1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phê bình văn học trên báo văn nghệ (2000 - 2005)

132 405 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy luận văn chọn đề tài: Phê bình văn học trên báo Văn nghệ 2000 – 2005 nhằm mục đích góp phần nghiên cứu, đánh giá vấn đề phê bình văn học trên báo Văn nghệ trong nền nghiên cứu phê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC THIỆN

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu từ phía nhà trường, các thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu; Phòng sau đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tổ chức, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khóa học này

Các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, truyền thụ tri thức cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại lớp Cao học Lí luận văn học K14, khóa học 2010 – 2012

PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện - người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tận tình hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,… những người đã quan tâm giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành hoàn thành nhiệm vụ này

Tôi xin chân thành cám ơn!

Hà Nội, ngày 07 tháng 07 năm 2012

Người viết

Nguyễn Thị Hương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo - PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện Tôi xin cam đoan: Luận văn là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi Những gì được triển khai trong luận văn không trùng khớp với bất cứ một công trình nghiên cứu của tác giả nào đã công bố trước đó Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 07 tháng 7 năm 2012 Học viên

Nguyễn Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1.2 Sáng tác và phê bình văn học trên báo chí văn nghệ Việt Nam đầu thế kỷ XXI

20

Chương 2 Diện mạo phê bình văn học trên báo Văn nghệ (2000 - 2005) 31

2.1 Các lực lượng tham gia phê bình Những cây bút tiêu biểu 31

2.2 Các loại bài phê bình và các vấn đề học thuật trong phê bình 44 2.2.1 Phê bình văn xuôi và các vấn đề của văn xuôi 45 2.2.2 Phê bình thơ và các vấn đề của thơ 59

Trang 5

PHỤ LỤC Bảng thống kê các bài phê bình tác phẩm văn học

trên báo Văn nghệ (2000 - 2005)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự sôi động của đời sống văn học chúng ta không thể không nói đến tầm quan trọng cũng như vai trò, tác dụng của phê bình văn học Việt Nam Không phải chỉ đối với sáng tác mà còn đối với công chúng văn học, đối với tư tưởng và văn học nói chung Phê bình văn học là một bộ phận khăng khít của đời sống văn học Nó không những là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học cũng như những hiện tượng đời sống tác phẩm đề cập tới mà nó còn tác động đến đời sống văn học, định hướng tiếp nhận của độc giả, cổ vũ sáng tác Như vậy, phê bình giữ một vị trí quan trọng và có vai trò rất lớn trong hoạt động văn học

Được coi là một thể loại không thể thiếu trong nền văn học hiện đại, phê bình văn học Việt Nam đã được hình thành từ những thập niên đầu của

thế kỷ XX Trên báo Nam Phong đã xuất hiện những bài phê bình của Phạm Quỳnh, trên báo Phụ nữ tân văn những bài phê bình và những lời bàn về thể loại mới mẻ này của Phan Khôi, trên Ngọ báo những bài của Thái Phỉ Đặc

biệt, đã xuất hiện một vài tác phẩm vừa có tính khảo cứu, vừa có tính phê

bình của các tác giả như Lê Thước (Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ), Tr.Th và N.K (Những áng văn hay) Điều này cho thấy ngay từ buổi

đầu hình thành, phê bình văn học đã có mối “duyên nợ” với báo chí Nói như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: “Phê bình gắn với báo chí như cá với nước Báo chí là môi trường sống và hoạt động của phê bình” - là một sự nhìn nhận rất đúng đắn

Thực tế cho thấy, với sự phát triển của báo chí, phê bình văn học đã có thêm diễn đàn để phát huy vai trò trong đời sống văn học Hoạt động phê bình trên báo chí đã mở rộng hiệu ứng xã hội của tác phẩm văn học và tạo nên một

Trang 7

“trường” đặc biệt của dư luận xã hội về tác phẩm Thông qua đó, xã hội nói lên sự mong đợi của mình với sáng tác Tiếp nhận ý kiến của những nhà phê bình trung thực, nhà văn có thể mở rộng nhãn quan nghệ sĩ, tự điều chỉnh hoạt động sáng tác và hoàn thiện tài nghệ của mình Lịch sử phê bình văn học nước ta cũng đã ghi nhận rằng những nhà phê bình nổi tiếng đều được rèn luyện qua việc thao dượt ngòi bút trên mặt báo Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều, Trương Tửu, Lê Thanh… đều đã được công chúng biết đến như những người viết phê bình và người tham gia những cuộc tranh luận trên báo chí Có thể nói, phê bình văn học trên báo chí trở thành “kênh” chủ đạo chuyển tải dư luận về văn học, đồng thời trở thành nhân tố tác động đến dư luận xã hội

Phê bình văn học trên báo chí nói chung những năm đầu thế kỉ XXI đã diễn ra với nhiều hình thức phong phú, đề cập rất nhiều vấn đề của đời sống văn học và của chính phê bình Tuy không phải lúc nào cũng sôi động và chất lượng nhiều bài phê bình còn hạn chế nhưng vẫn theo khá sát đời sống văn học Số lượng bài phê bình trên báo chí là rất lớn, đặc biệt là những tờ báo

chuyên về Văn nghệ như Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, báo Văn Nghệ quân đội Chỉ tính riêng số bài phê bình tác phẩm trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam giai đoạn từ

năm 2000 đến năm 2005 theo thống kê đã có gần 500 bài

Trong những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI cũng đã có những

công trình chạm đến phê bình văn học trên báo chí như: Tao Đàn 1939 – Sưu tầm trọn bộ (PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện, Nxb Văn học, 1998); Tạp chí Tri Tân 1941-1945 Phê bình văn học, Sưu tập tư liệu (Trịnh Bá Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn biên soạn, Nxb Hội Nhà văn, 1999); Tranh luận Văn nghệ thế kỉ XX

- Tập 1, 2 (PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện, Nxb Lao động, 2003) Ngoài ra còn

Trang 8

có loại sưu tầm sáng tác trên tạp chí hoặc báo Văn nghệ như: Sưu tập tạp chí Văn nghệ 1948 – 1954 (Hữu Nhuận, Nxb Hội Nhà văn, 2006)

Tuy nhiên, những công trình kể trên mới chỉ là những công trình mang tính chất sưu tầm và nghiên cứu bước đầu Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện về phê bình văn học trên báo chí nói chung đặc biệt là với những tờ báo chuyên về văn nghệ

Trong số những trang báo là đất cho phê bình văn học nở hoa phải kể

tới báo Văn nghệ (từ 1978) của Hội Nhà văn Việt Nam Là một trong những

tờ báo có vị thế trong làng báo chí Việt Nam, báo Văn nghệ của Hội Nhà văn

Việt Nam đã mang lại cho độc giả yêu văn học một luồng sinh khí vừa mới vừa lạ Nhiều mảng thể loại khác nhau được thể nghiệm và để lại những dấu

ấn tốt đẹp trong lòng bạn đọc Trong sự đa dạng về thể loại cũng như về phong cách thuộc các mảng khác nhau của đời sống văn học như sáng tác, khảo cứu, biên soạn… khi đến với tờ báo này độc giả yêu văn học còn biết đến phê bình văn học như là một chuyên mục và không thể không khám phá

Với những gì đã cống hiến hơn 30 năm qua, báo Văn nghệ của Hội nhà văn

Việt Nam đã mang đến cho phê bình văn học Việt Nam những định hướng và đóng góp quan trọng Tuy nhiên, đi vào nghiên cứu, đánh giá toàn diện vấn đề

phê bình văn học trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam dù chỉ là ở

một giai đoạn nào đó thôi thì chưa có một công trình khoa học nào

Vì vậy luận văn chọn đề tài: Phê bình văn học trên báo Văn nghệ (2000 – 2005) nhằm mục đích góp phần nghiên cứu, đánh giá vấn đề phê bình văn học trên báo Văn nghệ trong nền nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam

đương đại, ghi nhận những đóng góp của một tờ báo - người bạn đồng hành của văn học Việt Nam ở một phương diện không thể thiếu của đời sống văn

học nước nhà Hơn nữa, báo Văn nghệ là một diễn đàn quan trọng với những

Trang 9

cây bút phê bình luôn được người đọc chờ đợi Với đề tài Phê bình văn học trên báo Văn nghệ (2000 – 2005), luận văn sẽ là công trình khoa học đầu tiên cày xới mảnh đất phê bình văn học trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt

Nam, góp phần hoàn chỉnh về bức tranh phê bình văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu, đánh giá phê bình văn học trên báo Văn nghệ của Hội

Nhà văn Việt Nam từ năm 2000 đến 2005 là một việc làm có ý nghĩa lí luận

và thực tiễn:

- Sưu tầm và phân loại những bài viết phê bình tác phẩm trên báo Văn nghệ từ năm 2000 đến năm 2005 nhằm cung cấp thư mục tư liệu gốc

- Mô tả diện mạo phê bình văn học, phân tích nội dung các vấn đề đặt

ra của phê bình: Các lực lượng tham gia phê bình, các loại bài phê bình và các vấn đề học thuật trong phê bình, các phương pháp phê bình

- Đánh giá tình hình phê bình văn học về các mặt thành tựu và giới hạn

- Bàn thêm về những định hướng và đóng góp quan trọng, có ý nghĩa thiết thực cho hoạt động phê bình văn học hiện nay nói chung, hoạt động phê bình văn học trên báo chí nói riêng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Sưu tầm, thống kê và phân loại, khảo sát các bài phê bình văn học trên

báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2005 về các

tác phẩm của bốn thể loại chính: Tiểu thuyết, Truyện ngắn, Ký và Thơ

Phác hoạ diện mạo phê bình văn học trên báo Văn nghệ giai đoạn 2000

– 2005 Tìm hiểu, phân tích các vấn đề đặt ra trong các bài phê bình tác phẩm

văn xuôi và tác phẩm thơ trên báo Văn nghệ từ năm 2000 đến năm 2005

Nhận định khái quát về thành tựu và giới hạn của phê bình văn học trên

báo Văn nghệ (2000 – 2005)

Trang 10

Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để phê bình văn học trên báo chí ngày càng hoàn thiện hơn, tờ báo ngày càng có uy tín hơn trong đời sống văn học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu:

Phê bình văn học trên báo Văn nghệ (2000 – 2005)

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Chủ yếu: Các bài phê bình tác phẩm văn học hướng đến các tác phẩm thuộc các thể loại: Tiểu thuyết, Truyện ngắn, Ký và Thơ được đăng trên các

số báo từ năm 2000 đến hết năm 2005

+ Ngoài ra: Các bài tiểu luận, nhận định được đăng trên các số báo trong giai đoạn này

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu nói trên, luận văn sử các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân loại, thống kê

- Phương pháp lịch sử

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn:

Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu, khái quát, trình bày rõ nét tư duy

nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn

Việt Nam trong một giai đoạn cụ thể

Luận văn cung cấp đầy đủ thư mục tư liệu gốc, đáng tin cậy về các bài

phê bình tác phẩm văn học Việt Nam trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn

Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005 với bảng thống kê các loại bài phê bình tác phẩm văn xuôi và tác phẩm thơ

Trang 11

Luận văn có những nhận xét, đánh giá có ý nghĩa thiết thực góp phần gợi ý để hoạt động phê bình văn học hiện nay nói chung, phê bình văn học trên báo chí nói riêng, phát huy vai trò thẩm định tác phẩm, hướng dẫn dư luận xã hội của phê bình văn học

7 Cấu trúc luận văn

Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, ngoài phần mở đầu và phần kết luận nội dung luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Phê bình trên báo chí văn nghệ Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay

Chương 2: Diện mạo phê bình văn học trên báo Văn nghệ (2000 – 2005)

Chương 3: Những thành tựu và giới hạn của phê bình văn học trên báo Văn nghệ (2000 – 2005)

Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRÊN BÁO CHÍ VĂN NGHỆ VIỆT NAM

TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN NAY 1.1 Nhìn lại phê bình văn học trên báo chí văn nghệ thế kỉ XX

Phê bình văn học là một bộ phận không thể tách rời trong đời sống văn học Việt Nam Cùng với văn học từ thế kỷ XI, với các bài bi, ký, tự, bạt, thư, luận, song song với các tập tuyển chọn, sưu tập hoặc các truyện, thi thoại, đề vịnh, xướng hoạ phê bình văn học cổ điển Việt Nam đã xuất hiện, nhưng mang tính chất tản mạn, chưa có tính tự giác cao và chưa bao giờ hình thành một lĩnh vực đủ mạnh để tồn tại độc lập và có nhà chuyên môn riêng Phải sang đầu thế kỷ XX thì phê bình văn học mới chính thức ra đời và được thừa nhận như là “một thể loại mới” chưa từng có Nó trở thành một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt, mang tính hiện đại, đóng góp tích cực vào quá trình hiện đại hoá nền văn học dân tộc Một trong những yếu tố quan trọng mà số phận của hoạt động phê bình văn học không thể tách rời là báo chí và xuất bản Bước sang thế kỷ XX hoạt động báo chí đã phát triển rầm rộ tạo thành môi trường thuận lợi cho phê bình văn học

1.1.1 Nửa đầu thế kỉ XX (1900 – 1945)

Lịch sử phê bình văn học Việt Nam nói chung, phê bình trên báo chí

văn nghệ nói riêng có thể nói bắt đầu từ Đông Dương Tạp Chí (1913) và Nam Phong Tạp Chí (1917) Với sự ra đời của của hai tạp chí này, tình hình

phê bình văn học đã thay đổi

Từ 1913 với Đông Dương Tạp Chí, và 1917 với Nam Phong Tạp Chí,

phê bình văn học có hai khuynh hướng Thứ nhất là khuynh hướng tìm lại

Trang 13

những giá trị cũ của văn hóa dân tộc trong đó có Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Ngọc, Lê Thành Ý, Dương Quảng Hàm, Lê Thước, Trần Trung Viên, Bùi Kỷ Thứ hai là khuynh hướng giới thiệu tư tưởng, học thuật của Tây phương, tiêu biểu có Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh Tuy trong thời kỳ này chưa xuất hiện những nhà phê bình văn học chuyên nghiệp, nhưng hai khuynh hướng trên đã đặt nền móng, góp phần tích cực cho sự đổi mới của ngành phê bình văn học ở giai đoạn sau

Bên cạnh việc hình thành ý thức văn học dân tộc về thể loại, ngôn ngữ,

về tác giả, về văn bản, nhu cầu thẩm định, phẩm bình cũng xuất hiện Đông Dương Tạp Chí có mục Phê bình sách mới, và Nam Phong Tạp Chí với

những bài “phê bình theo lối mới của Thái Tây” Đã xuất hiện các công trình

khảo cứu, sưu tập sáng giá Tác phẩm Việt Hán Văn Khảo (1918) của Phan

Kế Bính được viết theo quan niệm văn chương cổ nhưng súc tích và ngắn

gọn, lúc đầu đăng từng phần trên Đông Dương Tạp Chí, sau do Trung Bắc

Tân Văn tập hợp xuất bản thành sách năm 1930 Tác phẩm chủ yếu nói về

thể cách văn chương và phép làm văn Phan Khôi, với những bài viết về Nam

âm thi thoại, lúc đầu đăng trên báo sau này tập hợp lại thành sách mang tên Chương Dân Thi Thoại (1936), bình thơ theo phương pháp cổ điển

Những bài viết lúc đầu xuất hiện trên báo chí rồi được tập hợp lại thành tác phẩm được in thành sách nói trên phần nhiều còn sơ lược, cách nhận định, đánh giá đều không đi ra ngoài khuôn khổ ngữ văn học cổ điển Tư duy diễn dịch, luận giải và biên khảo là điểm nổi bật về phương pháp tiếp cận và trình bày của các bài báo, tác phẩm này Nó nhằm góp phần định hướng cơ sở tư tưởng học thuật, tác động vào thực tiễn sáng tác văn học đương thời, ghi nhận những thành tựu của truyền thống văn học dân tộc, khai mở sự vận động của các khuynh hướng văn học để có thể hội nhập vào trào lưu chung hiện đại hoá theo phương Tây đang rầm rộ trong khu vực

Trang 14

Có thể nói, trong buổi đầu hình thành, thể tài phê bình văn học dù còn

sơ giản nhưng những người hoạt động trên lĩnh vực này đã gắng sức đáp ứng yêu cầu phát triển đồng bộ của các thể loại văn học Việt Nam hiện đại

Sau Nam Phong Tạp chí và Đông Dương Tạp chí, tạp chí Tao Đàn

cũng đã góp phần không nhỏ làm nên sự khởi sắc của phê bình văn học những

năm đầu thế kỷ XX Tạp chí Tao Đàn ra mắt số đầu tiên vào ngày 1.3.1939

Vì là tờ báo chuyên về văn học nghệ thuật nên trong số 96 trang nội dung của

Tao Đàn cũng được bày biện khá đầy đủ với 3 lĩnh vực: Nghị luận và khảo cứu - Nghệ thuật - Tạp kỹ, hàm chứa trong đó đủ các thể tài, thể loại cả trong

và ngoài nước, từ cổ chí kim

Phần Nghị luận, khảo cứu, tạp chí đăng tải các bài tiểu luận khai thác, giới thiệu tinh hoa văn hoá dân tộc qua văn học dân gian người Kinh và dân tộc thiểu số (các bài của Phan Khôi, Lâm Tuyền Khách – bút danh khác của Lan Khai); về văn học cổ điển viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (do Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Trọng Thuật, Ngô Tất Tố, Phú Hương…); về văn chương hiện đại (Trương Tửu, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Trúc Đường) Mảng chân dung văn học của các nhà thơ cổ điển, tác giả văn học hiện đại có những bài viết sinh động về Nguyễn Công Trứ, Hội Tao Đàn đời Lê, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng

Về lĩnh vực nghiên cứu Văn hóa - Nghệ thuật đáng chú ý là các bài

“Nghệ thuật với văn hóa”, bài “Văn học chữ Hán ở nước ta” (Thiều Quang, Phan Khôi, số 1/1939), “Một nền văn chương Việt Nam” (Nguyễn Triệu Luật,

số 2/1939), “Bàn qua về nghệ thuật” (Lan Khai, số 7/1939), “Tục ngữ phong dao” (Phan Khôi, số 10/1939)… Tao Đàn cũng đã gây được sự quan tâm của công luận bởi những bài có tính phản biện cao Những tranh luận, đôi khi rất nảy lửa, trải rộng trên nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề học thuật, điển hình

là các bài: “Đôi lời bàn thêm cùng ông Bùi Công Trừng” (Trần Thanh Mại,

Trang 15

Ngô Tất Tố, Lưu Trọng Lư số 3/1939), “Sau khi xem bài ông Phan Khôi: Tại sao quốc văn chậm phát triển?” (Nguyễn Hữu Chương, số 4/1939), “Thiên chức của văn sỹ Việt” (Lan Khai, số 5/1939), “Lại nói về quyển An Nam chí lược của Lê Tắc trả lời ông Huỳnh Thúc Kháng”, bài “Thành thực và tự do trong văn chương”, bài “Bàn qua về nghệ thuật” (Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Bùi Công Trừng số 6/1939), bài “Văn chương dân chúng” (Lê Chí Thiệp, Tô Vệ, số 7/1939)… Càng những số sau, không khí phản biện, tranh luận càng đậm đặc

Là một tạp chí ra hàng tháng, định kỳ, song Tao Đàn vẫn chú ý đến những bài viết ngắn gọn trong phần Tạp kỹ, trong mục Điểm sách, Giới thiệu sách mới, Thư cho bạn Với tác giả trẻ, Tạp chí dành một sự ưu ái trong phê

bình, thư từ trao đổi

Có thể nói, chỉ với một năm tồn tại, phát triển (1.3.1939 – 12.1939),

trong bối cảnh chính trị xã hội hết sức rối ren, đen tối, Tao Đàn vẫn vụt lên

như một viên ngọc bé nhỏ nhưng hào quang rực sáng, gây những ấn tượng khó phai trong lòng bạn đọc đương thời, để lại nhiều bài học quí giá cho hậu

thế Và công trình Tao Đàn 1939 - Sưu tập trọn bộ do hai nhà nghiên cứu

Nguyễn Ngọc Thiện (Chủ biên) và Lữ Huy Nguyên thực hiện, Nhà xuất bản

Văn học ấn hành năm 1998 là minh chứng khẳng định giá trị của Tạp chí Tao Đàn đối với sự phát triển của phê bình văn học

Trong số những cơ quan báo chí khác có vai trò quan trọng đối với sinh hoạt văn hoá và học thuật Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX, người ta không thể

không kể tới tạp chí Tri Tân (1941 - 46) Tiếp nối những cuộc tranh luận, những cuộc bút chiến trong khắp các tạp chí trước đó: Nam Phong, Tao Đàn, Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn… với những tên tuổi gắn liền với phê bình văn

học qua các thời kỳ: Phạm Quỳnh , Phan Khôi, Ngô Đức Kế ; bàn luận về

Trang 16

những mảng còn bỏ ngỏ, chưa đi đến kến luận đích đáng và đầy đủ, thì bước

sang giai đoạn này, Tri Tân tạp chí đã gần như hoàn thành sứ mệnh của mình

Tri Tân xuất bản số đầu tiên vào ngày 3.6.1941, là một trong những tạp

chí gây tiếng vang lớn giữa thế kỷ XX với nhiều mảng thể loại khác nhau được thể nghiệm, trong đó đáng chú ý là mảng phê bình văn học

Trên Tri Tân có một số trang đáng kể dành cho phê bình văn học Về mặt này, Tri Tân đã là nơi trưởng thành của một số tác gia phê bình như Lê

Thanh Kiều Thanh Quế, nơi xuất hiện những bài viết sớm của những tên tuổi

mà sau đó rất nổi tiếng như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, v.v…

Trên Tri Tân đã có những bài phê bình nhiều tác phẩm mới ra đời, từ thơ ca (như Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Hương cố nhân của Nguyễn Bính, Thi văn tập của Phan Mạnh Danh); kịch bản và sân khấu kịch (như Đồng bệnh của Khái Hưng, Vân Muội của Vũ Hoàng Chương, Kinh Kha và Ông ký Cóp của Vy Huyền Đắc, Bóng giai nhân của Nguyễn Bính và Yến Lan, Ghen của Đoàn Phú Tứ), truyện và ký (như Thiếu quê hương, Vang bóng một thời, Tuỳ bút của Nguyễn Tuân, Nắng thu của Nhất Linh, Mực mài nước mắt của Lan Khai, Kinh cầu tự của Huy Cận, Quê người của Tô Hoài, Chân trời cũ của Hồ Dzếnh, Bảy Hựu của Nguyên Hồng,…) đến nghiên cứu biên khảo (như Việt Nam văn học, Văn học đời Lý của Ngô Tất Tố, Thi nhân Việt Nam 1932-1941 của Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi sĩ Trung Nam, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, Hàn Mạc Tử của Trần Thanh Mại, v.v…)

Trên Tri Tân cũng có không ít những thảo luận về thơ, ví dụ về luật

thơ, về các thể thơ, nhất là những vấn đề được đặt ra từ những cách tân của phong trào thơ mới; có những tranh luận về nhiều nội dung văn học sử Việt Nam, phác thảo diện mạo nhiều mảng văn học; có những thảo luận về ranh

Trang 17

giới giữa vay mượn, phóng tác và “đạo văn” (nhân so sánh bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư với một bài thơ Nhật Bản, so sánh kịch Ghen của Đoàn Phú Tứ với Jalousie của S.Guitry, v.v…), những ý kiến phê phán không khoan

nhượng trước những sai phạm về dịch thuật, về những khuynh hướng được xem là có hại cho công chúng

Giới văn học chú ý đến những lối viết trên tạp chí Tri Tân không chỉ ở

trình độ học thuật, tầm bao quát vấn đề, mà cốt lõi là họ đã mở ra những hướng đi mới về phê bình cũng như phương pháp nghiên cứu văn học

Những bài phê bình trên tạp chí Tri Tân đặc biệt là những bài phê bìnhcủa Lê Thanh đã có tác dụng không chỉ là sự đóng góp về mặt phương pháp, hơn hết còn có thể coi là một tuyên ngôn trong phê bình văn học

Thời gian tuy đã phủ bụi trên các bài viết, nhưng với những gì đã cống

hiến, tạp chí Tri Tân đã mang đến cho phê bình văn học Việt Nam những định

hướng và đóng góp quan trọng về học thuật Nếu như biết kế thừa và đổi mới những thành tựu đã có trước đó để xây dựng nền phê bình văn học cho hiện tại và tương lai, thì nền học thuật nước nhà sẽ có nhiều cơ hội hơn

Cùng với hoạt động báo chí sôi động trong những năm đầu thế kỷ XX, các cuộc tranh luận văn học xuất hiện liên tục, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành đời sống phê bình và các thể loại phê bình văn học Có thể kể tới các cuộc tranh luận văn học có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu tư duy lý

luận, phê bình trong giai đoạn này: tranh luận về Truyện Kiều; tranh luận Thơ mới/Thơ cũ; tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “Nghệ thuật vị nhân sinh” và cuộc tranh luận “Dâm hay không Dâm” trong tác phẩm của Vũ

Trọng Phụng Báo chí văn nghệ đã rất kịp thời theo sát phản ánh, đăng tải khiến cho đời sống phê bình văn học trở nên sôi nổi, thu hút được nhiều sự quan tâm và ghi dấu ấn quan trọng trong sự phát triển của phê bình văn học

Điểm qua tình hình phê bình văn học ở một số mặt báo như trên chúng

Trang 18

ta có thể nhận thấy rằng hoạt động báo chí sôi nổi đã hình thành đời sống phê bình và thể loại phê bình văn học, điều đó đã tạo ra một môi trường văn học cần thiết để phê bình văn học tự đổi mới và tác động mạnh mẽ vào việc đổi mới của các thể loại khác như tiểu thuyết, kịch, thơ…

hướng dân chủ mới và xã hội chủ nghĩa Đề cương văn hoá Việt Nam của

Đảng Cộng sản Đông Dương là văn kiện chính thức về đường lối lãnh đạo văn nghệ của Đảng Trong tình hình mới, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn hết sức quan tâm đến công tác báo chí nói chung, báo chí văn nghệ nói riêng Chính vì thế, báo chí vẫn là địa hạt của phê bình văn học Tuy nhiên, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, báo chí còn ít ỏi, điều kiện in ấn và phát hành không ổn định, chưa kịp thời và rộng khắp Vì vậy, tình hình phê bình văn học trên báo chí văn nghệ gặp không ít khó khăn

Tờ báo văn nghệ cách mạng đầu tiên là tạp chí Tiên Phong, cơ quan

ngôn luận của Hội văn hoá cứu quốc, được thành lập theo chủ trương Đảng đề

ra trong Đề cương văn hoá Việt Nam Tiên Phong là nơi tập hợp văn nghệ sĩ,

trí thức văn hoá, hướng hoạt động của giới trí thức dân tộc vào việc xây dựng một nền văn hoá mới trên đất nước vừa thoát khỏi ách thống trị thực dân Định hướng “khoa học, đại chúng, dân tộc” của nền văn hoá mới mà Đảng đề

ra trong Đề cương về văn hoá Việt Nam (1943), và quan điểm của chủ nghĩa

Mác: “Văn hoá khi đã đi sâu vào đại chúng cũng tác động như một sức mạnh

Trang 19

vật chất” được nêu bật trên bìa mỗi số Tiên Phong

Với tạp chí Tiên Phong, đáng chú ý là ngay từ những số đầu tiên đã đăng toàn văn Đề cương về văn hoá Việt Nam (Tiên Phong số 1/1945) và bài

viết “Mấy nguyên tắc của cuộc vận động văn hoá Việt Nam mới lúc này”

(Tiên Phong số 2/1945)của đồng chí Trường Chinh phân tích thực trạng đen

tối của văn hoá Việt Nam đương thời cùng việc cấp bách thực hiện cuộc vận động xây dựng nền văn hoá mới Tuy nhiên, qua tác phẩm phê bình, nghị luận hoặc bài viết, một số cây bút tỏ bày những điều băn khoăn, thiếu tin tưởng,

lạc lõng, xa lạ với thời cuộc, chưa nhất chí với tinh thần cơ bản của Đề cương Trên tạp chí Tiên Phong, liền trong 3 số (2, 3 và 6), dưới bút danh Thanh

Bình với bài viết “Tương lai văn nghệ Việt Nam”, Đặng Thai Mai đã tập trung phê phán những luận điểm huyễn hoặc, giả cấp tiến, đao to búa lớn của Trương Tửu Ông khẳng định sự quan thiết, cần xem trọng vấn đề dân tộc trong thực tiễn văn nghệ lúc này Ngoài ra, những bài viết của Nguyễn Huy Tưởng, Hồng Lĩnh, Nguyễn Đình Lạp… cũng góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng nền văn nghệ mới và nền phê bình văn học mới theo định hướng dân chủ mới và xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh đó, một số bài điểm bình tác phẩm của thời kỳ văn học mới

cũng xuất hiện trên tạp chí Tiên Phong như bài “Nhân xem quyển Nguyễn” (Triều Mai, số 7/1946), bài “Hai bài thơ (Tổng… bất đình công; Một cuộc biểu tình)” (Gió Mai, số 7/1946), bài “Một bài thơ cách mạng” (Xuân Diệu,

số 8/1946), bài “Đọc sách Chùa Đàn” (Thời Nhân, số 20/1946), bài “Ngục KonTum” Lê Văn Hiến (Hoài Thanh, số 24/1946) Những bài viết như vậy

tuy xuất hiện không nhiều nhưng cũng góp phần khẳng định nền phê bình văn học non trẻ của nước Việt Nam độc lập vẫn hiện diện, từng bước phát triển với những cố gắng đáng ghi nhận

Sau khi tạp chí Tiên Phong đình bản, mãi đến tháng Ba năm 1948, trên

Trang 20

cả nước, Tạp chí Văn nghệ - cơ quan ngôn luận của Hội văn nghệ Việt Nam, mới ra số đầu tiên Sau nhiều lần thay tên đổi chủ, sát nhập, trở thành tờ Văn nghệ chung của cả nước

Tạp chí Văn nghệ ra đời vào những năm kháng chiến chống Pháp là sự tiếp nối tạp chí Tiên Phong Với sự nỗ lực của tập thể toà soạn do các nhà văn

có uy tín đứng đầu, với các thư ký toà soạn là những cây bút dày dạn kinh nghiệm làm báo cùng sự tham gia, hưởng ứng tích cực của các cộng tác viên

là các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp thuộc các ngành nghề, những cây bút mới xuất hiện từ các tầng lớp nhân dân các dân tộc, trong quân đội… Tạp chí đã duy trì, giới thiệu một tập hợp bài vở, tin tức mới mẻ, phong phú và sinh động, bám sát định hướng tư tưởng và nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng, đi sâu vào những vấn đề thiết thực của sáng tác văn nghệ Các bài nghiên cứu, phê bình, tham gia thảo luận, tranh luận học thuật tại các Hội nghị tranh luận của giới văn nghệ được tạp chí kịp thời phản ánh như: Tranh luận về thơ, về kịch, về văn nghệ bộ đội… góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh xung quanh mối quan hệ giữa văn nghệ và đời sống Tạp chí cũng kịp thời giới thiệu với công chúng những sáng tác mới, phát hiện, giới thiệu, phê bình những sáng tác đầu tay của những tài năng trẻ xuất hiện từ cơ sở khắp các vùng miền trên cả nước Đặc biệt, đã khẳng định các thành tựu văn học cách mạng, văn học vô sản, những sáng tác của công nông binh

Tuy nhiên, trong điều kiện kháng chiến đất nước gặp nhiều khó khăn, điều kiện in ấn không thuận lợi, thời gian dành cho sáng tác, biên tập bài vở không nhiều, lại bị chia cắt tản mạn bởi những công tác sự vụ, đời thường Các bài lý luận, phê bình còn quá ít ỏi, còn nhiều nhận định chủ quan nông

nổi Tố Hữu đã phải nhận xét là tạp chí Văn nghệ “chưa làm tròn nhiệm vụ

của nó với tư cách là cơ quan đấu tranh, cho nên các bài lý luận, phê bình còn

quá ít ỏi, còn nhiều nhận định chủ quan nông nổi” (Tố Hữu – Xây dựng một

Trang 21

nền văn nghệ lớn, xứng đáng với nhân dân ta, với thời đại ta Nxb Văn học,

H, 1973, tr.74) Nhưng dù sao chúng ta cũng không thể phủ nhận Tạp chí (rồi

báo) Văn nghệ của Hội văn nghệ Việt Nam vẫn là một diễn đàn tiêu biểu, có

sức thu hút cao để văn nghệ sĩ tâm huyết trao đổi, luận bàn về những vấn đề

thiết cốt sáng tạo, lý luận, phê bình Và công trình Sưu tập Tạp chí Văn nghệ (1948 – 1954) gồm 6 tập, Hữu Nhuận sưu tầm đã ghi nhận những thành quả

của văn ghệ kháng chiến chống Pháp, trở thành một nguồn tư liệu quý đối với giới nghiên cứu, phê bình văn học nước nhà

Bên cạnh tạp chí Tiên Phong và Văn nghệ, ở một số địa phương, vùng miền cũng ra được tạp chí văn văn nghệ của khu, miền như: Lúa mới (Liên khu III), Sáng tạo, Thép Mới (Liên khu IV), Lá lúa, Văn nghệ Nam Bộ (Nam Bộ), Văn nghệ Liên Khu V nhưng kỳ báo ra thất thường, chủ yếu đăng sáng

tác, tin tức, mảng bài phê bình còn quá ít ỏi

Có thể nói, phê bình văn học trên báo chí văn nghệ nói riêng, phê bình văn học nói chung giữa thế kỷ XX là trầm lắng Chúng ta muốn phát triển nền phê bình phải có đội ngũ những người phê bình chuyên nghiệp đi đôi với một thực tiễn sáng tác phong phú, dồi dào có đủ đất cho phê bình tác nghiệp Nhưng ở cả hai phương diện nói trên chúng ta đều thiếu và yếu Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động phê bình, làm cho nó chưa đáp ứng được yêu cầu mà nền văn nghệ mới và công chúng đang đòi hỏi Năm 1948, đồng chí Trường Chinh đã có nhận xét thẳng thắn về tình hình phê bình văn nghệ những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp: “Không có phê bình, không có luận chiến, phong trào văn nghệ nước ta êm đềm quá, trầm mặc quá Nó như con ngựa đi bước một, rũ cổ xuống đất, thiếu một cái roi phê bình quất cho nó

lồng lên” (Về văn hoá và nghệ thuật, Tập I, Nxb Văn học, H, 1985, tr.116) Mấy năm sau, trong Báo cáo trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II

(2/1951), đồng chí Tố Hữu nhận định: “Chúng ta còn thiếu một văn chương

Trang 22

phê bình chắc chắn… để dẫn dắt cho những người công tác văn nghệ Một số bài phê bình rải rác trên các báo còn thiếu thái độ chân thành, nên chưa gây được một không khí náo nhiệt trong văn nghệ Việc phê bình hãy còn là công việc của một số người quan tâm đến văn nghệ, chưa thành một phong trào

quần chúng rộng rãi có lãnh đạo hẳn hoi” (Tố Hữu – Xây dựng một nền văn nghệ lớn, xứng đáng với nhân dân ta, với thời đại ta, Nxb Văn học, H, 1973,

tr.74) Dù vậy, phê bình văn học đặc biệt là phê bình văn học trên báo chí văn nghệ vẫn cố gắng bám sát đời sống văn học, khẳng định các thành tựu văn học cách mạng, đấu tranh, phê bình chống lại các hiện tượng đi ngược lại đường lối văn học cách mạng của Đảng, xây dựng nền nghiên cứu học thuật mới, phát hiện, bồi dưỡng các tài năng văn nghệ từ trong quần chúng, ở các

cơ sở, để bổ sung vào độ ngũ chuyên nghiệp còn ít ỏi và nó tích cực tự cởi trói, đổi mới vào giai đoạn sau

1.1.3 Hai thập niên cuối thế kỉ XX (1986 - 2000)

Bước vào thời kỳ đổi mới, hoạt động báo chí phát triển mạnh Báo, tạp chí văn nghệ không chỉ gia tăng về số lượng mà còn chăm chút cả về chất lượng Nhiều tờ báo đã nổi lên chiếm lĩnh thị trường độc giả, giữ được tín nhiệm đối với bạn đọc Báo của các hội chuyên ngành thì tiêu biểu là báo của

Hội Nhà văn với 6 tờ: báo tuần (Văn nghệ, Văn nghệ trẻ); Tạp chí 1 tháng/ 1kỳ (Nhà văn); báo 1 tháng/ 1 kỳ (Văn nghệ dân tộc và miền núi); Tạp chí 2 tháng/ 1 kỳ (Văn học nước ngoài, Thơ) Còn báo văn nghệ của các bộ ngành thì tiêu biểu là tạp chí Văn nghệ Quân đội và báo Văn nghệ Công an Báo văn nghệ của các tỉnh thành thì tiêu biểu là báo Người Hà Nội, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, báo Hạ Long, tạp chí Sông Hương, tạp chí Hồng Lĩnh

Các báo văn nghệ là tiếng nói trực tiếp của các nhà văn, các nghệ sĩ tác động vào đời sống xã hội Vì vậy các báo văn nghệ trong giai đoạn mới của cách mạng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa,

Trang 23

hiện đại hóa đất nước Hoạt động phê bình văn học trên báo chí thời kỳ này tuy còn những hạn chế khó tránh khỏi nhưng cũng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng

Từ sau 1986, trong không khí dân chủ hoá của xã hội và trong đời sống

tư tưởng những năm cuối thập niên 80 và đầu 90, hàng loạt vấn đề cốt yếu của

lý luận văn học và thực tiễn văn học đã được đưa ra bàn thảo tranh luận sôi nổi, như việc nhìn lại hoạt động phê bình trước thời kỳ đổi mới, các vấn đề văn nghệ và chính trị, văn học phản ánh hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, các chức năng của văn học, đánh giá nền văn học cách mạng thời

kỳ vừa qua… Trong đó, có những vấn đề trước đây dường như là nguyên tắc bất di bất dịch, không thể nghi ngờ hay bàn cãi, thì nay cũng được đặt lên bàn tròn tranh luận Tuy chưa có vấn đề nào nói trên được giải quyết triệt để nhưng tác động của việc đưa ra thảo luận những vấn đề ấy rất đáng kể Và báo chí văn nghệ đã kịp thời bám sát, phản ánh, tạo một không khí khá sôi động cho hoạt động phê bình văn học thời kỳ này

Bước vào thời kỳ đổi mới, được khích lệ bởi tinh thần “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” của Đại hội Đảng lần thứ VI, tiếp đó là cuộc gặp của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ đầu tháng 10 năm 1987, nhiều vấn đề của nền văn học thời kỳ trước đó được nhìn nhận lại, cùng với một số vấn đề cơ bản trong quan điểm văn nghệ và sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ trở thành đề tài khảo luận khá sôi nổi trong mấy năm đầu đổi mới Trong không khí ấy, một số nhà lý luận phê bình đã nhìn lại hoạt động phê bình văn học thời kỳ trước đổi mới, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế yếu kém của lĩnh vực này Báo chí văn nghệ chính là phương tiện để ý kiến của họ được bày tỏ, nhìn nhận, trao đổi

Những bài viết sớm nhất theo tinh thần đó là bài “Mấy ý kiến về phê

bình văn học” của Lại Nguyên Ân (Báo Quân đội Nhân dân ngày 11-7-1987);

Trang 24

bài “Phê bình văn học trong tình hình mới” của Nguyễn Đăng Mạnh (Báo

Văn nghệ số 35/1987) Hai bài báo này có nhiều điểm gặp gỡ trong sự nhìn

nhận những hạn chế yếu kém của phê bình suốt một thời kỳ dài trước đổi mới Những ý kiến của hai nhà phê bình này là đầu mối của một cuộc tranh luận, tuy không thật rộng rãi, nhưng cũng đã lôi cuốn được một số cây bút phê bình

có tên tuổi Tiêu biểu là Phan Cự Đệ với bài “Mấy ý kiến về đổi mới tư duy

trong lý luận, phê bình văn học” (Báo Văn nghệ quân đội số 12/1987) với

nguyên tắc và cũng là sự cảnh tỉnh: “Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận” Đáp laị bài viết của Phan Cự Đệ, Lại Nguyên Ân đưa ra bảy lời bình

trong bài “Đã nghĩ lối mới hay vẫn nghĩ lối cũ?” (Văn nghệ quân đội số

5/1988), chỉ rõ tác giả bài “Mấy ý kiến về đổi mới tư duy trong lý luận, phê bình văn học” vẫn giữ nguyên lối suy nghĩ cũ, giữ nguyên cách quy chụp về quan điểm, tư tưởng chính trị Điều đáng chú ý là Tôn Gia Các - một bạn đọc vốn chưa từng tham gia vào hoạt động lý luận, phê bình cũng lên tiếng mạnh

mẽ đối thoại với nhà ghiên cứu phê bình Phan Cự Đệ qua bài viết “Xin hỏi có

thật lòng muốn đổi mới không?” (Văn nghệ số 12/1988) Sự tự nhìn lại của

giới lý luận phê bình còn được tiếp tục trong vài năm tiếp theo, với những bài của Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ, Phong Lê, Vương Trí Nhàn

Trong khi thẳng thắn tự nhận thức về những yếu kém, hạn chế của phê bình văn học, nhiều người cũng nói về những khó khăn, phức tạp của công việc này, đặc biệt là trong một môi trường văn học có nhiều điểm không bình thường của giai đoạn văn học vừa qua và trước những đòi hỏi cao của cả công chúng cũng như giới văn học

Góp phần làm thay đổi ý thức nghệ thuật từ thời kỳ đổi mới, phê bình văn học trên báo chí văn nghệ giai đoạn này còn tập trung vào việc đánh giá lại nền văn học cách mạng và kháng chiến thời kỳ 1945-1975, một số hiện tượng văn học thời kỳ trước 1945 như phong trào Thơ mới và sáng tác thơ

Trang 25

mới, Văn học Tự lực văn đoàn, sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng, sáng tác của Vũ Trọng Phụng… Đặc biệt là việc đánh giá các tác phẩm văn học đương đại khiến cho hoạt động phê bình văn học sôi nổi hẳn lên Phê bình văn học đã sớm phát hiện và khẳng định nhiều hiện tượng mới có giá trị tiêu biểu như những truyện ngắn mới của Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, các sáng tác thơ theo hướng hiện đại chủ nghĩa

Qua việc nhìn lại phê bình văn học trên báo chí văn nghệ hai thập niên cuối thế kỷ XX chúng ta có thể nhận định đây là giai đoạn đổi mới mạnh mẽ của phê bình văn học, có tác động tích cực đến cả sáng tác và tiếp nhận, làm nên diện mạo mới của nền văn học Việt Nam

1.2 Sáng tác và phê bình văn học trên báo chí văn nghệ Việt Nam đầu thế kỷ XXI

Đổi mới văn học đã bước qua giai đoạn nhận thức ban đầu, giờ đây tư

Trang 26

duy, cảm hứng, cách nhìn của nhà văn đã được điều chỉnh một bước, trở nên điềm tĩnh và sâu lắng với sự suy ngẫm sâu hơn về xã hội và con người Văn chương trở nên thật hơn, cả trong việc miêu tả những hành động cao cả, những cảnh ngộ éo le hay những tâm trạng thầm kín, bản năng của con người Khuynh hướng hiện thực vẫn là dòng chủ lưu của văn học ta Bên cạnh đó là

sự phát triển của nhiều xu hướng nghệ thuật thể nghiệm khác nhau Các nhà văn đã trưởng thành số đông trở về với các đề tài lịch sử và chiến tranh cách mạng Bút pháp sử thi, tư liệu là sở trường của họ Các cây bút trẻ xông xáo trong các đề tài hiện đại, họ là lực lượng đông đảo, nhiều tài năng và nhiều triển vọng trong vệc mở rộng đường biên văn học và tiếp cận hiện thực mới Nền văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI đã xuất hiện những hiện tượng thu hút với công chúng, có những tác phẩm lôi cuốn độc giả

Văn xuôi đương đại có một dòng chảy ngầm, thầm lặng nhưng quyết

liệt, nhất là trong lĩnh vực tiểu thuyết “công nghiệp nặng của văn học” Cuộc

thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn được rất nhiều cây bút đủ mọi lứa tuổi hưởng

ứng, và gặt hái được những thành công nhất định Những tác phẩm như Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Quyên của Nguyễn Văn Thọ

đều là những tiểu thuyết dày vài trăm trang nhưng được nhiều người đọc hào hứng đón nhận Những tác phẩm thể hiện bút pháp sáng tác hiện thực, tượng trưng, hiện sinh, hiện thực kỳ ảo, kết hợp trong mỗi tác phẩm tạo nên dư luận với những ý kiến đánh giá khác nhau làm nên diện mạo mới của tiểu thuyết Việt Nam Quan sát tiểu thuyết Việt Nam trong thiên niên kỷ mới này không thể không ghi nhận những cách tân về nội dung và hình thức thể hiện của các tiểu thuyết gia đương đại Ở đây vấn đề không đơn thuần chỉ là sự tìm tòi, lạ hoá mà còn là sự thay đổi quan niệm về thể loại nhằm vươn tới tầm vóc của tiểu thuyết và tầm đón đợi của người đọc trong tương lai Sự đổi mới tiểu

Trang 27

thuyết vì thế vừa hướng tới chủ thể sáng tạo, vừa hướng tới chủ thể tiếp nhận Những nỗ lực cách tân của người viết đòi hỏi người đọc phải chủ động với cách đọc, cách cảm thụ tác phẩm, tránh tình trạng quen với lối đọc thời bao cấp: “Cái mà tác giả yêu cầu người đọc không còn là tiếp nhận ngay một thế giới đã hoàn hảo, đầy đủ, đóng kín đối với anh ta (người đọc) mà ngược lại anh ta phải tham gia vào việc sáng tác, đến lượt mình anh ta cũng phải sáng tạo ra tác phẩm - và cả thế giới nữa - và như vậy tức là anh ta học cả

việc sáng tạo cuộc đời riêng của mình” (Alain Robbe-Grillet và sự đổi mới tiểu thuyết (Lê Phong Tuyết dịch) Nxb Khoa học xã hội, H, 1995, tr.6)

Trong thực tiễn sáng tác nhất là những năm đầu thế kỷ XXI, các cây bút tiểu thuyết đã có ý thức tìm tòi, đổi mới nghệ thuật và kỹ thuật tiểu thuyết trên cơ

sở gắn nó với nội dung nhân bản, xã hội để thúc đẩy thể loại phát triển, góp phần cách tân và hiện đại hoá văn xuôi Việt Nam hiện đại

Ngoài tiểu thuyếtthì truyện ngắn là một hình thức văn học mang tính

tổng hợp cao, ngắn gọn, dễ hiểu, ngôn từ hay, phản ánh kịp thời những sự việc của xã hội Là những chi tiết dòng ngầm của tác giả, nó đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Đây là thể loại thích ứng nhanh nhất với đời sống báo chí thời thị trường, cũng là thể loại được đông đảo người đọc ưa thích, đón

đợi Những: Tự sự 265 ngày của Hồ Anh Thái, Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tập truyện ngắn mới của Nguyễn Thị Thu Huệ Nào, ta cùng lãng quên đều được độc giả hào hứng đón đọc Có những cây bút trẻ, vừa mới xuất hiện tác phẩm đầu tay, như Nguyễn Ngọc Thuần với Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Một thiên nằm mộng, Nguyễn Ngọc Tư với những truyện ngắn xinh xẻo tiêu biểu là truyện ngắn Cánh đồng bất tận và Phương Trinh với Mây bay ngang rồi mây bay qua, Quả táo, là những truyện ngắn khá tinh

tế, hứa hẹn mới lạ cũng đã được người đọc chú ý ngay Chỉ với 2 ấn phẩm 29 truyện ngắn lọt vào vòng chung khảo cuộc thi báo Văn

Trang 28

nghệ và Truyện ngắn hay 2004 (Nxb Hội Nhà văn), đã có thể hình dung về

truyện ngắn mấy năm đầu thế kỷ XXI: Nhiều tên tuổi mới, nhiều giọng điệu, không thiếu những thể nghiệm táo bạo Lê Minh Khuê, Bảo Ninh, Trần Thùy Mai, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Bích Thúy, Sương Nguyệt Minh người mới, người cũ, điểm chung nhất là họ vẫn đang viết khoẻ, viết đều và được đón đọc Riêng Nguyễn Ngọc Thuần thực sự là một hiện tượng! Chỉ trong vài năm, Nguyễn Ngọc Thuần cho ra mắt 4 cuốn sách, đoạt 4 giải thưởng văn học danh giá, được báo chí đồng thanh biểu dương, được in đi in lại, điều này không phải cây bút nào cũng làm được Nguyễn Ngọc Thuần đã vinh danh cho văn học thiếu nhi, lĩnh vực thường bị

bỏ sót trong các công trình văn học sử Đỗ Hoàng Diệu và Nguyễn Ngọc Tư

là những nhà văn nữ tạo được sự quan tâm của dư luận Hai cây bút này hoàn toàn khác nhau về phong cách, khuynh hướng và bút pháp Đó là điều đáng mừng cho sự đa dạng của văn học Việt Nam Đỗ Hoàng Diệu nổi lên với một

tập sách gồm có các truyện ngắn như Bóng đè, Vu quy, Dòng sông hủi Còn với Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận là một bứt phá mới trên nguồn mạch

đã được chị khai phá.Truyện ngắn đã thay đổi về cả cách miêu tả nhân vật lẫn tiết tấu của truyện, tạo ra nhiều tình huống hơn, phân tích tâm lí kỹ hơn, đồng thời cũng miêu tả các đặc trưng văn hoá thực hơn Hiện nay xuất hiện các truyện ngắn 1000 chữ cho đến 100 chữ, rất chặt chẽ, súc tích Ý tưởng bùng

nổ mạnh khi được thể hiện trong khoảng không gian bó hẹp đó

Thể ký cũng gây được sự chú ý với sự phát triển của hồi ký - tự truyện

Nhiều nhà văn, nghệ sĩ, ở chặng đường cuối đời có nhu cầu nhìn lại đường đời và con đường nghệ thuật của mình, chiêm nghiệm về cuộc đời và một thời

đã qua Bạn đọc có thể đọc hồi ký của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu

đã từng nổi tiếng một thời như hồi ký của Tố Hữu, Anh Thơ, Nguyệt Tú…,

đáng chú ý là Nguyễn Khải với Thượng đế thì cười

Trang 29

Mối quan tâm về hệ thống giá trị mới đang được xác lập, về đạo đức xã hội, về bảo vệ các giá trị truyền thống của dân tộc là những thông điệp thường gặp trong các tác phẩm của các nhà văn Bước tiến của văn chương đổi mới là tính dân chủ Đó là sự đa dạng hoá đề tài, chủ đề, giọng điệu, phương pháp sáng tác, là tính phức điệu trong xây dựng hình tượng nghệ thuật đem đến tiếng nói đa thanh, đa chiều trong việc khám phá thế giới nội tâm sâu thẳm của con người, và đó là khả năng bộc lộ dấu ấn cá nhân rõ nét hơn trong tác phẩm Cảm hứng phê phán sắc mạnh, lên án, truy kích cái xấu, cái ác nhưng vẫn toả ấm tình thương yêu và trách nhiệm với con người

Khác với các thể loại khác, biên độ dao động của thơ thời gian vừa qua

rất rộng, mở ra nhiều hướng tìm tòi, thể nghiệm, thực sự có những khởi sắc đáng ghi nhận Bên cạnh lớp nhà thơ trưởng thành từ trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đang rất sung sức với sự từng trải, lại có thêm sự tự đổi mới

về bút pháp, là sự xuất hiện hàng loạt các nhà thơ trẻ như Vi Thuỳ Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Ngô Tự Lập, Lê Thu Thuỷ, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải, Nguyễn Quyến, Nguyễn Vĩnh Tiến, Ly Hoàng Ly, Dạ Thảo Phương, Nguyễn Danh Lam Thơ của họ táo bạo giàu chất sống, mang dấu

ấn của thời đại thông tin Họ đã tạo được cho mình tiếng nói riêng trên thi đàn Nhiều nhà thơ trẻ được trao giải cao trong các giải thưởng văn học Ngoài ra, sau một loạt các trường ca chiến tranh đã xuất hiện nhiều trường ca trong đổi mới được bạn đọc chú ý

Trong các sáng tác thời kỳ này đáng chú ý là sự đa dạng về các phương diện nghệ thuật Trước hết, đó là sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người Con người xã hội được nhìn nhận trong nhiều mối quan hệ khác nhau

Có những vấn đề trước đây nhà văn né tránh như vấn đề đồng tính, vấn đề xung đột thế hệ, vấn đề quan niệm cổ hủ về giá trị, vấn đề xung đột văn hoá nay đều được đề cập trong các sáng tác Vấn đề con người tự nhiên (bản

Trang 30

năng) được văn học thời kỳ này quan tâm miêu tả với tinh thần nhìn con người trong tính toàn vẹn của nó – con người có nhu cầu ăn, ở, mặc, tính dục Nhiều tác phẩm đã không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình yêu nhục thể ở những yếu tố tích cực của con người tự nhiên Bên cạnh đó, có sự xuất hiện bút pháp tả thực mới Các nhà văn tả thực vừa theo cái nhìn khách quan vừa theo cái nhìn giễu nhại mà văn học trước đây chưa có Bút pháp trào lộng, giễu nhại, phúng dụ, huyền thoại, tượng trưng cũng được các tác giả thể nghiệm và thành công Ngoài ra, cách xây dựng nhân vật văn học cũng có sự đổi mới Thủ pháp quen thuộc trong văn học truyền thống là miêu tả ngoại hình, lai lịch của nhân vật để từ đó có thể thấy rõ tính cách, diễn biến nội tâm nhân vật Văn học thời kỳ này đã bứt thoát khỏi mặt bằng chung đó, xuất hiện những tác phẩm vận dụng kỹ thuật dòng ý thức để khai thác chiều sâu tâm trạng, đời sống tâm linh, coi đó là nguyên tắc nghệ thuật xuyên suốt, chủ đạo

Nghệ thuật kết cấu tác phẩm và phương thức trần thuật cũng là phương diện nghệ thuật mang đến sự mới mẻ cho văn học Ngoài kiểu kết cấu truyền thống theo trình tự thời gian, văn học còn được thử nghiệm ở nhiều kiểu kết cấu tác phẩm khác lạ: kết cấu lặp ghép, kết cấu đồng hiện, kết cấu lồng ghép Phương thức tổ chức trần thuật không chỉ dừng lại ở cách triển khai từ cái nhìn “biết trước”, các nhà văn đã có ý thức tạo dựng nhiều điểm nhìn, dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật liên tục, làm cho cấu trúc tác phẩm trở lên uyển chuyển và có sức biểu đạt lớn

Một sự đổi mới nữa không thể không nói đến về phương diện nghệ thuật của văn học những năm đầu thế kỷ XXI đó là sự đổi mới về ngôn ngữ Ngôn ngữ của từng thể loại mang sắc thái khác nhau nhưng có một điểm chung là nó dung nạp vào bản thân nó nhiều ngôn ngữ đời thường thô ráp, kể

cả thơ là một thể loại trước nay ngôn từ “du dương” nhất Nhiều hiện tượng

sử dụng ngôn ngữ mới lạ đã xuất hiện trong các tác phẩm, ngôn ngữ thơ Lê

Trang 31

Đạt, Trần Dần, Vi Thuỳ Linh , ngôn ngữ văn xuôi của Nguyễn Ngọc Tư ,

đó là thứ ngôn ngữ mang tính đa thanh, song điệu, biến ảo

Tóm lại, trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nhìn chung nền văn học Việt Nam đang có sự vận động mạnh mẽ với nhiều phương diện khác nhau, với những giá trị giống và khác với những giá trị trong quá khứ của nhân loại

Từ đó các nhà văn tiếp tục sáng tạo, thể hiện để chuẩn bị cho nhiều thành tựu văn học xuất hiện và khẳng định giá trị của mình trong lòng độc giả, đặt nền móng cho thời kỳ văn học mới phát triển, phù hợp với xã hội hiện đại, xã hội văn minh và nhân văn Trong cuộc sống hàng ngày, trước những ngổn ngang, oan trái, bất hạnh, bạn đọc vẫn tìm đến nhà văn như một điểm tựa tinh thần nhiều cảm thông, chia sẻ Văn học đang thực sự tham gia vào tiến trình ổn định và phát triển của đất nước, đặc biệt là việc xây dựng môi trường giàu nhân tính trong bối cảnh đang xây dựng một xã hội công nghiệp Nó cảnh báo

và chống lại căn bệnh vô cảm, dửng dưng giữa con người với con người

1.2.2 Tình hình phê bình văn học

Tình hình sáng tác văn học đặt ra những yêu cầu mới về nhu cầu thưởng thức và đánh giá những sản phẩm sáng tạo của nhà văn Bám sát tình hình sáng tác, công tác lý luận phê bình văn học đầu thế kỷ XXI đóng góp quan trọng vào định hướng văn học, đổi mới tư duy nghệ thuật, mở ra nhiều kênh tiếp cận tác phẩm

Cùng với sáng tác và hỗ trợ tích cực cho những sáng tác táo bạo trong thiên niên kỷ mới, vượt qua không ít khó khăn và cả những lệch lạc, phê bình văn học nói chung, phê bình văn học trên báo chí văn nghệ nói riêng đã tỉnh táo và dũng cảm đấu tranh với những lệch lạc, cực đoan, khắc phục những chệch hướng, phê phán những biểu hiện hoài nghi, phủ nhận quá khứ dưới nhiều màu sắc Phê bình văn học đã tỏ rõ bản lĩnh, là một tiếng nói mạnh mẽ, góp phần tạo nên những thành tựu, bước chuyển biến về chất của văn học

Trang 32

Với hiện thực đời sống đang diễn ra vô cùng phong phú và rất phức tạp, giao lưu và hợp tác văn hoá phát triển mạnh, những năm gần đây, đời sống văn học của chúng ta đang có những chuyển động sâu sắc, xuất hiện những quan niệm mới về vị trí, vai trò, phương thức sáng tạo của văn học trong quan hệ đời sống, số phận con người với bản thân người sáng tạo Quan

hệ giữa văn học, nghệ thuật và công chúng cũng đang trong quá trình biến động Sự đa dạng và sự phân hoá mạnh trong thế giới người tiếp nhận đang trực tiếp tác động đến sáng tác Đời sống văn học dân chủ hơn, cởi mở hơn Các đề tài mới được khám phá, những vấn đề về số phận con người cá thể được đặc biệt quan tâm Sự mở rộng và tiếp nhận các phương pháp, phương thức biểu hiện mới, rất khác nhau trong sáng tạo được chấp nhận Những dấu hiệu, yếu tố đó đã tác động sâu sắc đến diện mạo, chiều hướng phát triển và khả năng đóng góp của đời sống văn học những năm gần đây Kết quả đó chắc chắn không thể tách rời sự đóng góp trực tiếp của phê bình văn học trên báo chí văn nghệ

Nhiều dạng thức phong phú của hoạt động phê bình văn học đã được thực hiện Hoạt động của các hội đồng thẩm định tác phẩm nhằm trao các giải thưởng văn học từ Trung ương đến địa phương, các cuộc hội thảo, trao đổi, toạ đàm, giao lưu, tranh luận về những tác phẩm mới ra đời được tổ chức ở tất

cả các Hội văn học, nghệ thuật… Các hoạt động đó đều được báo chí theo sát

và phản ánh khá đầy đủ

Hoạt động phê bình văn học những năm gần đây được “báo chí hoá” một cách nhanh chóng Phê bình văn học được đăng tải khá đều và nhiều trên các mặt báo dưới rất nhiều dạng thức như phê bình tác phẩm, phác hoạ chân dung nhà văn, phỏng vấn Việc “báo chí hoá” có nguy cơ làm cho phê bình

bị hạ thấp tính khoa học, sự chuyên sâu và chất lượng của nó, song rõ ràng là, vai trò của báo chí tham gia vào đời sống văn học trực tiếp và kịp thời hơn,

Trang 33

giúp phê bình cập nhật hơn, áp sát hơn đời sống văn học, qua đó xã hội hoá hoạt động phê bình được phát triển, phê bình không còn là lĩnh vực riêng hẹp của một số chuyên gia nào đó

Phê bình văn học trên báo chí văn nghệ trong giai đoạn này đã thể hiện

rõ sự đổi mới, sáng tạo và đạt được những thành tựu đáng kể Nhiều công trình của các nhà lý luận phê bình về thi pháp học, phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hiện đại, hiện tượng luận, chủ nghĩa phê bình mới, chủ nghĩa hậu hiện đại… đã được dịch, xuất bản thành sách, giới thiệu trên báo chí, thu hút được sự chú ý những người trong nghề và của

dư luận Số bài vở phê bình được đăng tải trên báo chí, đặc biệt là những tờ báo chuyên về văn nghệ khá nhiều

Các nhà lý luận - phê bình văn học Việt Nam bằng báo chí cũng đã phần nào định hướng được dư luận và thị hiếu của công chúng qua việc nhận thức, thẩm định lại nhiều giá trị, đánh giá lại một số hiện tượng văn học quá khứ, ví dụ: vấn đề quan hệ giữa văn học và chính trị; chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; vấn đề đặc trưng, chức năng và nguyên lí phản ánh hiện thực của văn học; vấn đề văn học ở đô thị miền Nam, hải ngoại, vấn đề Nhân văn Giai phẩm, vị nghệ thuật hay vị nhân sinh Bên cạnh đó, phê bình văn học trên báo chí văn nghệ còn khẳng định những thành tựu trong quá khứ và nhận diện những hướng tìm tòi mới trong văn học Thỉnh thoảng phê bình văn học trên báo chí văn nghệ đề cập đến vấn đề hậu hiện đại, tân hình thức, văn chương mạng; vấn đề tính dục, nữ quyền và vấn đề nông thôn, đô thị trong sáng tác đương đại; vấn đề sáng tác trẻ và một vài hiện tượng văn trẻ, thơ trẻ; vấn đề sáng tác ở hải ngoại và ở đô thị miền Nam suốt từ giai đoạn trước đến nay … Việc nhìn nhận lại tình hình sáng tác tiểu thuyết trong đó vấn đề thực trạng tiểu thuyết, đổi mới tư duy tiểu thuyết và cách viết tiểu thuyết nhận được sự quan tâm của đông đảo giới phê bình văn học Những thành tựu của

Trang 34

văn xuôi thời kỳ đổi mới, đặc biệt là thành tựu của thể loại truyện ngắn cũng

được ghi nhận Những cuộc tranh luận về thơ với những vấn đề: truyền thống

và hiện đại, thơ và tính dân tộc, chữ và nghĩa, thơ và sex diễn ra làm cho

không khí phê bình văn học trên báo chí văn nghệ thêm phần sôi động

Phê bình trên báo chí văn nghệ cũng đã đi vào chiều sâu học thuật, nhiều bài viết tránh được những qui kết, bớt dần những ngôn từ đao to búa lớn, cũng như khoảng cách giữa những người đối thoại Phê bình văn học trên báo chí văn nghệ đã góp phần làm chuyển biến ý thức nghệ thuật, hình thành những quan niệm văn học mới, thúc đẩy những hướng nghiên cứu mới và đa dạng hoá phương pháp phê bình Một số phương pháp nghiên cứu phê bình có

tính chất mũi nhọn, mở đường như thi pháp học, phân tâm học, tự sự học, văn học so sánh đã khẳng định được tiếng nói trên văn đàn văn học đương đại,

góp phần đưa nghiên cứu, phê bình văn học nước nhà vượt qua những giới hạn vốn đã tồn tại từ lâu

Trong những khó khăn kéo dài nhiều năm qua của đội ngũ phê bình, đến giai đoạn này, ngoài đội ngũ các nhà lý luận phê bình được đào tạo chuyên sâu, có thêm nhiều nhà sáng tác tham gia Thế mạnh của họ là năng lực cảm nhận và những kinh nghiệm bếp núc của nghề văn Điều đáng chú ý

là đội ngũ phê bình đã và đang xuất hiện một số cây bút phê bình trẻ, có trình

độ khoa học tốt, có phương pháp làm việc mới, thể hiện là “người trong cuộc” của hoạt động sáng tác đương đại, có tiếng nói riêng trong nhìn nhận, đánh giá các sự kiện văn học đang đang diễn ra

Tuy nhiên, trong thế kỷ mới chúng ta nhận thấy phê bình văn học trên báo chí văn nghệ đang đứng trước những khó khăn về nhiều mặt Hoạt động của các nhà phê bình văn học chuyên nghiệp thời gian gần đây còn khá bình lặng, ít có tác dụng đối với đời sống văn học Trừ một vài nhà phê bình năng

nổ, còn phần đông các nhà nghiên cứu văn học, nhà phê bình đều ít viết phê

Trang 35

bình Mặt khác, trong khi số sách văn học được xuất bản nhiều, phong phú và

đa dạng thì phê bình hầu như chỉ thu gọn lại trong việc “điểm sách”, ít có những bài phê bình có tầm; thiếu những cuộc tranh luận sôi nổi về các tác phẩm cụ thể, các cuộc tranh luận về các hiện tượng văn học thu hút được mối quan tâm của dư luận xã hội Phê bình văn học chưa bao quát được đời sống văn học đang diễn ra sôi động, nhanh nhạy với nhiều biến đổi sâu và mới Chính sự chậm trễ này là một trong những nguyên nhân làm chậm sự phát triển của nền văn học nói chung, làm cho mặt bằng của nền văn học ngày càng mở rộng mà thiếu những điểm vượt trội, những đỉnh cao

Tóm lại, phê bình văn học trên báo chí văn nghệ Việt Nam đầu thế kỷ XXI bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận vẫn tồn tại những mặt hạn chế khó tránh khỏi Tuy không phải lúc nào cũng có được vai trò gợi mở, định hướng song nó vẫn là một phần không thể thiếu để làm nên diện mạo của phê bình văn học Việt Nam trong giai đoạn mới Nó góp phần tạo nên sự chuyển biến ý thức nghệ thuật, quan niệm văn học, phần nào đã tác động tích cực đến

cả hoạt sáng tác và tiếp nhận văn học

Trang 36

Chương 2

DIỆN MẠO PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRÊN BÁO VĂN NGHỆ

(2000 – 2005) 2.1 Các lực lượng tham gia phê bình Những cây bút tiêu biểu

Lý luận, phê bình văn học là một phần không thể thiếu của đời sống văn học Sự phát triển của phê bình văn học ở bất cứ một thời kỳ nào cũng đều được thể hiện qua một phương diện đó là đội ngũ tác giả phê bình và sự phát triển của các khuynh hướng phê bình Nhà phê bình là người trung gian giữa tác giả - tác phẩm và độc giả Các nhà phê bình đưa ra đánh giá tác phẩm giúp cho người đọc tiếp cận tác phẩm dễ dàng hơn, đồng thời cũng chỉ rõ cho nhà văn thấy ưu khuyết điểm của tác phẩm Hơn nữa, nhiều nhà phê bình, lý luận còn đi trước các nhà văn trong việc chỉ ra các khuynh hướng sáng tác cũng như cách thể hiện những vấn đề của cuộc sống hiện tại

Lâu nay có nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề “Ai viết phê bình văn học?” Có người cho rằng viết phê bình văn học chỉ dành riêng cho các nhà phê bình, vì lĩnh vực nghiên cứu phê bình này đòi hỏi tính chuyên nghiệp rất cao, khi phân tích tác phẩm họ có bài bản, người ấy phải có học hàm, học vị đàng hoàng Tuy nhiên theo Hồng Diệu, có ba loại người đều được quyền phê bình văn học: Công chúng người đọc, Nhà văn và Nhà phê bình Đây là một thực tế hiển nhiên đã diễn ra trên văn đàn của nước ta nhiều năm nay

Lực lượng tham gia phê bình văn học trên báo Văn nghệ giai đoạn từ

năm 2000 đến năm 2005 rất đông đảo Chỉ tính riêng số tác giả tham gia phê bình tác phẩm văn học Việt Nam đã lên đến 250 người, bao gồm nhiều thế hệ,

ở nhiều khu vực với những khuynh hướng phê bình và phong cách khác nhau Đội ngũ tác giả ấy vừa có sự đồng hành, vừa có sự kế tiếp, thay thế giữa các thế hệ Tuy nhiên, sự phân tán và chưa mang tính chuyên nghiệp cao vẫn là

Trang 37

những mặt hạn chế của đội ngũ tác giả phê bình này, nên tuy không ít về số lượng nhưng chưa thể nói là đã thực sự mạnh

Có thể nhận diện các lực lượng tham gia phê bình trên báo Văn nghệ

giai đoạn 2000 – 2005 theo các thế hệ hoặc theo những khu vực, căn cứ vào

vị trí hoạt động của họ

Về các thế hệ, có thể thấy đặc điểm chung là ở giai đoạn này, các cây bút thuộc thế hệ những cây bút trưởng thành sau Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp không nhiều Làm nên những đường nét chính trong

diện mạo của phê bình văn học trên báo Văn nghệ giai đoạn 2000 – 2005 là

các cây bút thuộc những thế hệ xuất hiện từ sau 1954 trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ, sau 1975, đặc biệt là thế hệ phê bình xuất hiện từ thời kỳ đổi mới và những cây bút phê bình trẻ mới tham gia vào hoạt động phê bình

Sắp xếp theo những khu vực, căn cứ vào vị trí hoạt động của các tác giả

tham gia phê bình có thể nhận thấy đội ngũ phê bình văn học trên báo Văn nghệ giai đoạn 2000 – 2005 gồm 3 lực lượng cơ bản sau: các nhà phê bình

chuyên nghiệp, các nhà sáng tác viết phê bình và các lực lượng khác

2.1.1 Nhà phê bình chuyên nghiệp

Văn chương là một hoạt động nghệ thuật bậc nhất của ngôn từ và để giải mã ngôn từ rất cần những nhà phê bình chuyên nghiệp Phần lớn họ được đào tạo cơ bản tại các trường Đại học danh tiếng ở trong nước và nước ngoài, dần dần trở thành những nhà lý luận – phê bình chuyên nghiệp, trong số đó có những vị được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước Xuất thân là nhà quản lý văn nghệ, giảng viên các trường Đại học, cán bộ nghiên cứu ở các viện khoa học xã hội và nhân văn, tất cả họ đều đã có tác phẩm đứng tên riêng hoặc chủ biên các công trình khoa học tập thể Tên tuổi họ thường hiện diện trên văn đàn, tạp chí chuyên ngành Nhìn vào đội ngũ này

dễ nhận thấy không có ai đúng với từ “chuyên nghiệp” theo nghĩa chuyên về

Trang 38

một nghề và so với các lực lượng khác thì lực lượng này chỉ là thiểu số song vẫn có thể nói rằng họ là “đội quân chủ lực” của đời sống lý luận văn nghệ, tâm huyết với nghề, có những đóng góp xuất sắc có ảnh hưởng không chỉ cho tiến trình phát triển khoa lý luận, đường lối văn nghệ mà còn có ý nghĩa thực tiễn đối với đời sống sáng tác văn chương Họ có thể làm “trọng tài” giúp Hội Nhà văn xử lý các tình huống “hóc búa” trong văn chương

Tuy nhiên, hoạt động của các nhà phê bình chuyên nghiệp trên báo chí

nói chung, trên báo Văn nghệ nói riêng thời gian này còn khá bình lặng, ít có

tác dụng đối với đời sống văn học Trừ một vài nhà phê bình năng nổ, còn phần đông các nhà nghiên cứu văn học, các nhà phê bình đều ít viết phê bình Mặc dù số lượng tác giả phê bình chuyên nghiệp tham gia phê bình văn học

trên báo Văn nghệ (2000 – 2005) có 75 người nhưng số lượng bài viết phê bình của họ đăng trên báo Văn nghệ giai đoạn này không nhiều, hầu như mỗi

tác giả cũng chỉ đóng góp một đến vài ba bài viết Trong 6 năm với hơn 300

số báo và gần 500 bài phê bình tác phẩm nhưng theo thống kê, số lượng bài của lực lượng này chỉ có hơn 100 bài Lí do có thể là vì họ tập trung thời gian vào những công trình nghiên cứu dài hơi hoặc do chuyên chú vào công việc

mà họ đang phụ trách Điều này cũng là một trong những nguyên nhân khiến

cho phê bình văn học trên báo Văn nghệ (2000 – 2005) giảm đi tính chất

chuyên nghiệp Dù vậy, những bài viết với phong cách riêng của họ cùng những vấn đề mà họ quan tâm có tác dụng không nhỏ đến đời sống phê bình

văn học trên báo chí nói chung, trên báo Văn nghệ (2000 – 2005) nói riêng

Các tác giả phê bình chuyên nghiệp tham gia phê bình văn học trên báo

Văn nghệ (2000 – 2005) có sự góp mặt khá đông đảo, thuộc nhiều thế hệ và ở

họ cũng đã hình thành một số khuynh hướng phê bình, có ảnh hưởng không chỉ trong phạm vi các đại học và viện nghiên cứu, mà rộng hơn, cả trong giới văn học Bên cạnh những cây bút đã trưởng thành từ trước 1975, nay vẫn tiếp

Trang 39

tục viết và có sự đổi mới như Hà Minh Đức, Trần Thanh Đạm, Hoàng Trinh, Phong Lê, Hoàng Ngọc Hiến, và những cây bút thật sự tham gia vào hoạt động phê bình từ sau 1975 như Trần Đình Sử, Đặng Anh Đào, Mã Giang Lân,

Hồ Sĩ Vịnh, Ngô Vĩnh Bình, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ Ngoài ra còn có sự đóng góp của những cây bút mới tham gia hoạt động phê bình từ những năm 90 như Văn Giá, Nguyễn Đăng Điệp,

Lý Hoài Thu, Phạm Quang Trung, Phạm Xuân Nguyên, Bùi Việt Thắng, Hồ Thế Hà và một số cây bút phê bình trẻ như Trần Hoài Anh, Thành Duy, Ngô Thanh Hằng, Đặng Minh Hân, Kim Diệu Hương, Hoàng Thuỷ Hương, Trần Huyền Sâm Trong số đó, có những người tham gia phê bình một thể loại như Hà Minh Đức, Trần Thanh Đạm, Ngyễn Xuân Nam có những người tham gia phê bình nhiều thể loại như Nguyễn Dương Côn, Tô Hoàng, Trần Đình Sử, Hồ Sĩ Vịnh Xét về phong cách và thành tựu có thể kể đến một số cây bút tiêu biểu sau:

Hà Minh Đức là cây bút nghiên cứu, phê bình kỳ cựu, giảng dạy ở Đại học Tổng hợp Hà Nội từ 1957 (nay là đại học Khoa học xã hội và Nhân văn)

và bắt đầu viết phê bình từ trước năm 1960 Ông là tác giả của nhiều công trình lý luận và phê bình, nghiên cứu và phê bình hầu hết các hiện tượng văn

học lớn của thời kỳ hiện đại Trên báo Văn nghệ (2000 – 2005), Hà Minh Đức

có hai bài viết quan tâm đến hiện tượng thơ Tố Hữu với những phát hiện mới

đó là bài “Ta với ta – Đóng góp mới của Tố Hữu (số 13 /2000) và bài “Thơ

Tố Hữu” (số 17, 18 /2002) Có thể nói, ngòi bút Hà Minh Đức có một tầm bao quát rất rộng nhưng lại tỉ mỉ về tư liệu Ông vận dụng nhuần nhuyễn các phạm trù tính hiện thực, tính lý tưởng, tính khái quát, các khái quát về đề tài, chủ đề, đặc trưng, thể loại để phân tích cụ thể các hiện tượng văn học, chỉ ra đặc sắc nội dung và hình thức nghệ thuật của chúng Với lời văn điềm đạm, ít góc cạnh, ông đưa ra những khái quát vừa độ, dễ dàng được chấp nhận

Trang 40

Trần Thanh Đạm suốt đời gắn bó với nghề dạy văn ở bậc Đại học, ông xem việc viết nghiên cứu lý luận, phê bình văn học như là sự nối dài lời giảng, bài giảng, tiếp tục phát huy sức mạnh và ảnh hưởng của văn chương trong đời sống xã hội Ông đặc biệt quan tâm khảo sát những đặc trưng thẩm

mỹ và cấu trúc nội tại của các thể loại văn học trữ tình, tự sự của dân tộc; đề xuất việc vận dụng phương pháp văn học so sánh mạnh mẽ hơn để cho thấy những nguồn ảnh hưởng, giao lưu, bản sắc độc đáo của mỗi nền văn học dân tộc trên thế giới Ông còn là cây bút có trách nhiệm và năng nổ xuất hiện trên báo chí chuyên ngành, tham gia tranh luận về nhiều vấn đề lý luận, phê bình, những hiện tượng văn học mới xuất hiện trong đời sống văn học đương đại

Tham gia phê bình văn học trên báo Văn nghệ (2000 – 2005) ông có hai bài viết: “Một đoá hoa thơ từ đồng bằng sông Cửu Long” (số 26/2000) và “Thơ

Viễn Phương: Những câu thơ hồng mài ra từ một trái tim son” (số 16/2003) Ông lựa chọn cho mình một lối viết gần gũi với sự tiếp nhận của công chúng

Trần Đình Sử đến với phê bình nghiên cứu khá muộn nhưng đã nhanh chóng xác lập được vị trí và có dấu ấn riêng của mình trong đời sống phê bình

từ những năm 80 trở lại đây Trần Đình Sử được chú ý bởi ông đã mở ra hướng nghiên cứu - thực tiễn về “thi pháp học” và đưa thi pháp học thành một hướng nghiên cứu được biết đến rộng rãi và có ảnh hưởng đáng kể đến phê bình văn học ở nước ta, nhất là trong nhà trường và với các thế hệ phê bình lớp sau ông Gắn bó và đồng hành với đời sống lý luận văn học nước nhà, ông

đã viết hàng trăm bài báo là những tiểu luận, phê bình có nhiều tìm tòi, phát hiện đáng chú ý; phê bình kịp thời các tác phẩm, tác giả, các công trình lý luận, phê bình bằng một thái độ khách quan, cầu thị và góc nhìn đổi mới tư duy học thuật mà ông bền bỉ thực thi Hai bài phê bình “Một thời hoạt động -

một thời thơ” (Đọc Nhớ lại một thời - hồi ký của nhà thơ Tố Hữu) và

“Nguyễn Tuân toàn tập và di sản văn học của nhà văn hôm nay” đăng trên

Ngày đăng: 23/07/2015, 18:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trần Hoài Anh (2009), “Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam trước năm 1975”, Văn nghệ, (17,18), tr.51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam trước năm 1975”, "Văn nghệ
Tác giả: Trần Hoài Anh
Năm: 2009
[2] Vũ Tuấn Anh (2006), “Đổi mới văn học và tinh thần nhân văn mới trong sự hội nhập ý thức toàn cầu”, Nghiên cứu văn học, (12), tr.106-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học và tinh thần nhân văn mới trong sự hội nhập ý thức toàn cầu”," Nghiên cứu văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 2006
[3] Nguyên An (2007), “Nguồn gốc và hạn chế của lý luận, phê bình văn chương”, Văn nghệ, (03), tr. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và hạn chế của lý luận, phê bình văn chương
Tác giả: Nguyên An
Nhà XB: Văn nghệ
Năm: 2007
[4] Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời, "Nxb "Thanh niên
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb "Thanh niên"
Năm: 2003
[5] Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học", Nxb "Khoa học xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb "Khoa học xã hội"
Năm: 2006
[6] Trương Đăng Dung (2006), “Những giới hạn của phê bình văn học”, Văn nghệ, (28), tr.6 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giới hạn của phê bình văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Văn nghệ
Năm: 2006
[7] Phan Cự Đệ (Chủ biên, 2004), Văn học Việt nam thế kỷ XX (những vấn đề lịch sử và lý luận), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt nam thế kỷ XX (những vấn đề lịch sử và lý luận)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[8] Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại", Nxb "Giáo dục
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: Nxb "Giáo dục"
Năm: 2008
[9] Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
[10] Tô Hoài (2011), “Biết và hiểu trong phê bình và sáng tác”, Văn nghệ, (1,2), tr. 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biết và hiểu trong phê bình và sáng tác”, "Văn nghệ
Tác giả: Tô Hoài
Năm: 2011
[11] Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
[12] Nguyễn Văn Long (2009), Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường", Nxb
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb "Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[13] Lã Nguyên (2012), “Mấy hạn chế cản trở sự phát triển của phê bình văn học”, Văn nghệ quân đội, (748), tr.101-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy hạn chế cản trở sự phát triển của phê bình văn học”, "Văn nghệ quân đội
Tác giả: Lã Nguyên
Năm: 2012
[14] Vũ Nho (2007), “Bàn thêm về lý luận và phê bình”, Văn nghệ, (27), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về lý luận và phê bình
Tác giả: Vũ Nho
Nhà XB: Văn nghệ
Năm: 2007
[15] Nguyễn Văn Long (Chủ nhiệm đề tài) (2009), Những vấn đề của phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – 2005. Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ, nghiệm thu năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – 2005
Tác giả: Nguyễn Văn Long (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2009
[16] Hà Quảng (2009), “Nghĩ về lý luận, phê bình đương đại”, Văn nghệ, (13), tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về lý luận, phê bình đương đại”, "Văn nghệ
Tác giả: Hà Quảng
Năm: 2009
[17] Trần Đình Sử (2006), “Hai mươi năm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học – Thành tựu và suy ngẫm”, Văn nghệ, (52) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai mươi năm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học – Thành tựu và suy ngẫm”, "Văn nghệ
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2006
[18] Nguyễn Ngọc Thiện (2010), Lý luận, Phê bình và Đời sống Văn chương, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận, Phê bình và Đời sống Văn chương
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thiện
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2010
[19] Nguyễn Ngọc Thiện (Chủ biên) (2010), Văn học Việt Nam thế kỷ XX – Lý luận phê bình 1975 – 2000, Quyển V, Tập XIV, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX – Lý luận phê bình 1975 – 2000
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thiện
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2010
[20] Đỗ Lai Thuý (2005), “Phương pháp phê bình thi pháp học”, Văn hoá Nghệ thuật, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phê bình thi pháp học
Tác giả: Đỗ Lai Thuý
Nhà XB: Văn hoá Nghệ thuật
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ BÀI PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRONG QUÁ KHỨ - Phê bình văn học trên báo văn nghệ (2000 - 2005)
BẢNG THỐNG KÊ BÀI PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRONG QUÁ KHỨ (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w