1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề nghiên cứu lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam tập I (1920 đến 1954)

120 947 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 3,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tháng 7/1929, thực dân Pháp mở một đợt truy bất hầu hết các đồng chí chủ chốt của Thanh Niên ở trong nước, nhất là ở Nam Kỳ cho nên việc triển khai Nghị quyết Đại hội và hoạt động của H

Trang 1

CHUYEN DE NGHIEN (ỨU LICH SU BANG CONG SAN VIET NAM

Trang 2

MỤC LỤC CHUYÊN ĐỀ

- Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trừnh thành lập Đảng Cuộc đấu tranh nội bộ của các tổ chức tiên thân dẫn đến sự ra đời của Đảng

Công sản Việt Nam

- Quan điểm của Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí lãnh đạo Đảng về cương linh cách mạng dân tộc dân chủ (1930-1939)

- Quan hệ giữa Quốc tế Cộng sản và Đảng cộng sản Đông Dương (1920-1943)

- Quá trình hình thành và phát triển hệ thống bộ máy tổ chức Đảng ở

Trung ương (1930-1945)

- Đảng lãnh đạo xây dựng Mặi trận và các đoàn thể quần chúng (1930-1945)

- Xứ ủy "Tiên Phong" và "Giải Phóng"

- Hệ thống tổ chức Đảng cáp Từnh, Thành, Trung ương (1946-1954) và số lượng đảng viên

- Sự phát triển của đường lối chiến tranh nhân dân trong kháng chiến

chống Pháp (1945-1954)

- Đảng lãnh đạo xảy dựng và củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân (1945-1954)

- Đảng lãnh đạo kinh tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

- Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ dân chủ (1945-1954)

- Đẳng lãnh đạo xáy dựng Mặt trận và các đoàn thể quân chúng (1945-1954)

- Đảng lãnh dạo công tác an nnh chính trị (1945-1954)

- Đảng lãnh dạo công tác tư tưởng và văn hóa trong kháng chiến chống

thực dân Pháp (1945-1954)

~- Công tác xây dựng tổ chức Đảng tại Lào, Campuchia (1930-1951)

- Đảng lãnh đạo xảy dựng tình đoàn kết Việt - Lào - Campuchia (1930-1945)

Trang 3

VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG QUA TRINH THANH LAP DANG

CUOC DAU TRANH NOI BO CUA CAC TO CHUC TIEN THAN,

DAC BIET LA CỦA THANH NIÊN, DẪN ĐẾN SỰ RA ĐỜI

DANG CONG SAN VIET NAM

Trần Giang

MỤC ĐÍCH

Chuyên đề nhằm mục đích nghiên cứu về cuộc đấu tranh nội bộ của

các tổ chức tiền thân, đặc biệt là của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng

Thanh niên (Thanh Niên) dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) Trong quá trình đó nổi bật vai trò của Nguyễn Ái Quốc

Về vấn để này, nhiều cuốn sách như Lịch sử Đảng CSVN tập Ï sơ

thảo 1920-1954, NXBST H 1981; Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, NXB TTLL H 1988; Phạm Xanh: Nguyễn Ái Quốc với việc truyền

bá chủ nghĩa Mác - Lênn ở Việt Nam (1921-1930), NXB TTLL, H 1990

đã đề cập đến, nhưng chủ yếu đề cập tới mặt tích cực đối với lịch sử cách mạng nước ta chứ chưa đi sâu tìm hiểu mặt hạn chế của vấn đề tức là tính hạn chế, bảo thủ, cán trở phong trào cách mạng nhất là vào nửa cuối năm

1929 Chuyên đề khái quát những khuynh hướng, những ý kiến về sự xuất

hiện và thống nhất ba tổ chức cộng sản, xem đó là yêu cầu cấp bách, là yêu cầu sống còn của vận mệnh dân tộc

Chuyên đề gồm 69 trang, bố cục thành các phần sau:

NỘI DUNG

1 Thanh Niên trước ngưỡng cửa ra đời của Đảng Cộng sản

Đông Dương

Tổ chức Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập năm 1925 mang

hệ tư tưởng của thời đại nên thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân Đông

Dương và phát triển mạnh mẽ Năm 1927 có 270 hội viên, năm 1928 có 1.700 hội viên, năm 1929 chưa kể hội viên ở Xiêm, có 2.800 hội viên

Trang 4

Nhưng từ năm 1928 khi phong trào cách mạng phát triển ngày càng

mạnh mẽ thì Thanh Niên bộc lộ rõ những hạn chế của mình, không còn đáp ứng được vai trò lãnh đạo trong những cuộc đấu tranh của công nhân

Những người tiên tiến trong tổ chức Thanh Niên ở Bắc Kỳ đã sớm nhận ra điều đó

Đến những năm 1928-1929, tổ chức Thanh Niên đã làm tròn nhiệm

vụ lịch sử, không còn đáp ứng được đòi hỏi của phong trào yêu nước của

nhân dân, đặc biệt là phong trào công nhân

Trong khi đó luồng tư tưởng vô sản truyền bá vào Việt Nam qua nhiều con đường làm cho những người trong Thanh Niên Bắc Kỳ thấy cần phải thành lập một Đảng của giai cấp công nhân Đó là nhu cầu cấp bách,

không thể trì hoãn được nữa Thực tiễn phong trào trong nước làm cho Thanh

Niên Bắc Kỷ thấy rõ yêu cầu đó hơn Tổng bộ Thanh Niên ở nước ngoài

1.1 Hội nghị trù bị Đại hội Thanh Niên ở Hồng Kông 23-1-1929

Hội nghị họp ngày 23-1-1929, gdm 5 đại biểu trong đó 3 đại biểu Tổng bộ, | dai biểu Bắc Kỳ, 1 đại biểu Trung Kỳ Hội nghị bàn thảo sôi nổi việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương trong đó chủ yếu là ý

kiến của đại biểu Bắc Kỳ

1.2 Ra đời Chỉ bộ cộng sản đầu tiên ở số nhà 5D Hàm Long,

Hà Nội _

Ngay từ năm 1928, Thanh Niên Bác Kỳ thực hiện chủ trương "vô

sản hóa" và đầu năm 1929 tích cực chuẩn bị chỉ bộ cộng sản đầu tiên để

lãnh đạo phong trào công nhân và cử đại biểu dự Đại hội toàn quốc của

Thanh Niên

Tháng 3/1929, tại số nhà 5D Hàm Long, Hà Nội, những đồng chí lãnh đạo Kỳ bộ Thanh Niên Bắc Kỳ thành lập Chi bộ cộng sản đầu tiên gồm 8 người Đây là bước đầu tiên rất quan trọng tiến lên thành lập một

đảng cộng sản Sau đó Chi bộ tích cực chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản

Việc thành lập Chi bộ đầu tiên là hành động có ý thức rõ rệt, vô

cùng dũng cảm, dám chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc Chủ động,

Trang 5

đũng cảm, đám làm trước và làm đúng Cái vĩ đại là thấy được yêu cầu lịch

sử và đáp ứng yêu cầu lịch sử một cách chủ động, sáng !ạo, linh hoạt

1.3 Đại hội các Kỳ bộ Thanh Niên

Tháng 3/1929, Kỳ bộ Thanh Niên Bắc Kỳ tổ chức Đại hội, nội dung

chủ yếu bàn việc tiến lên thành lập một Đảng cộng sản Đại hội bầu 4 đại

biểu đi dự Đại hội toàn quốc với mong muốn đem vấn đề thành lập Đảng ra

trước Đại hội

Đại hội Thanh Niên Trung Kỳ cũng họp tháng 3/1929, bầu đại biểu

đi dự Đại hội toàn quốc

Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng Kỳ bộ Thanh Niên Nam Kỳ cũng

tiến hành Đại hội vào tháng 3/1929, bầu đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc

Một số đồng chí trong Thanh Niên Nam Kỳ, Trung Kỳ cũng thấy rõ nhu cầu và ủng hộ việc sớm thành lập một Đảng Cộng sản như Nguyễn Sĩ

Sách, Võ Mai, Trương Quang Trọng, Trần Văn Phồng, Nguyễn Thiệu, Châu

Văn Liêm

2 Đại hội đại biểu Thanh Niên lần thứ nhất ở Hồng Kông

Từ I đến 9/5/1929, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của

Thanh Niên khai mạc, có 15 đại biểu tham dự Trong Đại hội, đoàn đại biểu

Bắc Kỳ tiếp tục đưa ý kiến thành lập ngay một Đảng Cộng sản Đa số đại

biểu kể cả đại biểu Tổng bộ không tán thành vì cho là giai cấp công nhân Việt Nam còn ít, chưa đủ điều kiện thành lập Đảng

Đại hội phân liệt Ngày 5/5, đoàn đại biểu Bắc Kỳ bỏ về (trừ Dương Hạc Đính)

Đại hội Khai trừ toàn bộ tổ chức Thanh Niên Bắc Kỳ (chiếm

1.700/2.800 hội viên Thanh Niên)

Đại hội thông qua nhiều văn kiện và bầu Tổng bộ mới Trong đường lối Đại hội còn nhiều vấn đề nhầm lẫn, chưa rõ ràng về tính chất và nhiệm

vụ cách mạng, về đối tượng và lực lượng cách mạng, do nghiên cứu chưa

sâu tình hình trong nước và thế giới

Trang 6

Tổng bộ chủ trương duy trì Hội, khi có điều kiện chuyển thành Đảng Tổng bộ thông qua một nghị quyết, đẩy cách đồng chí Thanh Niên

Bắc Kỳ phải chọn con đường dứt khoát ly khai với tổ chức Thanh Niên, làm cho Thanh Niên vốn đã hết sứ mệh lịch sử, đang tan rã, đi đến hoàn toàn tan

rã một cách nhanh chóng

Tổng bộ cũng thấy nhu cầu lịch sử của việc thành lập Đảng nhưng

chủ trương quá chậm trễ với việc thành lập Hội trù bị tổ chức Đảng Cộng sản, trong khi Thanh Niên Bắc Kỳ đã thành lập Đảng rồi

Trên thực tế, Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên chỉ còn

lãnh đạo được hội viên ở Xiêm, Trung Quốc và một số ít hội viên trong nước

Tháng 7/1929, thực dân Pháp mở một đợt truy bất hầu hết các đồng

chí chủ chốt của Thanh Niên ở trong nước, nhất là ở Nam Kỳ cho nên việc

triển khai Nghị quyết Đại hội và hoạt động của Hội trù bị tổ chức Đảng

Cộng sản chưa đạt được kết quả gì

3 Sự ra đời Đảng Cộng sản Đông Dương 17-6-1929

Ngày 1-6-1929, ba đại biểu Thanh Niên Bắc Kỳ ra Tuyên ngôn

thoát ly hắn tổ chức Thanh Niên, phê phán Tổng bộ, kêu gọi thành lập ngay

lập tức một Đảng Cộng sản

Ngày 17-6-1929, Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản diễn ra tại 312 phố Khâm Thiên, Hà Nội với 20 đại biểu các tỉnh dự Hội nghị Quyết định

đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương

Hội nghị ra bản Tuyên ngôn, nêu rõ yêu cầu của việc thành lập

Đảng Cộng sản, phác họa những nét cơ bản về đường lối cách mạng, có nhiều điểm mới so với đường lối của Tổng bộ Thanh Niên tại Đại hội 5/1929 Nhiéu quan điểm tiến bộ sau này được Nguyễn Ái Quốc tiếp tục phát triển

Đảng Cộng sản Đông Dương phát triển tổ chức, tăng cường lãnh

đạo phong trào cách mạng Từ 8- đảng viên 3/1929 đến 25 đảng viên 6/1929

và đến đầu 1930 có 85 đẳng viên, trong đó dự bị là 30 đồng chi Dang Cong

Trang 7

sản Đông Dương tổ chức được 4 khu Đảng bộ là Hà Nội, Hải Phòng, Nam

Định, Thái Bình

Đảng Cộng sản Đông Dương chú trọng công tác công vận Ngày 28-

7-1929, thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ Công tác nông vận được chú

ý, năm 1929 đã có hơn 2.000 nông dân được tổ chức vào Nông hội

Đảng Cộng sản Đông Dương chú ý công tác tuyên truyền, xuất bản trên 20 tờ báo các loại từ Trung ương xuống địa phương

Vận dụng sáng tạo và chủ động những nguyên lý của chủ nghĩa Mác và đường lối Quốc tế Cộng sản vào điều kiện nước ta, Đảng Cộng sản

Đông Dương đã đề ra đường lối cơ bản đúng đắn, tổ chức chặt chế, gắn với quần chúng Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời đáp ứng yêu cầu lịch sử,

đưa cách mạng bước vào một giai đoạn mới

4 Quan hệ của Tổng bộ Thanh Niên với Đảng Cộng sản

Đông Dương

Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, Tổng bộ thường gửi

thư về nhưng do đã dứt khoát thoát ly, Đảng Cộng sản Đông Dương không

trả lời Hầu như mọi quan hệ bị cắt đứt

Khi nghe tin An Nam Cộng sản Đảng (ANCSĐ) thành lap, DCSDD mới liên lạc trở lại

5 Sura đời của ANCSĐ

Có nhiều ý kiến về sự thành lập ANCSĐ Qua nghiên cứu, chuyên

đề khẳng định ANCSĐ tuy đã có quá trình chuẩn bị từ tháng 6/1929 với Hội trù bị tổ chức Đảng Cộng sản nhưng chỉ có thể ra đời cuối tháng 9 đầu

tháng 10/1929

Lúc đầu chỉ là một Chi b6 ở Trung Quốc, đến 11/1929 & Sai Gon

mới thành lập Ban lâm thời chỉ đạo (tức BCHTW) của ANCSĐ

Ban lâm thời chỉ đạo chỉ đạo các tổ chức trong nước, còn chỉ bộ ở Hồng Kông là chi bộ độc lập, nhưng giữ vai trò lãnh đạo và quyết định mọi

việc của ANCSĐ

Trang 8

6 Quốc tế Cộng sản đối với vấn đề thành lập Đảng Cộng sản ở

nước ta

Ngoài sự chuẩn bị của những người yêu nước Việt Nam, về khách quan, Quốc tế Cộng sản (QTCS) có vai trò to lớn QTCS quan tâm đến cách mạng Đông Dương qua Bộ Phương Đông, qua Đảng Cộng sản Pháp và

đồng chí Nguyễn Ái Quốc

Khi nghe tin ở Đông Dương có mấy nhóm cộng sản, ngày 27/10/1929, QTCS gửi thư, thực chất là ra chỉ thị cho các nhóm hợp nhất lại, thành lập ĐCSĐD QTCS coi việc thành lập Đảng là quá chậm trễ, do

đó phải hợp nhất ngay lập tức

Nhờ có thư của QTCS và đặc biệt là uy tín của cá nhân đồng chí

Nguyễn Ái Quốc, người được QTCS ủy nhiệm, đã dẫn tới thành công của

Hội nghị hợp nhất đầu năm 1930

7, Hội nghị hợp nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm về Hồng Kông, triệu tập

đại biểu ĐCSĐD và ANCSĐ, tiến hành hợp nhất Đảng, thành lập một Dang Cộng sản duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam

(Đến 24/2/1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được BCHTW

lâm thời công nhận tham gia vào Đảng Cộng sản Việt Nam)

Hội nghị hợp nhất thông qua nhiều văn kiện quan trọng, tuy còn vấn tắt, sơ lược nhưng đã vạch ra đường lối cách mạng cơ bản đúng đắn

Hội nghị cử BCHTW lâm thời gồn 7 đồng chí

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam

Trang 9

KẾT LUẬN

Sự ra đời ba tổ chức cộng sản là một thực tế lịch sử, nhưng không

mang tính quy luật Nhu cầu lịch sử là phải có sự lãnh đạo của 1 Đảng của

giai cấp công nhân được trang bị bằng chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng không

nhất thiết phải có tới 3 đảng, để rồi lại phải hợp nhất làm một

Trong ba tổ chức cộng sản, chỉ có ĐCSĐD mang đây đủ tính chất và

nguyên tắc của một đảng kiểu mới theo chủ nghĩa Mác - Lênin ĐCSĐD

kiên quyết, chủ động trong xây dựng tổ chức đồng thời sáng tạo linh hoạt

trong xây dựng đường lối, góp phần không nhỏ vào quá trình xây dựng

đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hội nghị hợp nhất Sự ra đời

ĐCSĐD 17-6-1929 thật là vĩ đại

Trang 10

QUAN ĐIỂM CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ

MỘT SỐ ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO ĐẢNG VỀ CƯƠNG LĨNH

PGS TS Trinh Nhu

Trong thập niên 1930, bên cạnh những quan điểm giống nhau của đồng

chí Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ như Trần

Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong đã nẩy sinh nhiều quan điểm khác nhau về

nhiều vấn dé quan trong của cách mạng Việt Nam Đó là sự thật lịch sử Song, từ trước tới nay, trước hiện thực lịch sử đó, có nhiều cách nhìn nhận,

luận bình khác nhau, có người cho rằng hiện tượng đó là biếu hiện sự tồn tại

và mâu thuẫn giữa hai đường lối cách mạng Một số người tránh đề cập tới

vấn đề đó, vì e rằng, nêu ra sẽ ảnh hưởng không tốt đến tư tưởng cán bộ, đẳng viên, dẫn tới nhận thức sai lệch về truyền thống đoàn kết của Đảng ta

Theo quan điểm đổi mới của Đảng là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá

đúng sự thật và nói rõ sự thật, vấn đề lịch sử quan trọng đó của Đảng cần được nghiên cứu thấu đáo, lý giải sáng tỏ góp phần thu hẹp một khoảng trống trong lịch sử Đáng cộng sản Việt Nam và thống nhất nhận thức của cán bộ,

đẳng viên về lịch sử phát triển tư tưởng chính trị của Đảng ta và giá trị to lớn

Trọng tâm của chuyên đề là những quan điểm của đồng chí Nguyễn Ái

Quốc và một số đồng chí lãnh đạo Đảng từ 1930 đến 1939 về cương lĩnh cách

mạng dân tộc dân chủ, mà cụ thể là những vấn đề chiến lược, sách lược cách

mạng, vấn đề tổ chức Đảng và thái độ của Đảng đối với các giai cấp và tầng lớp xã hội, điều này liên quan tới Mặt trận dân tộc thống nhất

Chuyên đẻ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau đây:

I- Những quan điểm nhất trí giữa đồng chí Nguyễn Ái Quốc và

một số đồng chí lãnh đạo Đẳng

Trước hết, sự nhất trí được thể hiện ở những vấn đề sau đây:

Trang 11

Ww

- Xác định đối tượng cách mạng dân tộc dân chủ

Tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, các văn kiện do đồng

chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã phân tích, đánh giá chế độ chính trị kinh tế

và xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của chế độ thực dân và quan hệ phong

kiến Đó chính là trở lực cho sự phát triển của xã hội Việt Nam và gây nên bao nỗi cực khổ cho nhân dân Do vậy, cần phải "Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến" (Chánh cương vắn tắt của Đảng)

Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương do đông chí

Trần Phú chủ trì nghiên cứu, khởi thảo cũng chủ trương đánh đổ phong kiến

và đế quốc: "Sự cốt yếu của tư sản dân quyền cách mạng thì một mặt phải

tranh đấu để đánh đố các di tích phong kiến, đánh đổ các ách bóc lột theo lối tiển tư bản một mặt nữa là tranh đấu để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp

làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập”

- Tính chất, mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam

Những quan điểm của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và Luôn cương chánh

rr¡ về những vẫn đề trên đã đạt tới sự thống nhất cao Chánh cương vấn tắt cho rằng, cách mạng Việt Nam "là" tư sản dân quyền c.m (cách mạng) và thổ

địa c.m để đi tới xã hội cộng sản" Luận cương chánh trị xác định cách mạng

tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa là những nấc thang phát

triển tất yếu của cách mạng Đông Dương: "Tư sản dân quyền cách mạng là

thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng xứ Đông Dương sẽ nhờ vô sản giai

cấp chuyên chánh các nước giúp sức cho mà phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn

mà tranh đấu thẳng lên cơn đường xã hội chủ nghĩa

Những nhiệm vụ cụ thể của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và dân chủ, bao gồm nhiệm vụ đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc xây dựng Nhà

nước công nông, thực hiện các quyển dân chủ của nhân dân về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục

- Cách mạng Việt Nam và cách mạng Đông Dương có quan hệ chặt chế với cách mạng thế giới Đảng ta cần xây dựng mối quan hệ đó

Trang 12

- Có điều đáng chú ý là mặc dù nhiều văn kiện Đảng trong thập niên

30, nhất là Án nghị quyết Hội nghị BCHTƯ Đảng tháng 10-1930, phê phán

những quan điểm của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, song không phải là không

có những ý tưởng quan trọng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, nhất trí

với quan điểm cách mạng dân tộc dân chủ của đồng chí Nguyễn Ái Quốc Điều đó được thể hiện trong Chỉ (h; của Thường vụ Trung ương về vấn để

thành lập Hội Phản đế đông mình, ngày 18-11-1930, đã trở lại với quan điểm

của đồng chí Nguyễn Ái Quốc vẻ đoàn kết rộng rãi các giai cấp, tầng lớp xã

hội để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Ban Thường vụ nêu rõ

tầm quan trọng của liên minh công nhân với nông dân và sự cần thiết phải

thực hiện khẩu hiệu chia ruộng đất cho dân cày thì cách mạng mới nhận được

sự hưởng ứng của nông dân, mặt khác, giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân thành

một lực lượng thật đông, thật kín thì cách mạng cũng khó thành công Ban

Thường vụ xác định rõ sự cần thiết phải tổ chức Hội Phản đế đồng minh để

thu nạp tầng lớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc và cả những địa chủ căm ghét

đế quốc Pháp, mong muốn nước nhà độc lập

Sáu tháng sau khi ban hành Chỉ thị về vấn đẻ thành lập Hội phản đế

đồng minh, căn cứ tình hình thanh đẳng do Xứ uỷ Trung Kỳ tiến hành, Trung

ương Đảng đã nghiêm khắc phê bình những sai lắm của Xứ uỷ về chủ trương

thanh đẳng thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ; và chỉ đạo Xứ

uỷ sửa chữa những sai lầm đó

Đến tháng 10 năm 1936, một luận điểm mới xuất hiện trong văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới đó là tính cấp thiết của cách mạng giải

phóng dân tộc đòi hỏi cách mạng ruộng đất không gây ảnh hưởng ngăn trở sự

tiến triển của nhiệm vụ giải phóng dân tộc Quan điểm đó phù hợp với quan điểm của đồng chí Nguyễn Ái Quốc về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cách

mạng dân tộc và dân chủ

Nếu năm 1936, những ý tưởng trên vừa chớm nở, thi dén thang 11-

1939, Nghị quyết Hội nghị Ban Trung ương Đảng khẳng định: sự chuyến

hướng chiến lược: đặt lợi ích của dân tộc lên vị trí tối cao, vấn đề ruộng đất

Trang 13

phải phục vụ nhiệm vụ giải phóng dân tộc giành thắng lợi; công nông phối

đưa cao cây cờ dân tộc lên, sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản, tư sản bản Xứ,

trung tiểu địa chủ căm ghét đế quốc Khẩu hiệu Đông Dương hoàn toàn độc

lập và thi hành quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc trên bán đảo Đông

Dương được đề ra: "Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn

của mình, song sự tự quyết không nhất định nghĩa là rời nhau”

Sự nhất trí của những quan điểm đó càng được thể hiện nối bật hơn ở

những chủ trương đặt nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải

phóng dân tộc tạm gác khẩu hiệu ruộng đất cho dân cày, phát huy tối đa sức

mạnh đại đoàn kết các giai cấp và tầng lớp xã hội yêu nước, giương cao ngọn

cờ dân tộc vì mục tiêu giải phóng và phát triển của dân tộc do Hội nghị

BCHTU Dang thang 11-1939 đề ra, được Hội nghị BCHTƯ Đảng tháng 5-

1941 dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc khẳng định là đúng đắn

I- NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN Al

QUỐC VÀ MỘT SỐ ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO ĐẢNG

Những quan điểm của đồng chí Nguyễn Ái Quốc về con đường cách

mạng Việt Nam và cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ được hình thành

trong những năm 20 và được trình bày trong nhiều tác phẩm của Người như

Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Đường cách mệnh, Chánh cương

vắn tắt của Đảng, Sách lược vấn tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng

CSVN Song nhiều quan điểm của Người đã không được một đồng chí lãnh

đạo Đảng trong những năm 30 chấp nhận và bị phê phán

Trong các tác phẩm trên, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện rõ

những quan điểm của mình về tầm quan trọng hàng đầu của nhiệm vụ giải

phóng dân tộc trong cách mạng dân tộc dân chủ, về phân hoá giai cấp, mâu

thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam có những đặc điểm riêng, về

chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước; về đoàn kết dân tộc, đoàn

kết các giai cấp và tầng lớp yêu nước như trung, tiểu địa chủ, phú nông, trí

thức, tiểu tư sản để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, về tên gọi Đảng

Cộng sản Việt Nam và hệ thống tổ chức của Đảng

Trang 14

Sự phê phán những quan điểm trên của đồng chí Nguyễn Ái Quốc được

thể hiện trong Án nghị quyết của Hội nghị BCHTƯ Đảng tháng 10-1930, Thư

của Trung ương gửi cho các cấp Đảng bó, tháng 12-1930, Báo cáo của Ban

chỉ huy ở ngoài gửi Quốc tế Cộng sản, 31-3-1935 Các văn kiện đó cho rằng các quan điểm trên của đồng chí Nguyễn Ái Quốc là sai lầm về chính trị như

chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ và chỉ tịch ký ruộng đất của đại địa

chủ và chủ trương lợi dụng trung, tiểu địa chủ; lợi dụng tư bổn chưa rõ mặt

phản cách mạng, ít ra cũng làm cho họ trung lập Như vậy là "chỉ lo đến việc

phản đế, mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu" Về tư tưởng, nhiều văn kiện

nhận định đồng chí Nguyễn Ái Quốc phạm sai lầm cơ hội chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa, duy tân Ngoài những ý kiến trên phương pháp thành lập Đảng

của đồng chí Nguyễn Ái Quốc cũng bị phê phán

IIl- GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA NHUNG QUAN DIEM CACH

MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYÊN ÁI QUỐC

Những quan điểm của đồng chí Nguyễn Ái Quốc về cương lĩnh cách

mạng dân tộc dân chủ là kết quả của quá trình vận dụng sáng tạo và phát triển những luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện chính trị, kinh tế, sự phân hoá giai cấp, tư tưởng yêu nước,

truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Những quan điểm đó đạt tới đỉnh

cao tư duy chính trị về cách mạng giải phóng dân tộc trên phạm vi quốc tế

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo của những quan điểm của đồng chí Nguyễn Ái Quốc về cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ mà Đảng ta đã thực hiện và giành được những thắng lợi

vẻ vang Song những quan điểm đó bị một số đồng chí lãnh đạo Đảng phê

phán là do sự hạn chế về nhận thức lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam

và do chịu ảnh hưởng tư tưởng Đại hội VI Quốc tế cộng sản Đồng thời những

quan điểm của một số đồng chí lãnh đạo Đảng như đã nêu trên cũng phản ánh

tư tưởng chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản về việc thành lập Đảng Cộng sản

Đông Dương được thể hiện trong Nghị quyết ngày 28-11-1929 /

Trang 15

QUỐC TẾ CỘNG SẢN VÀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

TS Hồ Tố Lương

Với khẩu hiệu chiến lược:"Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp

bức, đoàn kết lại !", Quốc tế Cộng sản (QTCS) do V.I.Lênin sáng lập, trong

suốt thời gian tồn tại (3-1919 - 5-1943) thực sự là một tổ chức cách mạng

quốc tế rộng lớn nhất, "là một Đảng Cộng sản thế giới" như Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã khẳng định Gắn liền với QTCS là cả một quá trình hình thành, phát

triển và củng cố phong trào cộng sản, công nhân và phong trào giải phóng dan

tộc Phát triển những luận điểm của C.Mác, Ph.Áng ghen và V.I.Lênin về vấn

dé dân tộc và thuộc địa, QTCS đã xác định nội dung, tính chất, động lực, phương hướng và tiền đồ cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới Đối với cách mạng Việt Nam.QTCS có ý nghĩa vô cùng quan trọng Cách mạng Việt Nam ngay từ đầu đã vận động trong mối liên hệ mật thiết với QTCS và thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng là kết quả của việc vận dựng sáng tạo đường lối của QTCS về vấn đề dân tộc và thuộc địa

Chuyên đề làm sáng tỏ ảnh hưởng của QTCS đối với việc thành lập Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam và cách mạng Việt Nam thời kỳ 1930- 1943.Cụ thể, tác giả trình bày những vấn đề sau: "Vấn để Đông Dương" trong

Quốc tế Cộng sản; Quốc tế Cộng san đào tạo cán bộ cách mạng cho Việt Nam; Quốc tế Cộng sản với việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Quốc tế

Cộng sản với việc chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Đông _ Dương (1930-1943); Hồ Chí Minh trong Quốc tế Cộng sản

Để đạt được mục đích trên, tác giả dã sử dụng các nguồn tài liệu sau:

Trang 16

t2

- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo nổi tiếng của

QTCS như: G.Đimitơ rốp, C Gốt van, M,Tôrê Các nhà cách mạng tiêu biểu

của Việt Nam như: Trần Phú, Lê Hồng Phong

- Các công trình tập sách chuyên khảo của Liên Xô và Việt Nam về vấn

đề này

- Các tạp chí: Lịch sử Đảng, Nghiên cứu lịch sử,Tạp chí Cộng sản các

hồi ký của các nhà cách mạng lão thành

Chuyên đề gồm 50 trang, bố cục thành các phàn sau:

I- "VẤN ĐỀ ĐÔNG DƯƠNG” TRONG QUỐC TẾ CỘNG SẢN

Từ khi bị rơi vào tình cảnh một nước thuộc địa của đế quốc Pháp, tên

gợi của nước ta hầu như bị xóa đi trên bản đồ chính trị thế giới Lúc bấy giờ

nhiều người nghe tớiđịa danh Indochine cũng không biết nó ở đâu Trong khi

đó V.LLênin từ năm 1908-1915 đã ba làn đề cập đến tình hình Đông Dương

và Việt Nam trong các tác phẩm: "Những chất dễ cháy trên trường chính trị

thế giới"; "Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”

và: "Tổng kết một cuộc tranh luận về quyền tự quyết".ChínhV.I.Lênin là người

đặt nền móng cho "Vấn đề Đông Dương" trong Quốc tế Cộng sản Đại hội I

QTCS hợp tháng 3-1919 thông qua "Tuyên ngôn của Quốc tế Cộng sản gửi

những người vô sản toàn thế giới" đã hai lần đề cập đến Việt Nam trong phần

viết về phơng trào cách mạng của nhân dân các nước thuộc địa Sau đó trên

các tạp chí, báo của QTCS thường xuyên đăng các bài về Đông Dương và

Việt Nam nhằm giới thiệu với đông đảo nhân dân lao động và giai cấp công

nhân trên thế giới về Đông Dương, về các chế độ thực dân đã đàn áp, bóc lột

nhân dân Đông Dương

Sau Đại hội I, QTCS đã phái cán bộ đến Sài Gòn để nghiên cứu tình

hình và tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản ở đây Nhưng sự cố gắng của QTCS `

chưa chọc thủng được lưới sất của thực dân Pháp để tuyên truyền chủ nghĩa

Mác-Lênm vào Việt Nam Mối quan hệ của QTCS với cách mạng Đông

Trang 17

Dương và Việt Nam trở nên chặt chẽ hơn khi Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô vào tháng 6-1923 và hoạt động trong QTCS

Tại Đại hội VI QTCS (1928), Nguyễn Văn Tạo được cử ra nhân danh

những người cách mạng Việt Nam đọc tham luận vào ngày 27-8-1928

Nguyễn Văn Tạo đã yêu cầu: Quốc tế Cộng sản cần hướng sự chú ý đặc biệt

của mình vào việc thành lập Đảng Cộng sản ở Đông Dương, cần phải nghiên

cứu vấn đề thành lập công đoàn để tập hợp công nhân và những tổ chức để tập hợp nông dân ở Đông Dương mới có thể tự giải phóng hoàn toàn và vĩnh viễn được" Như vậy, đến Đại hội VI "vấn đề Đông Dương" đã thực sự được đặt

trong chương trình nghị sự của QTCS

I QUỐC TẾ CỘNG SẢẲN VỚI VIỆC ĐÀO TẠO CÁN BỘ CÁCH MẠNG

CHO VIỆT NAM

Để đào tạo cán bộ cách mạng cho các nước trên thế giới, QTCS đã

thành lập nhiều trường Riêng người Việt Nam theo học 3 trường sau: Trường

Đại học cộng sản của nhân dân lao động phương Đông (1921-1938) (gợi tắt

là Trường Đại học phương Đông), Viện nghiên cứu những vấn đề dân tộc và

thuộc địa, Trường quốc tế Lênin Về ý nghĩa của Trường Đại học phương

Đông, Nguyễn Ái Quốc viết: "Có thể nói không ngoa rằng, Trường Đại học

phương Đông ôm ấp dưới mái trường mình tất cả tương lai của các dân tộc

thuộc địa"

Xác định được tầm quan trọng đặc biệt của đội ngũ cán bộ, tại Đại hội

V của QTCS, Nguyễn Ái Quốc đã đề nghị với ĐCS Pháp "gửi những người

bản xứ vào Trường Đại học cộng sản của những người lao động phương Đông

ở Mátxcova Bắt đầu từ cuối năm 1923 người Việt Nam dã học ở trường Đại học phương Đông và từ đó trở đi Ingười Việt Nam đã nhập học các trường của QTCS từ Pháp và Trung Quốc tới Từ năm 1923 đến cuối những năm 30, ở 3

trường: Trường Đại học phương Đông, Trường Quốc tế Lênm, Viện nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa có bơn 60 người theo học, riêng Trường Đại học phương Đông tính đến năm 1935 đã có 47 người tốt nghiệp ở

Trang 18

trường Đại bộ phận những người được đào tạo ở các trường của QTCS đã trở thành những cán bộ cốt cán của Đẳng ta Nhờ đội ngũ cán bộ đó mà cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi

lil- QUỐC TẾ CỘNG SẲẢN VỚI VIỆC THÀNH LẬP ĐẲNG CỘNG SAN VIỆT NAM

Đề thành lập ĐCS ở Đông Dương, QTCS đã tích cực giúp đỡ vẻ nhiều

mặt:

~ Tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào Đông Dương

- Tạo điều kiện thuận lợi để Nguyễn Ái Quốc và những người cách

mạng Việt Nam hoạt động cách mạng

- Dao tạo đội ngũ cán bộ nắm bắt được những nguyên lý cơ bản của

chủ nghĩa Mác-Lênin và biết vận dựng vào thực tiễn nước mình

- Năm 1928, Đại hội VI của QTCS đã thông qua Đề cương vẻ phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa Bản đề cương đã ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào cách mạng Việt Nam Được sự giúp đỡ có hiệu quả, sự chỉ đạo sát sao kịp thời của QTCS và các đẳng anh em, sự hoạt động không mệt mỏi của Nguyễn Ái Quốc và những người cách mạng Việt

Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá vào Việt Nam dẫn đến bước _

nhảy vọt về chất của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Vì vậy, cuối năm 1929 đầu năm 1930 ở nước ta đã hình thành 3 tổ chức cộng sản

Theo dõi sát tình hình, ngày 18-10-1929, Hội đồng ban bí thư phương Đông đã hợp và thảo luận về vấn đề Đông Dương và thảo ra một bản Dự thảo Nghị quyết về việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương và về những nhiệm

vụ sắp tới của những người cộng sản Đông Dương Tiếp theo, ngày 27-10-

1929, QTCS gửi cho những người cộng sản Đông Dương một bản tài liệu:

"Về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương” Trong tài liệu này,

QTCS đã khẳng định ở Đông Dương cần thiết và cấp bách thành lập ĐCS QTCS phê phán những hiện tượng bè phái, chia rẽ trong các tổ chức cộng sản,

Trang 19

thái độ lừng chừng trong việc thành lập ngay một ĐCS và đề ra nhiệm vụ cấp

bách là phải thành lập Đảng cách mạng bằng cách "tập hợp tất cả những phần

tử thật sự là cộng sản của tất cả các nhóm cộng sản"

Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện của QTCS đã triệu tập Hội

nghị hợp nhất Đảng Cộng sản Việt Nam Một sáng tạo rất lớn của lãnh tụ

Nguyễn Ái Quốc là đã thống nhất các tổ chức cộng sản thành DCS, chit

không làm theo yêu cầu của QTCS là: "Đảng Cộng sản Đông Dương phải

được thành lập bằng cách tập hợp tất cả những phần tử thật sự là cộng sản của tất cả các nhóm cộng sản" Nếu ĐCS Việt Nam phải được thành lập theo tỉnh thần đó của QTCS thì sẽ rất khó khăn và kéo dài Điều đó càng chứng minh

sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc và đồng thời chúng ta cũng thấy được điểm

hạn chế của QTCS trong vấn đề này Tuy có bạn chế, nhưng công lao của ' QTCS trong việc thành lập Đảng ta là rất to lớn

IV- QUỐC TẾ CỘNG SẢN VỚI VIỆC CHỈ ĐẠO VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT DONG CUA DANG CONG SAN DONG DUONG (1930-1943)

1 Thời kỳ 1930-1935:

- QTCS giúp đỡ về tỉnh thần và vật chất cho cách mạng Việt Nam:

QTCS, các tổ chức quần chúng trực thuộc QTCS và các phân bộ của QTCS đã

tổ chức hàng nghìn cuộc biểu tình, mít tỉnh ủng hộ ĐCS Đông Dương và cách mạng Việt Nam Bên cạnh sự giúp đỡ về tình thần và kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, QTCS còn chú ý giúp đỡ Đảng ta về mặt tài chính và các phương

tiện hoạt động khác

- QTCS giúp đỡ về cán bộ, đường lối và tổ chức: QTCS đã tạo mọi điều

kiện thuận lợi để các sinh viên đã tốt nghiệp về nước hoạt động; đã giúp Đảng

ta thành lập BCH Trung ương lâm thời, Ban chỉ huy ở ngoài; đã chỉ ra những

nhiệm vụ phải làm trong thời kỳ cách mạng tạm thời thoái trào

2 Thời kỳ 1935-1940:

Trang 20

Đại hội VỊI của QTCS hợp ngày 25-7 đến 21-8-1935 có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với phong trào cách mạng thế giới Đối với cách mạng

Việt Nam, nhờ những văn kiện của Đại hội VII, những người cộng sản Việt

Nam đánh giá đúng đấn những thay đối của tình hình quốc tế, trong nước và

xác định phương hướng, hình thức hoạt động, đưa cách mạng tiến lên một cao

trào mới, cao trào cách mạng 1936-1939 Mở đầu cho sự chuyển hướng chỉ

đạo là Hội nghị BCH Trung ương ngày 26-7-1936 tại Thượng Hải do Lê

Hồng Phong chủ trì

3 Thời kỳ 1940-1943:

Tình hình thế giới và trong nước ngày càng nghiêm trọng Chiến tranh thế giới ngày càng mở rộng Đức ráo riết chuẩn bị chiến tranh chống Liên Xô

Phát xít Nhật xâm lược Đông Dương và thực dân Pháp phải quỳ gối đầu hàng

chúng Do nhiều nguyên nhân khách quan như vậy, nên từ sau Đại hội VI

QTCS, mốt quan hệ giữa QTCS và Đảng ta bị yêú dần và bắt đầu từ năm 1940

mối quan hệ thực tế bị cắt đứt Nhưng những người cộng sản Việt Nam được

trang bị bằng những nghị quyết của QTCS, được giáo dục tinh thần về sự cần

thiết củng cố mối quan hệ với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đã

đưa cuộc đấu tranh đi đúng hướng Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về

nước Từ đây, Người trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam

Tháng Tám 1945 khi có đủ điều kiện chủ quan và khách quan, DCS Viét

Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân làm cách

mạng thành công

V- HỒ CHÍ MINH TRONG QUỐC TẾ CỘNG SẲN

1 Thái độ của Quốc tế cộng sản đối với Nguyễn Ái Quốc và Hội

nghị hợp nhất Đảng cộng sản Việt Nam

Là một tố chức chính trị cao nhất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng do áp dụng cơ chế tập trung quan liêu, trong khi việc

nắm thông tin, hiểu biết thực tiễn còn bất cập do điều kiện đế quốc bao vây,

lại không tính đến những nét đặc thù của từng dân tộc, từng khu vực, từng

Trang 21

thời kỳ, nên QTCS không tránh khỏi có lúc cứng nhắc, chưa sát thực tế, đã ép đặt, giáo điều trong việc xác định đường lối Đối với ĐCS Việt Nam, QTCS

cũng có những biểu hiện khó tránh khỏi này

Ngoài việc khẳng định ý nghĩa của việc thành lap DCS Viét Nam,

QTCS đã phê phán Nguyễn Ái Quốc trong việc không tập hợp các phần tử

cộng sản của các nhóm cộng sản thành ĐCS, mà hợp nhất các tổ chức cộng sản thành ĐCS; trong việc thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt

đề cao yếu tố dân tộc; đặt tên Đảng không đúng Vì vậy, QTCS đã yêu cầu

đổi tên ĐCS Việt Nam thành ĐCS Đông Dương, thông qua Luận cương mới thay cho Chính cương vấn tắt, Sách lược vắn tắt Nhưng thực tiễn đã chứng mình lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp một cách đứng đắn, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Điều đó thể hiện trí thiên tài của Nguyễn Ái Quốc mà nền tảng vững chắc của đường lối đúng đắn đó là

trình độ hiểu biết sâu sắc, sự vận dụng sáng tạo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênm

2 Đại hội VI, VI của Quốc tế Cộng sản và Nguyễn Ái Quốc

Đại hội VI của QTCS hợp năm 1928 Lúc đó Nguyễn Ái Quốc đang ở

châu Âu, nhưng Người không được mời dự Đại hội Tại Đại hội VI này,

những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề dân tộc và thuộc địa bị phê

phán đữ dội Kết luận Nguyễn Ái Quốc chỉ là người yêu nước nhiệt tình, không phải là cách mạng vô sản Do nhìn nhận và đánh giá sai như vậy về

Nguyễn Ái Quốc nên trong một thời gian dài QTCS hầu như không giaô nhiệm vụ cụ thể gì cho Người cả

Đại hội VII QTCS hợp năm 1935 Đại hội VH là một mẫu mực về tư

duy mới, đánh giá nhìn nhận vấn đề một cách khách quan và khắc phục

những hạn chế về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc Đại hội đã ra Nghị

quyết thực hiện chính sách "mềm dẻo" lập Mặt trận thống nhất chống đế quốc

ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, giống như chính sách mà Nguyễn Ái

Quốc đã đề ra trước đó 5 năm tại Hội nghị hợp nhất ĐCS Việt Nam Thế

Trang 22

nhưng, Nguyễn Ái Quốc tuy được Ð.D Manuinxki dến cuối Đại hội đề nghị

phục hồi tư cách đại biểu chính thức, nhưng rồi Người cũng chỉ được công

nhận là đại biểu dự thính Đó lại là "cái oan" nữa của Nguyễn Ái Quốc

Tuy bị hiểu lâm và đối xử như vậy, nhưng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

luôn luôn tỏ rõ là một người quốc tế chủ nghĩa chân chính, rất tận tuy với

phong trào cách mạng thế giới, hoàn thành xuất sắc mợi nhiệm vụ mà QTCS

giao cho, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có những kiến nghị đúng đắn, phù

hợp với cách mạng thế giới, đặc biệt là đối với phong trào giải phóng dân tộc

'ở các thuộc dia

3 Thái độ của Quốc tế Cộng sản đối với việc thành lập Tổng Nông

hội Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc nhiều lần để nghị QTCS, Quốc tế Nông dân cho thành lập Tổng Nông hội ở cấp Trung ương ở Việt Nam QTCS do nhận thức

hạn chế về đặc điểm, tình hình của giai cấp công nhân Việt Nam nên đã

không đồng ý cho thành lập Tổng Nông hội ở cấp Trung ương

Trong quá trình hoạt động của mình, QTCS đã có những hạn chế về lý luận và thực tiễn ảnh hưởng đến ĐCS Đông Dương và cách mạng Việt Nam,

nhưng những công lao của QTCS đối với việc thành lập ĐCS Việt Nam, đối

với việc cứu Nguyễn Ái Quốc ra khỏi nhà tù đế quốc Anh, với cách mạng

Việt Nam từ năm 1930-1943 là vô cùng to lớn Những thành công của cách

mạng Việt Nam gắn liền với QTCS, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh trong

bài Đệ tam quốc tế viết năm 1927 đã khẳng định: "An Nam muốn cách mệnh

thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế” /

Trang 23

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BỘ MÁY

TỔ CHỨC ĐẢNG Ở TRUNG ƯƠNG (1930-1948)

Trần văn Hùng

Cử nhân Đỗ Thị Oanh

Chuyên đề nhằm mục tiêu làm rõ quá trình hình thành và phát triển cơ

quan Trung ương của Đảng từ năm 1930 đến năm 1945 Hệ thống các văn

kiện của BCH Trung ương Đảng quy định hệ thống tổ chức Đảng từ Trung

ương tới cơ sở Góp phần làm rõ các vấn đề về tổ chức Đảng ở Trung ương và

hệ thống tổ chức Đảng qua các thời kỳ; về nhiệm vụ và quyền hạn của Ban

Trung ương, Ban chỉ huy ở ngoài; về các vấn đề trong Đại hội I của Đảng

cộng sản Đông Dương; về nhân sự: Tổng Bí thư, Uỷ viên thường vụ, Uỷ viên

BCHTU, số lượng đảng viên

Chuyên đề gồm 61 trang với 3 phần:

| SU RA DOI VA PHÁT TRIỂN CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG TỪ NĂM 1930

ĐẾN GIỮA NĂM 1934

1 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Dau thé ky XX, mot phong trào yêu nước rộng lớn mang tính chất dân

chủ tư sản đã diễn ra Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhiều tố chức, đẳng

phái yêu nước ra đời Một xu hướng cách mạng mới xuất hiện do Nguyễn Ái

Quốc khởi xướng và lãnh đạo Hội Việt Nam cách mạng thanh niên được

thành lập (1925) làm phong trào cách mạng có bước phát triển mới về chất

Năm 1925, ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời Ba tổ chức này đều tự nhận là

đảng Mátxít chân chính, song lại tranh giành ảnh hưởng chính trị, bài xích lẫn

nhau Tháng 10-1929, Quốc tế cộng sản đã có sự chỉ đạo về việc thành lập

một Đảng Cộng sản ở Đông Dương, chỉ ra những nguyên tắc và biện pháp

tiến hành hợp nhất các nhóm cộng sản Ngày 28-11-1929, QTCS ra nghị

quyết về việc tổ chức ở Đông Dương một Đảng thống nhất, nhưng việc thống

nhất đã được thực hiện trước khi nghị quyết về đến trong nước Hội nghị hợp

nhất được tiến hành từ ngày 6-1-1930 dưới sự chủ toa của đồng chí Nguyễn

Trang 24

lL

Ái Quốc Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vi dai

trong lịch sử cách mạng Điều lệ vắn tắt của ĐCS VN quy định tổ chức Đảng

có 4 cấp: Trung ương; tỉnh bộ; thành bộ hay đặc biệt bộ; huyện bộ, thị bộ hay khu bộ và cuối cùng là chỉ bộ

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 nhận xét Hội nghị hợp nhất

phạm một số sai lầm do không lựa chọn những phần tử ưu tú nhất, tổ chức

Đảng bỏ mất xứ bộ, công tác lãnh đạo của Đảng đối với phong trào có những

Chuyên đề nhận xét, Hội nghị hợp nhất được tiến hành khi chưa nhận

được chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng,

đồng thời thể hiện sự chủ động, sáng tạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc

2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng thành lập và lãnh đạo phong trào cách mạng

Việc thống nhất các tổ chức thực sự tiến hành vào tháng 2-1930 và kéo đài nhiều tuần lễ Một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời cua DCS VN

được thành lập gồm 7 đồng chí Đông Dương Cộng sản liên đoàn hợp nhất

vào ĐCS VN cuối tháng 2-1930 Khi thống nhất có 565 đảng viên phân làm

40 chi bộ, ngoài ra có 40 người cộng sản Đông Dương ở Xiêm và 14 người ở Hồng Công ?)

Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng hợp tháng 10-

1930 tại Hương Cảng, thông qua Bản Luận cương chính trị do đồng chí Trần

Phú soạn thảo, ra Nghị quyết về tình hình Đông Dương, nhiệm vụ cần kíp của Đảng Về hệ thống tổ chức Đảng, hội nghị đề ra cấp xứ; nêu rõ nhiệm vụ của Trung ương Hội nghị đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương, cử

BCH TƯ chính thức Số lượng đảng viên toàn Đảng là 1.600 ®, Trần Phú làm Tổng bí thư Thường vụ Trung ương Đảng xúc tiến công tác giáo dục lý luận,

tuyên truyền, chấn chỉnh giao thông liên lạc, vận động công nhân Đầu năm

1931, số đảng viên cả nước là 2.400 người Trước sự phát triển của ĐCSĐD, theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, tháng 4-1931 BCH Quốc tế Cộng sản ra

! 2 Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sảnở Đông Dương của Hồng Thế Công

Trang 25

nghị quyết công nhận ĐCSĐD là một phân bộ độc lập của QTCS (phê duyệt

lần cuối tại Đại hội 7 QTCS)

3 Khôi phục cơ quan Trung ương Đảng (từ giữa năm 1931 đến năm

1934)

2) Sự cần thiết phải bảo vệ, củng cố, khôi phục cơ quan Trung ương Đảng

Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, một số đảng viên bị bắt đã phản bội,

khai báo gây tốn thất lớn cho hệ thống tố chức Đảng Cơ quan đầu não của Đảng bị địch phá hoàn toàn Quốc tế Cộng sản đã tăng cường cho Đảng nhiều

cán bộ ưu tú Đầu năm 1932, Lê Hồng Phong về nước, bắt đầu cuộc khôi phục và phát triển tổ chức Đảng

b) Sự ra đời của Ban Chỉ huy ở ngoài

Tháng 3-1934, theo quyết định của Đông Phương bộ QTC5, Ban Chỉ huy ở ngoài của ĐCSĐD thành lập Ban Trung ương lâm thời gồm Lê Hồng

Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dự Theo Hội nghị lần thứ nhất BCHON (6-1934) thì vai trò của Ban TU lâm thời cao hơn vai trò BCHTƯ, nhưng theo điện của QTCS (20-12-1934) thì hai tổ chức ngang quyền Hội nghị tháng 6-

1934 có tính chất như Hội nghị trù bị của Đảng Số lượng đảng viên thời kỳ này khoảng 600 người

II TỔ CHỨC BANG Ở TRUNG ƯƠNG VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG

(TỪ NĂM 1935-1939)

1 Sự kiện lịch sử Đảng nổi bật: Đại biểu đại hội lần thứ nhất của

Đảng (27 đến 31-3-1935) tại Ma Cao (Trung Quốc)

Hột nghị hợp nhất của Đảng đã quyết định triệu tập Đại hội Đảng sau

khi chỉnh đốn công tác Đảng Hội nghị tháng 6-1934 quyết định lấy Nghị

quyết Hội nghị và Chương trình hành động của Đảng (6-1932) làm tài liệu

thảo luận nhằm chuẩn bị Đại hội Dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng có 13 đại biểu đại diện cho 552 đảng viên ?, Đại hội thảo luận và thông qua nhiều văn

‘Thu cia BCHON của ĐCSÐD (31-3-1935) gửi Quốc tế Cộng sản, TL VPTƯĐ.

Trang 26

kiện quan trọng Đại hội đã khởi phục hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương

đến địa phương, chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến đấu mới Đại hội thông

qua 2 nghị quyết về công tác đã qua; về hệ thống tổ chức, quyền hạn, nhiệm

vụ của BCHON Sau đó, Quốc tế Cộng sản đã có quyết định Ban TƯ và BCHON là hai tổ chức ngang quyền, mỗi cơ quan có địa bàn hoạt động riêng:

một tổ chức ở trong nước, một tổ chức ở ngoài nước 0)

Đại hội cử Ban TƯ chính thức 13 người, song chỉ bầu được 12 người, còn một người của Ban Chấp uỷ Trung Kỳ sẽ chỉ định sau Ban Thường vụ

gồm 5 đồng chí Lê Hồng Phong - Tổng thư ky, Dinh Thanh, Hoàng, Tho, Ngô (có thể tạm xác định Hoàng: Hoàng Đình Giong, Tho: Võ Nguyên Hiến, Ngô: Võ Văn Ngân) Về nhân sự Ban chỉ huy ở ngoài, Quốc tế Cộng sản

quyết định: Hà Huy Tập - Thư ký (Bí thư), Phùng Chí Kiên Từ tháng 3-1936

tạm thời tuyển thêm Rémi (Trin Van Kiết) vào BCHON ? (Do Hà Huy Tập

làm thư ký BCH ON nên không dự bầu vào Ban TƯ chấp uỷ tại Đại hội lần

thứ nhất của Đảng) Sau Đại hội Đảng một thời gian, hầu hết Ban TƯ bị bắt

và tan rã, vì vạy BCH ON đồng thời làm nhiệm vụ Ban TƯ chấp uỷ lâm thời

Đại hội đã thông qua Điều lệ về hệ thống tổ chức của Đảng, quy định tên

Đảng là ĐCSĐD thuộc phân bộ của QTCS Điều lệ quy định Đảng Đại hội là

cơ quan cao nhất của Đảng, 2 năm triệu tập một lần Đại hội chuẩn y chỉ định

Livinốp (Lê Hồng Phong), Bà Vai (Nguyễn Thị Minh Khai), Cao Bằng (Hoàng Văn Nọn) là đại biểu của Đảng dự Đại hội QTCS ®, sau đó cử thêm Lñin (Nguyễn Ái Quốc) °°

2 Tình hình tổ chức Đảng từ sau Đại biểu Đại hội lần thứ nhất của

Đảng

Đầu năm 1936, phần lớn uỷ viên Ban TƯ Chấp uỷ bị bắt, Ban Thường

vụ tạm cư trú cách Trung Quốc vài cây số Tất cả tài liệu tuyên truyền và chỉ

thị của BCH ƠN đều lấy danh nghĩa Ban TƯ chấp uỷ để làm lạc hướng sự chú

ý của đế quốc, tránh gây tâm lý hoang mang cho cấp dưới và quần chúng khi

! 2, Báo cáo ngày 1-7-1936 của BCHON gửi QTCS TL VPTƯĐ

3, Báo cáo của BCHON 31-3-1935 TL VPTUD

1, Thư của QTCS gửi Đông phương Bộ 29-6-1945, Hải An trích điện của BCHON gửi QTCS TL VP TƯĐ

Trang 27

không còn Trung ương Cuối năm 1934, Nguyễn Ái Quốc đến học tại trường

Quốc tế Lênin Tại Đại hội VỊ QTCS, Lê Hồng Phong được bầu làm uỷ viên của Ban Chap uy QTCS Sau đó, từ tháng 12-1935 đến 7-1936, đồng chí được

chỉ định làm đại diện của ĐCSĐD bên cạnh QTCS

Ngày 27-6-1936, 3 đồng chí trong BCHON đã hợp tại Thượng Hải do

Lê Hồng Phong chủ trì Hội nghị quyết định đồng chí Hà Huy Tập về nước để

củng cố lại Ban TƯ và khôi phục lại các tổ chức Đảng trong nước Các đồng

chí Lê Hồng Phong và Phùng Chí Kiên ở lại BCHON Qua tổng hợp các tài

liệu của BCHON gửi QTCS, tài liệu của QTCS và tài liệu cá nhân của đồng

chí Hà Huy Tập và Lê Hồng Phong có thể khẳng định rằng Hà Huy Tập được nhận chức Tổng thư ký (Tống bí thư) vào ngày 26-7-1936 kể từ ngày có quyết định của BCHON, còn Lê Hồng Phong đã thôi chức Tổng thư ký cũng từ đây

và trực tiếp công tác trong BCHON #), Từ ngày 12-10-1936 trở đi, Ban TƯ Chap uy DCSDD được tổ chức tại Nam Kỳ, các tổ chức Đảng từ Trung ương

đến cơ sở được củng cố lại

Tại Hội nghị toàn thể Ban TƯ Chấp uỷ tại Bà Điểm từ 25-8 đến 4-9-

1937, Ban Trung ương gồm l1 người, trong đó có 5 uỷ viên thường vụ, Hà Huy Tập là Tổng thư ký Danh sách Ban TƯ Chap uy tại Hội nghị Ban TƯ Chấp uỷ lần thứ sáu (11-1939) gồm L1 người: Nguyễn Văn Cừ - Tổng thư ký

3 Số lượng đẳng viên từ năm 1935 đến 1939

Năm 1935 (đến 15-2-1935) là 511 người (Theo báo cáo của Ban CHON của ĐCSĐD gửi QTCS 31-3-1935)

Năm 1936: Sau DBDH Dang lần thứ nhất, số đảng viên chỉ trên dưới

200 đồng chí (Báo cáo của BCHON gửi QTCS 1-7-1936); tháng 3-1935 tiến

hành DH Đảng lần thứ nhất, hiện nay Đảng có 589 đảng viên (Biên bản về

- việc kết nạp vào QTCS các Đảng ở các nước phương Đông và Châu Mỹ La tinh 20-8-1935 VKĐ, tập 5)

!, Xem các tài liệu: Báo cáo của BCHON 10-9-1937; Quyết định của Đại hỏi Đảng lần thứ nhất 3-1935 của ĐCSĐD, các tài liệu khác của QTCS va đồng chí Lê Hồng Phong (TG) TL VPTUĐ,

Trang 28

Năm 1937: đến cuối năm là 925 đẳng viên (Báo cáo của Ban TƯ Chấp

uỷ ĐCSĐD gửi QTCS 10-9-1937 VKĐ, tập 6)

Năm 1938: tính đến cuộc HN toàn thể Ban TƯ Chấp uỷ (29, 30-3-

1938) là 1.597 đồng chí đẳng viên bí mật (chưa kể 120 đẳng viên làm công tác công khai)

Năm 1939: Tổng số đẳng viên là 2.058 (kể cả 52 đẳng viên người Tàu)

II TỔ CHỨC ĐẢNG Ở TRUNG ƯƠNG TỪ NĂM 1940-1945

1) Từ cuối 1939 đến đầu 1940, hầu hết các đồng chí trong Ban TƯ Chấp uỷ là những đồng chí chủ chốt hoạt động ở Nam Kỳ đều bị bắt, sau đó

bị xử tử (Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai) Nguyễn Ái Quốc sau một thời gian dài (1934-1938) học tập tại các trường của QTCS, ngày 8-2-1941 về nước trực tiếp chỉ đạo

cách mạng, triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại Pắc Pó (Cao Bằng) Hội nghị củng cố Ban Chấp hành Trung ương, cử đồng chí Trường Chinh làm Tổng bí thư, Ban Thường vụ gồm Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ,

Hoàng Quốc Việt

2 Ban Trung ương Chấp uỷ từ 1940-1945

a) Hội nghị Trung ương lần thứ 7, 11-1940 có 11 người: 1 Dang Xuan

Khu (Trường Chinh) - Quyền Tổng Bí thư; 2 Phan Đăng Lưu - TV; 3 Hoàng

Văn Thụ - TV; 4 Trần Đăng Nimh - TV; 5 Hạ Bá Cang; 6 Võ Văn Tần;

7 Nguyễn Ái Quốc

b) Hội nghị Trung ương 8 ở Pắc Pó, 5-1941: 1 Đăng Xuân Khu - Tổng

bí thư; 2 Hạ Bá Cang - TV; 3 Hoàng Văn Thụ - TV; 4 Phùng Chí Kiên;

5 Vũ Anh (dự khuyết), 6 Bùi San; 7 Hồ Xuân Lưu; 8 Lý (tức Mã Hữu

Giác), 9 Lương Văn Chí; 10 Nguyễn Thành Diên (sau phản bội); l l

c) Hội nghị toàn quốc tại Tân Trào, 8-1945: 1 Đặng Xuân Khu - Tổng

bí thư, 2 Võ Nguyên Giáp; 3 Hạ Bá Cang; 4 Nguyễn Chí Thanh; 5 Lê Đức Tho; 6 Chu Văn Tấn; 7 Nguyễn Lương Bằng; 8 Hoàng Văn Hoan; 9 Vũ

Anh; 10

Trang 29

3 Số lượng Đảng viên, đến thang 5-1945, toàn Đảng có 5.000 người,

chưa kể đẳng viên trong nhà tù đế quốc

KẾT LUẬN

Yếu tố quan trọng đưa đến thắng lợi cách mạng Việt Nam trước hết là

công tác tổ chức, có một Đảng thực sự cách mạng, như Lênin nói "Trong

cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có thứ khí giới nào

khác hơn là tổ chức" Đảng cộng sản Việt Nam thành lập đầu năm 1930 là một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, là một cống hiến to lớn của

Nguyễn Ái Qưốc Từ sau năm 1930 đến 1945, có 5 Tổng Bí thư của Đảng,

trong đó có 4 đồng chí bị bắt, xử tử hoặc giam cảm, đày đoa đến chết trong nhà tù đế quốc Từ 1930 đến 1945, các tổ chức Đảng, trước hết là cấp Trung

ương nhiều lần bị đánh tán: từ sau 1931 đến 1933; từ sau ĐH I đến đầu 1936;

từ 1939 trở đi Tuy vậy, phong trào vẫn tiếp tục phát triển, ngày một vững

chic hơn, do Đảng đã bắt rễ sâu trong quần chúng nhân dân Từ đầu 1934 đến

sau DH Lj Đảng thực hiện quyết định của QTCS thành lập BCHON của ĐCSĐD, đây là một quyết định đúng đắn, là một nguyên nhân quan trọng dẫn

đến các tổ chức Đảng trong nước đâm bảo tính hoạt động liên tục, không gián đoạn Quốc tế Cộng sản đã chỉ đạo sát sao, chặt chế, đào tạo cán bộ, cưng cấp tiền bạc, phương tiện hoạt động cho ĐCSĐD, góp phần vào thắng lợi của cách

mạng Việt Nam./

Trang 30

DANG LANH ĐẠO XÂY DỰNG MẶT TRẬN VÀ CÁC ĐOÀN THỂ

QUẦN CHÚNG THỜI KỲ 1930-1945

Th.s Trần Bich Hai

Cử nhân Trịnh Hồng Hạnh

Chuyên đề nhằm mục đích làm rõ đường lối, chủ trương của Đảng về

xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng các

đoàn thể quần chúng, vai trò của Mặt trận và các tổ chức quần chúng trong

thời kỳ 1930-1945

Chuyên đề gồm 70 trang, được chia làm 2 phần:

| DANG LANH ĐẠO XÂY DỤNG MẶT TRẬN VÀ CÁC TỔ CHỨC QUẦN CHÚNG THỜI KỲ 1930-1939

1 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng về tư tưởng và tổ chức, chuẩn bị cho sự ra đời của Mặt trận

Trong quá trình đi tìn đường cứu nước, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã

sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng

thuộc địa vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Người coi trọng vấn đề dân tộc theo quan điểm vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân và nội dung cơ

bản về quyền lợi của nông dân là ruộng đất Người sớm xác định cuộc cách mạng của nhân dân các nước thuộc địa chống lại ách thống trị của chủ nghĩa

đế quốc là "dân tộc cách mệnh" Cuộc cách mạng để "giải phóng gông cùm

nô lệ cho đồng bào" là một sự nghiệp lớn, "là việc chung của cả dân chúng”,

"trong đó công nông là gốc cách mệnh", là "chủ cách mệnh", còn "học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn cách mệnh", các giới đồng bào sĩ, công, nông, thương đều phải đoàn kết lại do Đảng cách mệnh lãnh đạo để

chống bọn cường quyền đế quốc và tay sai

Đây là những quan điểm cách mạng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh

làm nền tảng để xây dựng đường lối chiến lược cách mạng, thực hiện khối đại đoàn kết thống nhất dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc ở nước

ta.

Trang 31

t2

Người tích cực tham gia xây dựng các bội như: Hội những người Việt

Nam yêu nước tại Pháp (1917), Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa ở Pari

(1921), Hội Việt Nam thanh niên cách mạng (1925); tham gia thành lập Hội

Liên hiệp các tổ chức Á Đông nhằm xây dựng Mặt trận đoàn kết quốc tế Năm 1928, đồng chí Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội thân ái - tổ chức yêu

nước của Việt kiểu Thái Lan nhằm tiếp tục đào tạo cán bộ, hỗ trợ đắc lực cho phong trào cách mạng trong nước và chuẩn bị thành lập Đảng

2 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, xây dựng, lãnh đạo Mặt trận và

các tổ chức quần chúng

Thời kỳ 1930-1935: Ngày 6-1-1930, Đảng công sản Việt Nam ra đời

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã kết hợp đúng đắn vấn dé dân tộc với vấn đề giai cấp, trong đó vấn dé dân tộc

được đặt lên hàng đầu Cương lĩnh nêu rõ chủ trương chiến lược của Đảng trong cách mạng giải phóng dân tộc là đánh đồ thực dân Pháp và bọn phong

kiến "làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập", thực hiện các quyền tự do

dân chủ, kể cả việc tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn phản cách mạng đem chia cho nông dân, chuẩn bị thực hành thổ địa cách mạng Đảng phải thu

phục cho được đại bộ phận công nhân và nông dân, đồng thời phải đoàn kết với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tranh thủ hoặc trung lập phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản Việt Nam Chủ trương thành lập Hội phản đế đồng minh

cũng được hội nghị thông qua Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 ra nghị

quyết về vấn đề phản đế Song Hội nghị chỉ thấy sức mạnh của công nông,

không thấy sức mạnh của các giai cấp, tầng lớp yêu nước khác

Ngày 18-11-1930 Ban Thường vụ Trung ương ra bản Chỉ thị về vấn đề

thành lập Hội phản đế đồng minh, chỉ rõ những nhận thức sai lầm trong Dang coi nhẹ vai trò của Hội phản đế đồng minh trong cách mạng tư sản dân

quyền, vạch ra những biện pháp cụ thể, về tổ chức Hội phản đế đồng minh

Phong trào cách mạng mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra năm

1930 có tính quần chúng rộng rãi, đã cuốn hút mạnh mẽ sức mạnh đoàn kết dân tộc, không chỉ có công nông mà cả các tầng lớp trí thức, một số sĩ phu, phú nông, trung, tiểu địa chủ và một số quan lại nhỏ ở nông thôn Tuy vậy, trong quá trình thực hiện chính sách đoàn kết các tầng lớp, các giai cấp, Đảng

Trang 32

chưa tập hợp được mợi lực lượng phản đế vào mặt trận dân tộc thống nhất (chỉ

tổ chức Công hội đỏ, nông hội, thanh niên, phụ nữ đỏ, cứu tế đỏ, thiếu một tổ

chức thật quảng đại quần chúng để tập hợp các tầng lớp trí thức dân tộc, tư

sản dân tộc và những người địa chủ có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp), chưa

có ý thức rõ rệt về phân hoá hàng ngũ địch Công tác vận động giáo dân và

dân tộc thiểu số chưa được chú ý đúng mức

Phong trào cách mạng 1930-1931 bị đế quốc đàn áp, hầu hết cơ sở Đảng bị tan vỡ, các hội quần chúng hầu như không còn hoạt động Từ năm

1933 đến 1935, các đẳng viên gây dựng lại phong trào Các tổ chức quần

chúng công khai, hợp pháp được tổ chức: hội đổi công, hội tương tế ái hữu

Tháng 3-1935, Đại hội Đảng được triệu tập, đánh dấu sự phục hồi mạnh mẽ của Đảng về mặt tổ chức và lãnh đạo Một trong những nghị quyết quan trọng của Đại hội là Nghị quyết về công tác phản đế liên minh Nghị quyết của Đại

hội về vấn» đề mặt trận đã chỉ rõ ngoài những đoàn thể quần chúng hăng hái

cách mạng nhất, Đảng phải lôi kéo những lực lượng khác, ít nhiều có tỉnh

than phan dé

Như vậy là so với “Hội phan đế đồng minh", thì Mặt trận phản đế đồng

minh đã phản ánh những bước tiến bộ đầu tiên của Đảng về vấn đề Mặt trận:

- Tính chất rộng rãi của Mặt trận phản đế được thể hiện rõ ràng

- Khối liên minh công nông là lực lượng chủ yếu của Mặt trận

- Xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong Mặt trận phản đế đồng minh

- Mặt trận phản ánh tính chất không thể tách rời cách mạng Việt Nam

với cách mạng thế giới

Thời kỳ 1936-1939:

Tĩnh hình thế giới có nhiều thay đổi, mục tiêu đấu tranh cách mạng lúc này không phải là nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến mà là chống

phát xít, chống chiến tranh, đời tự do, cơm áo, hoà bình Dang cộng sản Đông

Dương đã chuyển hướng mạnh mẽ về chủ trương chiến lược cách mạng

Trang 33

(Chung quanh vấn đề chính sách mới (10-1936), Chủ trương tổ chức mới của

Đảng (3-1937), Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 8-1937, tháng 9-1937, tháng 3-1938), quyết định vận động thành lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi, sau gợi là Mặt trận thống nhất dân chủ để tập hợp các giai cấp, các đảng phái chính trị vào cuộc đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đời các quyền tự do dân chủ, cơm áo, hoà bình Đây là một bước trưởng thành mới về chủ trương xây dựng mặt trận thống nhất của Đảng

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng mặt trận thời kỳ 1936-1939, Đảng

không ngừng đề ra phương hướng cụ thể, uốn nắn những sai lầm, khuyết điểm

trong công tác vận động quần chúng, do đó, Đảng đã vận động được quần chúng tham gia đông đảo với những hình thức công khai, hợp pháp và bán hợp pháp, kết hợp với hoạt động bí mật, đưa phong trào quần chúng nhân dân trở thành một cao trào rộng lớn sôi nổi và kéo dài với cuộc vận động Đông Dương Đại hội, với 600 uỷ ban hành động, với cuộc tiếp đón phái đoàn Gôđa

và Brevié để đưa nguyện vọng Phong trào đấu tranh của quần chúng trong thời kỳ này rất linh hoạt, biết sử dụng nhiều hình thức khác nhau như: đấu tranh trên nghị trường kết hợp với phong trào quần chúng bên ngoài, trên lĩnh vực báo chí, văn học, nghệ thuật Phong trào đấu tranh của nhân dân ta phốt hợp với phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp :

Phong trào đấu tranh thời kỳ 1936-1939 có ý nghĩa to lớn, chính trong thời kỳ này lực lượng cách mạng, sau khi phục hỏi, đã được củng cố và phát

triển, trình độ giác ngộ của quần chúng được nâng lên một bước, cơ sở quần

chúng được mở rộng, tạo điều kiện Đảng lãnh đạo xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất

Về mặt tổ chức: cho đến Mặt trận dân chủ, hệ thống tổ chức từ cơ sở đến Trung ương chưa được hình thành, chỉ mới hình thành ở từng bộ phận Song qua lãnh đạo mặt trận từng giai đoạn, Đảng đã tích luỹ thêm những kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn quan trọng cho cuộc vận động xây dựng mặt trận những năm tiếp theo

Trang 34

I BANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG MẶT TRẬN VÀ CÁC TỔ CHỨC QUẦN

CHÚNG (1939-1945)

1 Chiến tranh thế giới thứ H bùng nổ Chủ trương của Đảng Cộng

sản Đông Dương

Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới nổ ra Chính phủ Đalađiê thẳng thay

khủng bố lực lượng dân chủ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa Tại Đông Dương, hàng ngàn đảng viên và những người yêu nước bị bắt giam; những quyền lợi mà nhân dân đạt được trong thời kỳ Mặt trận Dân chú đều bị

thủ tiêu Tháng 9-1940, phát xít Nhật đánh vào Lạng Sơn, đổ bộ vào Đồ Sơn,

phát động chiến tranh xâm lược Đông Dương, nhân dân phải chịu cảnh "một

cổ hai tròng”

Trước tình hình chuyển biến nhanh chóng, DCS DD chi thi cho các cán

bộ rút vào bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6 được triệu tập ngày 6-11-1939 Đồng chí~-

Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư của Đảng chủ trì hội nghị Sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước, hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước

mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sdi, giải phóng

các dân tộc Đông Dương Đây là sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược vô cùng quan trọng Một Mặt trận với nội dung mới được thành lập để thực hiện đường lối: Mặt trận thống nhất dân tộc phán đế Đông Dương (MTTNDT

PĐĐD) Đây là hình thức liên hiệp tất cả các dân tộc, giai cấp, đảng phái, các

phần tử phản đế, tranh đấu chống chiến tranh, phát xít, đánh đổ đế quốc Pháp,

vua chúa, tay sai, giành độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương

MTTNDTPĐĐD có nhiệm vụ khác hẳn với nhiệm vụ của Mặt trận Dân chủ

trước đó

Tháng 11-1940, Hội nghị Trung ương 7 được tổ chức, xác định kẻ thù,

lực lượng, nhiệm vụ cách mạng Đông Dương Nhiệm vụ, thành phần, chương

trình hoạt động của MTPĐ căn bản giống như Hội nghị Trung ương 6 đã đề

ra, Hội nghị Trung ương 7 đã để cập đến vấn đề vũ trang bạo động đánh đổ đế

quốc và tay sai

Sau khi về nước, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị Trung

ương 8 ở Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 đến 19-5-1941 Hội nghị xác định

Trang 35

nhiệm vụ của cuộc cách mạng lúc này là chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp:

dân tộc giải phóng Hội nghị chủ trương đặt vấn đề dân tộc trong phạm vi

từng nước (Việt Nam, Lào, Campuchia) Đảng quyết định thành lập Mặt trận

Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) Việt Minh chủ trương "liên hiệp

hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai

gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu

cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn" Việt Minh công bố Chương trình, Điều

lệ và Tuyên ngôn Khác với các mặt trận trước đó, Mặt trận Việt Minh không

chỉ là một mặt trận trên chính sách, hành động mà còn là một zmới trận có tổ

chức Trong mối quan hệ về tổ chức, Đảng xác định là một bộ phận trung

kiên, linh hoạt nhất trong Mặt trận Việt Minh

2 Đảng lãnh đạo xây dựng Mặt trận và các đoàn thể quần chúng

2.1 Mặt trận phẩn để 1939-1940

Theo nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, số lượng quần chúng có tổ

chức dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng ở cả ba kỳ có hàng vạn người Ngoài

ra có nhiều quần chúng trong hội tương tế, ái hữu công khai, phường hội ở

nông thôn chịu ít nhiều ảnh hưởng của Đảng Từ khi Đảng ra khẩu hiệu lập

Mặt trận thống nhất phản đế thì nhiều nơi xao nhãng việc tổ chức công hội và

nông hội, chỉ chú trọng lập Hội phản đế cứu quốc Chỉ có Nam Kỳ tổ chức

MTDTTNPĐ thống nhất từ các làng đến tỉnh và dang đi đến thống nhất toàn

XỨ

2.2 Mặt trận Việt Minh 1941-1943

Qua thời gian huấn luyện và tổ chức thí điểm MTVM ở ba châu Hoà

An, Hà Quảng, Nguyên Bình, các tổ chức cứu quốc đã ra đời thu hút hơn

2000 hội viên, gồm đủ các thành phần, lứa tuổi, dân tộc Triển khai Nghị

quyết Trung ương 8, rút kinh nghiệm thí điểm MTVM ở Cao Bằng, công tác

xây dựng MTDTTN được Đảng đẩy mạnh Phong trào Việt Minh được nhen

nhóm ở đồng bằng Bắc Bộ, các tỉnh Trung Bộ từ cuối năm 1941 Nghị quyết

về mặt trận được phổ biến vào trong các nhà tù, trại tập trung thông qua các

đảng viên cộng sản, các hội viên cứu quốc bị bất Nghị quyết vào Nam Kỳ

chậm do giao thông liên lạc khó khăn, địch kiểm duyệt gắt gao

Trang 36

Mạng lưới báo chí rộng lớn của MTVM phát hành trong cả nước là vũ

khí quan trọng hợp đồng tác chiến, truyền bá ảnh hưởng của mặt trận, là một

thế mạnh của MTVM mà các mặt trận trước chưa đạt đến

Phong trào Việt Minh từ các vùng thí điểm lan rộng ra nhiều tỉnh miền

Bắc, miền Trung Nhiều hội cứu quốc xuất hiện (Hà Nội, Hà Đông, Bắc

Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Thanh Hoá, Quảng Bình ) các tổ

chức phản đế, sau khi tiếp thu nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 đã chuyển hướng, xây dựng Mặt trận Việt Minh Trung ương Đảng còn quan tâm chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang - nòng cốt của các chiến khu, chuẩn bị cho cách mạng

Ở Nam Bộ, cuối năm 1941, đầu năm 1942, các tài liệu Việt Minh được

truyền đạt và bắt đầu phổ biến ở một số nơi như ngoại ô Sài Gòn, Chợ Lớn,

Gia Dinh, Hau Giang

2.3 Phong trào Việt Minh và các tổ chức quần chúng 1943 - 9/3/1945

Trước sự chuyển biến của tình hình thế giới, Ban Thường vụ Trung

ương hợp từ 25 - 28/2/1943 đã quyết định mở rộng Mặt trần dân tộc thống nhất chống Nhật - Pháp Sau Hội nghị, bên cạnh sự phát triển của khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng và Tuyên - Thái, công tác xây dựng cơ sở chính trị và phong

trào đấu tranh chính trị ở các tỉnh tiến triển, mạnh nhất là Bắc Kỳ, rồi đến

Trung Kỳ, Nam Kỳ phong trào dần hồi phục nhưng chưa mạnh Đến tháng 3-

1945, Sài Gòn có hàng trăm đảng viên các tổ chức quần chúng trong công

nhân, thanh niên Hai phong trào công khai (thanh niên học sinh) và bí mật

(phong trào công đoàn) là môi trường tốt để rèn luyện, thử thách phát triển

đẳng viên

2.4 Cao trào kháng Nhật, cứu nước từ 9-3-1945 đến tổng khỏi

nghĩa

Ngày 10-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát

động và lãnh đạo cao trào chống Nhật, cứu nước, nhằm tập dượt quần chúng sẵn sàng khởi nghĩa Hội nghị chủ trương phát triển Mặt trận Việt Minh, lập

Trang 37

Mặt trận dân chủ chống Nhật ở Đông Dương, sẵn sàng hưởng ứng quân Đồng minh vào đánh Nhật

Từ sau ngày 9-3-1945, Việt Minh phát triển, lãnh đạo cao trào cách mạng ở hầu khắp các tỉnh Bắc Kỳ, Trung Kỳ Ở Nam Kỳ, lực lượng cách mạng có những bước phát triển mạnh Xứ uy Giải phóng, Xứ uỷ Tiền phong

ra sức củng cố lực lượng Xứ uỷ Tiền phong tổ chức Thanh miên Tiền phong,

một lực lượng công khai, phát triển từ Sài Gòn ra các tỉnh với 1.200.000 đoàn

viên; Trung ương đã cử cán bộ vào thành lập Ban hành động thống nhất, có đại diện của hai Xứ uý để tiến hành khởi nghĩa Trong cao trào chống Nhật

cứu nước, phong trào thanh miên học sinh phát triển mạnh ở Hà Nội, Huế, Sài

Gòn- Chợ Lớn và các tỉnh Nam Bộ

Sự phát triển của Mặt trận Việt Minh và các tổ chức quần chúng đã góp phần to lớn vào cao trào kháng Nhật cứu nước, Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi

Thành công lớn nhất của Đảng trong chính sách mặt trận là đã coi

trọng vấn đề dân tộc trên cơ sở nhận thức đúng đắn, giải quyết tốt mối quan

hệ giữa vấn để giai cấp và vấn đề dân tộc; giữa dân tộc đa số và dân tộc ít người, giữa dân tộc ta và các dân tộc khác trên thế giới trong suốt quá trình

lãnh đạo sự nghiệp cách mạng

Trong công cuộc đổi mới, Đảng không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo cách mạng nói chung và mặt trận nói riêng Trong giai đoạn mới, Mặt

trận Tổ quốc Việt Nam cũng đang đổi mới hoạt động của mình để ngày càng

mở rộng khả năng tập hợp mọi thành phần, lực lượng, tạo nên sức mạnh hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh /

Trang 38

Tiểu ban nghiên cứu lịch sử đẳng

thuộc Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh

Mục đích của chuyên đề là nhằm làm rõ vai trò, sự hoạt động của xứ uỷ

Tiền phong và Xứ uỷ Giải phóng

Chuyên đề gồm 15 trang, bố cục thành 3 phần với những nội dung chính sau đây:

I Bối cảnh lịch sử:

Ngay sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, toàn quyền Đông Dương

đã gửi các bức điện cho Thống đốc Nam Kỳ yêu cầu phải tiến hành đàn áp,

bat bớ, bắn giết tất cá những ai có liên quan đến cuộc khởi nghĩa

_ Do chính sách khủng bố trắng dã man của thực dân Pháp và bọn tay sai

đã làm cho Đảng bộ Nam Kỳ bị tổn thất nặng nẻ Hệ thống tổ chức Đảng từ cấp Xứ đến cơ sở bị phá vỡ gần hết, Bí thư Xứ uỷ bị địch bắt, 4 Liên tỉnh uỷ,

14 tỉnh uỷ, Ban cán sự bị xoá hoặc tê liệt Toàn Nam Kỳ bị bắt tới 90% cán

bộ cách mạng

Mặc dù bị kẻ thù đánh phá ác liệt, một số đồng chí còn lại của Xứ uỷ

và các Liên tỉnh uỷ đã hợp tại nhà bà Nguyễn Thị Châu (huyện Bình Chánh -

Thành phố Hồ Chí Minh) vào tháng 12-1940 để kiểm điểm sự thất bại của

cuộc khởi nghĩa và bàn công tác trước mắt Đến tháng 1-1941 các đồng chí

này lại tổ chức hội nghị mở rộng tại nhà ông Nguyễn Văn Lưu (Cần Giuộc - Chợ Lớn) để lập lại Xứ uỷ Xứ uỷ mới có 9 uỷ viên chính thức và 3 uý viên dự khuyết, do đồng chí Phan Văn Khoẻ làm Bí thư Xứ uỷ đóng tại Sài Gòn, ra

báo Giải phóng để tuyên truyền

Cũng trong thời gian này Xứ uỷ liên lạc được với 3 người là phái viên của Trung ương cử vào Đang gấp rút củng cố, gây dựng cơ sở, chuẩn bị khởi nghiã lần thứ hai thì từ tháng 6 đến khoảng tháng 8-1941, các đồng chí trong

Trang 39

A Xứ uỷ Tiên phong:

1) Quá trình hình thành xứ uỷ Tiền phong:

Khoảng tháng 7-1941, có một số đảng viên bị thực dân Pháp bắt được khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra bị đưa đi giam giữ ở nhà tù Tà Lài đã tìm

cách vượt ngục trở về hoạt động Trong số những đảng viên tổ chức vượt ngục

có các đồng chí: Trần Văn Giàu, Châu Văn Giác, Dương Văn Phúc (Dương

Quang Đông), Tô Ký, Nguyễn Công Trung, Trương văn Nhâm, Đức, Văn Các đồng chí này do không thống nhất với nhau về phương thức hoạt động

nên đã chia làm hai nhớm: một nhóm về Sài Gòn, một nhóm về U Minh

Đồng chí Trần Văn Giàu, Châu Văn Giác được đồng chí Nguyễn Văn

Trấn (Bảy Trấn) đón từ Đà Lạt đưa về U Minh Tại U Minh, đồng chí Trần

Văn Giàu tích cực hoạt động để gây dựng cơ sở đẳng mới

Các đồng chí khác như Dương Văn Phúc, Tô Ký, trở về Sài Gòn tìm

Xứ uỷ cũ thì bị địch bắt trở lại

Tại Sài Gòn, sau một thời gian đi tìm Xứ uỷ cũ không thành, đồng chí Dương Quang Đông, Nhâm, Đức đã lập ra "Ban vận động cách mạng Nam

Kỳ" đề khởi phục lại Xứ uỷ

Từ tháng 5-1943, 20 tỉnh uỷ và Ban cán sự đã được tổ chức lại, Liên

Tỉnh uỷ miền Trung Nam Kỳ, miền Tây, miền Đông được thành lập

Ngày 13 đến 15-10-1943, Hội nghị lập lại Xứ uỷ được tiến hành tại xã Tân Thuận - Chợ Gạo - Mỹ Tho Hội nghị đã bầu ra Xứ uỷ mới gồm 7 đồng

chí, do đồng chí Trần Văn Giàu làm Bí thư, Xứ uý ra báo Tiền Phong

Trang 40

2 Về hoạt động của Xứ uỷ Tiên phong

Trong khoảng thời gian từ tháng 10-1943 đến đầu năm 1945 hoạt động của Xứ uý Tiền phong chủ yếu chú trọng về mặt phát triển tổ chức cơ sở Đảng và kết nạp đẳng viên mới Xứ uỷ Tiền phong không có trụ sở, các đồng chí trong cấp uỷ hoạt động đơn tuyến

Từ tháng 8-1945, hoạt động của Xứ uỷ Tiền phong chủ yếu nhằm xây

dựng và phát triển thực lực cách mạng cho Sài Gòn - Chợ Lớn

Tháng 6-1945, Xứ uỷ Tiền phong lập tổ chức thanh niên Tiền Phong

Tổ chức này đã quy tụ được mọi tầng lốp nhân dân hướng theo sự lãnh đạo

của Đảng

Từ tháng 7-1945 trở đi, Xứ uỷ Tiền phong bắt đầu có sự phân công

nhiệm vụ cho từng thành viên, lập các ban: Uỷ ban khởi nghĩa, Ban thanh tra, Ban quân sự, mở các lớp bồi dưỡng chính trị cho cán bộ, đảng viên Cũng trong thời kỳ này thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, Xứ uy Tiền phong cử

đại diện của mình đến gặp Xứ uỷ Giải phóng để bàn việc hợp nhất nhưng

không thành công

Ngày 15-8-1945, Xứ uỷ Tiền phong lập Uỷ ban khởi nghĩa

Ngày 16-8, Xứ uỷ Tiền phong hợp Hội nghị mở rộng tại chợ Đêm

(Bình Chánh - Thành Phố Hồ Chí Minh) để bàn về việc khởi nghĩa, nhưng

chưa thống nhất được ngày khởi nghĩa ở Sài Gòn

Ngày 21-8, Xứ uỷ lại hợp tiếp Hội nghị quyết định Tân An làm nhiệm

vụ khởi nghĩa "thí điểm"; bàn về tổ chức khởi nghĩa ở Sài Gòn: ngày, giờ,

cách thức khởi nghĩa: chỉ định danh sách Uỷ ban hành chính lâm thời Nam

Kỳ

Từ chiều 24 đến sáng 25-8-1945, Xứ uỷ Tiền phong đã trực tiếp lãnh đạo nhân dân Sài Gòn- Chợ Lớn, Gia Định đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân

Xứ uỷ Tiền phong có đóng góp to lớn vào việc lãnh chỉ đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ.

Ngày đăng: 18/10/2014, 02:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm