1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết 2004 - 2009 về đề tài chiến tranh (trên cứ liệu 12 tiểu thuyết từ 2004 đến 2009 về đề tài chiến tranh)

125 399 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài: Sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 1 – 2002, tác giả Lý Hoài Thu viết: “Đề tài chiến tranh với quy mô hiện thực

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐÀO THỊ HOÀI BẮC

LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

2004 - 2009 VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Trang 2

HÀ NỘI, NĂM 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐÀO THỊ HOÀI BẮC

LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

2004 – 2009 VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH

(Trên cứ liệu 12 tiểu thuyết từ 2004 đến 2009 về đề tài chiến

tranh)

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THANH TÚ

HÀ NỘI, 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN!

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thanh Tú -

người đã tận tình hướng hẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy, cô trong tổ Lí luận văn học, phòng Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…, đã luôn động viên, giúp đỡ tôi để luận văn được hoàn thành

Hà Nội, tháng 6 năm 2012

Tác giả

Đào Thị Hoài Bắc

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 6 năm 2012

Tác giả

Đào Thị Hoài Bắc

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU………

1 Lí do chọn đề tài………

2 Lịch sử vấn đề………

3 Mục đích nghiên cứu………

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu………

5 Phương pháp nghiên cứu………

6 Dự kiến đóng góp………

7 Cấu trúc của luận văn………

PHẦN NỘI DUNG Chương I : TIỂU THUYẾT 2004 – 2009 VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH -MỘT VÀI NÉT ĐỔI MỚI………

1.1 Xu hướng phá vỡ cấu trúc nhân vật sử thi truyền thống………

1.1.1 Đưa người lính “trở về” với đời thường………

1.1.1.1 Người lính – những số phận cá nhân………

1.1.1.2 Người lính – con người hèn nhát, cơ hội, sai lầm…………

1.1.1.3 Người lính – nhân vật bi kịch, nhân vật chấn thương…

1.1.1.4 Người lính – con người tự nhiên, bản năng………

1.1.2 Đưa nhân vật kẻ thù hướng về “tính người”………

1.1.2.1 Nhân vật kẻ thù có tri thức, sống có lí tưởng, có bản lĩnh

1.1.2.1 Nhân vật kẻ thù có đời sống nội tâm………

1.2 Đổi mới không gian, thời gian………

1.2.1 Đổi mới không gian………

1.2.1.1 Không gian đời thường………

1.2.1.2 Không gian tâm linh huyền thoại………

1.2.2 Đổi mới thời gian………

Trang

1

1

2

5

5

6

7

7

8

8

8

9

9

11

12

15

18

19

20

22

23

23

24

28

Trang 6

1.2.2.1 Rút ngắn thời gian sự kiện, kéo dài thời gian tâm trạng…

1.2.2.2 Đồng hiện quá khứ và hiện tại………

Chương II: CÁC LOẠI HÌNH LỜI VĂN NGHỆ THUẬT……

2.1 Lời văn nghệ thuật của người kể chuyện………

2.1.1 Lời văn miêu tả………

2.1.1.1 Lời văn miêu tả thiên nhiên………

2.1.1.2 Lời văn miêu tả nhân vật………

2.1.2 Lời văn kể………

2.1.2.1 Đặc điểm lời văn kể………

2.1.2.2 Các dạng lời kể………

2.1.3 Lời phân tích, bình luận………

2.2 Lời văn nghệ thuật của nhân vật………

2.2.1 Lời đối thoại………

2.2.2 Lời độc thoại nội tâm………

2.2.2.1 Lời độc thoại nội tâm khắc họa tâm lí, tính cách nhân vật

2.2.2.2 Tổ chức độc thoại nội tâm dưới dạng lời nói nửa trực tiếp

Chương III: CÁC PHƯƠNG TIỆN, PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN LỜI VĂN………

3.1 Các biện pháp tu từ………

3.1.1 So sánh, liệt kê………

3.1.1.1 So sánh………

3.1.1.2 Liệt kê………

3.1.2 Các phép liên tưởng, tưởng tượng………

3.2 Biểu tượng………

3.2.1 Biểu tượng “Trăng”

3.2.2 Biểu tượng dòng sông………

3.3 Giọng điệu………

28

32

35

35

35

35

45

49

49

50

54

56

56

63

66

69

72

72

72

72

76

80

86

87

92

99

Trang 7

3.3.1 Giọng xót xa thương cảm………

3.3.2 Giọng hoài nghi chất vấn………

PHẦN KẾT LUẬN………

THƯ MỤC THAM KHẢO………

100

109

114

116

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngay từ buổi đầu dựng nước cho đến hôm nay, nhân dân ta đã luôn phải đương đầu với nhiều kẻ thù xâm lược Mà như một nguyên lý: văn học là tấm gương phản ánh lịch sử, do vậy mảng văn học viết về đề tài chiến tranh luôn chiếm giữ vai trò quan trọng trong nền văn học nước nhà

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ gian khổ, ác liệt, cả đất nước cùng hướng về tiền tuyến, cùng một lòng hi sinh tất cả cho cuộc kháng chiến Cùng nhịp với bước đi của dân tộc, các nhà văn đặt nhiệm vụ động viên, cổ vũ, tuyên truyền, ngợi ca bản chất chính nghĩa anh hùng của cuộc kháng chiến lên hàng đầu

Sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, cuộc sống thời bình, cuộc sống đời thường trở lại, đề tài chiến tranh không còn chiếm vị trí quan trọng số một như trước nữa, tuy vậy nó vẫn thu hút nhiều thế hệ cầm bút, kể cả thế hệ nhà văn trẻ, sinh ra và lớn lên sau chiến tranh Nhiều nhà văn hôm nay vẫn tiếp tục quan tâm tới đề tài này bởi tìm hiểu cuộc kháng chiến giữ nước cũng là một cách tìm hiểu về tâm hồn, tính cách, phẩm chất dân tộc Đồng thời cũng là một cách đi sâu phát hiện cấu trúc nhân cách con người với những yêu thương, khát vọng và cả phản bội, hèn nhát…

Hòa vào dòng chảy của đề tài hấp dẫn đó, cuộc vận động sáng tác văn học của

Bộ Quốc phòng vẫn diễn ra 5 năm một lần Và cuộc thi gần đây nhất được tổng kết vào đầu năm 2010 đã thu được nhiều thành tựu đáng trân trọng Trong đó, đáng kể hơn cả là thành tựu ở thể loại tiểu thuyết Chúng ta có thể kể đến những tác phẩm

tiêu biểu: Ngày rất dài (Nam Hà), Những bức tường lửa (Khuất Quang Thụy), Thượng Đức (Nguyễn Bảo Trường Giang), Tiếng khóc của nàng Út (Nguyễn Chí

Trung)… Những tác phẩm này góp thêm cái nhìn mới, cái nhìn đa diện, cái nhìn đầy đủ về chiến tranh Cũng qua những tác phẩm này, chúng ta phần nào thấy được

sự vận động của văn học Việt Nam hôm nay nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng

Trang 9

1.2 Tiểu thuyết là thể loại văn học tiêu biểu cho loại hình tự sự, đóng vai trò chủ lực trong nền văn học hiện đại Với đặc trưng thi pháp, phương thức trần thuật riêng, tiểu thuyết chiếm lĩnh, khái quát hiện thực cuộc sống một cách đa chiều và phong phú Có thể coi sự vận động của tiểu thuyết cũng là sự vận động của cả một nền văn học Hôm nay, tiểu thuyết đang nỗ lực chuyển mình nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại với nhiều cây bút có ý thức cách tân trong cả cách nhìn lẫn lối viết, có những tác phẩm thành công hoặc đang trên đường tìm tòi, thể nghiệm Tất cả đều hướng tới việc làm mới, làm hấp dẫn văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng

1.3 Luận văn Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết 2004 - 2009 về đề tài chiến tranh lấy đối tượng nghiên cứu là những tiểu thuyết được giải thưởng văn

học của Bộ Quốc phòng 2004 - 2009 làm cứ liệu để nghiên cứu sự đổi mới, đặc biệt

là ở phương diện lời văn, chúng tôi sẽ phần nào làm sáng tỏ những tìm tòi đóng góp của các tác giả về nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ trong một số tác phẩm tiêu biểu

ra được hết những gì mà cuộc chiến tranh vốn có Tức là tâm trạng và số phận Đã

có cái tuyệt vời sao lại không có cái uẩn khúc? Chính nhờ có cái uẩn khúc mà con người trở nên tuyệt vời Như vậy đề tài sẽ còn được viết và sẽ viết hay Mốc thiên niên kỷ chỉ là cái mốc tượng trưng Trong văn học lại là cái mốc riêng của nó – mốc trong chiến tranh và mốc sau chiến tranh, nhưng kiểu viết phải khác, phải đi thật sâu

Trang 10

về con người…Con người trong chiến tranh là một sinh vật cao quý chứ không phải

là một cỗ máy vô tri” (Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 1 – 2001)

Gắn chặt với sự đổi mới quan niệm về con người là sự đổi mới một số thủ

pháp nghệ thuật Trong bài: Sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới (Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 1 – 2002), tác giả Lý Hoài Thu viết:

“Đề tài chiến tranh với quy mô hiện thực rộng lớn nhiều tầng, nhiều mảng, nhà văn vẫn xoáy sâu vào những vấn đề cốt yếu của đời sống thông qua tiêu điểm nhân vật…Cũng là người lính, người mẹ, người vợ nhưng giờ đây họ được soi rọi từ nhiều góc độ khác nhau, được đặt vào trong nhiều vòng quay của cuộc đời, kể cả những vòng xoáy nghiệt ngã nhất Nhân vật không còn mờ nhạt đơn điệu mà có sự kết hợp giữa hình dạng và nội tâm, giữa ý thức và vô thức, giữa dục vọng bản năng

và ước mơ thánh thiện…Thế giới của nhân vật tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đa phần nhuốm màu bi kịch, ai cũng có những giai đoạn gập ghềnh chông gai, những nỗi niềm trắc ẩn, những thua thiệt mất mát, nhưng đó là những bi kịch mang ý nghĩa thức tỉnh, luôn hướng tới hoàn thiện nhân cách”

Bàn về kết cấu và phương thức trần thuật, trong tập phê bình Đi cùng văn học nhận xét về Những bức tường lửa, tác giả Nguyễn Thanh Tú nhấn mạnh đến sự

phá vỡ kết cấu truyền thống… kết hợp với tăng cường bổ sung điểm nhìn”, các điểm nhìn dịch chuyển, luân phiên tạo nên cái nhìn đa chiều “Nhà văn cho xuất hiện bốn điểm nhìn chính, vận dụng thủ pháp lắp ghép của điện ảnh” [30, tr.133-135] Hay bàn về giọng điệu, trong các bài nghiên cứu và phê bình hiện có, chúng

tôi nhận thấy sự chú ý chỉ tập trung chủ yếu vào hai tác phẩm Rừng thiêng nước trong của Trần Văn Tuấn và Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Đức Nguyễn Thị Dư trong Một cách tiếp cận hiện thực Rừng thiêng nước trong đã khẳng định: “Trần

Văn Tuấn với giọng văn bình dị, cách sử dụng ngôn ngữ ví von, so sánh hợp với tư duy làm nổi bật lên hình tượng có tính gợi cảm, lôi cuốn” [37, tr.33] Lời văn, giọng điệu “giải sử thi” đó là nhận xét của Nguyến Thanh Tú: “Câu văn ngắn có chỗ bị phá ra vỡ vụn, không thấy sự làm văn, làm dáng của câu văn” [37, tr.58] Đáng chú

ý và ghi dấu ấn ở bạn đọc đó chính là “giọng điệu ngợi ca tôn kính (sử thi) lẫn

Trang 11

suồng sã, dân dã thông tục (giải sử thi)” [37, tr.58] Đỗ Thu Thủy đã chỉ ra giọng

điệu đặc trưng trong Bến đò xưa lặng lẽ đó là “giọng phân trần sám hối, tự vấn, ăn

năn” [37, tr.92] Nguyễn Thanh Tú ấn tượng với cách kể chuyện của tác phẩm này:

“Chọn người kể chuyện là người đã chết cũng là nhân vật chính trong truyện đã tạo

ra sự cảm thương hóa lời kể, bi thương chứ không bi lụy, tạo ra ảo giác ở sự trung thực của câu chuyện… khách quan hóa, trung thực hóa lời kể” [37, tr.150-151] Hoàng Quảng Uyên và Dương Danh Dũng không hài lòng với ngôn ngữ trong tác phẩm: “sự pha trộn ngôn ngữ kịch với ngôn ngữ tiểu thuyết” [37, tr.107], “ngôn ngữ

và câu chữ có nhiều sai sót không nên có do tác giả còn chưa thật chú tâm dụng công, người đọc dễ bắt gặp nhiều câu vụng” [37, tr.125]

2.2 Một trong những công trình nghiên cứu khá sâu và gần đây nhất về tiểu

thuyết chiến tranh được giải của Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 là luận văn Tiểu thuyết Việt Nam 2004 – 2008 về đề tài chiến tranh của Nguyễn Thị Duyên Người

viết đã khái quát những đặc điểm của thể loại tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh trong những năm gần đây trên các phương diện: thế giới nhân vật, kết cấu và phương thức trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ Luận văn của Nguyễn Thị Duyên

đã ít nhiều chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh trên cứ liệu những tiểu thuyết được giải thưởng của Hội nhà văn Bộ

Quốc phòng từ 2004 – 2008 Tiếp đến là luận văn Đổi mới kết cấu tiểu thuyết 2004 – 2009 về đề tài chiến tranh của Lê Thị Thu Huyền tiếp tục tìm hiểu sâu hơn, đó là

những đổi mới về mặt tổ chức kết cấu của tác phẩm ở cấp độ hình tượng nhân vật người lính và nhân vật kẻ thù; Đổi mới ở cách thức tổ chức thời gian, không gian;

và đổi mới ở các hình thức tổ chức điểm nhìn, ở giọng điệu và cảm hứng trong tác

phẩm Luận văn: Sự vận động của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975 – từ góc nhìn nhân vật của Ngô Thị Hải Vân đã đưa ra cái nhìn khái quát những đặc

điểm về nội dung cũng như nghệ thuật của thể loại trên một số phương diện: Hình tượng người lính – những nét đổi mới cơ bản từ phương diện loại hình nội dung; Hình tượng người lính – những nét đổi mới chủ yếu từ phương diện hình thức

Trang 12

2.3 Về cách tổ chức Lời văn nghệ thuật, đây vẫn còn là một khoảng trống chưa có tài liệu nào nghiên cứu được đề cập tới một cách có hệ thống

Theo dõi lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy một số phương diện từ nội dung, hình thức đến nhân vật… của tiểu thuyết chiến tranh 2004 – 2009 đã được đề cập tới Đặc biệt lời văn nghệ thuật chưa thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu độc lập của bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào Phần lớn các nhà nghiên cứu mới chỉ đề cập đến vấn đề này một cách khái quát hay nhỏ lẻ qua một số

ý kiến ngắn hoặc qua một vài mục nhỏ trong công trình nghiên cứu của mình mà thôi

Từ kết quả của các bài viết, của các nhà nghiên cứu, các nhà phê bình cũng như các thế hệ đi trước, chúng tôi tiếp nhận một cách có chọn lọc những gợi mở, những số liệu, nhận xét đánh giá để triển khai nghiên cứu một cách toàn diện và hệ

thống hơn vấn đề Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết 2004 - 2009 về đề tài chiến tranh, trên cứ liệu 12 tiểu thuyết đạt giải của Bộ Quốc phòng từ 2004 – 2009

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Với đề tài đã chọn, luận văn của chúng tôi nhằm tìm hiểu, làm rõ những vấn

đề lí luận về lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh

3.2 Xác định được vai trò của lời văn nghệ thuật trong việc thể hiện những giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện từ góc độ thể loại tiểu thuyết

3.3 Nhận diện và cắt nghĩa sự xuất hiện của các yếu tố cấu thành nên lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết: Lời văn nghệ thuật của người kể chuyện; Lời văn nghệ thuật của nhân vật; Các phương thức, phương tiện biểu hiện lời văn nghệ thuật Từ

đó, chứng minh tính hiện đại, mới mẻ của đề tài này

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu các tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam được nhận giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng từ 2004 đến 2009 Cụ thể là các tác phẩm sau:

Phòng tuyến sông Bồ (Đỗ Kim Cuông)

Trang 13

Thượng Đức (Nguyễn Bảo Trường Giang)

Thời hậu chiến (Nam Hà)

Mạch máu của rừng (Nguyễn Tiến Hải)

Mùa hè giá buốt (Văn Lê)

Không phải huyền thoại (Hữu Mai)

Cõi đời hư thực (Bùi Thanh Minh)

Xiêng Khoảng mù sương (Bùi Bình Thi)

Màu rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy)

Về với mẹ (Hoàng Bình Trọng)

Tiếng khóc của nàng Út (Nguyễn Chí Trung)

Bên dòng Sầu Diện (Nguyễn Đình Tú)

4.2 Đối tượng nghiên cứu:

Những đổi mới, đặc biệt là ở phương diện lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh ( 2004 – 2009)

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp lịch sử - hệ thống:

Đặt tiểu thuyết về đề tài chiến tranh trong bối cảnh nền văn học thời kì đổi mới nói chung, tiểu thuyết Việt Nam nói riêng để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn Đề tài được đặt trong hệ thống các tác phẩm đạt giải của Hội nhà văn và Bộ Quốc phòng từ 2004 – 2009 để xem xét, đánh giá, phát hiện những đóng góp về nội dung và hình thức Hơn nữa, lời văn nghệ thuật là một hệ thống bao gồm nhiều yếu

tố có liên quan chặt chẽ với nhau Vì vậy, khi triển khai các vấn đề cụ thể, chúng tôi đều đặt trong mối quan hệ với hệ thống

5.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp:

Việc tìm hiểu lời văn nghệ thuật của tác phẩm cần phải có thao tác phân tích, tổng hợp để làm rõ những đặc điểm và giá trị biểu hiện của những phương tiện lời văn được sử dụng trong các tác phẩm

Trang 14

5.3 Phương pháp khảo sát, thống kê:

Để việc phân tích, đánh giá có căn cứ xác thực, khi cần thiết chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại để tìm ra những điểm đặc sắc của lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết chiến tranh

5.4 Phương pháp so sánh:

Chúng tôi tiến hành so sánh các phương diện của tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn trước đổi mới với giai đoạn những năm gần đây để thấy được sự vận động của thể loại này

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo; Nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương I: Tiểu thuyết 2004 -2009 về đề tài chiến tranh – một vài nét đổi

mới

Chương II: Các loại hình lời văn nghệ thuật

Chương III: Các phương tiện, phương thức biểu hiện lời văn

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG

Chương I: TIỂU THUYẾT 2004 - 2009 VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH -

MỘT VÀI NÉT ĐỔI MỚI

1 1 Xu hướng phá vỡ cấu trúc nhân vật sử thi truyền thống

Đặc trưng của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh là viết về mối xung đột giữa

“địch” và “ta” Từ đặc trưng đó mà nhân vật chính của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh thường là nhân vật người lính và nhân vật kẻ thù

Tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh giai đoạn 1945 - 1975 coi trọng đời sống tinh thần, khao khát những lí tưởng đẹp đẽ, không chỉ là đặc điểm quan trọng nhất của con người Việt Nam trong lịch sử mà còn là đặc điểm của người anh hùng Chịu sự chi phối của cảm hứng sử thi, văn học chủ yếu quan tâm đến con người trong các vai trò xã hội Trong tư cách là động lực cách mạng, vì vậy người lính thường được đặt trong mối quan hệ với giai cấp, với nhân dân để phát huy tính tích cực, tinh thần và trách nhiệm của cá nhân trước cộng đồng dân tộc Đây cũng là

lí do khiến nhân vật người lính trong tiểu thuyết sử thi 1945 – 1975 được xây dựng đậm chất anh hùng, được lí tưởng hóa cao độ, tạo ra một “khoảng cách sử thi” giữa nhân vật với đời thường Trong khi đó, nhân vật kẻ thù lại được các nhà văn xây dựng bằng bút pháp “hiện thực tàn nhẫn”, là kẻ tàn ác, hèn yếu, đầy thú tính

Nhân vật là nơi nhà văn thể hiện quan niệm về con người và thái độ đối với hiện thực Đọc tiểu thuyết sử thi trước 1975, độc giả có thể hiểu ngay được nhà văn nêu gương, ngợi ca ai và phê phán, tẩy chay đối tượng nào Với quan niệm nhà văn

ở vị trí tối cao, toàn tri, nhân vật tất yếu là công cụ của tư tưởng, trong trường hợp này, nhân vật bị “tước mất quyền tự do” và bị “cầm tù” về tư tưởng Con người như một tư tưởng, một tính cách, một mô hình được nhà văn nhào nặn, sắp xếp hơn là một cá thể, một con người trong mối quan hệ biện chứng với xã hội

Từ quan niệm mới về hiện thực, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hiện nay đã trả con người về với mảnh đất quen thuộc, đặt con người trong mối quan hệ với cái thường ngày, lấy cá nhân để soi ngắm mọi giá trị Con người không chỉ được nhìn

Trang 16

nhận ở phương diện đạo lí mà còn ở phương diện con người tự nhiên, con người tâm linh và cả con người vô thức…Cả nhân vật người lính và nhân vật kẻ thù đều được nhìn trong hệ quy chiếu nhân bản với xã hội, với tự nhiên, với con người và với chính mình Đó là cách tiếp cận, thể hiện con người ở phía “người” nhất, nhân bản nhất

Mười hai tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 2004 – 2009

là mười hai câu chuyện với hàng trăm mảnh đời khác nhau của các nhân vật ở cả hai đầu chiến tuyến Dù là “ta” hay “địch”, dù là người lính Cụ Hồ, viên sĩ quan Ngụy hay người tù binh Mỹ… đều được các tác giả tập trung khai thác ở phương diện “người” là chủ yếu

1.1.1 Đưa người lính “trở về” với đời thường

Trong tác phẩm Mùa hè giá buốt, Nguyễn Sĩ Việt là một người chỉ huy tài

năng, đầy bản lĩnh nhưng người anh hùng này cũng được Văn Lê rất chú ý khắc họa những nét đời thường Động cơ ra trận của Nguyễn Sĩ Việt trước hết lại là việc chạy trốn khỏi sự đòi hỏi tình dục quá mạnh mẽ của Lụa, vợ anh Ngày còn ở nhà, do sự sắp đặt của mẹ, Việt lấy vợ từ năm mười sáu tuổi Lụa hơn anh sáu tuổi: “Cô là người khai sáng, mở cửa cuộc đời anh Cô đã làm thay đổi cuộc đời anh, đưa anh trở về với bản năng cội rễ của con đực, đó là sự truyền giống Cô dạy anh làm chồng Cô biến anh từ một gã thanh niên mới lớn trắng tinh, hời hợt, khờ khạo thành một người đàn ông hoen ố, bụi bặm và đầy ham muốn Chỉ có một điều đáng trách là cô không biết dừng lại ở chỗ nào Chính vì vậy, cô đã làm cho anh từ trạng thái khao khát, hưng phấn trở nên ngán ngẩm, rồi sợ hãi Anh tham gia quân ngũ một phần cũng là từ lí do này” [48, tr.215] Trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975, chúng ta không hề gặp động cơ ra trận của người lính kiểu này Họ ra trận hầu hết

Trang 17

đều xuất phát từ lòng yêu nước, căm thù giặc chứ không vì một lí do hết sức riêng

tư, đời thường như vậy

Ngoãn là một trong những nhân vật chiếm khá nhiều trang viết trong Thượng Đức Là một tiểu đoàn phó dũng cảm, năng động, bản lĩnh nhưng ít ai ngờ được một

trong những động cơ vào bộ đội của anh lại là để “rửa” lí lịch cho gia đình, cho tương lai của mấy đứa em, vì gia đình anh có “lí lịch phức tạp” Ông nội làm lí trưởng, bố nghiện thuốc phiện phá gia chi tử, nhà nghèo, cơm bữa có bữa không, quần áo rách buộc túm đằng trước đằng sau, vậy mà vẫn mắc vào tội “con cháu lí tưởng” Ngoãn là con cả trong nhà nên sớm nhận ra sự bất công, vô lí ấy Chỉ có đi

bộ đội anh mới làm cho lí lịch gia đình anh được trong sáng, hai thằng em mới có tương lai tốt đẹp hơn

Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 viết trong hoàn cảnh chiến tranh, vì vậy hình ảnh trung tâm thường là người lính, hiện thân của chủ nghĩa anh hùng Nhân vật thường đồng nhất với lịch sử, con người giống như là phương tiện

để khẳng định bước đi tất yếu của lịch sử

Người lính của tiểu thuyết hiện đại không thuần nhất nữa, họ thường được nhìn nhận ở phương diện con người công dân, con người chính trị, con người xã hội

Trung đội trưởng Nguyên Bình (Bên dòng Sầu Diện - Nguyễn Đình Tú) cũng

được bạn đọc nhớ tới là một nhân vật số phận hơn là một người lính Ngoài mấy trang miêu tả lần đầu tiên nhân vật Nguyên Bình cầm súng tấn công vào nhà Phán Qúy, cứu Tuấn Thành và khoảng gần ba trang kể lại trận Nguyên Bình tham gia tiêu diệt đội Com-măng-đô, còn lại hình ảnh người lính này rất mờ nhạt Có thể lấy một đoạn trong câu chuyện của con trai Nguyên Bình viết về ông để thấy rõ con người

số phận của ông là thế nào: “tạm bỏ đi cái lí lịch oai hùng trận mạc một thuở của ông, bỏ đi bao nhiêu danh hiệu cao quý mà ông treo trên tường kia nữa, sẽ thấy ông hiện lên là một con người đầy rẫy những mâu thuẫn và cũng đáng thương như bao

số phận khác mà thôi…Quá khứ của ông phức tạp hơn tôi tưởng Bảy mươi năm của một đời người chất chứa bao chuyện buồn vui” [55, tr.243-244]

Trang 18

Có hàng trăm nhân vật, hàng trăm người lính được các tác giả tạo bởi những nét vẽ đậm nhạt khác nhau, từ anh lính tò te lần đầu ra trận đến người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, những ông đại tá về hưu… mỗi nhân vật là một mảnh đời, một hoàn cảnh sống khác nhau, tạo nên một bức tranh đời sống với những số phận con người sinh động như cuộc đời thực

Người lính trong tiểu thuyết trước 1975 được khai thác chủ yếu ở chất

“lính”, ở con người công dân, con người chính trị tức là ở chức năng đánh giặc, cứu nước, xả thân vì sự nghiệp chung thì tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay lại nghiêng về chất “người” nhiều hơn Chính việc xây dựng hình ảnh người lính với vai trò là nhân vật số phận làm cho người lính gần “người” hơn, thật hơn Và vì thế, phạm vi, mức độ phản ánh cũng rộng hơn và sâu sắc hơn, góp phần làm đổi mới bộ mặt của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng

1.1.1.2 Người lính – con người hèn nhát, cơ hội, sai lầm

Chiến tranh ác liệt đó chính là “thuốc thử” để phân biệt sự hèn nhát và can đảm, yếu hèn và bản lĩnh Hèn nhát là luôn nghĩ và sợ hãi cái chết Các nhà văn thường đặt nhân vật đối diện với cái chết để soi rọi nhân cách, bản chất của mỗi nhân vật Trong đội ngũ cách mạng, có những người hết lòng vì sự nghiệp chung nhưng bên cạnh đó lại có những kẻ ích kỷ chỉ biết nghĩ cho bản thân mình Sự lo lắng cho bản thân không phải là xấu nhưng đi ngược lại lợi ích chung trong khi đất nước có chiến tranh thì đó là điều đáng bị lên án Thật đáng tiếc trong số đó lại có những người giữ những trọng trách quan trọng, những người đứng trong hàng ngũ

lãnh đạo Tiêu biểu là Nguyễn Xuân Khoái, Đỗ Hà, Hoàng Xuyên… trong (Xiêng Khoảng mù sương) Đỗ Hà là phó tổng đoàn, Hoàng Xuyên là trung tá, cả hai đều

giữ chức quyền quan trọng trong đội quân tình nguyện nhưng không được cấp trên giao chức chỉ huy cao nhất, thay vào đó là San Cơ hội thăng tiến mất, Đỗ Hà cấu kết với Hoàng Xuyên, Hoán viết báo cáo vu khống, gán cho San mắc tội phản bội, theo địch, tìm cách báo cáo sai tình hình mong tìm cách cản trở mọi hoạt động của San Vì hành động mưu mô và ích kỷ đó mà danh dự và hạnh phúc của San bị phá

Trang 19

vỡ Để rồi, đến đường cùng, Hương – vợ San không muốn mang tiếng xấu là vợ sĩ quan đào ngũ, đem gửi con cho cậu em và lấy người đàn ông dạy cùng trường, dù

cô vẫn yêu San tha thiết

Cũng chỉ vì nghĩ đến lợi ích riêng của mình mà Lê (Thượng Đức), chính ủy

trung đoàn 6 sư đoàn 304 ra sức thúc giục bộ đội đánh địch liên tục, mỗi đêm đánh một trận Lê muốn chứng minh với cấp trên rằng mình không những giỏi chính trị

mà còn giỏi quân sự nữa Hành động đó của Lê đã khiến “bộ đội thương vong tùm lum”, mải tấn công không phòng thủ, địch phục kích đơn vị khiến tiểu đoàn phó Mao, đại đội trưởng Tài, trung đội trưởng Từ hi sinh, điều Ngoãn – một người chỉ huy có tài lại ở tuyến sau bởi những lời Ngoãn nói với Lê trong cơn nóng giận Thực chất Lê là người chỉ huy vô trách nhiệm, chỉ nghĩ đến lợi ích của riêng mình Điều đó thật đáng trách

Người anh hùng, những cá nhân tiêu biểu không phải không có lúc mắc sai lầm Tướng Hoàng Đan vì tự tin thái quá, chủ quan, khinh địch, gây tổn thất mất mát lớn cho quân đoàn Trong trận đánh vào Thượng Đức “ông không phản đối việc pháo binh nhằm vào từng lô cốt, từng ổ hỏa lực địch Ông nghĩ cách làm ấy cũ rồi…

Sư đoàn 304 của Quân đoàn ông không cần như vậy Mỗi tấc đất của Thượng Đức đều là mục tiêu Đạn pháo của sư đoàn sẽ biến tất cả thành cám Không còn cái gì sống sót, không còn cái gì chịu đựng được Thằng địch ở Thượng Đức sẽ hiểu thế nào là quân của bộ” [45, tr.193] Hoàng Đan đã mắc bệnh khinh địch, coi thường ý kiến đóng góp của đồng đội, lực lượng cơ sở Đó cũng là một phần lý do giải thích tại sao trung đoàn 304, sư đoàn ông đã làm sư trưởng đến 8 năm, sư đoàn có những trận đánh lớn, thắng lớn vang dội lại không chiếm được Thượng Đức Nghe tin thất trận, ông bàng hoàng “đánh giặc thắng thua là chuyện bình thường nhưng chưa bao giờ ông nghĩ tới chuyện 304 không chiếm được Thượng Đức” [45, tr.324]

1.1.1.3 Người lính – nhân vật bi kịch, nhân vật chấn thương

Con người sinh ra là để sống với bao nhiêu tâm tư tình cảm khác chứ không phải chỉ yêu nước, căm thù giặc Chiến tranh với môi trường chủ yếu là chiến trường, người lính hầu như chỉ giáp mặt với sự hủy diệt nên tâm hồn dễ bị thương

Trang 20

tổn Văn học về chiến tranh hôm nay xuất hiện kiểu nhân vật bi kịch, nhân vật bị chấn thương, bị ám ảnh bởi chiến tranh, không tìm được sự yên tĩnh, thanh thản trong tâm hồn Đó là những giày vò đau đớn, dai dẳng cả khi chiến tranh đã khép lại

Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều nhân vật người lính bị chấn thương tâm lí trong những tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 2004 – 2009

Đó là sự đau đớn của một người lính đã bắn nhầm vào chính người chỉ huy

của mình Tỉnh đội trưởng Lê Quang Phùng (Thượng Đức) có vóc dáng cao to như

người Tây Khi trận đánh đã kết thúc, anh cùng một tốp bộ đội đi lom khom trong chiến hào Một chiến sĩ của anh bị thương ngay từ đầu nằm lại trong chiến hào ngỡ anh là thằng Mỹ đang tìm đường tẩu thoát Anh ta đã bắn một tràng AK xuyên qua lồng ngực Lê Quang Phùng Về bệnh viện dã chiến một lúc thì Phùng tắt thở Khi nhận ra việc bắn lầm, người chiến sĩ đã giật súng ngắn của thủ trưởng mình định tự sát, may mọi người ngăn kịp Với sự vô tình của mình, liệu anh chiến sĩ ấy có tiếp tục sống thanh thản được hay không? Lỗi lầm ấy sẽ đeo đẳng anh đến bao giờ?

Cảm nhận chung nhất sau khi đọc Phòng tuyến sông Bồ của Đỗ Kim Cuông

là thấm thía một “nỗi buồn chiến tranh” Ở đó, con người cũng đi qua cuộc chiến

với tất cả sự trải nghiệm về cuộc sống, về tình yêu của mình Nhân vật chính là Phong, là Cường, là Hạnh… Mọi mặt của chiến tranh đều in dấu vào lối suy nghĩ, vào cách sống, vào số phận của từng nhân vật

Đại đội trưởng Phong là một anh hùng của K10, đơn vị vốn có truyền thống

từ thời đánh Pháp Đơn vị giải thể, anh phải về làm một anh lính gùi gạo của đại đội vận tải Vì sự đố kỵ của chính trị viên Thoan, Phong bị quy cho tội hủ hóa Bằng việc tiêu diệt tên “điệp” Lí, anh được minh oan K10 tái thành lập, anh trở về chiến đấu bên những đồng chí thân thiết của mình Phong bị thương, bị địch bắt làm tù binh và được đồng đội giải cứu Nhưng cuối cùng anh phải về địa phương với những vết thương trên mình khi cuộc chiến vẫn còn dang dở Tình yêu của anh với Tâm như một trò đùa của số phận Phong yêu Tâm, họ vượt qua tất cả sự khốc liệt của chiến tranh để đến với nhau Vậy mà Tâm lại hi sinh một cách oan khuất, không

Trang 21

phải vì bom đạn của giặc mà vì sự đê tiện của chính người đồng chí Sự đê tiện đó tới mức không ai dám nói ra, kể cả cấp chỉ huy Phong đau nỗi đau mất người yêu nhưng còn đau đớn khi biết Tâm bị người đồng chí làm nhục và bị đâm chết mà không ai biết Đó còn là nỗi đau bởi sự đổ vỡ niềm tin ở con người

Bị tàn phế, trở về địa phương, Phong mang trong mình nỗi đau cả về thể xác lẫn tâm hồn Phong lấy Thơm, một cô giáo tiểu học trường làng xinh xắn Nhưng chẳng hiểu sao “khi anh được hưởng trọn vẹn tột cùng niềm hạnh phúc, Phong lại nhìn thấy gương mặt Tâm Cô ẩn hiện dưới làn sóng xanh… Tiếng khóc nức nở không rõ là của Thơm, vì được yêu, vì sung sướng Hay của Tâm? Anh không biết nữa” [44, tr.315] Có thể xếp nhân vật Phong thuộc kiểu nhân vật bị chấn thương trong tiểu thuyết hiện đại Liệu Phong có tìm lại được sự thanh thản, yên tĩnh trong tâm hồn khi sống bên Thơm hay vẫn là những giày vò dai dẳng, đau đớn? “Khép lại qúa khứ” thực ra chỉ là một cách nói Ba mươi năm chiến tranh đầy lửa đạn, chết chóc, quá khứ đó không có bao giờ khép lại đối với những người sống sót trở về như Phong?

Nhân vật Việt trong Mùa hè giá buốt lại ở khía cạnh khác Anh là người chỉ

huy tài năng, dũng cảm, đơn vị anh đã đánh thắng rất nhiều trận, sau này anh lại được thăng cấp phó tham mưu trưởng Phân khu Trong cuộc chiến, anh cũng như các chiến sĩ đều vì mục đích cao cả là đánh đuổi kẻ thù, thống nhất đất nước Cũng như họ, anh cũng bị điều khiển từ cấp chỉ huy cao hơn và anh cũng có thể chết bất

cứ lúc nào Sự thật là vậy nhưng anh không thể chối bỏ được một thực tế nhỡn tiền

là việc thăng tiến của anh đều có sự can dự bởi xương máu, công sức của người lính Anh luôn khổ tâm và nhức nhối bởi điều đó Nỗi khổ tâm ấy ám ảnh anh đến tận khi anh lìa bỏ cõi đời, giấc mơ cuối cùng lúc anh hôn mê là xác những con người bị xe tăng cán mỏng làm thành một con đường đỏ rực nằm vắt ngang giữa trời xanh Cái giá của sự thành công sao mà đắt, mà xót xa đến vậy! Việt ý thức được điều đó, lãnh đạo Phân khu ý thức được điều đó, cả dân tộc ý thức được điều

đó nhưng không còn con đường nào khác, chỉ có dùng bạo lực cách mạng mới có thể chiến thắng được kẻ thù Con đường để đến chiến thắng lát bằng xương máu của

Trang 22

Con Người, con người của cả bên “ta” và bên “địch” Vậy những con người sống sót làm sao có thể thanh thản được Chất nhân văn đằm sâu về tình người, tình nhân loại của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung, của tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 nói riêng một phần được biểu hiện ở đó

1.1.1.4 Người lính – con người tự nhiên, bản năng

Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh từ 2004 – 2009, bên cạnh con người đạo lý còn đi sâu khai thác, khám phá, biểu hiện con người tự nhiên trong mạch chung đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người Nó đã chạm đến những vấn đề thuộc về đời tư, bản năng của con người Trong tinh thần đổi mới, cùng với sự thay đổi quan niệm về hiện thực, những yếu tố của đời sống cá nhân ngày càng được đào sâu hơn, thậm chí nó đã trở thành một đề tài “nóng”, thu hút sự quan tâm của các nhà văn và các nhà nghiên cứu

Hầu hết các tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 2004 –

2009 đều đề cập đến vấn đề “kị húy” này Có những trang văn “đậm đà mùi vị sắc dục mà không hề vướng bận cảm giác thô lậu” như Ma Văn Kháng cảm nhận trong

tiểu thuyết Xiêng Khoảng mù sương của Bùi Bình Thi Hoặc có những dòng văn rất

tế nhị, chỉ hạn chế miêu tả một vài cử chỉ âu yếm của một đôi vợ chồng người lính

già như trong Thời hậu chiến của Nam Hà Không khó để nhận ra những trang văn

miêu tả hình ảnh người lính ở phương diện con người tự nhiên, con người bản năng

Đó là cảm giác đầu đời của chàng trai mới lớn như Vinh trong Màu rừng ruộng Trước khi ra trận, Vinh có tình cảm đặc biệt với chị Miền – người con gái

xinh đẹp nhưng quá lứa lỡ thì trong làng Vô tình chứng kiến cảnh chị Miền trong vòng tay của anh lái xe Sản, Vinh đau đớn, hụt hẫng: “Đêm ấy Vinh nằm mơ Giấc

mơ luôn chấp chới khuôn mặt chị Miền Giấc mơ khiến Vinh rùng mình, thấy có một thứ gì đó tháo thoát khỏi cơ thể bẫng hẫng như máu rút” [52, tr.65] Minh Việt

trong Bên dòng Sầu Diện, lần đầu vô tình “chạm phải hai vật tròn mềm ẩn sau làn

áo ngực của cô bạn gái” [55, tr.147] cũng khiến chàng trai rùng mình Toàn trong

Thượng Đức, khi đi trinh sát cùng Cẩm Linh chỉ một vài câu nói trêu đùa mà “cậu

Trang 23

nhỏ” của anh giở chứng ngóc đầu dậy khiến anh ngượng ngùng không dám đi tiếp…

Tình yêu muôn đời không có tội, chỉ có những thế lực ngăn trở tình yêu mới đáng bị lên án Bản năng của con người cũng đáng được thông cảm khi họ bị đặt vào một hoàn cảnh quá nghiệt ngã và tàn khốc, khi con người không thể dự đoán và

tự định đoạt cho số phận của mình Tình yêu của trung đội trưởng Vũ Duy Bình và Chiến, cô thanh niên xung phong là một ví dụ Lần đầu tiên gặp nhau, ban đầu chỉ là

sự động viên an ủi khi Bình biết đơn vị của Chiến gồm hơn ba chục chị em mà nay chỉ còn mười ba người Chiến muốn được yêu, muốn được một người con trai ôm thật chặt vào lòng rồi sau đó chết cũng mãn nguyện Những lời thổ lộ của Chiến làm Bình bất ngờ, anh thấy nghèn nghẹn trong hơi thở Từ sự đồng cảm ban đầu, Bình

đã yêu Chiến thật lòng: “Chiến bật khóc Cô dang tay ôm chầm lấy Bình Rồi hai người quấn chặt lấy nhau không muốn rời ra nữa Chiến đã để lại trên da thịt của Bình đây đó những dấu răng bầm tím nhưng rất đỗi ngọt ngào” [48, tr.325] Lần đầu tiên họ đến với nhau và trao cho nhau tất cả những gì đẹp đẽ nhất để không có lần thứ hai Lần sau Bình đến với Chiến thì cô đã không còn nữa Chiến đã bị kẻ thù giết một cách man rợ Nhưng trước khi ra đi, Chiến đã được hưởng hạnh phúc Khao khát của Chiến là khao khát được sống Trong hoàn cảnh nghiệt ngã như thế khao khát của những người con gái như Chiến cần được nâng niu trân trọng Điều

đó làm nên chất nhân văn cho tác phẩm Con người không thể biết được ngày mai mình sẽ ra sao, còn sống hay đã chết Con người hầu như không có sự lựa chọn cho riêng mình Trước ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, người ta thường hướng về cái bản năng là tất yếu Nếu che đậy phần bản năng ấy, nhà văn đã làm khiếm khuyết một phần rất “người” của nhân vật người lính

Con người bản năng ở nhân vật San trong Xiêng Khoảng mù sương lại được

thể hiện ở một góc độ khác San là trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào Anh là một cán bộ đứng đắn, có trách nhiệm Dù đã có vợ con ở nhà nhưng trong thời gian công tác, tiếp xúc với Seo Mảy anh đã có cảm tình đặc biệt với cô

Đã nhiều lần San tự đối chứng, lên án mình nhưng cuối cùng anh cũng không chiến

Trang 24

thắng được tiếng gọi của con người bản năng trong anh Cuộc ân ái giữa San và Seo Mảy là một trong những đoạn văn miêu tả khá chi tiết hành động của hai người vậy

“mà vẫn không hề vướng bận cảm giác thô lậu”: “San nằm, toàn thân anh thật mềm, bên cánh tay anh để cho thiếu phụ gối làm đầu, bàn tay của cánh tay ấy nhè nhẹ mơn man trên vùng đồi và thung lũng, giờ đã thắt lại vì nằm nghiêng của thiếu phụ Còn bàn tay của người thiếu phụ cũng vậy xoa nhẹ nhàng khắp ngực anh, bụng anh rồi bàn tay ấy với năm ngón tay của bàn tay mỗi giây lát mỗi xòe ra lang thang miền bên dưới, cho tới khi kẽ tay giữa của bốn ngón tay thiếu phụ cài hẳn vào một cái cọc cứng ngắc” [51, tr.684] Đây chỉ là giây phút trỗi dậy của con người tự nhiên trong San Nếu không có chi tiết này thì nhân vật San hoàn toàn là một người anh hùng với vẻ đẹp toàn vẹn Còn ở đây San là người lính, mang cả phần “người” và phần

“lính” trong mình Hơn nữa trong hoàn cảnh Seo Mảy hoàn toàn tự nguyện dâng hiến cho San nên con người bản năng trong anh không “lên tiếng” mới là chuyện lạ

Qua khảo sát các tiểu thuyết, chúng tôi thấy nổi bật nhất là tính chất giải sử thi ở hình tượng nhân vật người lính Trong các tiểu thuyết giai đoạn 1945 – 1975, người lính chủ yếu được khắc họa ở phương diện con người công dân, con người chính trị Họ là những người anh hùng mang phẩm chất của nhân vật sử thi, mang tầm vóc của núi sông của lịch sử, họ thường đại diện cho một thế hệ, với sức mạnh bất khả chiến bại, họ luôn chiến thắng hoàn cảnh Vẫn những người lính ấy nhưng sau độ lùi của lịch sử, họ được nhìn nhận đánh giá một cách chân thực hơn, toàn diện và sâu sắc hơn Họ vẫn là những người lính sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp chung, chiến đấu ngoan cường và hi sinh anh dũng… Thế nhưng bên cạnh con người đạo lí còn có con người tự nhiên, bên cạnh con người công dân còn có con người cá nhân, con người số phận, con người bi kịch, bên cạnh con người chiến thắng có con người bị “chấn thương”… Tuy còn một số hạn chế nhưng mười hai tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 đã góp phần làm nên bức tranh toàn diện hơn về nhân vật người lính Đưa họ “trở về” với đời thường hơn, với chất “người” nhiều hơn vì vậy mà thuyết phục độc giả hôm nay hơn

Trang 25

1.1.2 Đưa nhân vật kẻ thù hướng về “tính người”

Chiến tranh là hoàn cảnh bất thường Ở đó dù là “ta” hay “địch”, dù chiến thắng hay thất bại cũng đều là những mất mát, đau thương Chiến tranh luôn là sự khốc liệt với cả hai phía Trong tiểu thuyết trước 1975, tâm huyết, dụng công của nhà văn thường dành cho nhân vật chính diện, nhưng hôm nay, nhân vật kẻ thù cũng được một số nhà văn quan tâm khai thác, làm nên nét đổi mới của tiểu thuyết chiến tranh hôm nay

Một điều dễ nhận thấy trong văn học 1945 – 1975 là kẻ thù thường được “thú hóa” từ ngoại hình (kiểu như “Mắt mèo hoang, mũi chó, râu dê”…) cho đến những

nét tính cách tàn ác, hiểm độc (kiểu như thằng Xăm trong Hòn đất, Đơvanhxi trong Cửa biển…)

Quan niệm hiện thực thay đổi, từ điểm nhìn sử thi, các nhà tiểu thuyết nghiêng dần sang điểm nhìn sinh hoạt đời tư vì vậy mà cái nhìn đối với nhân vật kẻ thù cũng khác Họ được xem xét trong cái nhìn đa chiều, góc cạnh hơn và tồn tại như một cá thể độc lập với tính cách đa dạng, phức tạp, phá vỡ tính chất đơn tuyến, một chiều kiểu nhân vật “thú tính” như trước đây

Nói như vậy không có nghĩa là chất thú tính trong hình tượng nhân vật này không còn Tội ác của chúng vẫn hiển hiện trong từng tác phẩm Thật khó có thể

tưởng tượng được tên giặc lái Ben-ni Ti-tơ trong tiểu thuyết Về với mẹ của Hoàng

Bình Trọng lại có thể ra tay một cách cực kì tàn ác với cu Quyền, người đã cứu sống hắn Máy bay của Ben-ni Ti –tơ bị bắn cháy, hắn nhảy dù xuống vực, nước sông kề sát cửa động Phong Nha Cu Quyền là người phát hiện ra hắn, đã lôi được hắn lên bờ, hà hơi thổi ngạt cứu hắn khỏi chết đuối Vậy mà hắn đã “bất ngờ vung một cú đá đủ mạnh để hất ngửa cu Quyền ra đất, và chồm lên nằm đè lên chú bé

Nó dùng đôi tay như đôi gọng kìm chít vào cổ chú bé trong lúc cặp đùi gối to như hai cái dùi vồ đập đất của hắn cứ thay nhau nhè vào bộ hạ chú bé mà thúc liên hồi kì trận… Giết chết cu Quyền rồi, thằng súc sinh kia dường như chưa hả Nó còn trả ơn thêm cái người vừa cứu sống mình bằng cách nhặt một cục đá to hơn viên gạch, đập

Trang 26

vào khuôn mặt thơ dại, đẹp như thiên thần của chú bé với sức mạnh căm thù của loài dã thú” [53, tr.110]

Trong Tiếng khóc của nàng Út , người đọc gặp rất nhiều những cảnh tra tấn

rùng rợn của cha con nhà Cửu Sừng: chôn sống Đua, tra tấn những người theo Cộng

sản, chặt đầu ông cả Sang cắm lên cành gạo…Trong Mùa hè giá buốt là cảnh một

bầy trực thăng xả súng tàn sát cả một bản người Stiêng, những tên lính Mỹ bu bám quanh những người đàn bà trần truồng, mông muội, cảnh bọn địch phục kích giết mười hai cô gái thanh niên xung phong, chúng còn cắt vú và đâm nát chỗ kín của họ… Thật khó có thể kể hết tội ác man rợ của kẻ thù! Có điều, bên cạnh phần thú tính, những kẻ ở bên kia chiến tuyến đã được cái nhìn của ngày hôm nay soi chiếu một cách khách quan hơn Vì vậy chúng cũng “người” hơn

1.1.2.1 Nhân vật kẻ thù có tri thức, sống có lí tưởng, có bản lĩnh

Quận trưởng, trung tá Nguyễn Quốc Hùng trong Thượng Đức là một nhân

vật tiêu biểu cho sự đổi mới kết cấu nhân vật kẻ thù của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hiện nay

Hùng có niềm tin tưởng tuyệt đối vào chế độ mà mình phụng sự: “Chưa bao giờ Hùng nghĩ rằng chế độ Việt Nam cộng hòa đến lúc nào đó được thay thế bằng chế độ Cộng sản” [45, tr.109]

Cũng trong Thượng Đức, thiếu tá tiểu đoàn trưởng Lầu và quận phó Tín là

những tay chân thân cận của Hùng Lầu có khí phách, Tín có đầu óc chiến lược và đều là những kẻ trọng danh dự, dám đi đến cùng và dám chịu trách nhiệm về con đường mình đã chọn Lầu luôn tâm niệm: “đã là thằng lính, chọn lấy một bên, hoặc quốc gia, hoặc Cộng sản Trung thành sống chết với cái mình đã chọn” [45, tr.523] Lầu đã sống như thế Thượng Đức bị mất, Lầu bị bắt, hắn đã cắn lưỡi tự tử

Những người như Hùng, như Lầu, … nếu có lí tưởng đúng đắn thì họ cũng là những con người đáng được trân trọng

Ngay với cả một tên lính Mỹ, cái nhìn của nhà văn cũng khách quan hơn nhiều Erwin Parson tình nguyện sang chiến trường Việt Nam, tham gia đánh trận đầu tiên và bị bắt làm tù binh Khi được hỏi vì sao lại tình nguyện sang Việt Nam

Trang 27

hắn nói ráo hoảnh: “- Để bảo vệ cho nhân dân Việt Nam trước thảm họa Cộng sản”, câu trả lời này cho thấy hắn là một người sống có lí tưởng, chỉ có điều lí tưởng của hắn đã bị chính quyền Mỹ lừa bịp, lợi dụng mà hắn không biết Đối diện với cuộc chiến hắn mới nhận ra mình bị lừa: “Nhưng sang đến đây, được chứng kiến những

gì quân đội Mỹ đã và đang gây ra, tôi hoàn toàn thất vọng” [48, tr.265]

Một người tù binh khác trong Mùa hè giá buốt khi bị Việt hỏi cung đã nhận

xét rất chính xác về sự mất bình tĩnh của ta trong việc tiếp tục tấn công Sài Gòn lần hai, và còn quả quyết rằng nếu chúng ta vẫn cố tấn công thì sẽ thiệt hại nặng Trong hoàn cảnh bị bắt làm tù binh mà vẫn hiên ngang nhận xét như vậy về đối phương chứng tỏ anh ta là một người rất có bản lĩnh Những nhận xét của anh ta sau này cũng rất chính xác Đơn vị của Việt đã bị thiệt hại nặng nề và phải rút lui khi lực lượng thương vong hơn chín mươi phần trăm

Như vậy nhân vật kẻ thù đã được quan niệm là con người đúng nghĩa, chỉ có điều lí tưởng của họ lại đối lập với lí tưởng Cộng sản Với kiểu nhân vật như vậy, các tiểu thuyết đã góp phần tăng cường thêm tình huống căng thẳng cho tác phẩm

Kẻ thù không chỉ hèn yếu, manh động, tàn bạo… mà chúng cũng là những con người có trí tuệ, có bản lĩnh Chiến thắng những kẻ như vậy mới vẻ vang

1.1.2.2 Nhân vật kẻ thù có đời sống nội tâm

Do tính chất của nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa, văn học giai đoạn 1945 –

1975 chủ yếu miêu tả con người hành động Con người ít có thời gian để suy nghĩ, trăn trở cho những vấn đề riêng tư của bản thân mình Nhà văn thường tâm huyết với nhân vật người lính, ít chú ý tới nhân vật kẻ thù, nếu có cũng thường chỉ tập trung vào những hành động gây tội ác của chúng Trong xu hướng kéo nhân vật kẻ thù về phía chất “người” nhiều hơn, các nhà văn đã dành một số trang viết cho những tâm tư, tình cảm của kiểu nhân vật này

Trở lại với quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng trong Thượng Đức, một kẻ thù

địch với Cộng sản nhưng lại là người rất giàu tình cảm với cấp dưới và nhất là với

vợ con Vì nhiệm vụ, y liên tục phải “bám” Thượng Đức Mỗi lần nhìn về phía Đà Nẵng, y tiếc nuối một chiều vui, một đêm vui ở căn nhà hai tầng trên đường Thanh

Trang 28

Bình, nơi đó có người vợ yêu và hai đứa con gái thân thương của mình Trước cấp dưới, Hùng luôn luôn làm gương, lấy sự nghiệp chống Cộng làm mục đích chính trong cuộc đời của mình, gia đình chỉ là hàng thứ yếu Tuy vậy, là một người chồng yêu vợ, một người cha yêu con, Hùng không khỏi buồn nhớ: “Y thấy thích thú vô cùng được nằm cạnh con Mùi thơm trên miệng mềm mát của con đưa y vào giấc ngủ thật yên bình” Lúc này Hùng rất “người” Trong những giây phút cuối đời, hình ảnh vợ con ùa vào tâm hồn y: “Y cảm thấy như vợ và hai con gái đang chờ kia Người vợ hiền dịu đang mỉm cười nhìn y âu yếm Hai đứa con gái chạy lại với ba

Y không chỉ sờ thấy mà còn nghe thấy thoảng mùi thơm ngọt của da thịt vợ con” [45, tr.543] Cục diện trận chiến đã nghiêng hẳn về phía Cộng sản, Hùng biết mình

đã thất bại, Thượng Đức – niềm kiêu hãnh của y và của chế độ miền Nam Cộng hòa

sẽ thất thủ Y biết cái gì đã chờ đợi mình ở phía trước Hùng không ân hận cho con đường mình đã chọn nhưng y không bao giờ mong có một đứa con để rồi lại làm một người lính như y Hùng cũng như bao con người bình thường khác, cũng mong muốn có một cuộc sống êm ấm bên vợ đẹp con khôn Y sợ cái chết của y sẽ làm vợ con đau khổ Y thấy những giây phút bên vợ con đang dần trở thành ảo ảnh Ước mong cuối cùng của trung tá quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng bình dị biết bao:

“Chiến tranh không thể là mãi mãi Con người sinh ra là để được sum họp gia đình,

để hưởng hạnh phúc Con y không phải lo âu khi nghe tiếng đại bác đâu đó, tiếng nổ mìn đâu đó, tiếng súng lớn, súng nhỏ đâu đó” [45, tr.547]

Qua việc khai thác đời sống nội tâm của nhân vật Hùng, xét đến cùng, Hùng cũng là một kiểu nhân vật bi kịch Chiến tranh là bi kịch, nó cuốn vào đó rất nhiều những bi kịch khác của con người ở cả hai phía Con người bao giờ, dù trong hoàn cảnh nào cũng mong muốn được sống yên ổn bên những người thân yêu của mình

Bằng cái nhìn sâu vào bên trong nội tâm nhân vật, tác giả Nguyễn Bảo Trường Giang đã khám phá ra một phần đầy nhân tính ở nhân vật Lầu Đằng sau cái

vẻ bề ngoài ăn chơi trác táng, Lầu còn là một con người biết yêu thương, giàu lòng trắc ẩn Vì chiến tranh, vì nặng lòng với người xưa mà cho đến lúc chết Lầu vẫn cô đơn, bơ vơ

Trang 29

Bên cạnh việc đổi mới nhân vật người lính cách mạng, nhân vật kẻ thù cũng được các nhà văn quan niệm và nhận thức lại Nhân vật kẻ thù trong văn học 1945 –

1975 thường được xây dựng bằng bút pháp “hiện thực tàn nhẫn”, chúng thường được miêu tả ở bản chất “thú” là chủ yếu Kẻ thù trong cái nhìn của ngày hôm nay

đã có sự thay đổi Bằng bút pháp “hiện thực tỉnh táo”, người ở bên kia chiến tuyến được miêu tả ở nhiều chiều hơn, có phần “thú” và có phần “người”, thậm chí phần

“người” còn được tô đậm hơn, nhờ đó nhân vật được soi ngắm ở phía “người” nhất, nhân bản nhất Sự đổi mới trong cấu trúc nhân vật kẻ thù trong các tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 đã góp phần không nhỏ vào sự đổi mới của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng và văn học hiện nay nói chung

1.2 Đổi mới không gian, thời gian

Không gian, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm không chỉ là môi trường sống của nhân vật, là chứng nhân cho sự vận động, diễn biến của sự kiện mà còn tồn tại với tư cách như hình tượng nghệ thuật

Trước 1975, người lính thường được thể hiện trên nền thời gian sự kiện - lịch sử Nhân vật thường đồng nhất với lịch sử, cảm nhận thời gian bằng tầm vóc các sự kiện lịch sử Con người giống như một phương tiện để khẳng định bước đi tất yếu của lịch sử

Sau 1975, người lính được thể hiện trong sự xen kẽ giữa thời gian, không gian của quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa cái đang xảy ra với cái đã xảy ra Sự đồng hiện thời gian, không gian đó là một “giải pháp nghệ thuật” giải quyết được nhiều vấn đề tác giả đặt ra cùng một lúc, đồng thời đắc lực giúp tác giả trong việc thể hiện ý thức nhân vật

1.2.1 Đổi mới không gian

Hẳn nhiên không gian quen thuộc nhất của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh là không gian chiến trường Nhưng khác với không gian hoành tráng, kì vĩ trước đây, không gian trong tiểu thuyết sử thi hôm nay được bao trùm bởi cái nhìn bi kịch hóa Nổi bật nhất là những không gian cực kì căng thẳng, ngột ngạt đúng với tính chất

Trang 30

khốc liệt của cuộc chiến, không gian bi thương của sự thất bại và hình ảnh những cái chết Loại không gian thứ hai là không gian đời thường với cái nhìn đời tư hóa Thứ ba là không gian tâm lí với cái nhìn trữ tình hóa, cảm thương hóa Thứ tư là không gian tâm linh, huyền thoại với cái nhìn lạ hóa, thiêng liêng hóa Và cuối cùng

là hình tượng thiên nhiên với xu hướng biểu tượng hóa

1.2.1.1 Không gian đời thường

Đây là kiểu không gian đặc trưng của tiểu thuyết chiến tranh 2004 – 2009 so với giai đoạn trước Giai đoạn văn học 1945 – 1975 không gian đời thường ít được

đề cập tới, bởi đó là lúc “con người hi sinh tất cả vì đất nước”, người ta không quen nói đến những riêng tư, cá nhân Đúng hơn là những gì thuộc về cá nhân đều được giấu kín trong hai tiếng “nhiệm vụ” Thực chất đây là không gian cho phép nhân vật sống đích thực với cuộc sống riêng của mình, được là chính mình Nếu không gian chiến trận để họ bộc lộ những phẩm chất chung vì lí tưởng, vì đất nước thì không gian đời thường giúp tái hiện chiều sâu tâm lí trong con người họ, giúp nhận ra họ, cảm nhận được họ nghĩ ra sao về cuộc sống xung quanh Và đó chính là chìa khóa

để quan niệm “con người là con người” được sáng tỏ

Mỗi người lính, sau những trận chiến đấu căng thẳng sẽ có những giờ phút

họ trăn trở, suy nghĩ về gia đình, về cuộc sống ở hậu phương với bao niềm vui, nỗi buồn Đặt những người chiến sĩ giữa không gian đời thường chúng ta mới hiểu hết

được tính cách, hoàn cảnh của họ Cũng bởi thế, Ngoãn (Thượng Đức) có cả một kí

ức rất dài về gia đình mình mà nhà văn Nguyễn Bảo Trường Giang đã dành rất nhiều trang văn viết về cuộc sống ấy Ngoãn sinh ra trong một gia đình bị mang tiếng là địa chủ, ăn thì đói, mặc thì rách rưới Bố Ngoãn nghiện thuốc phiện, bảo thủ, thỉnh thoảng mấy mẹ con lại được trận lôi đình khi bố nổi cáu, đánh và dọa đuổi Một mình mẹ Ngoãn tần tảo sớm hôm lo mấy miệng ăn mà không đủ sức Ngoãn lấy vợ, vì hoàn cảnh phải xin ra ở riêng khi không có một tài sản gì ngoài mấy mét vườn

Hay Thời hậu chiến của Nam Hà viết về cuộc sống của đại tá Hoàng Trầm

sau khi ông về nghỉ hưu Toàn bộ câu chuyện được đặt trong không gian sinh hoạt

Trang 31

đời thường với những toan tính, cân nhắc của người nông dân trên mảnh đất mà họ canh tác Ở chiến trường, ông Trầm là một người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, dưới quyền ông là hàng trăm, hàng ngàn chiến sĩ vậy mà vẫn răm rắp đâu vào đấy

Về quê hương, ông thành một người dân thường, chỉ những việc cỏn con như tăng gia chăn nuôi, cải thiện đời sống, xây nhà tắm, đóng trước cỗ hậu sự cho mình… cũng làm ông bù đầu vì sự ganh ghét, đố kị, dựng chuyện của Lợi, Tay bí thư đảng

ủy xã Trong không gian sinh hoạt đời thường ấy, bản lĩnh của một người lính già càng được khẳng định trước bao nhiêu sóng gió của cuộc đời

Với việc tái hiện không gian đời thường, tiểu thuyết chiến tranh 2004 – 2009

đã mang đến cái nhìn toàn diện hơn về những người chiến sĩ, giúp ta lí giải được một phần tính cách của họ và thấu hiểu hơn những khó khăn mà họ phải đối mặt

Nó không giống với những biến cố trong chiến trường mà họ vốn quen mà nó thực

sự là những thử thách để kiểm tra bản lĩnh của họ Trong chiến trận, họ anh hùng nhưng trong đời thường họ có thể bình thường, thậm chí tầm thường; Trong chiến trận, họ hùng dũng nhưng trong đời thường có thể họ hèn nhát; Họ có thể suôn sẻ trong đường binh nghiệp nhưng có thể rủi ro trong cuộc sống thường nhật… Nhờ có cái nhìn toàn diện như vậy nên tiểu thuyết chiến tranh 2004 – 2009 đã đem đến cho người đọc sự phong phú, đa dạng trong cách nhìn nhân vật

1.2.1.2 Không gian tâm linh huyền thoại

Tiểu thuyết sau năm 1975 đặc biệt là tiểu thuyết viết về chiến tranh đề cập đến một số khía cạnh của lĩnh vực tâm linh: sự giao cảm và ràng buộc vô hình giữa con người với vũ trụ, khả năng biết trước (tiên tri, linh cảm, giấc mơ), những câu chuyện về quá khứ, về dân tộc mang màu sắc huyền bí Chúng tôi gọi đó là không gian tâm linh huyền thoại

Một trong những tác phẩm đậm màu sắc tâm linh, huyền thoại nhất trong số

những tiểu thuyết được khảo sát là tiểu thuyết Mùa hè giá buốt của Văn Lê Tiếp

tục viết về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1986, một cuộc chiến như một huyền thoại về ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, “Quyết tử để chiến thắng” của những người lính

Trang 32

Không có tiểu thuyết sử thi nào trước 1975 lại mở đầu bằng tiếng cú kêu, một âm thanh mà từ trước đến nay dân gian đều cho là điềm gở, nhất là tiếng cú ấy lại xuất hiện vào đêm trước của đợt Tổng tấn công Mậu Thân lần hai của tiểu đoàn Bến Nghé Cái âm thanh “Ha…ha…ha…ha” lặp đi lặp lại nhiều lần làm cho thượng

úy Nguyễn Sĩ Việt ớn lạnh: “Chưa bao giờ anh nghe thấy tiếng kêu của loài nào lại

dị biệt, quái đản như thế Anh có cảm giác như chính ma quỷ sai loài cú đến đây cười cợt, trêu ghẹo anh Tiểu đoàn trưởng linh cảm thấy tai họa đang lởn vởn ở trong ngôi làng này Lần đầu tiên trong đời anh cảm thấy bồn chồn, lo sợ thực sự” [48, tr.19]

Vào đêm xuất phát tấn công, Việt cũng loáng thoáng nghe tiếng cú kêu, nó không giống tiếng lợn hét, không giống tiếng cú cười “mà như những tiếng nấc cục

“Hấc…h…ấ…c…” Tiếng cú lặp đi lặp lại đôi ba lần rồi chết lặng, để lại trong không gian một bầu không khí đầy trắc ẩn” [48, tr.35] Điềm báo ấy đã đúng khi vào mặt trận, những trái đạn của địch đã xóa đi từng mảng người trên mặt đất, người lính này ngã xuống, người sau lại vọt lên thay chỗ Rất lâu sau, Việt vẫn không thoát khỏi được nỗi ám ảnh nặng nề, bởi anh phải chứng kiến quá nhiều cái chết của đồng đội Nặng nề hơn là khi chính trị viên Lê Quang Tạo cầm loa kêu gọi địch đầu hàng thì bị tên biệt kích bị thương gần đó bắn gục Những người lính nhìn thấy cái chết của chỉ huy đã không tự chủ được nữa Họ đâm lê, xả súng không thương tiếc vào quân thù, kể cả những tên giơ tay hàng vẫn bị bắn một cách lạnh lùng Sự tàn sát, trả thù này khiến Việt khổ tâm, dằn vặt khi để mặc cho bộ đội làm những điều đi ngược lại với thiên lương của người lính

Giấc mơ cũng là một bằng chứng của linh cảm Ở Mùa hè giá buốt, không

dưới một lần tác giả đề cập tới giấc mơ của các nhân vật

Vân bị lạc đơn vị, cô mệt mỏi thiếp đi bên cạnh những người lính mới hi sinh Trong giấc ngủ chập chờn, cô lờ mờ nghe thấy tiếng gọi của mười mấy chiến

sĩ, họ gọi cô dậy và báo sắp có máy bay nhưng mắt cô cứ díp lại, họ phải hắt ca nước vào người, cô mới giật mình tỉnh dậy Ngay lúc đó, một bày trực thăng Mỹ ào tới ném bom thật và cô kịp chui nhanh vào hầm Khi pháo nổ dứt hẳn, Vân chui ra

Trang 33

khỏi hầm và cảm thấy chột dạ về giấc mơ vừa rồi: “Mười mấy nấm mộ chôn ở xung quanh gò, phải chăng là hình ảnh của những người lính đã hiện lên trong giấc ngủ muộn màng của cô? Phải chăng sự cảnh báo theo cách của họ đã giúp cô tránh khỏi tai ương vừa rồi?” [48, tr.178] Sáng ra cô kinh hoàng nhận thấy chiếc bồng của mình bị trúng tới hai viên đạn Khi ăn lót dạ cô còn lầm rầm khấn vái, mời những người lính ăn cùng

Hầu hết các tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 2004 –

2009 đều có màu sắc không gian tâm linh huyền thoại với những mức độ đậm nhạt

khác nhau Bên cạnh Mùa hè giá buốt, tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng Út của

Nguyễn Chí Trung cũng có không gian huyền thoại giữ vai trò chủ đạo trong tác phẩm

“Vượt lên trên sự mô tả chiến tranh đơn thuần, Tiếng khóc của nàng Út có xu

hướng lí giải sự thắng thua trong chiến tranh bằng chiều sâu văn hóa hơn là những câu chuyện giặc tàn ác, phi nhân, ta dũng cảm, chính nghĩa đã quen thuộc” [33, tr.105] Đây là huyền thoại về xứ Bàu Ốc được bà On kể lại cho con nghe: “Ngày đi

mở đất của ông cha còn đào thấy những bãi sỏi rộng và dài… Gần những lớp sỏi xa xăm đó, dưới những cồn cát cổ, tình cờ người bốc đất bắt gặp mấy bộ xương người, đàn ông và đàn bà… Tục gọi là Bàu Ốc vì trước đây giữa vùng đất mới khai phá sau rặng núi thấp chạy từ Bàn Than qua Vũng Quýt có vô số bàu, những vũng nước mặn không cạn” [54, tr.15-16] Không chỉ nói về lịch sử của các vùng đất mà đặc điểm của các bộ tộc người, phong tục của họ cũng được tác phẩm nói tới: người Ê

Đê, người Xơ Đăng, người Ba Na, người Chăm Roi…: “Hỡi người Ê Đê sống trên những đồng cỏ xen lẫn rừng thưa, uống rượu thì uống cạn ché, lấy vợ thì ở nhà vợ suốt đời, đàn ông mang tấm vải đỏ chói chang trước ngực căng phồng, tượng trưng cho quyền lực đàn ông, mà quyền lực lớn nhất của đàn ông ấy là phải làm theo người đàn bà đã sinh ra và cho bú

Hỡi người Xơ Đăng có đôi bàn chân thon, đi tìm vết chân con mồi, bé nhẹ, nhẹ hơn gió thoảng, kéo đàn một dây căng trên quả bầu khô áp lên bụng thâm trầm như thương nhớ…” [54, tr.201] Nguyễn Chí Trung hay nói đến không gian của núi

Trang 34

rừng linh thiêng, về quá khứ của các tộc người tạo cảm giác như sống trong không gian của chính những tộc người đó với những phong tục đặc trưng Đặc biệt, người đọc được tiếp xúc với không gian huyền thoại của những câu chuyện sử thi của các già làng, mọi người quây quần bên bếp lửa lắng nghe: “Sau một ngày xa nóc, đêm rộn ràng Bên bếp lửa bập bùng người già ngậm điếu quấn dồ bóng in dày trên vách nứa ngồi nghe kể trường ca, thân thể đung đưa, đắm mình trong men say ngây ngất” [54, tr.135-136]

Tìm về những không gian này, nhà văn thể hiện cái nhìn trân trọng hơn đối với những giá trị truyền thống của những tộc người đang bị mai một Chiến tranh đang làm mất dần đi những phong tục đẹp ấy, sức tố cáo của tác phẩm vì thế tăng lên gấp bội Tác giả đã nhìn chiến tranh ở góc nhìn đặc biệt, góc nhìn văn hóa - phong tục truyền thống Nếu chỉ miêu tả chiến tranh đơn thuần thì các nhà lịch sử sẽ làm tốt hơn nhiều các nhà tiểu thuyết Tiểu thuyết phải là tiểu thuyết, phải khám phá

cuộc sống trong bề sâu, bề xa của nó Tiếng khóc của nàng Út đã tìm thấy dưới cái

bề nổi của không gian chiến tranh là một không gian của những xung đột văn hóa, chính xác là xung đột giữa một bên là văn hóa và một bên là phản văn hóa Sức mạnh văn hóa là sức mạnh chính nghĩa được tích tụ từ ngàn đời nên bao giờ cũng chiến thắng

Đời sống tinh thần của con người luôn chứa đựng bao điều bí ẩn, trong đó có vấn đề tâm linh Tâm linh đối lập với ý thức kiểu lí tính thuần túy Nó bao gồm cái phi lí tính, cái tiềm thức, vô thức, bản năng thiên phú… Chưa bao giờ các nhà tiểu thuyết lại có nhiều trăn trở tìm tòi phát hiện, đổi mới hình thức thể loại như hiện nay Tiểu thuyết có thể đáp ứng nhu cầu tinh thần bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó có xu hướng quan tâm đến phương thức huyền thoại

1.2.2 Đổi mới thời gian

1.2.2.1 Rút ngắn thời gian sự kiện, kéo dài thời gian tâm trạng

Thời gian sự kiện vốn là đặc điểm quen thuộc ở tiểu thuyết về đề tài chiến tranh từ trước tới nay bởi chiến tranh là một sự kiện lớn Ở mỗi tác phẩm, nhà văn đều chủ đích viết về một sự kiện lịch sử nào đó Tuy nhiên trong tiểu thuyết sử thi

Trang 35

1945 – 1975, do cốt truyện thường được xây dựng trên cơ sở xung đột địch – ta, theo chuỗi sự kiện nhân quả nên cảm giác thời gian luôn gắn với sự kiện, biến cố Thời gian nghệ thuật thường hướng tới bước đi của lịch sử, bước đi của số phận cộng đồng chứ không nhằm khám phá những vấn đề thuộc đời tư cá nhân Chính vì thế nó thường tạo ra một số kiểu tổ chức thời gian tiêu biểu như thời gian mang tính

sự kiện - lịch sử, thời gian dồn nén mang tính tương lai, thời gian mang dấu ấn thế hệ…

Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay lấy con người và số phận con người làm đối tượng chính nên con người không phải chỉ là nhân chứng cho các biến cố lịch sử mà chính các biến cố ấy trở thành phương diện để văn học khám phá bản chất, quá trình tâm lí của con người Chính chiến tranh đã tác động, làm thay đổi con người sâu sắc Mà nói như Nguyễn Minh Châu thì chiến tranh làm cho con người ta hư đi nhiều hơn là tốt lên Là con người, nếu không vì một hoàn cảnh nào

đó thì không ai muốn mình là người xấu cả “Dù rằng đời ta thích hoa hồng, kẻ thù buộc ta ôm cây súng” Bắn giết vào con người chỉ là việc không đừng được phải làm Dù kẻ thù có thế nào thì chúng vẫn là con người Vì vậy phải giết người không

ai không cảm thấy day dứt Cái khoảng thời gian day dứt ấy con người mới là con người

Với xu hướng đưa văn học về gần với con người hơn, các tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 đã rút ngắn thời gian sự kiện và chú trọng khai thác khoảng thời gian tâm trạng Thời gian có mang cảm quan lịch

sử thì vẫn luôn gắn với sự trải nghiệm trạng thái tâm lí, tình cảm cụ thể của mỗi người

Một nhân vật xuất hiện không nhiều nhưng sự sống và cái chết của anh lại gây ấn tượng mạnh tới người đọc, đó là Đua Đua là con trai của mẹ On Anh đi bộ đội Trận đánh anh tham gia và sự kiện anh bị thương cụt hai chân được tác giả lướt nhanh chỉ bằng một câu văn: “Nó căm giận cái loạt đạn trung liên quét rèn rẹt sát mặt đất mà anh em bảo rằng đó là loạt đạn cuối cùng của Pháp vào quá nửa đêm ngày 20 tháng 7 cũng tức là ngày 21 tháng 6 ta” [54, tr.48-49] Thời gian tâm trạng

Trang 36

của Đua mới là dài Đó là những đêm Đua phải lọc cọc đi bằng hai chiếc ghế gỗ bốn chân Một chàng trai mặt mày sáng sủa, tai to, có tướng con nhà võ vậy mà bây giờ cụt hai chân, mắt chuyển màu vàng nâu Đua buồn: “Nó ngủ ngày, ban đêm thức Đêm xuống làm cho nó không chợp mắt được Đêm khủng khiếp và thân yêu…” [54, tr.49] Đêm nào Đua cũng dậy, từ tấm phản mọt, anh tụt xuống, cầm lấy hai chiếc ghế gỗ và lần xuống các bậc tam cấp để nấu trà xanh uống một mình Âm thanh “cộc cộc, cộc cộc” của hai chiếc ghế gỗ trong đêm khuya như xoáy sâu vào nỗi đau của Đua Làm Đua nhớ lại trước đây Ngày còn học ở trường Rừng Xanh, Đua học giỏi toán “kinh khủng”, được bạn bè nể, thầy giáo cưng Khi thầy giáo ra một bài toán khó, bao giờ Đua cũng giơ tay trước nhất; “Dạ, em giải được” “Thế

mà bây giờ bài toán đời nó không giải ra Lúng túng mịt mù rối quẫn, nó muốn quẳng hai chiếc ghế, đứng trên hai chân, nhưng nào có còn hai chân, chỉ có hai cái đùi cụt” [54, tr.50] Đua nhớ lại ngày không đi tập kết, ngày bỏ bệnh xá Liên khu về nhà với hai ống quần dài lượt thượt như áo quần hề Đua nhớ cả ngày cô Xuân đến thăm Xuân đã nhận trầu cau dạm hỏi của nhà Đua trước ngày anh bước vào tham gia chiến dịch Đông Xuân 53 – 54 Cô Xuân tóc vẫn dài, kẹp trễ, dày và đen mượt Xuân nhìn Đua một thoáng rất nhanh, sững sờ Đua nhận ra sự kinh hoàng và chua xót trong mắt Xuân Đua cũng nhận ra sự vỡ vụn những hi vọng ấp ủ bao lâu nay trong Xuân về một cấp bậc nào đó của anh Xuân ái ngại Xuân sợ hãi Xuân đứng

“tần ngần một lúc, đủ để vị chát của đời len lỏi trong cô… môi tím thâm, mím chặt, nuốt nhẹ sự bần thần cay đắng đang lan ngấm Xuân đứng lặng không nói được không xua được không đuổi được sự cay đắng phút chốc vụt đến mà không chịu rời bỏ… Xuân rùng mình sợ hãi…” [54, tr.50-51] Đó là tất cả những gì Đua nhận ra ở người con gái ấy Xuân lí nhí chào bà On rồi quay lưng bước gấp Còn lại Đua với nỗi đau nhân đôi; “So với cuộc phẫu thuật đầm đìa máu chia tay lầy nhầy với đôi chân, cuộc chia tay lần này chóng vánh hơn nhiều Đua nheo mắt nhìn ra hàng cau trước nhà, cây nào cây nấy cách nhau một khoảng vừa đủ để hai tàu cau chạm khẽ vào nhau, không cắn dứt, không toan tính, không giằng co, không có cả giận hờn và trách cứ” [54, tr.51] Thời gian ở đây dường như đã đứng im, bất động như nỗi chua

Trang 37

xót đang ngấm sâu, đang lắng vào trong Đua Nỗi cay đắng trước số phận đã đóng băng trong lòng, không còn biết cả giận hờn và trách cứ nữa Sau đấy, Đua bị thằng Tịnh sai người đem đi chôn sống Khi chúng về, Đua đã chui lên được và rồi chết thảm ở trong rừng

Nhờ thủ pháp kéo dài thời gian tâm trạng, độc giả có dịp được đi sâu vào những niềm tâm tư thầm kín nhất của nhân vật, để từ đó nhận ra sự khốc liệt của hiện thực chiến tranh là thế nào Không phải người lính nào trở về cũng là người anh hùng, cũng rạng ngời niềm vui chiến thắng Có người lính trở về với rất nhiều nỗi đau trên mình Đau cả về thể xác lẫn tâm hồn Không phải ai cũng có đủ nghị lực và niềm tin để vượt qua được nỗi đau ấy và nghiệt ngã là đôi khi cái chết lại là

sự giải thoát đối với họ

Nhân vật Hoàng Thủy trong Thượng Đức lại lựa chọn cái chết vì một lí do

khác Là một bí thư huyện, trong những ngày chuẩn bị đánh vào Thượng Đức, anh lại bị cấp trên nghi ngờ về lòng trung thành do địch tung tin thất thiệt nhằm chia rẽ đội ngũ những người cách mạng Trong khi chiến dịch đánh Thượng Đức đang gấp rút chuẩn bị, nhà văn lại rẽ sang dòng tâm tư của nhân vật Hoàng Thủy Với tâm trạng chán nản, tuyệt vọng, anh tìm đến dòng Vu Gia, nhờ dòng sông rửa nỗi oan cho mình Anh định lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình trước Đảng

và nhân dân Thời gian một đời của Thủy tái hiện trong tâm tư của anh Soi vào dòng Vu Gia anh thấy mảnh đất Đại Lộc gắn bó thân thiết đến chừng nào Anh mơ ước Thượng Đức được giải phóng, anh được đoàn tụ cùng vợ con vậy mà vợ con anh lại không còn nữa: “Chết là một giải thoát cho kiếp người nhiều uẩn ức” [45, tr.355] Nghĩ vậy nhưng trong lòng Thủy còn bao nhiêu ngổn ngang khác Cái chết của anh có góp phần làm cho mọi người tin hơn ở phẩm chất người cách mạng không? Kế hoạch đánh Thượng Đức đợt một do ai mà bị lộ? Bao giờ Thượng Đức mới giải phóng? Cái chết của anh có giải oan được cho Cẩm Linh không?

Nhờ dòng tâm sự đó Hoàng Thủy hiện ra là một người trung thành với cách mạng, một người con thân yêu của mảnh đất Đại Lộc, một người chồng, người cha giầu lòng yêu thương Đồng thời anh cũng là một người yếu đuối, mặc dù trung

Trang 38

thành với cách mạng nhưng chưa đủ bản lĩnh để vượt qua được những thử thách của cuộc đời Thử thách của chiến tranh, thử thách của cái chết đôi khi lại không khốc liệt bằng sự thử thách của lòng tin, con người có dũng cảm khẳng định mình hay không mới là điều quan trọng

Không chỉ với nhân vật người lính, ngay cả với nhân vật kẻ thù, đôi khi các nhà văn cũng quan tâm kéo dài thời gian tâm trạng để từ đó bản chất con người được bộc lộ rõ nhất Khi Thượng Đức thất thủ, quận trưởng Hùng lăn xe vào phòng riêng của mình và những kỉ niệm đâu đó ùa về trong y Hùng nhớ ngày mới gặp vợ mình Ngày vợ chồng mới lấy nhau y đã phải lên Thượng Đức, y nhớ hai đứa con gái ngoan, học giỏi Y đã nghĩ: “Con người sinh ra là để sum họp gia đình, để được hưởng hạnh phúc” [45, tr.547] Y không mong thế hệ sau phải tiếp tục con đường binh nghiệp như cha chú họ Y nghĩ tới những người lính bên kia chiến tuyến, họ cũng như y, cũng quặn thắt nỗi nhớ khi phải xa vợ con Và tự nhiên y nhận ra sự vô lí: “rất vô lí cho những kẻ cầm súng, như y và cả bên Cộng sản kia Lợi lộc đâu chẳng thấy, thấy thua thiệt trăm đường, bi thương trăm đường…” [45, tr.548]

Nếu không có khoảng thời gian tâm trạng lắng lại như vậy, làm sao người đọc có thể nhận ra những giây phút rất “người” của những nhân vật kẻ thù như Hùng

Như vậy thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học nói chung vừa biểu hiện điểm nhìn đời sống, sự cảm thụ đời sống, vừa là quan niệm của tác giả về thế giới và sự lựa chọn hình thức thời gian sao cho nổi bật được hình tượng không gian, phù hợp với thái độ, tư tưởng của nhà văn Cách chiếm lĩnh thời gian khác nhau sẽ tạo ra những kiểu tổ chức thời gian khác nhau trong lịch sử văn học Chính sự kéo dài thời gian tâm trạng, để nhân vật có những khoảng thời gian tâm trạng rất riêng Những lúc ấy, người lính mới thực sự là con người nhất

1.2.2.2 Đồng hiện quá khứ và hiện tại

Đây là đặc điểm có mối quan hệ qua lại với đặc điểm đảo trật tự thời gian, do

đó chúng tôi đánh giá về cùng một đặc điểm, đó là đồng hiện quá khứ và hiện tại Thường là vào đầu mỗi tác phẩm là câu chuyện của nhân vật chính xuất phát từ thời

Trang 39

điểm hiện tại, sau đó qua các biến cố, dòng ý thức… nhân vật trở về quá khứ Như vậy nhân vật luôn có sự trăn trở, dằn vặt giữa quá khứ và hiện tại

Toàn trong Tiếng khóc của nàng Út sau khi nghe già Thương kể lại huyền

thoại về người Kor đã nhớ lại mối tình của mình: “Giá hồi ấy mình lấy Huyền, có lẽ hôm nay con đã lớn Nỗi đau nơi đồng bằng mờ mịt hiện lên trong giấc ngủ chập chờn bên lửa đêm, còn ứ đọng, ngùn ngụt cháy không thôi” [54, tr.162] Toàn yêu Huyền, một cô cứu thương ở mặt trận, vậy mà Huyền đã chết trong trận bom của quân Pháp Trong túi áo của Huyền vẫn còn bức thư cô đang viết dở cho anh Cái kí

ức của “hồi ấy” và nỗi đau của “hôm nay” vẫn không thôi giày vò Toàn, nỗi đau như vẫn còn hiển hiện ở hiện tại mỗi khi có người gợi đến

Câu chuyện về ông bố của Ngoãn trong Thượng Đức, cũng là sự chắp nối

của các mảng thời gian quá khứ và hiện tại trong dòng hồi ức của hai anh em Ngoãn

và Tấn Những phân đoạn của quá khứ đan xen với thực tại, trải đều và xen kẽ vào câu chuyện tấn công đồn Thượng Đức Cái chết của bố Ngoãn được tái hiện lại trong dòng hồi tưởng của Tấn, em trai Ngoãn, lúc Tấn bị thương ở chiến trường Mặc dù hay bị bố mắng chửi nhưng hai anh em Tấn và Ngoãn rất thương bố mình, Ngoãn còn có lần không phải với bố, anh chưa kịp về xin lỗi bố thì bố đã ra đi rồi Lúc Tấn bị thương nặng, cận kề với cái chết, lòng anh còn ngổn ngang bao điều chưa nói hết với anh trai về bố thì dòng hồi tưởng của anh trở về với người bố thân yêu là điều dễ hiểu Cách kể ấy khiến câu chuyện linh hoạt và sinh động hơn hẳn cách kể tuyến tính, một chiều

Mùa hè giá buốt của Văn Lê là tác phẩm có cách xử lí thời gian nghệ thuật

khá độc đáo Tiểu thuyết gồm mười một chương thì riêng dòng hồi tưởng của nhân vật chính đã chiếm trọn sáu chương đầu Có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại, có hiện tại của quá khứ, có quá khứ của quá khứ… Tất cả đều xuất hiện nhưng nhờ sự

xử lí khéo léo mà người đọc vẫn theo dõi được tiến trình câu chuyện Thủ pháp đồng hiện thời gian này tạo cảm giác về một hiện tại bề bộn, rạn vỡ, phản ánh chân thực, sinh động những bi kịch và cuộc đấu tranh nội tâm của nhân vật Trận chiến

đã lắng lại hơn ba tháng nhưng với tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sĩ Việt nó như vừa

Trang 40

mới xảy ra hôm nay Hình ảnh đồng đội của anh hết lớp này đến lớp khác lần lượt ngã xuống luôn ám ảnh, làm anh day dứt không yên

Mở đầu tác phẩm: “Đêm ấy dài gần bằng một năm”, câu văn mở đầu này đã xác định thời điểm trần thuật của câu chuyện, nhà văn ở hiện tại kể về thời điểm

“đêm ấy” trong quá khứ “Đêm ấy” là đêm trước của đợt tấn công Mậu Thân lần thứ hai, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sĩ Việt thao thức trằn trọc không chợp mắt được Sau nhiều ngày chiến đấu liên tục trong vòng vây của liên quân Mỹ – Sài Gòn tại phía Tây – Bắc thành phố, tiểu đoàn bộ binh Bến Nghé của anh rút ra khỏi thành phố để củng cố do bị thương vong quá lớn, tiểu đoàn của Việt rơi vào trạng thái tâm lí mệt mỏi, chán nản Bản thân Việt không bi quan nhưng anh tin rồi cũng đến cái lúc mà

cả anh cũng sẽ chết Từ thời điểm quá khứ này dòng hồi tưởng của Việt tiếp tục trôi

về những ngày xa hơn: “Cách đây gần hai năm, vào đầu mùa mưa năm 1966” [48, tr.30], khi tiểu đoàn bộ binh 505, tiền thân của tiểu đoàn Bến Nghé bây giờ được lệnh hành quân từ chiến trường Tây Nguyên vào tăng cường cho mặt trận B2 Thời điểm này là quá khứ của quá khứ nhưng với Việt nó như là hiện tại vậy Hay nói một cách đúng hơn, với điểm nhìn của Việt thì đây là hiện tại của quá khứ Từ đây dòng hồi tưởng của Việt cứ thế đi về giữa hai miền quá khứ và hiện tại của anh

Qúa khứ và hiện tại bị xáo trộn, thời gian trở nên đa tuyến, khi thì xen kẽ, lúc thì lắp ghép, đảo ngược… Nó tuân theo trật tự của những hồi ức, liên tưởng, cảm xúc Đó chính là thủ pháp lắp ghép của điện ảnh Nhờ thủ pháp này mà các tác phẩm dễ được chuyển thành kịch bản văn học

Nhờ sử dụng đồng hiện quá khứ và hiện tại, tiểu thuyết chiến tranh 2004 –

2009 đã tạo ra sự đối sánh cần thiết giữa quá khứ và hiện tại để thấy được sự đổi thay của cuộc sống, của những số phận trong những hoàn cảnh khác nhau, tạo ra cảm giác về một hiện thực đầy ngổn ngang, bề bộn được khúc xạ qua đấu tranh nội tâm của nhân vật Do đó chất tiểu thuyết càng đậm nét hơn

Sự rút ngắn thời gian sự kiện, kéo dài thời gian tâm trạng và việc đồng hiện quá khứ và hiện tại nhưng gắn với sự trải nghiệm trạng thái tâm lí, tình cảm của mỗi nhân vật trong các tiểu thuyết đạt giải thưởng văn học của Bộ Quốc phòng 2004 -

Ngày đăng: 23/07/2015, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w