Để chuẩn bị kết thúc khoá học lớp đại học tại chức, khoa giáo dục tiểu học đã cho các học viên làm đề tài, trong đó tôi chọn đề tài:”Phát triển kĩ năng viết đoạn mở bài trong bài tập làm
Trang 1Lời cảm ơn!
Để chuẩn bị kết thúc khoá học lớp đại học tại chức, khoa giáo dục
tiểu học đã cho các học viên làm đề tài, trong đó tôi chọn đề tài:”Phát triển kĩ năng viết đoạn mở bài trong bài tập làm văn của học sinh lớp 4”.Tôi làm đề tài này dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Trần Thị Giang- cán bộ giảng dạy Khoa giáo dục Tiểu học Trường Đại học Quy Nhơn Đây là lần đầu tiên trong đời tôi tìm hiểu, nghiên cứu đề tài chính vì thế tôi không thể không mắc phải những sai lầm , khiếm khuyết nhất định Tôi rất mong nhận được sự quan tâm , giúp đỡ của các thầy cô giáo , của các bạn để tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Trần Thị Giang và sự góp ý của các quý thầy cô giáo và các bạn
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Cũng như tất cả các môn học khác ở chương trình tiểu học, môn tiếngViệt, trong đó có phân môn tập làm văn chiếm một vị trí hết sức đặc biệtquan trọng trong chương trình Học tập làm văn học sinh phát huy vốnkiến thức văn học qua các bài tập đọc, vốn từ ngữ qua môn học luyện từvà câu, vốn hiểu biết về cuộc sống xã hội đã học để trình bày và diễnđạt một vấn đề theo cách nói hoặc viết để học tập, giao tiếp trong môitrường hoạt động lứa tuổi
Trong thực tế dạy học, phân môn tập làm văn lớp bốn là một phânmôn hội tụ đầy đủ các yếu tố của quá trình giao tiếp, đồng thờiđánhgiá kết quả học tập và giảng dạy các phân môn khác Học sinh nắmđược ngôn ngữ lời nói cũng là điều kiện thiết yếu của việc hình thànhtích cực hoá nhân cách Mục tiêu của phân môn tập làm văn nhằmtrang bị cho các em những hiểu biết về vốn từ ngữ để các em biếtcách dùng từ, đặt câu thể hiện tư tưởng tình cảm trong khi nói và viếttạo nên câu văn hoàn chỉnh
Từ đó học sinh hiểu giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm,cảm xúc nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác giữa cácthành viên trong xã hội, người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phươngtiện nhưng phương tiện thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ Như vậy tập làm văn mang tính tổng thể và sáng tạo rất lớn chính vìvậy nó là phân môn đặc biệt cần quan tâm Học tốt tập làm văn sẽ giúpcho học sinh học tốt các môn học khác
Muốn học sinh học tốt phân môn tập làm văn thì trước hết giáo viên
Trang 3phải dạy tốt Người giáo viên ngoài vốn kiến thức về văn học, đời sốngxã hội, kiến thức tiếng Việt chắc chắn còn phải luôn tìm hiểu, nghiêncứu, cập nhật chương trình sách giáo khoa để trang bị cho mình kiến thứcvà phương pháp dạy học nhằm đạt được mục đích, yêu cầu của chươngtrình đề ra Trước hết giáo viên phải tìm hiểu nội dung kiến thức mỗilớp, quy trình dạy các kiểu bài đó như thế nào, giáo viên phải xác địnhphân môn tập làm văn và rèn luyện cả bốn kĩ năng :nghe, nói, đọc,viết.Để từ đó định hướng, giúp đỡ học sinh học tốt phân môn tập làm văntrong chương trình tiếng Việt của tiểu học.
Trong một bài tập làm văn thường gồm có ba phần : mở bài , thân bàivà kết luận Mỗi phần đều có vai trò rất quan trọng không thể vắng mặttrong bài văn, nhưng riêng phần mở bài - phần thâu tóm, mở ra toàn bộnội dung của một bài văn là quan trọng nhất Muốn lôi cuốn được ngườiđọc , muốn bài văn phát triển theo chiều hướng tốt đẹp, mạch lạc thì yêucầu ngươiø viết phải có khả năng viết đoạn mở bài thật tốt
Vậy xuất phát từ những tác dụng của phân môn và tầm quan trọngcủa đoạn mở bài trong bài tập làm văn, trong thời gian qua bản thân tôiluôn luôn suy nghĩ và tìm hiểu để có những phương pháp tốt hơn trongquá trình giảng dạy để đạt hiệu quả cao hơn Chính từ suy nghĩ đó tôiquyết định chọn đề tài : “Phát triển kĩ năng viết đoạn mở bài trong bàibài tập làm văn của học sinh lớp 4”
2 Cơ sở của việc dạy tập làm văn ở tiểu học
2.1 Cơ sở tâm lí học
Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp do đó việc dạy tập làmvăn dựa trên kết quả nghiên cứu của nhiều môn khoa học Trong các cơ
Trang 4sở đó, đối với việc dạy tập làm văn ở tiểu học, quan trọng nhất là cáchhiểu biêùt về phương pháp dạy tiếng phổ thông, lí thuyết hoạt động lờinói, ngôn ngữ học, lí luận văn học.
Mọi hoạt động nhận thứccủa trẻ được phát triển đều thông qua hoạtđộng thực tiễn và hoạt động thực tiễn thông qua các mặt hoạt động cụthể để có thể hướng đến một động cơ, một mục đích chung
Có một hành động cũng sẽ hướng tới mục đích cụ thể,có một mụcđích cụ thể cũng hướng đến hành động.Nên nó có hướng hai chiều
Thao tác cũng hướng đến phương tiện và điều kiện ,khi có điều kiệnvà phương tiện rồi ta lại đưa ra thao tác cụ thể
Từ đó định hướng đúng đắn và nhanh chóng trong một hoạt động giaotiếp Phải lập ra chương trình lời nói, nội dung cho phù hợp, tìm ra mộtphương tiện hợp lí để truyền đạt nội dung đó Sử dụng ngôn ngữ hoặcnhiều tranh ảnh để biểu đạt nội dung đó Đảm bảo mối quan hệ qua lạigiữa nội dung hoạt đông và các quan hệ giao tiếp
Có thể nêu sơ đồ theo Tâm lí học tập một, Nhà xuất bản Giáo dục
1988 như sau:
2.2 Cơ sở ngôn ngữ và văn học
Động cơ,mục đích chung
Hành động
Hoạt động cụ thể
Mục đích cụ thể
Trang 5Các phong cách học, ngữ pháp văn bản, ngữ dụng học đều giúp íchnhiều cho tập làm văn.
Các kiểu văn được nghiên cứu ở đây chủ yếu là văn miêu tả và vănkể chuyện
3 Phạm vi đề tài
Do điều kiện có hạn nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu nộidung và phương pháp nhằm: “Phát triển kĩ năng viết đoạn mở bài trongbài tập làm văn của học sinh lớp 4” kết hợp với những kiến thức đã họcvà thực tế giảng dạy ở trường tiểu học ĐakDrông A, huyện Cư Jút, tỉnhĐak Nông để nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này đối tượng nghiên cứu của tôi là : “Phát triển kĩ năngviết đoạn mở bài trong bài tập làm văn của học sinh lớp 4” Các phươngpháp dạy học phù hợp với nội dung này là:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại gợi mở
- Phương pháp luyện tập
- Phương pháp thuyết trình
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề
- Phương pháp thảo luận nhóm
Kĩ năng viết đoạn mở bài ở mỗi loại thể loại văn khác nhau cónhững yêu cầu và nội dung khác nhau Vì vậy chúng tôi không thểnghiên cứu rèn luyện kĩ năng viết đoạn mở bài ở các thể văn vì thời giancó hạn Ở đây chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu kĩ năng viết đoạn văn mở
Trang 6bài trong văn miêu tả ở học sinh lớp 4 Ngữ liệu dùng nghiên để cứu làkhoảng 20 bài tập làm văn của học sinh lớp 4 - trường tiểu họcĐăkDrông A.
Đặc điểm của học sinh ĐăkDông A:
Là học sinh vùng sâu, vùng xa, chủ yếu là người dân tộc thiểu số:Tày, Nùng (chiếm 90%) Aûnh hưởng của phương ngữ và tiếng mẹ đẻ rấtlớn nên các em đọc và viết tiếng Việt còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đếnviệc viết đoạn mở bài chưa được như yêu cầu của chương trình
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu chọn đề tài,chúng tôi đã sử dụng một sốphương pháp sau:
- Phương pháp trò chuyện: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để hỏi,tròchuyện với một số giáo viên có kinh nghiệm dạy tiếng Việt ở tiểuhọc để thu thập những vấn đề tồn tại trong cách viết đoạn mở bài củahọc sinh
- Phương pháp tìm và nghiên cứu tài liệu:Tìm hiểu các tài liệu để thuthập những cách đểrèn kĩ năng viết đoạn mở bài cho học sinh cũng nhưthu thập một số ý kiến và biện pháp của họ về viết đoạn mở bài của họcsinh tiểu học
- Phương pháp nghiên cứu hoạt động của đối tượng: Nghiên cứu vàphân tích mở bài trong văn miêu tả của học sinh để tìm ra cái được vàbiện pháp khắc phục
PH
PHẦN NỘI DUNG
Trang 71 Khái niệm đặc điểm văn miêu tả
Văn miêu tả thường được hiểu là dùng ngôn ngữ để thể hiện lại sự vật,hiện tượng, con người … một cách sinh động, cụ thể như nó vốn có, nhưngvăn miêu tả không phải là sự sao chép chụp ảnh lại thực tế khách quan mànó là kết quả của sự nhận xét, đánh giá, tưởng tượng hết sức phong phú củangười viết, không có sự rung động, không có sự nhận xét tinh tế và dồi dàosức sáng tạo của người viết không thể tạo ra được một văn bản đầy sứcsống tràn ngập hơi thở đời thực Vì vậy, dù miêu tả bất cứ đối tượng nào,văn miêu tả bao giờ cũng là loại văn chứa đầy tình cảm của con người.Bất
kì một hiện tượng nào trong thực tế khách quan cũng trở thành đối tượngcủa văn miêu tả nhưng không phải là bất kì một sự miêu tả nào cũng trởthành văn miêu tả.Khi sự miêu tả lạnh lùng, khách quan, nhằm mục đíchthông báo trí tuệ thì nó không phải là văn miêu tả Văn miêu tả phải làđoạn văn giàu cảm xúc nhằm mục đích thông báo thẩm mĩ Người đọc quavăn miêu tả không phải nhận thức thực tế khách quan bằng con đường trítuệ mà bằng những cảm xúc, những rung động mạnh mẽ của tâm hồnmình
Không phải văn miêu tả nhằm mục đích đơn thuần là”tả để mà tả”màthường là “tả để ngụ tình” để gửi gắm những suy nghĩ, cảm xúc, đánh giácủa con người Dù miêu tả đồ vật, cây cối hay con vật ……tất cả đều chứađựng những tình cảm yêu, ghét, quý trọng hay khinh thị… của người viếtđối với đối tượng đó Có văn bản người viêt bộc lộ trực tiếp,có văn bảnngười viết bộc lộ kín đáo Nhưng dù thế nào chăng nữa người đọc vẫn cóthể nhận ra những thái độ của người viết trong việc miêu tả đó
Đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ của văn miêu tả là sự phong phú ,đa
Trang 8dạng của tính từ.Bởi lẽ,đã nói đến “tả” là phải nói đến đặc điểm ,tính chấtcủa đối tượng miêu tả.Không có một văn bản nào lại không chứa đựng mộtsố lượng đáng kể các tính từ Có thể thấy đủ loại các tính từ: màu sắc, tínhchất, đánh giá……đan xen nhau tạo thành những “chùm sáng lung linh”trongvăn miêu tả.
Văn miêu tả bên cạnh việc sử dụng nhiều biện pháp tu từ đặc biệt là sosánh.Nhờ biện pháp so sánh các sự vật,hiện tượng… trong văn miêu tả trởnên cụ thể hơn, có góc cạnh hơn và đặc biệt thể hiện được một cách rõ nétthái độ đánh giá những tình cảm của người viết đối với đối tượng miêu tả Bên cạnh biện pháp so sánh, biện pháp nhân hoá cũng được sử dụngnhiều, nhất là trong văn miêu tả đồ vật ,miêu tả phong cảnh, cây cối, loàivật
Biện pháp nhân hoá giúp cho đối tượng miêu tả có “hồn” hơn, có sứcsống và gần gũi với người đọc hơn
Trong thực têù, việc xây dựng văn miêu tả thường được đan xen với văntường thuật hoặc văn kể chuyện, vừa tường thuật, vừa miêu tả, thậm chíngay cả trong văn viết thư khi cần người viết vẫn có thể miêu tả một đốitượng nào đó để người đọc có thể hình dung được sự vật, hiện tượng Chínhtính đan quyện này giữa các loại văn làm cho người đọc hứng thú hơn trongviệc tiếp nhận văn bản
2 Văn miêu tả trong dạy học lớp 4
Văn miêu tả trong chương trình lớp 4 có các kiểu bài sau: tả đồ vật, tảcây cối, tả con vật
- Giới thiệu cấu tạo bài văn miêu tả:
* Tả đồ vật:
Trang 91 Bài văn miêu tả đồø vật có ba phần là mởbài, thân bài và kết bài.
2 Có thể mở bài theo kiểu trực tiếp hay gián tiếp và kết bài theo kiểumở rộng hoặc không mở rộng
3 Trong phần thân bài, trước hết nên tả bao quát toàn bộ đồ vật, rồi tảnhững bộ phận có đặc điểm nổi bật
* Tả cây cối: Bài văn miêu tả cây cối gồm có ba phần:
1 Mở bài: Tả hoặc giới thiệu bao quát về cây
2 Thân bài: Tả từng bộ phận của cây hoặc tả từng thời kì phát triểncủa cây
3 Kết bài: Có thể nêu lợi ích của cây, ấn tượng, đặc điểm hoặc tìnhcảm của người tả với cây
* Tả con vật: Bài văn miêu tả con vật thường có ba phần:
1 Mở bài: Giới thiệu con vật sẽ tả
2 Thân bài:
a) Tả hình dáng:
b) Tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật
3 Kết luận: Nêu cảm nghĩ đối với con vật
3 Các kĩ năng viết đoạn mở bài
Nội dung các kĩ năng tập làm văn trau dồi cho học sinh lớp 4 được xâydựng trên cơ sở quy trình sản sinh ngôn bản, cụ thể như sau:
- Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp
+ Nhận diện đặc điểm loại văn bản
+ Phân tích đề bài ,xác định yêu cầu
- Kĩ năng lập chuơng trình hoạt động giao tiếp
+ Quan sát đối tượng
Trang 10+ Tìm ý
- Kĩ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp vàyêu cầu diễn đạt
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
* Các loại bài học
Chương trình tập làm văn lớp 4 được cụ thể hoá trong sách giáo khoatiếng Việt 4 (hai tập)chủ yếu qua hai loại bài học: loại bài hình thành cáckiến thức và loại bài luyện tập thực hành
Chương trình đưa tiết mở bài vào bốn tuần học (mỗi tuần một tiết)
Tuần 11: Mở bài trong văn kể chuyện
Tuần 19: Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả đồ vật Tuần 25: Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây cối Tuần 32: Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài trong bài văn miêu tảcon vật
* Loại bài hình thành kiến thức được cấu tạo theo ba phaàn :
I Nhận xét:
(Phần này bao gồm một số câu hỏi, bài tập gợi ý cho học sinh khảosát văn bản để tự rút ra một số nhận xét về đặc điểm loại văn, kiến thứccần ghi nhớ)
II Ghi nhớ :
(Gồm những kiến thức cơ bản được rút ra từ phần nhận xét)
III Luyện tập:
(Gồm từ một đến ba bài tập thực hành đơn giản nhằm giúp học sinhcủng cố và vận dụng kiến thức tiếp nhận trong bài học)
Trang 11- Loại bài luyện tập thực hành chủ yếu nhằm mục đích rèn luyệncác kĩ năng tập làm văn, do vậy nội dung thường gồm 3-4 bầi tập nhỏhoặc một đề bài tập làm văn kèm theo gợi ý thực hành luyện tập theohai hình thức: nói, viết.
Nội dung các bài tập làm văn ở lớp 4 thường gắn với chủ điểm đanghọc ở các bài tập đọc Qúa trình hướng dẫn học sinh thực hiện các kĩ năngphân tích đề, quan sát, tìm ý, viết đoạn là những cơ sở giúp trẻ mở rộnghiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học Mở rộng vốn sống, rènluyện tư duy , bồi dưỡng tâm hồn,c ảm xúc thẩm mỹ, hình thành nhân cáchcho học sinh
4 Các cách mở bài:
Thông thường trong dạy học tập làm văn có hai cách mở bài,đó là:Mởbài trực tiếp và mở bài gián tiếp
+ Mở bài trực tiếp: Là đi thẳng vào đối tượng cần tả.
Ví dụ:
* Đề bài :Tả cái bàn học ở lớp hoặc ở nhà của em
“Vào đầu năm học mới,bố em tặng cho em một chiếc bàn học mới tinh”
* Đề bài :Tả một cây hoa
“Phòng khách nhà tôi tết năm nay có bày một cây trạng nguyên.Mẹ tôimua cây về trước tết để trang trí phòng khách.Vừa thấy cây trạng nguyênxinh xắn chỉ cao hơn cái thước kẻ học trò mà đã có bao nhiêu lá đỏ rực rỡ,tôi thích quá, reo lên:”Ôi,cây hoa đẹp quá!”
Mở bài gián tiếp: Là mượn đối tượng nào khác tương tự như thế để đi
vào tả đối tượng hoặc dùng đối tượng tương phản để tả đối tượng đượcmiêu tả
Trang 12Ví dụ:
*Đề bài: Tả một cây hoa
“Tết năm nay, bố mẹ tôi bàn nhau không mua quất, hoa đào, hoa maimà đổi màu hoa để trang trí phòng khách Nhưng mua hoa gì thì bố mẹ chưanghĩ ra.Thế rồi một hôm, tôi thấy mẹ chở về một cây trạng nguyên xinhxắn, có bao nhiêu là lá đỏ rực rỡ Vừa thấy cây hoa tôi thích quá reo lên:
“Ôi, cây hoa đẹp quá!”
Ngoài hai cách mở bài trực tiếp hay mở bài gián tiếp thì người viết còncó thể có nhiều cách mở bài khác: Có thể mở bài bằng một câu,mở bàibằng một đoạn văn, câu thơ … nhưng vẫn bám sát vào nội dung của đề bài Nói tóm lại có thể vào đề một cách trực tiếp hay gián tiếp, bằng cáchnhắc lại một câu nói , một tiếng khóc hay tiếng cười…các em cũng phải bámsát vào yêu cầu của đề bài để viết được bài văn với nội dung tốt hơn mangtính nghệ thuật cao
Để học sinh diễn đạt bài văn của mình một cách sinh động có nghệthuật, các em thường được trau dồi qua tiết tập làm văn miệng Qua tiết tậplàm văn miệng các em được thể hiện cách diễn đạt của mình và học tậpđược bạn, được luyện các cách mở bài, kết luận và vận dụng một số biệnpháp nghệ thuật các việc diễn tả nội dung bài
5 Những sai sót của học sinh
Qua việc nghiên cứu một số bài làm của học sinh, tôi có thể nêu ra một
số sai sót mà học sinh thường mắc phải trong khi viết bài:
- Đa phần các em viết đoạn mở bài theo kiểu trực tiếp Tuy đã đượchọc về cách viết đoạn mở bài theo kiểu gián tiếp nhưng các em vẫn hay bịlẫn lộn giữa hai kiểu bài này