không thành,theo truyền thuyết Tô Định đã sát hại cha mẹ Lê Chân Căm hận quân cướp nước tham tàn bỉ ổi,nuôi mối thù nhà Lê Chân tìm thầy ôn luyện binh thư võ nghệ quyết chí trả thù Sau khi võ nghệ
đã tinh thông nàng tìm về khu vực An Dương là cửa sông Cấm Hải Phòng ngày nay để sinh cơ lậpnghiệp Lúc bấy giờ đây mới chỉ là một vùng đất hoang toàn bồi bãi, nhưng với ý chí và lòngquyết tâm từ lâu luôn nung nấu, chỉ sau khoảng 10 năm Lê Chân đã biến vùng biển nay trở thànhmột nơi trù phú
Trong thời gian sinh sống tại đây, Lê Chân không ngừng tích trữ lương thực và huấn luyệnbinh sĩ Khi lương thảo binh lực đã có sẵn trong tay mùa xuân năm 40 Lê Chân phất cờ khởi nghĩa
ở Mê Linh đánh quân Đông Hán Cuộc khởi nghĩa của bà được nhân dân khắp nơi ủng hộ vàhưởng ứng Cho đến giờ cuộc khởi nghĩa vẫn luôn là niềm tự hào của dân tộc ta Lê Chân đã tìmlên xứ Đoài gặp Trưng Trắc Trưng Nhị và xin nhập vào đội quân của hai bà Từ căn cứ An Biên
Trang 12Lê Chân đưa quân lên hợp lực bàn mưu tính kế với hai bà Trưng Chảng bao lâu khởi nghĩa đã lanrộng ra khắp các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố Trong một thời gian ngắn quân
ta đã tiêu diệt được sáu mươi lăm thành trì trên cả nước khiến bọn tàn quân Tô Định phải cuốngcuồng bỏ chạy Đây là một chiến công vang dội
Trong các trận đánh, Lê Chân luôn luôn là thủ lĩnh của đội quân tiên phong lập được nhiềucông lớn Khi kháng chiến thành công Hai bà Trưng đã xưng vương Lê Chân được phong chức
“Chưởng quản binh quyền” kiêm trấn thủ Hải Tần Phụng mệnh, nàng trở về vùng Đông TriềuQuảng Ninh và Hải Phòng ngày nay tiếp tục trấn giữ vùng trọng yếu phía đông Tổ quốc Nàng đãđộng viên khuyến khích nhân dân trong vùng chịu khó chăm lo sản xuất, tiếp tục khai khẩn đấthoang biến nơi đây thành một vùng đất thực sự giàu có, trù phú, ấm no Bà đặt tên cho nơi đây là
An Biên trang để tưởng nhớ về quê cũ Học theo công đức người cha, Lê Chân thường xuyên giúp
đỡ chữa bệnh cứu ngươi Có truyền thuyết cho rằng Lê Chân được phong là “Thánh Chân côngchúa” chuyên lo việc tiếp quản binh quyền, huấn luyện binh sĩ
Có thể coi thời đại Hai Bà Trưng là chính quyền phong kiến đầu tiên của nước ta dù còn sơkhai Chính quyền này kéo dài đến năm 40 TCN, vua Hán đã sai tướng giỏi của hắn là Mã Việncầm quân sang đàn áp Hai Bà Trưng Một lần nữa hai bà lại chiến đấu vô cùng quả cảm, nhưngcảm thấy sự chênh lệch lớn về lực lượng, biết không thể thắng nổi quân giặc, Hai Bà đã trầm mình
tự vẫn ở dòng sông Hát, tuy nhiên đây mới chỉ là một trong số những giả thuyết về cái chết củahai bà Về phía Lê Chân bà cũng mất vào cùng năm đó nhưng xoay quanh cái chết của bà còn tồntại nhiều truyền thuyết:
Tưởng nhớ đến công lao của bà, người dân Hải Phòng đã lập đền thờ bà Hiên nay Đền Nghè
là ngôi đền tiêu biểu nhất thờ nữ tướng Lê Chân Lúc đầu, đền thờ chỉ là một gian miếu nhỏ, máilợp gianh Từ sau năm 1919, đền Nghè mới được xây dựng khang trang như hiện nay Năm 1919tòa Hậu Cung của đền được xây dựng Năm 1925 tòa Hậu cung được trùng tu đến năm 1926 tòaTiền Bái được xây dựng Hiện nay Đền có 2 nhà chính - Tiền tế và Hậu cung Giữa Tiền tế vàHậu cung là nhà Thiên Hương 2 tầng, mái tâm đầu đao Trong toà hậu cung đặt tượng bà LêChân, hai bên là tượng song thân của bà
Đến thăm Đền Nghè, quí khách thường chú ý đến 2 vật tích độc đáo– đó là Khánh đá và Sập
đá Khánh làm bằng một tấm đá nguyên dày 5cm được tách ra thành hình chiếc khánh (có chiềucao 1m, rộng 1,6m) Mặt trước khánh khắc nổi 2 con rồng chầu mặt nguyệt và hình mây bay xung
Trang 13quanh Mặt sau khánh khắc hình mây bay và sóng nước cả hai mặt có 2 núm tròn, lồi cao là chỗ
để gõ Tiếng khánh đá trong ngân vang êm dịu, lan tỏa, hướng ta tới cõi tâm linh huyền ảo màthiêng liêng
Đền Nghè mở hội lễ chính vào ngày mùng 8, 9, 10 tháng 2 âm lịch, tương truyền là ngày sinhcủa Lê Chân Tại đềncòn dâng lễ vào ngày đại thắng 15 tháng 8, và ngày 25 tháng Chạp âm lịch
Mở đầu hội là lễ rước ngai, mũ ,ấn từ đền Nghè vào đình làng, khi rước phải xin phép ThànhHoàng cho dân được hành lễ Đi đầu cuộc rước là người cầm cờ, rước phướn đủ màu sắc; theo sau
là các hiệu chiêng hiệu trống, phường bát âm, theo sau là các bô lão Lễ rước về đến đình thì dừnglại, các đồ thờ lưu lại trong đính suốt 3 ngày, mỗi ngày các quan tế tiến lễ hai lần, gồm hương,hoa, xôi, quả, khi có lợn thì phải làm sạch ,bỏ ruột và gan, tế lễ xong đem chia đều cho dânlàng ,không phân biệt nam hay nữ Trong 3 ngày hội dân làng diễn nhiều trò vui như : cờ người,đấu vật, thi tài, ban đêm thì hát xướng Sáng ngày mồng 10, cuộc rước từ đình về đền được cửhành long trọng Khi về đến đền Nghè cử hành lễ tế Đặc biệt những người chủ trì và tham dự lễđều là phụ nữ, các vai nữ quan cũng thành thục theo nghi lễ truyền thống
Tương truyền bà Lê Chân sống khôn chết thiêng, khi mất xác bà hóa đá trôi từ phía sông KinhThầy đến vùng bến Bính Hải Phòng ngày nay Nhân dân nhìn thấy biết là bà linh ứng nên đãkhiêng tượng đá về lập đền thờ
Đền Nghè là một ngôi đền xinh xắn với quy mô không lớn nhưng nổi tiếng rất linh thiêng và
vẻ đẹp kiến trúc mang đậm màu sắc của kiến trúc các triều đại trước, hết sức khéo léo và tinh
tế Nhân dân Hải Phòng và các tỉnh lân cận như Hải Dương, Thái Bình, Quảng Ninh… Hàngnăm đến ngày lễ Tết đều về đây thắp hương, cúng bái cầu mong những điều thuận lợi và maymắn Về sau nữ tướng Lê Chân được phong làm Thượng đẳng Phúc thần công chúa Tưởng nhớcông ơn bà, một nữ tướng tài ba, nhân dân Hải Phòng đã tạc tượng bà bằng đồng với dáng đứng
uy nghi nhưng đầy chất nữ tính, biểu tượng cho người con gái Việt Nam Tượng đài nữ tướng LêChân được nhân dân thành phố Hải Phòng khánh thành vào tháng 1 năm 2001
Hiện nay Đền Nghè tọa lạc trên phố Mê Linh cách Nhà Hát Lớn thành phố khoảng 600m Tuy nhiên đây không phải là nơi duy nhất thờ nữ Tướng Lê Chân Tại vùng núi Lạt Sơn cũng
có Đền thờ Bà Lê Chân với quang cảnh núi rừng bao quanh rất đẹp như Voi phục Diện tích khuvực này lên đến 20ha nhưng rất tiếc vẫn chưa được công nhận là di tích lịch sử
Tại làng Mai Động cũng lập đền thờ bà và tôn bà là Thành Hoàng làng Hàng năm làng mở hộivào các ngày 4, 5, 6 tháng 1 Âm lịch Vào ngày hội, dân làng chuẩn bị lễ vật cúng thần và saunhững lễ nghi truyền thống, là các cuộc đấu vật diễn ra ở Đồng Vật Tục truyền đây là nơi nữtướng Lê Chân từng luyện võ vật cho trai gái làng thuở đó Hội vật làng Mai Động đến nay vẫnđược duy trì và tổ chức trong ngày hội làng
Gần 96 Mê Linh Hải Phòng còn có một ngôi Đền nhỏ thờ nữ tướng Lê Chân của con cháudòng họ Lê nhưng được rất ít người biết đến
Trang 14Có thể nói nũ tướng Lê Chân là một niềm tự hào không chỉ của riêng người dân Hải Phòng.
Hy vọng rằng, trong một tương lai không xa những ngôi đền thờ vị nữ tướng miền biển này sẽ trởthành một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế
Trang 15Trong trận chiến với nhà Ân Thánh Gióng cùng chiến đấu với Thánh Hùng Linh Công, cả haicùng hợp binh lại đánh một trận quyết định ở chân núi An Vũ Ninh Sơn Hùng Linh Công là cháuruột Vua Hùng, một danh tướng thuộc đời Hùng Vương thứ sáu (1718 - 1631 TCN), ông được vuatrao cho kim đao và 3 vạn binh mã đi tiên phong cùng với Thánh Gióng đánh tan giặc Ân Ôngđược vua Hùng giao cho cai quản xứ Kinh Bắc, ông cũng có công trừ hổ để giữ cuộc sống an bìnhcho dân Ông sinh ra và mất trên đất Hiệp Hòa, Bắc Giang và được thờ ở Đền IA khoảng 3700năm nay Thánh Gióng thể hiện tinh thần và sức mạnh của người Việt trong đấu tranh chống ngoạixâm, giữ nước.
II TRUYỀN THUYẾT THÁNH GIÓNG GỬI GẮM NHỮNG GIÁ TRỊ LỚN LAO
Truyền thống yêu nước và đánh giặc bảo vệ đất nước xuất phát ngay từ những buổi đầu dựngnước Sự đồng tâm nhất trí, đoàn kết một lòng, tạo nên sức mạnh tinh thần dân tộc to lớn củangười Việt
Xuất hiện những đồ vật bằng sắt cho thấy người Việt đã biết sử dụng những đồ vật bằng sắtthành thạo, có khả năng chế tác thành những công cụ đó một cách thành thục.Điều này thể hiệntrình độ văn hóa rất phát triển của chúng ta lúc bấy giờ Hình ảnh cây tre đánh giặc chứa đựngnhững giá trị tinh thần, sức mạnh của dân tộc Việt Nam, là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ.Hành động ngoái nhìn lại quê hương, vái lạy mẹ cùng những người dân trong làng và để lại áogiáp sắt, mũ sắt của Thánh Gióng cũng là bài học về tấm lòng hiếu nghĩa, uống nước nhớ nguồn,không màng vinh hoa phú quí, danh lợi
Trang 16III TƯỞNG NHỚ
Về di tích đền Phù Đổng, đây là một công trình kiến trúc mang đậm bản sắc văn hóa dân gian.Đền Phù Đổng thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội Từ trung tâm Hà Nộiqua cầu Chương Dương theo quốc lộ 1 tới cầu Đuống, vượt sang bên kia sông rồi rẽ phải đi thêm
5 km là xã Phù Đổng Đền được vua Lý Thái Tổ cho lập từ khi dời đô ra Thăng Long (1010) vàđược trùng tu, sửa chữa nhiều lần Ngôi đền hiện nay gồm: bái đường, hậu cung, nhà thủy đìnhmúa rối nước ở ao trước đền Trong đền, tượng Thánh Gióng khá lớn ngồi giữa, hai bên là tượngcác quan hầu Gía trị lớn nhất là đôi rồng đá cách điệu đặt ở bậc thềm, đôi sư tử đá tạc vào thế kỉXIX, cỗ ngai trạm trổ rất đẹp, tấm bia đá khắc năm 1660 và đôi chén sứ Phù Đổng còn có các ditích đền Hạ thờ mẹ Thánh Gióng và miếu Ban, Cố Viên gắn với truyền thuyết Thánh Gióng chàođời, mẹ Gióng đến hái rau rồi ướm chân mình vào chân người khổng lồ; Giá Ngự và mộ Trần ĐôThống- vị tướng tiên phong trong đoàn quân phá giặc Ân; chùa Kiến Sơ, nơi Lý Công Uẩn đượcThánh Gióng chúc mừng bằng bài thơ hiện lên thân cây, khi người đến thăm chùa
Hàng năm, tại đền Gióng, cứ vào ngày 9 tháng 4 âm lịch, dân làng Phù Đổng mở hội diễn lại
sự tích Thánh Gióng đánh giặc Ân Bên cạnh đó ở rất nhiều nơi trên đất nước cũng tổ chức lễ hộitưởng niệm người anh hùng dân tộc này như: Chi Nam, Xuân Đỉnh, Bộ Đầu…
Thánh Gióng- một trong “Tứ bất tử” theo quan niệm dân gian xưa luôn là đề tài nghiên cứucủa các nhà khoa học Gần đây Tiến sỹ Hán học Cung Khắc Lược và Tiến sĩ Lương Văn Kế đãcông bố những phát hiện mới về nguồn gốc Thánh Gióng Những công bố này được căn cứ vàomột bản thần phả của đền Bộ Đầu (xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội) Theo thần phả thìThánh Gióng có họ Đổng, xuất thân rõ ràng, có cha, có mẹ Đặc biệt, dòng họ Đổng nổi tiếng vớinhững chiến công trị thủy, giúp nước cứu dân Những phát hiện này đã mở rộng thêm tư liệu cho
vị thánh, mang đến những phát hiện thú vị, chân thực hơn
Nếu ai đã từng đến với hội Gióng hẳn không thể nào bỏ qua được những điệu hát, những tíchtruyện và những giá trị văn hóa lưu truyền đến ngày nay Hội Gióng chứa đựng những giá trị vănhóa dân tộc Do đó Hội Gióng xứng đáng được bình chọn là Di sản Văn hóa Phi vật thể của toànnhân loại
Việc Hội Gióng đựợc công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại có ý nghĩa rấtlớn đối với người dân Thủ đô nói riêng và Việt Nam nói chung
Để bày tỏ tấm lòng thành kính với vị thánh bất tử này, vào ngày 21-9, tại Hà Nội, Trung ươngGiáo hội Phật giáo Việt Nam (TƯGHPGVN) đã tổ chức họp báo công bố tiến độ xây dựng tượngđài Thánh Gióng, chương trình Lễ khai quang yên vị - hô thần nhập tượng và cầu nguyện quốcthái dân an Vào lúc 21h 30 ngày 26/9, tại đỉnh núi Đá Chồng thuộc khu di tích đền Sóc, xã PhùLinh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội Giáo Hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ Khai quang yên vị - Hôthần nhập tượng Đức Thánh Gióng – Phù Đổng Thiên Vương Đây là công trình trọng điểm kỷniệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội Thánh Gióng là vị Thánh lớn nhất trong hàng “Tứ
Trang 17bất tử” biểu tượng tinh thần quật khởi ý chí vươn lên triệu người như một, biểu tượng tinh thần
“Từ bi bác ái”, “Công thành thần thoái” của dân tộc Việt Nam Có thể nói Thánh Gióng là mộttrong những vị thần tồn tại mãi mãi, trường cửu trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của dân tộcViệt Nam ngàn đời
ĐỀ TÀI: SỰ TÍCH QUẢ DƯA HẤU
Trang 18Người thực hiện: Bùi Thị Kim Anh Lớp: A3K18
Mỗi khi thưởng thức trái dưa hấu ngon ngọt, thơm mát, chắc hẳn ai cũng đã một lần đượcnghe kể về “Sự tích dưa hấu” và chàng Mai An Tiêm – người đã có công phát hiện, gieo trồng tráidưa quý, góp phần làm phong phú thêm vườn cây trái của đất Việt ta
I SỰ TÍCH QUẢ DƯA HẤU
Câu chuyện bắt đầu từ việc Mai An Tiêm may mắn được Vua Hùng nhận làm con nuôi
Do thông minh, tài trí hơn người, lại chăm chỉ tháo vát nên Vua Hùng rất yêu mến chàng vàthường ban cho những sản vật quý Tuy nhiên trước một xã hội phong kiến còn mang nhiều nhữngphong tục và luật lệ hà khắc, lại không thể tránh khỏi nhiều kẻ quan lại tham lam ganh ghét, đố kỵ
Đó cũng là lẽ thường bởi xã hội nào cũng có kẻ tốt người xấu Những tên tham quan thường hay
xu nịnh vua luôn tìm cách “bới lông tìm vết” để hại Mai An Tiêm Nhưng An Tiêm cũng không vìthế mà lo sợ, chàng vẫn luôn thẳng thắn nói với vợ con: “Của biếu là của lo, của cho là của nợ”
Lũ nịnh thần đã nhân cơ hội đó đặt điều nói xấu chàng với Vua Hùng Và chàng đã không tránhkhỏi cơn thịnh nộ của nhà vua Là một vị vua, người đứng đầu đất nước, nắm trong tay toàn bộquyền cai trị, vua bảo “chết” thì phải tuân lệnh Thế là trong lúc tức giận, nhà vua đã ra lệnh đàygia đình An Tiêm ra một hòn đảo hoang trên biển Đông mà chỉ cho mang theo một chút lươngthực Cuộc sống trên đảo của gia đình An Tiêm vô cùng vất vả nhưng chàng không bao giờ mất đi
hy vọng, luôn tin vào một tương lai tươi đẹp phía trước Và quả thật ông Trời đã không phụ lòngngười, một hôm chàng thấy một con chim đang ăn một thứ quả màu đỏ Với ý nghĩ rằng chim ănđược thì chắc người cũng ăn được nên An Tiêm đã nhặt hạt về đem gieo ở một khoảnh đất Ngàyngày, hai vợ chồng An Tiêm chăm sóc giống cây đó rất chu đáo và hồi hộp chờ đợi cây ra hoa rồikết quả, nhưng trái lạ đó cứ lớn mãi, không biết lúc nào có thể thu hoạch Thế rồi một hôm có mộtđàn quạ ở đâu bay đến mổ trái dưa lạ, An Tiêm thấy thế bèn cắt vào ăn thử và thấy vị thanh ngọt,khoan khoái trong người Từ đó, gia đình chàng cùng nhau chăm sóc và trồng thêm thứ quả lạ, vìkhông biết dưa ấy tên là gì, mới nhân chim tha từ phương tây đem đến nên đặt tên là “Tây qua”hay còn gọi là dưa tây Cứ mỗi lần thu hoạch dưa, chàng lại dành ra mấy quả rồi lấy dao vạch lên
đó, đem thả ra biển với ước mong có con thuyền nào đó bắt gặp trái dưa này và biết chàng ở đây.Quả nhiên, có một thuyền buôn đã đến hòn đảo và An Tiêm đã lấy dưa để đổi lấy vật dụng trongnhà, cuộc sống dần dần khá lên.Về phần Vua Hùng, sau khi đày An Tiêm ra đảo hoang, vua cứnghĩ là An Tiêm đã chết Cho đến một ngày kia, thị thần dâng thứ quả lạ, vua ăn ngon miệng bènhỏi thăm tung tích, mới biết là do An Tiêm trồng ngoài đảo Vua ngẫm nghĩ thấy mình sai, chothuyền ra đón gia đình An Tiêm trở về An Tiêm và nàng Ba mừng rỡ, thu hoạch hết những quảdưa chín và đem hạt giống đem về phân phát cho bà con hàng xóm và dạy cho họ cách trồng dưa
Trang 19Kể từ đó, nước Văn Lang có thêm loại dưa hấu đỏ, đó là nguồn gốc giống dưa hấu mà chúng ta ănngày nay.
Ngoài ra vẫn còn nhiều dị bản về Mai An Tiêm, trong đó tôi xin đưa ra một dị bản mà bạn đọc
có thể tham khảo: Chuyện “dưa hấu” trong “Lĩnh Nam chích quái”
II Ý NGHĨA
Cũng như nhiều truyền thuyết khác kể về thời dựng nước của các vua Hùng, truyện "Sự tíchdưa hấu" giải thích thêm nguồn gốc một sản vật quý của đất nước cũng xuất hiện ở thời HùngVương Câu chuyện còn minh họa cho tục ngữ của người Việt đúc kết kinh nghiệm sống Câuchuyện có thể là một chứng tích mở đầu cuộc phiêu lưu trên biển đầu tiên của người Việt cổ, vớinhững chi tiết phong phú, sống động Câu chuyện còn mang ý nghĩa ca ngợi ý chí vươn lên củacon người trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào (gia đình An Tiêm trên đảo hoang), tinh thần đoànkết, giúp đỡ lẫn nhau của cư dân đất Việt (bà con hàng xóm giúp đỡ gia đình An Tiêm) Đồngthời, đề cao tình cảm gia đình khăng khít bền chặt, càng thêm cảm phục người phụ nữ Việt Namqua hình ảnh nàng Ba - người phụ nữ : có tấm lòng thuỷ chung son sắt, hiền hậu, đảm đang, chămchỉ, tháo vát, yêu thương chồng con…
Bên cạnh cái mẫu chung: Mai An Tiêm và sự tích Quả dưa hấu cũng chỉ là truyền thuyết, làtruyện dân gian như ngàn vạn câu chuyện dân gian và sự tích khác, thì ở đây nó còn có một đặctrưng rất riêng, đó là vì nó gắn với mảnh đất, ngọn núi Mai An Tiêm, tên người và một dòng họMai có thực Mảnh đất Nga Sơn được biểu tượng như thánh địa của dòng họ này Trong tất cả cácdòng họ đang hiện hữu ở Việt Nam thì có lẽ dòng họ Mai có một niềm tự hào lớn nhất, vì theotruyền thuyết thì đây là dòng họ có nguồn gốc từ Vua Hùng Mai An Tiêm là con trai vua Hùng.Các dòng họ lớn như Ngô, Đinh, Lí, Trần, Lê, Nguyễn đồ sộ hoành tráng gắn với lịch sử dựngnước oai hùng của dân tộc, với những tài năng trác tuyệt là vậy mà cũng chưa có được minhchứng là trực hệ của vua Hùng, dù chỉ là truyền thuyết Nó vừa là truyền thuyết, vừa là dã sử, lạicũng vừa là hình bóng của lịch sử Từ chính truyền thuyết, người xưa đã cung cấp cho chúng tanhững cứ liệu tham chiếu về một thời đại rất đáng quan tâm: Thời đại Hồng Bàng - Nhà nướcVăn Lang của các Vua Hùng
Truyền thuyết là của dân gian tạo ra, truyền đời này qua đời khác, ai muốn cảm nhận nó theogóc độ nào tuỳ ý Mọi người Việt Nam đều có chung quyền lợi thụ hưởng tinh hoa và cùng nhauchia sẻ những trắc uẩn từ đó mà ra Thiết nghĩ, truyền thuyết Mai An Tiêm gắn với quả dưa hấuNga Sơn cũng chỉ đủ căn cứ cho sự suy luận đến mức độ đó
Đáng tiếc, trong những năm gần đây, trước yêu cầu tôn tạo, trùng tu, bảo quản và phát triển disản văn hoá, cả vật thể và phi vật thể, nhiều nơi nhiều người đã đi hơi quá bước Họ đã viết lạitruyện dân gian, bịa ra truyền thuyết với bố cục chặt chẽ, hợp lí, chấm phá các chi tiết li kì, quáiđản nhằm tạo lực hút cho những người mê tín và khách du lịch hiếu kì phương xa Đó là một lỗi
Trang 20lầm của truyền thuyết và văn hoá May mắn thay, truyền thuyết Mai An Tiêm và Quả dưa đỏ không chịu chung cảnh ngộ Những gì hiện diện trong truyền thuyết này đã mang giá trị phản ánhmột hiện thực hoặc chí ít cũng biểu đạt một quan niệm của cha ông ta từ ngàn năm trước về thờiđại các vua Hùng vẫn được giữ gìn nguyên bản Hậu thế có quyền tự hào; có quyền phán xét Cũng từ đây, truyền thuyết đã cho chúng ta những ý niệm về xã hội Việt Nam thời Hồng Bàng; đó
là một quốc gia, một dân tộc có văn hoá và chính trị độc lập, vào loại sớm nhất thế giới
Dưa hấu là một loại quả có vai trò rất quan trọng đối với đời sống.Vào những ngày Tết, trênbàn thờ ông bà, thường có bộ lư hương bằng đồng được lau chùi sáng bóng, hai bên có chân đèncắm nến đỏ, một cặp dưa hấu đẹp nhất đặt trang trọng trên bàn thờ Ngày đầu xuân, trái dưa bổđôi , màu đỏ ngọt ngào như lời chúc một năm mới đầy may mắn và hạnh phúc.Màu đỏ của tráidưa hấu tượng trưng cho tài lộc, may mắn Bổ trái dưa mang màu sắc đỏ thắm ai ai cũng mừngvui, kỳ vọng cho công việc làm ăn cả năm được hưng thịnh
Là một loại quả có hình dáng khá đẹp, đối với những người phụ nữ khéo tay thì dưa hấu rấtthích hợp dùng để trang trí Tuy nhiên để trang trí được một quả dưa đẹp còn phụ thuộc nhiều vào
sự khéo léo, tỉ mỉ và cả tấm lòng người khắc Ngoài ra, dưa hấu còn được dùng tươi tráng miệngsau bữa ăn và giải khát chống nhiệt Đặc biệt, vào những ngày nắng nóng, đối với những ngườilàm việc mệt nhọc hoặc đi đường xa khát nước, một vài miếng dưa hấu cũng đủ làm bớt mệt, đỡkhát, sảng khoái, dễ chịu Không chỉ là một loại quả may mắn bày trên mâm ngũ quả ngày Tết,món quả giải khát tuyệt vời ấy còn là một vị thuốc thanh nhiệt, tiêu khát, giải độc rất hiệu quả.Thật là một sản vật quý hiếm của tạo hoá
Trang 21Người thực hiện: Nguyễn Thị Lan Anh Lớp: A3K18
Ngày nay, qua nhiều sách vở và các tài liệu khảo cổ, người ta được biết trầu cau là hai loại cây
đã xuất hiện rất lâu đời ở vùng Trung Ấn, Đông Nam Á và ở một số quần đảo trên Thái BìnhDương Có lẽ người xưa, do kinh nghiệm mà có, đã biết sử dụng vôi, trầu, cau, cũng như các loại
lá, rễ, quả của nhiều thứ cây khác tìm được để bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa hay trị bệnh Quảthực, ăn trầu đã giúp cho cơ thể được ấm nóng chống lạnh, chống sơn lam thủy khí; ăn trầu lạisạch miệng, răng lợi và xương cốt được bồi dưỡng, vững mạnh
Trong sự tích Trầu Cau, ta thấy tác giả muốn giải thích cho mọi người hiểu rằng, dân tộc ta đã
có một đời sống văn hoá khá cao ngay từ thuở xa xưa, từ thời Hùng Vương kia
Ngay từ thuở đó, xã hội Việt Nam đã có truyền thống lấy gia đình làm gốc, anh em biếtthương quí nhau, trên kính dưới nhường; vợ chồng lấy nhau vì tình nghĩa, và người đàn bà đã biếttrọn niềm chung thuỷ, son sắt với chồng… Không phải đợi đến khi người Trung Hoa sang đô hộnước ta, dân ta mới biết thế nào là hiếu đễ, thế nào là tiết nghĩa Và cũng vì Sự tích Trầu Cau có ýnghĩa sâu sắc như thế nên tục ăn trầu của dân ta đã được thăng hoa, trở thành một mỹ tục mangtính chất đặc thù của một nền văn minh cổ Đông Nam Á
I TRẦU CAU NƠI QUÊ HƯƠNG
Với chúng ta, hình ảnh những hang cau thẳng tắp, cao vút cùng hình ảnh những giàn trầukhông xanh rờn với những chiếc lá to bằng bàn tay, có hình trái tim duyên dáng nơi góc vườn,…đều là những hình ảnh thân quen đãin sâu vào kí ức của nhiều người Ngày nay chúng đã trở thànhnhững hình ảnh biểu tượng cho quê hương trong nỗi nhớ, niềm thương của những người con xaxứ
II CÔNG DỤNG CỦA TRẦU CAU
Trầu cau rất đa dụng, nhất là cau Thân cau được dung làm cột nhà, làm cầu, người ta bắcthành cầu khỉ hay đóng thành bè thay cầu ván Mo cau để lợp nhà, làm quạt, làm gầu tát nước, đôikhi còn để đựng đồ như gói tiền, gói vàng hay bọc thức ăn Tàu cau thì làm chổi quét sân
• Trong Đông y, ngành thuốc Nam, trầu cau được dung làm thuốc chữa bệnh
• Còn cau thì vỏ cau chữa bệnh bụng đầy trướng, bí tiểu, ốm nghén, nôn mửa
• Hạt cau khô giúp sự tiêu hoá, viêm ruột, sốt rét, sán lãi và bệnh chốc đầu ở trẻ em.Tất nhiên, công dụng chính của trầu cau là để ăn
III TỤC MỜI TRẦU
Trang 22Tục mời trầu ở xứ ta cho thấy, trầu cau là phương tiện không thể thiếu trước nhất trong nhữngnghi thức giao tế hang ngày ngoài xã hội.
“Miếng trầu là đầu câu chuyện”, là “đầu trò tiếp khách”, nên chỉ vừa gặp nhau, sau mấy tiếngchào hỏi, người ta liền mở trầu mời ẳnồi mới nói gì thì nói, bàn gì thì bàn
Trong phạm vi tình yêu và hôn nhân, tục mời trầu đã được người bình dân khai thác triệt để
Vì trầu cau còn là lễ vật cưới xin nên những hình ảnh, màu sắc, hương vị của trầu, cau, vôi, luônluôn gợi ý cho thanh niên nam nữ liên tưởng tới những chuyện tình yêu, chuyện duyên phận lứađôi
IV TRẦU CAU TRONG NGHI LỄ CƯỚI HỎI
Người bình dân Việt Nam xưa nhờ vào hoàn cảnh sống gần gũi với thiên nhiên , nhờ điều kiệnsinh hoạt tập thể về nông nghiệp, hội hè, hát xướng, lại nhờ vào tục mời trầu của xã hội đã giúpcho tình yêu của họ dễ dàng nảy nở, cởi mở, hồn nhiên Dù thế nào chăng nữa, tình yêu của họcũng không cuồng nhiệt, tự do quá trớn đến vượt ra khỏi vòng lễ giáo gia đình và phong tục xãhội Bắt chước theo Trung Hoa, tẩt cả phải trải qua sáu lễ:
• Lễ Nạp thái còn gọi là sơ vấn, nhà trai đưa lễ vật để tỏ ý đã kén chọn Lễ này nôm na gọi
là lễ chạm ngõ hay giạm vợ
• Lễ Vấn danh: hỏi tên tuổi và họ người con gái
• Lễ Nạp cát: báo cho nhà gái biết đã bói được điềm tốt
• Lễ Thỉnh kì: xin định ngày cưới
• Lễ Nạp tệ: tệ là lụa, nghĩa là đem lụa hay phẩm vật quí đến nhà gái, nói chung là đem đồsính lễ đến nhà gái trong ngày cưới
• Lễ Thân nghênh: lễ đón dâu
Sáu lễ kể trên về sau ta giảm xuống còn ba là lễ Sơ vấn ( chạm ngõ) , lễ Vấn danh (ăn hỏi) và
lễ Thân nghênh (đón dâu) Nghi thức cũng đã được thây đổi phần nào cho hợp với phong cáchViệt Nam Theo phong tục của nước ta thì cả ba lễ này, trầu cau đều là lễ vật căn bản
V PHONG TỤC ĂN TRẦU
Tự bao giờ, trầu cau đã gắn liền với đời sống của người Việt Trầu cau dùng để tiếp kháchhàng ngày như bát nước chè xanh, như điếu thuốc lào, trầu có mặt trong mỗi cuộc vui, buồn củalàng quê, trầu trong các buổi lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ thọ, lễ mừng Trầu cau còn là quàtặng, là sính lễ trong đám hỏi, trầu thay thiệp báo, thiệp mời trước ngày hôn lễ Miếng trầu tuy đơngiản nhưng mang bao ý nghĩa sâu đậm trong đời sống văn hóa của người Việt Nam…
Với người Việt Nam, trầu cau là biểu hiện nét văn hóa độc đáo của dân tộc Miếng trầu chứađựng nhiều tình cảm, nhiều ý nghĩa thiêng liêng, gắn bó thân thiết trong tâm hồn mỗi người.Trong mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay và có lẽ là mãi mãi, trầu cau luôn hiện diện trong
Trang 23đời sống các dân tộc Việt Nam và các dân tộc châu Á Dù giàu nghèo ai cũng có thể có, miếngtrầu thắm têm vôi nồng cùng cau bổ tám, bổ tư quyện vào rễ vỏ chay đỏ luôn là sự bắt đầu, sựkhơi mở tình cảm Dân gian có câu "Miếng trầu là đầu câu chuyện", miếng trầu đi đôi với lờichào, lời thăm hỏi hay làm quen.
Đối với các nam nữ thanh niên nam nữ xưa kia thì miếng trầu là nguyên cớ để bắt đầu mộttình yêu, một cuộc hôn nhân - "Miếng trầu nên dâu nhà người" Trong việc cưới, hỏi nhận lễ vậttrầu cau là đồng nghĩa với việc nhận lời cầu hôn, là giao ước giữa hai họ Đó là một nghi thức độcđáo của người Việt
Trong hôn nhân, trầu cau có một vai trò quan trọng Tuy chỉ "Ba đồng một mớ trầu cay"nhưng "Miếng trầu nên dâu nhà người" Trong lễ cưới, hỏi và mâm cỗ cúng tơ hồng - vị thần củahôn nhân, bao giờ cũng phải có buồng cau và tệp lá trầu Người ta xem buồng cau có đẹp không,cuống lá trầu có tươi không mà ước đoán được rằng đôi lứa ấy có đẹp duyên không
Miếng trầu nồng thắm luôn có mặt trong hôn lễ là sự khơi gợi, nhắc nhở mọi người hướng vềmột tình yêu son sắt, một cuộc sống vợ chồng gắn bó, thủy chung và luôn lấy nghĩa tình làm trọngTrầu cau còn đi vào giấc ngủ của con người từ ngày này qua năm khác và hiển nhiên đi vàocuộc sống sinh hoạt của người Việt bằng những câu ví, câu đố, ca dao, ngạn ngữ, tục ngữ dângian, những câu hát trao duyên, câu hát mời trầu của trai gái Bên cạnh những "vôi nồng", "miếngtrầu cánh phượng", "cau bổ bốn bổ ba", là những "trầu giải yếm giải khăn", "trầu loan, trầuphượng, trầu tôi trầu mình" là những "trầu tính trầu tình", "trầu nhân, trầu ngãi" để rồi thành
"trầu mình lấy ta", "trầu nên vợ nên chồng"…
VI TRIẾT LÝ TRẦU CAU
Miếng trầu, đơn giản thế thôi: Trầu, cau, vôi, nếu có thể thêm tí vỏ, viên thuốc lào (với người
ăn "trầu thuốc") ấy thế mà miếng trầu mang đậm "cá tính con người" Người ta têm trầu là để mờitrầu, mời người khác ăn trầu Điếu thuốc lá công nghiệp ngày nay là phi cá tính Còn miếng trầuthủ công nghiệp ngày xưa đã được cá tính hóa
Vậy phép biện chứng của miếng trầu là nó vừa mang nặng bản sắc xã hội (phương tiện giaotiếp), vừa mang nặng bản sắc cá nhân Miếng trầu Việt Nam mang nặng tình người và chở nặngtính người nhất: con người, về bản chất, vừa là một sinh vật xã hội, vừa là một cá nhân ứng xửhài hòa hai mặt đối lập mà hòa hợp đó là ứng xử cao nhất của xã hội loài người
VII TRẦU CAU TRONG LỊCH SỬ
Trang 24Trầu cau có thể nói là hai loại cây song sinh rất phổ thông ở nước ta, đặc biệt càng về phíanam, nghĩa là càng nóng và mưa nhiều, thì trầu cau càng ngon và càng phong phú, nên nhiềungười thường buôn trầu cau từ miền nam ra miền bắc.
Cây trầu và cây cau là hai loại cây địa phương Việt Nam, được người bản địa sử dụng lâu đời,
và việc ăn trầu trở thành một phong tục chủ chốt trong mọi sinh hoạt truyền thống của người Việt
và đặc biệt luôn luôn có mặt trong lễ cưới hỏi của người Việt Khi về già, người Việt còn dùngmột cái cối nhỏ để xoáy cau trầu cho mềm mà ăn
VIII TRẦU TÊM CÁNH PHƯỢNG – NÉT ĐẸP VĂN HÓA ĐẤT KINH BẮC
Trầu têm cánh phượng là hình ảnh đẹp, gợi về truyện cổ tích Tấm Cám và tục ăn trầu đã trởthành tập quán, truyền thống của dân tộc Việt Từ xa xưa, miếng trầu đã đi vào thơ ca, huyềnthoại, cổ tích phản ánh nhiều nét đẹp văn hóa, thăng hoa tình cảm, tình yêu thương con người,hình thành văn hóa vùng rõ rệt
Trầu là món ăn không giải quyết việc đói, no Người ta ăn trầu là để thưởng thức vị cay thơmcủa lá trầu không, vị chát của vỏ, vị ngọt bùi của cau, vị nồng nàn của vôi tất cả hòa quyện vớinhau trong một màu đỏ sẫm Nhiều người ăn trầu đã thành thói quen, rồi thành nghiện-nghiệntrầu Nhưng điều kì diệu của thói nghiện trầu phải chăng là ở chỗ, người ăn thấy nó gắn bó với sốphận con người, bởi tách riêng, thì cay đắng, éo le, nhưng khi đã hòa chung thì tình cảm của họ lạithắm tươi, đẹp đẽ
Nói đến trầu têm cánh phượng là nói đến miếng trầu vùng Kinh Bắc Cũng vẫn nguyên liệu ấy,nhưng cách têm đẹp, kiểu cách, đã thể hiện sự khéo léo của những liền chị-người gái quê KinhBắc Vì thế, miếng trầu có sức hấp dẫn đặc biệt và để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai, dù chỉmột lần được mời
Ngày nay không còn nhiều người Việt ăn trầu nữa nhưng nó đã trở thành một nét văn hóa, mộttập tục không thể thiếu được trong các nghi lễ thường thức của nhân dân Miếng trầu vẫn là hìnhảnh đầu tiên của một tiệc cưởi hỏi Người ta trao nhau miếng trầu để dễ bắt nhịp vào câu chuyện,
để mong một khởi đầu thành ý, thuận lợi
Trang 25ĐỀ TÀI: SỰ TÍCH MỊ CHÂU - TRỌNG THỦY
Người thực hiện: Đàm Thị Lan Anh Lớp: A3K18
I SỰ TÍCH
An Dương Vương xây thành Cổ Loa, xây mãi vẫn đổ, nhờ có Rùa Vàng giúp mới xây xong.Rùa cho nhà vua lẫy nỏ, nhờ đó mà đánh bại quân xâm lược Triệu Đà Triệu Đà cầu hoà, cho contrai Trọng Thuỷ sang kết thân với Mị Châu, con gái An Dương Vương và ở rể trong thành Cổ Loa.Trọng Thuỷ ăn cắp lẫy nỏ, Triệu Đà liền cử quân sang tái xâm lược Âu Lạc An Dương Vươngthua trận, đem theo Mị Châu chạy trốn Đến bờ biển, Rùa Vàng hiện lên kết tội Mị Châu, vuachém đầu con gái rồi đi xuống biển Trọng Thuỷ tiếc Mị Châu, tự vẫn ở giếng trong thành MịChâu chết, máu thành ngọc trai, xác thành ngọc thạch, ngọc đem rửa nước giếng trong thành thìsáng hơn
II Ý NGHĨA
Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng thuỷ là một trong những truyền thuyết tiêubiểu hấp dẫn và có ý nghĩa nhất trong chuỗi truyền thuyết về Âu Lạc và An Dương Vương trongkho tàng văn học dân gian phong phú của dân tộc ta Trong tác phẩm, bằng chí tưởng tượng phongphú, kết hợp giữa những yếu tố hư cấu với các yếu tố lịch sử, ông cha ta đã đưa ra cách lí giải củariêng mình về nguyên nhân mất nước Âu Lạc; bày tỏ tình cảm, thái độ và cách đánh giá về AnDương Vương, Trọng Thuỷ, Mị Châu, những nhân vật của một thời kì lịch sử Đồng thời, thôngqua tác phẩm, ông cha ta cũng để lại những bài học lịch sử cho con cháu muôn đời trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Về phía An Dương Vương, nhà vua là người xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, là người cócông lao to lớn trong sự nghiệp dựng đất nước nhưng cũng mắc sai lầm nghiêm trọng, là mộttrong những nguyên nhân chính đẩy Âu Lạc rơi vào thảm kịch ngàn năm Bắc thuộc, lịch sử khôngthể tha thứ
Mị Châu là con gái của An Dương Vương Thục Phán, là một cô công chúa lá ngọc, cành vàng,
có tâm hồn ngây thơ trong trắng, nhẹ dạ, cả tin và không có một chú gì về ý thức công dân Xuấthiện ở phần sau của tác phẩm, Mị Châu cũng là người phải chịu trách nhiệm lớn trước bi kịch
“nước mất nhà tan”
Còn Trọng Thủy là chồng Mị Châu nhưng cũng là kẻ thù của nhân dân Âu Lạc, là một kẻ rấtđáng bị vạch mặt, lên án, tội lỗi đời đời.Tuy nhiên, xét ở một góc độ khác, Trọng Thuỷ cũng chỉ lànạn nhân của một cuộc chiến tranh xâm lược Trong tay của Triệu Đà, Trọng Thuỷ không hơnkhông kém cũng chỉ là một con bài chính trị mà thôi
Trang 26Mối tình Mị Châu – Trọng Thuỷ không phải là tình yêu lứa đôi đích thực Đó là một tình yêu
bi kịch Ý nghĩa: sáng tạo câu chuyện tình Mị Châu – Trọng Thuỷ ông cha ta nói lên tiếng nóichống chiến tranh xâm lược
“Ngọc trai – Giếng nước” là hình ảnh mang ý nghĩa của sự hoá giải hận thù, nói lên truyềnthống ứng xử bao dung, đầy nhân hậu của dân gian đối với hai nạn nhân tỉnh ngộ muộn màng củacuộc chiến tranh xâm lược
Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy muôn đời vẫn còn giá trị từ ý nghĩa nhân văn, từ bàihọc cảnh giác cũng như lời nhắc nhở về cách giải quyết các mối quan hệ riêng – chung, cá nhân –cộng đồng Câu chuyện bi kịch thấm thía ấy cũng là sự thể hiện lập trường và tình cảm rõ ràng củanhân dân ta trước các vấn đề lịch sử và quan hệ con người
Người xưa đã sáng tạo nên truyền thuyết lịch sử đầy cảm động, xót xa Truyện An DươngVương và Mị Châu - Trọng Thuỷ vẫn mãi là một câu chuyện, một bài học lớn lao về bi kịch mấtnước và bi kịch tình yêu đã từng diễn ra trong lịch sử Truyền thuyết ấy sẽ còn tiếp tục được kểcho muôn thế hệ con cháu đời sau để cùng nhau khắc cốt, ghi tâm, lời căn dặn cảnh giác trước kẻthù để bảo vệ quê hương đất nước, bảo vệ quyền độc lập thiêng liêng và hạnh phúc của mỗi giađình
Tuy đây chỉ là một truyền thuyết nhưng là một bài học cảnh giác cho con cháu đời sau trongquá trình xây dựng đất nước Câu chuyện đó cũng có thể phán quyết bằng những quy định củapháp luật ngày nay Từ nội dung câu chuyện trên đây, chiếu theo những quy định của pháp luậtngày nay ta có thể định tội danh cho từng người Trọng Thuỷ sẽ bị truy tố về Tội gián điệp theokhoản 1 Điều 80 Bộ luật Hình sự Khoản 1 điều này quy định: Người nào có một trong các hành
vi sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình Theo luậtngày nay, nàng Mị Châu cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Vô ý làm lộ bí mật Nhànước theo Điều 264 BLHS 1 Người nào vô ý làm lộ bí mật nhà nước hoặc làm mất tài liệu bí mậtnhà nước, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm 2.Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm Vì sự ngây thơ củanàng mà mất nước, do vậy nàng sẽ bị truy tố theo khoản 2 và hình phạt cao nhất có thể lên tới 7năm tù
Thông điệp về văn hoá, nhất là văn hoá ứng xử của người Việt mà cha ông ta gửi gắm trongtác phẩm khiến chúng ta lấy đó làm tự hào Thông điệp đó cứ lung linh như viên ngọc được giấukín trong từng câu chữ, như một mạch nước ngầm trong mát nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ độcgiả
Trang 27Đây là toà thành cổ vào bậc nhất Việt Nam được vua Thục Phán An Dương Vương xây từ thế
kỷ thứ III trước Công nguyên để làm kinh đô nước Âu Lạc, nay thuộc huyện Ðông Anh, ngoạithành Hà Nội
Hàng năm, lễ hội Cổ Loa tưởng nhớ vua An Dương Vương được tổ chức vào mùa xuân, ngàymồng 6 tháng giêng Có 8 làng trong xã Cổ Loa tổ chức rước kiệu truyền thống tụ về sân đình CổLoa, dâng lễ, thể hiện tấm lòng thành kính đối với vị vua có công lao to lớn trong việc dựng nước
và giữ nước, chỉ đứng sau các vua Hùng
Trang 28ĐỀ TÀI: TRƯNG NỮ VƯƠNG
Người thực hiện: Nguyễn Thị Vân Anh Lớp: A3K18
I TIỂU SỬ
Hai Bà Trưng là tên gọi chung của Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai chị em là những nữ anh hùngđầu tiên của dân tộc Việt Nam Hai Bà Trưng khởi binh chống lại quân Hán, lập ra một quốc giađộc lập với kinh đô tại Mê Linh và xưng vương
Đại Việt Sử Kí toàn thư coi Trưng Trắc là một vị vua trong lịch sử Việt Nam
Lịch sử và truyền thuyết kể rằng hai chị em thuộc dòng dõi Lạc tướng ở huyện Mê Linh,Phong Châu nay là Mê Linh, Phú Thọ Mẹ hai bà là bà Man Thiện, sớm goá bụa song đã nuôi dạycon cái theo tinh thần thượng võ và yêu nước
Khoảng năm 40, Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách – con trai một Lạc tướng huyện Chu Diên
Trang 29âm vang lời thề của Hai Bà trước giờ xuất binh:
Một xin rửa sạch nước thù Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này.
Nhân dân các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng cuộc đấu tranhchống kẻ thù
Chỉ trong thời gian ngắn, Hai Bà đã quét sạch giặc thù khỏi bờ cõi, Tô Định chạy về nước Hai
Bà lấy lại được 65 thành trì ở Lĩnh Nam và xưng vương, đóng đô ở Mê Linh
Hai Bà đã củng cố đất nước bằng một số biện pháp như bãi bỏ các loại thuế mà viên chức Hánbắt các Lạc hầu cống nạp
Nhà Hán thấy Hai Bà tự xưng làm vua đem quân đánh các thành ấp làm cho các nơi biên giới
bị khổ sở , liền hạ lệnh cho các quận Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu sắp sẵn xe thuyền sửasang cầu đường, thông các núi khe, chứa sẵn lương thóc, phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quânsang đàn áp
Tháng Giêng năm 42, Mã Viện tiến theo đường biển, san núi làm đường hơn nghìn dặm, đếnLãng Bạc đánh nhau với quân Trưng vương Hai Bà thấy thế giặc mạnh, tự nghĩ quân mình ô hợp,
sợ không chống nổi, lui quân về giữ Cấm Khê, quân cũng cho vua là đàn bà, không địch nổi vớiHán nên đã tự tan rã
Năm 43 Hai Bà Trưng chông cự lại với quân Hán, thế cô bị thua và đều tử trận
Về cái chết của Hai Bà trong lịch sử đã thấy nhiều cách nói
Thứ nhất: khi chống cự với kẻ thù, thế cùng, hai bà quyết không rơi vào tay giặc nên đã gieomình xuống dòng sông Hát tự vẫn, hoá thành hai tảng đá trắng trôi về bãi Đồng Nhân(nay làphường Đông Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội đêm đêm thường phát sáng rực rỡ
Thứ hai: trong bia đá ở đền thờ Hai Bà ghi lại Hai Bà cùng nghĩa quân chiến đấu đến cùng và
hi sinh trong chiến trận
Thứ ba: theo sử sách Trung Quốc truyền lại Hai Bà Trưng bị quân Mã Viện bắt và xử chém tạiTrung Quốc
Trang 30Sau khi đã đàn áp được cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Mã Viện đã cho thu gom tất cả đồđồng của nhân dân, đúc một con ngựa dâng cho vua Hán báo công và một cái cột đồng cho chôntrên lãnh thổ quận Giao Chỉ làm giới hạn của nhà Hán, trên cột khắc 6 chữ “Đồng trụ chiết, GiaoChỉ diệt” (tức là cột đồng bị gãy thì Giao Chỉ bị diệt).
Vì thế mỗi người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đất đá bồi đắp lên mãi thành gòđống cao Trải qua hàng trăm năm cho đến hiện nay không còn ai biết cột đồng ấy ở đâu và nhưthế nào
Từ đó nước Việt lại thuộc quyền kiểm soát của nhà Hán, tiếp tục thời kì 1000 năm Bắc thuộc
III TƯỞNG NHỚ
Hai Bà Trưng là anh hùng của Việt Nam, được thờ cúng ở nhiều đền thờ
Trong đó lớn nhất là đền Hai Bà Trưng (đền Đồng Nhân), đền cũng được gọi là chùa ViênMinh, toạ lạc ở cuối phố Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Và đền Hai Bà Trưng tại thôn
Hạ Lôi xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội-quê hương của Hai Bà
Các cách xưng hô của Hai Bà (Trưng Trắc và Trưng Nhị, Trưng Vương, Hai Bà Trưng) cònđược đặt tên cho nhiều trường học, đường phố quận ở Việt Nam
Hằng năm vào ngày 6-2 âm lịch là ngày giỗ hay là lễ hội tưởng nhớ Hai Bà được tổ chức tạinhiều nơi trong nước Việt Nam cũng như cộng đồng người Việt tại nước ngoài
Trang 31Sử gia Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ 15 viết:
Triệu Ẩu (tức Bà Triệu) là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh pháthành ấp, các bộ đều theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay Tuy chưa chiếm giữ được đấtLĩnh Biểu như việc cũ của Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới
Sử
nhà Nguyễn ở thế kỷ 19 cũng đã chép:
Con gái nước ta có nhiều người hùng dũng lạ thường Bà Triểu Ẩu thật xứng đáng là ngườisánh vai được với Hai Bà Trưng Xem thế thì há có phải chỉ Trung Quốc mới có đàn bà danh tiếngnhư chuyện Thành Phu Nhân và Nương Tử Quân mà Bắc sử đã chép đâu
I BỐI CẢNH
Năm 226, Sĩ Nhiếp mất, vua Đông Ngô là Tôn Quyền bèn chia đất từ Hợp Phố về Bắc thuộcQuảng Châu dùng Lữ Đại làm thứ sử; từ Hợp Phố về Nam là Giao Châu, sai Đại Lương làm tháithú, và sai Trần Thì làm thái thú quận Giao Chỉ Lúc bấy giờ, con của Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy tự nốingôi và xưng là thái thú, liền đem binh chống lại
Thứ sử Lữ Đại bèn xua quân sang đánh dẹp Do nghe lời chiêu dụ, Sỹ Huy cùng năm anh em
ra hàng Lữ Đại giết chết Huy, còn mấy anh em thì đem về đất Ngô làm tội Dư đảng của Sỹ Huytiếp tục chống lại, khiến Lữ Đại mang quân vào Cửu Chân giết hại một lúc hàng vạn người
II TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP
Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 năm Ất Tỵ (225) tại miền núi Quân Yên (hay Quan Yên), quậnCửu Chân (nay thuộc xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa)
Thủa nhỏ cha mẹ đều mất sớm, Bà Triệu đến ở với anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng ởQuan Yên
Lớn lên, bà là người có sức mạnh, giỏi võ nghệ, lại có chí lớn Đến độ 20 tuổi bà vào ở trongnúi Nưa (nay thuộc xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá), chiêu mộ được hơn ngàn tráng sĩ.Năm Mậu Thìn (248), thấy quan lại nhà Đông Ngô (Trung Quốc) tàn ác, dân gian khổ sở, BàTriệu bèn bàn với anh việc khởi binh chống lại Lúc đầu, anh bà không tán thành nhưng sau chịunghe theo ý kiến của em
Trang 32Từ hai căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, hai anh em bà dẫn quân đánh chiếm quận lỵ Tư Phốnằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã Đây là căn cứ quân sự lớn của quan quân nhà Đông Ngô trên đấtCửu Chân Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằngcon sông này Đang lúc ấy, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời Các nghĩa binh thấy bà làm tướng
có can đảm, bèn tôn lên làm chủ Khi ra trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâmvàng, cưỡi voi và được tôn là Nhụy Kiều tướng quân
Được tin cuộc khởi nghĩa lan nhanh, vua Ngô là Tôn Quyền liền phái tướng Lục Dận (cháucủa Lục Tốn), sang làm thứ sử Giao Châu, An Nam hiệu uý, đem theo 8.000 quân sang đàn ápcuộc khởi nghĩa Đến nơi, tướng Lục Dận liền dùng của cải mua chuộc một số lãnh tụ địa phương
để làm suy yếu và chia rẽ lực lượng nghĩa quân
Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền Song do chênh lệch về lực lượng vàkhông có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, vàchỉ đứng vững được trong hơn hai tháng
Theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, bà chống đỡ với quân Đông Ngô được nămsáu tháng thì thua Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa)vào ngày 21 tháng 2 âm lịch năm Mậu Thìn (tức ngày 1 tháng 4 năm 248), năm 23 tuổi
Nước Việt lại bị nhà Đông Ngô đô hộ cho đến 265
Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà Triệu nói:
“Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”
III TƯỞNG NHỚ
Đền thờ Bà Triệu ở Hậu Lộc Thanh Hóa
Về sau vua Lý Nam Đế (tức Lý Bí) khen Bà Triệu là người trung dũng sai lập miếu thờ, phonglà: "Bất chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân"
Hiện nay, nơi núi Tùng (xã Triệu Lộc), vẫn còn di tích lăng mộ của bà Cách nơi bà mất không
xa, trên núi Gai ngay sát quốc lộ 1A (đoạn đi qua thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, cách thành phốThanh Hóa 18 km về phía Bắc) là đền thờ bà Hằng năm, vào ngày 21 tháng 2 (âm lịch), người
Trang 33dân trong vùng vẫn tổ chức tế giỗ bà Tại nhiều tỉnh thành trong nước Việt Nam, tên bà cũng đãđược dùng để đặt tên cho nhiều trường học và đường phố; riêng tại Hà Nội, có một con đườngmang tên phố Bà Triệu.
IV GIAI THOẠI
Vùng Bồ Điền, Triệu Lộc ngày nay, hiện còn nhiều di tích và truyền thuyết liên quan đến BàTriệu và cuộc khởi nghĩa của bà Trích giới thiệu hai truyện:
Thu phục voi trắng một ngà
Vùng núi Quân Yên lúc bấy giờ có một con voi trắng một ngà rất hung dữ hay đến phá hoạimùa màng, mọi người đều kinh sợ Để trừ hại cho dân, Bà Triệu cùng chúng bạn đi vây bắt voi,lùa voi xuống đầm lầy (vùng sông Cầu Chầy ngày xưa hãy còn lầy lội) rồi dũng cảm nhảy lên đầuvoi và đã khuất phục được nó Con voi trắng sau này được bà dùng để cưỡi mỗi khi ra trận
Giả đá biết nói
Những ngày đầu tụ nghĩa, Bà Triệu đã ngầm cho đục núi Quân Yên, bí mật cho người ngồitrong hốc đá, đọc bài đồng dao giả lời thần nhân mách bảo:
Có bà Triệu tướng, Vâng lệnh trời ta.
Trị voi một ngà, Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước, Theo gót Bà Vương.
V THƠ CA, CÂU ĐỐI
Tương truyền quân Ngô khiếp uy dũng của Bà Triệu nên có câu:
Phiên âm:
Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà vương nan.
Dịch:
Múa giáo đánh cọp dễ, Đối mặt Vua Bà thì thực khó.
Trong dân gian hiện cũng còn truyền tụng nhiều câu thơ ca và câu đối liên quan đến bà nhưsau:
• Ru con con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi.
Muốn coi, lên núi mà coi,
Có bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiếm cho chồng ra quân.
• Tùng Sơn nắng quyện mây trời,
Trang 34• Cửu Chân trăm trận gan hơn sắt,
VII VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
Đoạn cuối cuộc khởi nghĩa
Lâu nay sử sách đều biên chép cuộc khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, và bà đã tự vẫn năm 248.Tuy nhiên, GS Lê Mạnh Thát đã dẫn Thiên Nam ngữ lục và Ngụy chí để kết luận rằng Bà Triệu
đã không thua bởi tay Lục Dận, trái lại đã đánh bại viên tướng này Lục Dận chỉ chiếm được vùngđất nay thuộc Quảng Tây Và Bà Triệu đã giữ được độc lập cho đất nước đến khi Đặng Tuân đượcTôn Hựu sai sang đánh Giao Chỉ vào năm 257.[14] Tuy nhiên, ý kiến mới mẻ này còn phải được
sự đồng thuận của nhiều người trong giới
VIII TÊN GỌI
Những bộ sử cổ chỉ gọi bà là Triệu nữ (cô gái Triệu), Triệu Ẩu (sẽ nói sau) Những tên gọiTriệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Trinh theo Văn Lang thì rõ ràng là mới đặt gầnđây Tác giả cho biết vấn đề tên gọi này (cũng như tên gọi của Bà Trưng) thuộc phạm trù ngônngữ Việt cổ và cách đặt tên người ở thời gian đầu Công nguyên, còn đang được nghiên cứu (tr.33)
Ngoài ra, Bà triệu còn được người đời gọi tôn là Nhụy Kiều tướng quân (vị tướng yêu kiều) và
Lệ Hải bà vương (vua bà ở vùng biển mĩ lệ)
Riêng cái tên Triệu Ẩu (趙嫗), thấy xuất hiện lần đầu trong Nam Việt chí, Giao Châu ký (thế
kỷ 4, 5) rồi đến Thái bình hoàn vũ (thế kỷ 10) chua dưới mục Quân Ninh (tức Quân Yên cũ) Trước đây, Hồng Đức quốc âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thư, Thanh Hoá kỉ thắng, Khâmđịnh Việt sử Thông giám cương mục đều gọi bà là Triệu Ẩu Sau, sử gia Trần Trọng Kim khicho tái bản Việt Nam sử lược đã không giải thích mà chỉ ghi chú rằng: Bà Triệu, các kỳ xuất bảntrước để là Triệu Ẩu Nay xét ra nên để là Triệu Thị Chinh (tr 52)
Kể từ đó, có nhiều lý giải khác nhau:
Sử gia Phạm Văn Sơn: vì người Tàu căm giận nên đặt tên là Triệu Ẩu (Ẩu có nghĩa là mụ) để
tỏ ý khinh mạn (tr 205)
Trang 35Nhóm tác giả sách Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10, quyển 1, tập 1): sách sử Trung Quốcgọi bà là Triệu Ẩu với nghĩa xấu (người vú em) (tr 109).
Một số người lại giải thích “ẩu” nghĩa là con mụ họ Triệu, là bà già, hoặc là “nữ tù trưởngTriệu”
Trước những ý kiến khác nhau này cần phải tra cứu thêm
IX HÌNH TƯỢNG VÚ DÀI
Sách Những trang sử vẻ vang… giải thích: Phụ nữ khổng lồ, vú dài… là huyền thoại về bàMẹ-Đất (terre-Mère, Déesse-Mère) Sau hình tượng đó được khoát cho bất kỳ một phụ nữ hiệt kiệtnào (tr 129) Các tác giả sách Lịch sử Việt Nam (tập I) cũng đều cho rằng huyền thoại về mộtngười phụ nữ có "vú dài ba thước" vốn rất phổ biến ở phương Nam, từ Hợp Phố đến Cửu Chân.Như truyện "Tẩy thị phu nhân", "Tiểu quốc phu nhân" đều nói họ là những phụ nữ cao to và có vúdài đôi ba thước… Có thể, vì bà Triệu cũng là một người phụ nữ kiệt xuất, nên dân gian đã dùnghình tượng này khoác lên cho bà… (tr 345)
Trang 36Lý Nam Đế có tài văn võ Ông đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ,rồi xưng là Nam Đế (vua nước Nam), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (chưa rõ ởđâu, có lẽ gần thành phố Bắc Ninh ngày nay).
I NGUỒN GỐC
Nhiều sách sử cho biết tổ tiên của Lý Nam Đế là người Trung Quốc, vào cuối thời Tây Hán thìtránh sang ở Việt Nam (lúc đó đang là thuộc địa của Trung Quốc) để trốn nạn binh đạo Qua 7đời, đến đời Lý Bí thì dòng họ Lý đã ở Việt Nam được hơn 5 thể kỷ Chính sử Trung Quốc đềucoi Lý Bí là "Giao Châu thổ nhân"
Theo sách Văn minh Đại Việt của Nguyễn Duy Hinh căn cứ các thần phả thì Lý Bí không phải
là thế hệ thứ 7 mà là thế hệ thứ 11 của họ Lý từ khi sang Việt Nam Khoảng cách 11 thế hệ trong 5thế kỷ hợp lý hơn là 7 thế hệ trong 5 thế kỷ Theo đó, đời thứ 7 là Lý Hàm lấy bà Ma thị là ngườiViệt, sinh ra Lý Thanh Lý Thanh phục vụ dưới quyền thứ sử Giao châu là Đàn Hòa Chi nhà LưuTống thời Nam Bắc Triều (Trung Quốc) Lý Thanh sinh ra Lý Hoa, Lý Hoa sinh ra Lý Cạnh LýCạnh sinh ra Lý Thiên Bảo và Lý Bí Nguồn tài liệu khác cho biết vợ Lý Cạnh là Phí thị, ngoài LýThiên Bảo và Lý Bí còn sinh ra Lý Xuân và Lý HùngVề quê hương Lý Bí, các nguồn tài liệu ghikhác nhau Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí ghi ông là người Thái Bình,phủ Long Hưng Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: "tên Thái Bình đặt từ thờiĐường (618-907), còn Long Hưng đặt từ thời Trần (1225-1400)", như vậy gọi Thái Bình và LongHưng là gọi theo tên sau này đặt Các sử gia nhà Nguyễn xác định Long Hưng thuộc Thái Bình vàcho rằng quê Lý Bí thuộc Thái Bình Việt Nam Sử Lược ghi rằng phủ Long Hưng thuộc tỉnh SơnTây (cũ) Các nhà nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng: thời Bắc thuộc, tỉnh Thái Bình hiện nay vẫn làbiển Tên gọi Thái Bình thời Bắc thuộc nằm trong khoảng vùng Sơn Tây Tại khu vực này cónhiều đền thờ Lý Bí và những người gắn bó với ông như Triệu Túc, Phạm Tu, Lý Phật Tử
II TIỂU SỬ
Trang 37Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (17-10-503) Từ nhỏ, Lý Bí đã tỏ ra là một cậu béthông minh, sớm hiểu biết Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha mất; 7 tuổi thì mẹ qua đời Ông đến ở với chúruột Một hôm, có một vị Pháp tổ thiền sư đi ngang qua, trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú liềnxin Lý Bí đem về chùa nuôi dạy Sau hơn 10 năm rèn sách chuyên cần, Lý Bí trở thành người họcrộng, hiểu sâu Nhờ có tài văn võ kiêm toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương.
Lý Bí có tài, được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương mời ra làm chức Giám quân ở Đức châu (huyệnĐức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay)
Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư hà khắc tàn bạo nên mất lòng người Do bất bìnhvới các quan lại đô hộ tàn ác, Lý Bí bỏ quan, về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đôhộ
III CUỘC ĐỜI
1 Khởi nghĩa đuổi Tiêu Tư
Được nhiều người hưởng ứng, lực lượng của Lý Bí lớn mạnh Tù trưởng ở Chu Diên (HảiDương) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục phục tài đức của ông nên đã đem quân nhậpvới đạo quân của ông Tinh Thiều, một người giỏi từ chương, từng đến kinh đô nhà Lương xinđược chọn làm quan, nhưng chỉ cho chức "gác cổng thành", nên bỏ về Giao Châu theo Lý Bí.Ngoài ra trong lực lượng của Lý Bí còn có một võ tướng là Phạm Tu đã ngoài 60 tuổi Thần phảcòn ghi nhận thêm các tướng theo giúp Lý Bí là Trịnh Đô, Lý Công Tuấn
Lý Bí liên kết với các châu lân cận cùng chống lại Tiêu Tư Cuối năm 541, Lý Bí chính thứckhởi binh chống nhà Lương, khí thế rất mạnh Theo sách Lương thư của Trung Quốc, Tiêu Tư liệuthế không chống nổi quân Lý Bí, phải sai người mang của cải đến đút lót cho Lý Bí để được thachạy thoát về Quảng châu Quân của Lý Bí đánh chiếm lấy thành Long Biên
Tuy Tiêu Tư đã bỏ chạy nhưng Lý Bí mới kiểm soát được vùng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay,các châu phía nam vẫn trong tay nhà Lương Tháng 4 năm 542, Lương Vũ Đế sai Thứ sử Việtchâu là Trần Hầu, thứ sử La châu là Ninh Cự, thứ sử An châu là Úy Trí, thứ sử Ái châu là NguyễnHán cũng hợp binh đánh Lý Bí Nhưng Lý Bí đã chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượngquân Lương ở phía nam, làm chủ toàn bộ Giao châu
2 Đánh lui cuộc phản công của nhà Lương
Cuối năm 542, Lương Vũ Đế lại sai thứ sử Giao châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tân châu là Lư TửHùng sang đàn áp Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng sợ thế mạnh của Lý Bí nên không dám tiến quân,xin khất tới mùa thu năm sau Thứ sử Quảng Châu là Hoán (theo Trần thư là Tiêu Ánh) khôngcho, Tiêu Tư cũng thúc giục, nên Quýnh và Hùng buộc phải tiến quân
Trang 38Được tin quân Lương lại tiến sang, Lý Bí chủ động mang quân ra bán đảo Hợp Phố đón đánh.Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng đi đến Hợp Phố, bị quân Lý Bí đánh bại, 10 phần chết đến 6-7 phần,quân tan rã.
Chiến thắng này giúp Lý Bí kiểm soát toàn bộ Giao châu, tức là miền Bắc Bộ và Bắc Trung
Bộ Việt Nam, cộng thêm quận Hợp Phố thuộc Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay
Sử sách không mô tả rõ diễn biến trận đánh này, chỉ ghi sơ lược: Phạm Tu tiến quân vào Namđánh tan quân Lâm Ấp ở Cửu Đức khiến vua Lâm Ấp phải bỏ chạy
Có ý kiến cho rằng người đi đánh Lâm Ấp là Lý Phục Man chứ không phải Phạm Tu và đây là
2 vị tướng khác nhau; lại có ý kiến cho rằng chính Phạm Tu là Lý Phục Man, vì có công đánh Lâm
Ấp mà được ban họ Lý, đổi tên Phục Man (chinh phục người Man)
4 Dựng nước Vạn Xuân
Năm 544, tháng giêng, ông tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Đức (đứctrời), lập trăm quan, đặt tên nước là Vạn Xuân thể hiện mong muốn rằng xã tắc truyền đến muônđời Đóng đô ở Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội) Dựng điện Vạn Thọ làm nơitriều hội Thành lập triều đình với hai ban văn, võ Lấy Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều đứngđầu ban văn, Phạm Tu đứng đầu ban võ
5 Chạy về động Khuất Lao
Năm 545, tháng 6, nhà Lương cho Dương Thiêu (Thiệu hay Phiêu) làm thứ sử Giao Châu,Trần Bá Tiên làm tư mã, đem quân xâm lấn, lại sai thứ sử Định Châu là Tiêu Bột hội với Phiêu ởGiang Tây
Trần Bá Tiên đem quân đi trước Khi quân của Bá Tiên đến Giao Châu, Lý Nam Đế đem 3vạn quân ra chống cự, bị thua ở Chu Diên, lại thua ở cửa sông Tô Lịch, tướng Tinh Thiều tử trận.Ông chạy về thành Gia Ninh (xã Gia Ninh, huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) QuânLương đuổi theo vây đánh
Tháng giêng năm 546, Trần Bá Tiên đánh lấy được thành Gia Ninh, tướng Phạm Tu tử trận
Lý Nam Đế chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương Quân Lương đóng ở cửa sông Gia Ninh
Trang 39Sau một thời gian tập hợp và củng cố lực lượng, tháng 8, ông đem 2 vạn quân từ trong đất Lạo
ra đóng ở hồ Điển Triệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ), đóng nhiều thuyền đậu chật
cả mặt hồ Quân Lương sợ, cứ đóng lại ở cửa hồ không dám tiến vào Đêm hôm ấy nước sông lênmạnh, dâng cao 7 thước, tràn đổ vào hồ Trần Bá Tiên nhân đó đem quân theo dòng nước tiếntrước vào Quân Vạn Xuân không phòng bị, vì thế tan vỡ
Lý Nam Đế phải lui giữ ở trong động Khuất Lạo, ông ủy cho con thái phó Triệu Túc là tảtướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước, điều quân đi đánh Bá Tiên
6 Qua đời
Năm 548, ngày 20 (ngày Tân Hợi) tháng 3 (tức ngày 13-4 dương lịch), Lý Nam Đế ở độngKhuất Lạo lâu ngày bị nhiễm lam chướng, ốm qua đời Ông ở ngôi được 5 năm (544-548), thọ 46tuổi
Theo sách "Việt Nam văn minh sử cương" của Lê Văn Siêu dẫn một số nguồn tài liệu cổ, LýNam Đế ở lâu ngày trong động, vì nhiễm lam chướng nên bị mù hai mắt Vì vậy đời sau đến ngàygiỗ thường phải xướng tên các đồ lễ để vua nghe thấy Lại cũng theo tài liệu này, có thuyết chorằng không phải Lý Nam Đế ốm chết mà vua bị người Lạo làm phản giết hại Tướng Lý PhụcMan cũng mất theo vua vì nạn này
7 Hoàng hậu
Theo thần tích cổ, Lý Nam Đế có người vợ là Hứa Trinh Hòa, con ông Hứa Minh và bà BùiThị Quyền người làng Đông Mai, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Bà được Lý Nam Đế lập làmhoàng hậu Bà đã cùng chồng chinh chiến ngoài mặt trận và bị tử trận do thuyền đắm tại hồ ĐiểnTriệt cuối năm 546 Sau này bà được Triệu Việt Vương lập đền thờ tại quê nhà
IV TƯỞNG NHỚ
Đường dài hoa trắng nắng đu đưa
Phố Lý Nam Đế ở Hà Nội được gọi là "làng vi tính" vì ở đây từ năm 1990 tập trung nhiều cửahàng bán thiết bị vi tính
Trang 40ĐỀ TÀI: TRIỆU QUANG PHỤC
Người thực hiện: Nguyễn Hoàng Cẩm Anh Lớp: A3K18
I TIỂU SỬ
Triệu Việt Vương (趙越, 549-571) tên thật là Triệu Quang Phục (趙光復), là một nhà lãnhđạo độc lập của Vạn Xuân, sống ở thế kỉ VI, được biết đến nhờ chiến công đánh thắng quânLương đã đưa đất nước Vạn Xuân về nền độc lập
Ông là con Triệu Túc, người huyên Châu Diên (Hải Hưng), uy tráng dũng liệt, theo Lý Nam
Đế đi đánh dẹp có công, được trao chức tả tướng quân Lý Nam Đế mất, ông xưng vương, sau khiđánh tan quân nhà Lương năm 550, đóng đô ở Long Biên, sau dời sang Vũ Ninh (huyện Quế Võ,tỉnh Bắc Ninh ngày nay) Năm 571, ông bị quân của Lý Phật Tử đánh úp và thua trận Ông tự tử ởcửa sông Đáy, kết thúc triều đại Triệu Việt Vương
II CUỘC ĐỜI
Sau khi được Lý Nam Đế trao toàn bộ binh quyền, Triệu Quang Phục thấy rõ lúc đó giặc cònmạnh, không thể đánh thắng ngay được nên đưa hơn một vạn quân từ miền núi về đồng bằng tìmcách đánh giặc Vốn thông thuộc miền sông nước Chu Diên, ông đưa quân về Dạ Trạch (Bãi MànTrò, Hải Hưng) một vùng đồng lầy rộng mênh mông, lau sậy um tùm, ở giữa có một bãi đất khôráo có thể ở được
Ngay khi đem quân về Dạ Trạch, Triệu Quang Phục đã nghĩ đến việc tự túc lương thực đểkháng chiến lâu dài Ông chia quân ra làm nhiều tóan: tóan chặt cây làm trại, tóanh chuyên đụcđẽo thuyền độc mộc, toán chuyên bắt cá, toán đi săn chim, vịt trời để nuôi quân Lương thực thiếu,Triệu Quang Phục cùng nghĩa quân ăn củ súng, khoai dại, để dành thóc gieo mạ Khi doanh trại đãcăn bản xây dựng xong cũng là lúc tướng giặc là Trần Bá Tiên đánh hơi được, đem quân trùngtrùng, điệp điệp đến bủa vây Trần Bá Tiên chia quân lập thành một hệ thống đồn binh vây bọc kínkhu đầm cắt đứt liên lạc, tiếp tế giữa nghĩa quân với dân chúng Hắn không thể ngờ được, bêntrong vòng vây, Triệu Quang Phục một mặt cho quân do thám theo sát hành tung giặc, mặt kháccho đắp bờ, khoanh bãi, tôn nền ruộng, gieo mạ để làm vụ chiêm Hơn thế, vị tướng tài còn nhằmtrước khu đất cao ở gần sông Cái để sửa soạn làm vụ sau Tất cả những công việc này đều đượctiến hành trong điều kiện thiếu thốn nông cụ và sức kéo Vì vậy trong ngày hội xuống đồng, đểlàm gương cho binh sĩ, Triệu Quang Phục lúc cầm cày, khi cùng nghĩa quân thi nhau dùng đònkéo thay trâu Vì vậy sau những ngày thiếu thốn, nghĩa quân chẳng những có đủ lương ăn mà còn
có thóc để dành, đủ sức quần nhau với giặc lâu dài