1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp của đặng thai mai trên lĩnh vực phê bình văn học

63 637 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng góp của Đặng Thai Mai trên lĩnh vực phê bình văn học
Tác giả Nguyễn Thị Hợp
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí luận văn học
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua nhữngcông trình này, t tởng văn nghệ, phơng pháp nghiên cứu của Đặng Thai Mai đã chi phối sâu sắc tới việc học tập và nghiên cứu văn học trong nớc và nớcngoài trong nhiều năm q

Trang 1

Trêng §¹i häc Vinh Khoa ng÷ v¨n

Trang 2

MÆc dï rÊt bËn bÞu víi nh÷ng träng tr¸ch lín mµ x· héi giao phã nh Bétrëng Bé gi¸o dôc, ViÖn trëng viÖn v¨n häc, chñ tÞch héi Liªn hiÖp nhµ v¨nViÖt Nam…nh ng §Æng Thai Mai vÉn dµnh thêi gian cho v¨n häc «ng kh«ngnh

Trang 3

chỉ là ngời thầy dạy văn say mê, sáng tạo, ông còn là một nhà dịch thuật, mộtnhà lí luận đồng thời là một nhà nghiên cứu phê bình xuất sắc Và riêng ở lĩnhvực phê bình, Đặng Thai Mai đợc đánh giá là một trong những ngời đặt nềnmóng cho phê bình xã hội học mác xít Trong nền phê bình văn học cáchmạng(1945-1975), Đặng Thai Mai đợc xem nh “vị giáo chủ trong thánh đờngphê bình văn học” Công trình phê bình của ông tuy không nhiều nhng lại đều

có giá trị độc đáo, thậm chí có vai trò tiên phong, mở đờng Thông qua nhữngcông trình này, t tởng văn nghệ, phơng pháp nghiên cứu của Đặng Thai Mai

đã chi phối sâu sắc tới việc học tập và nghiên cứu văn học trong nớc và nớcngoài trong nhiều năm qua.Vì thế tìm hiểu những đóng góp của Đặng Thai

Mai trên lĩnh vực phê bình văn học có ý nghĩa quan trọng góp phần đánh giá

thỏa đáng những đóng góp của ông cho nền phê bình văn học nớc nhà

Trong bối cảnh của phê bình lí luận văn học hôm nay, việc tìm hiểu,

đánh giá đúng những đóng góp của Đặng Thai Mai cho phê bình văn học sẽtạo điều kiện để vận dụng những mặt tích cực của chúng vào hoạt động lí luậnphê bình văn học hiện nay

Chọn đề tài Đóng góp của Đặng Thai Mai trên lĩnh vực phê bình văn

học làm đối tợng nghiên cứu, ngời viết hy vọng sẽ tiếp thu đợc nhiều tri thức,

những bài học về quan điểm, phơng pháp luận nghiên cứu văn học của ĐặngThai Mai Từ đó sẽ hiểu hơn và càng yêu quí, trân trọng nền văn học của dântộc Đặc biệt đây cũng là một dịp để rèn luyện những thao tác, kĩ năng cầnthiết trong việc nghiên cứu văn học phục vụ cho công tác giảng dạy trong nhàtrờng đối với bộ môn ngữ văn, vì hầu hết những vấn đề mà Đặng Thai Mainghiên cứu đều có trong chơng trình giảng dạy văn học từ bậc phổ thông cơ sở

đến bậc đại học

Hơn nữa, xuất phát từ niềm tôn kính, sự ngỡng mộ, lòng cảm phục, tinyêu đối với Đặng Thai Mai, một nhà văn hóa lớn đức độ, tài năng mà ngời viếtlựa chọn đề tài này và cũng thông qua đề tài chúng tôi mong muốn góp mộtphần nhỏ thể hiện sự tôn kính đối với “cây đại thụ trong làng văn bút” của thế

kỉ XX

2 Lịch sử vấn đề

Các tác phẩm của Đặng Thai Mai ngay từ khi ra đời đợc nhiều độc giảchú ý, đặc biệt là đối với giới nghiên cứu phê bình Song trớc Cách mạngtháng 8 năm 1945 không có bài nào viết riêng về Đặng Thai Mai với văn học

Trang 4

(mặc dù Đặng Thai Mai bớc vào làng văn từ năm 1936) Sau Cách mạng tháng

8 năm 1945, mãi tới năm 1959 mới có bài Đọc sách văn thơ Phan Bội Châu

của Đặng Thai Mai của Vũ Ngọc Phan đăng trên tạp chí văn nghệ (số 4); tiếp

đó là bài: Nhân đọc cuốn: trên đờng học tập và nghiên cứu của Đặng Thai

Mai của Trơng Chính đăng trên tạp chí văn học số 6 - 1960 Trong cả hai bài

viết, các tác giả đều chỉ ra rất rõ tài năng của Đặng Thai Mai, một cây bút,một nhà văn cách mạng Bẵng đi một thời gian cho tới năm 1978 khi cuốn

Đặng Thai Mai - tác phẩm do Phan Cự Đệ su tầm và giới thiệu ra đời ta thấy

qua lời giới thiệu, tác giả đã tổng kết tơng đối toàn diện những tác phẩm của

Đặng Thai Mai với những nhận xét đánh giá rất thỏa đáng Ông khẳng định:

“Đặng Thai Mai đã bớc vào làng văn với một phong cách nghệ thuật độc đáo

Đó là một cây bút cứng rắn, nguyên tắc mà vẫn uyển chuyển, mềm mại, trangnghiêm, uyên bác mà vẫn hài huớc, mỉa mai: khoa học khách quan mà vẫn trữtình đằm thắm ” [17, 44] Nhìn chung theo Phan Cự Đệ: “Đọc Đặng ThaiMai ta có cái sung sớng của một ngời muốn hiểu biết nhiều, muốn học tậpnhiều, bỗng nhiên đợc tiếp chuyện với một bộ bách khoa toàn th sống” [17,43] Mấy năm sau bài giới thiệu của Phan Cự Đệ, trên tạp chí văn học số 5 -

1982 lại xuất hiện bài của Trơng Chính viết về Đặng Thai Mai với tiêu đề

Chúng ta học tập những gì ở cụ Đặng Thai Mai, bài viết đã chỉ ra vai trò và

những ảnh hởng lớn lao của Đặng Thai Mai đối với các thế hệ học tập vànghiên cứu văn học Đó là sự ảnh hởng sâu rộng của một cây bút có phongcách “lúc trang nghiêm, lúc hài hớc, lúc uyên bác, thâm trầm, lúc trữ tình, lúctrừu tợng, lúc ngồn ngộn sự sống” Cũng trong Tạp chí văn học số 5 năm 1982

có bài của Tạp chí văn học với nhan đề Nhà văn, nhà nghiên cứu, giáo s Đặng

Thai Mai 80 tuổi Bài viết với mục đích mừng sinh nhật giáo s Đặng Thai Mai

và khẳng định vị trí của ông trong đời sống văn học Sau khi Đặng Thai Maimất (25-9-1984) rải rác cũng có một số bài viết về Đặng Thai Mai với tìnhcảm thơng tiếc một giáo s, một nhà nghiên cứu suốt cả cuộc đời mình đã cónhững cống hiến lớn lao vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa và văn học mớicủa đất nớc đồng thời cũng đã góp sức đào tạo đợc nhiều thế hệ học trò về sautrở thành những cán bộ cốt cán của nớc nhà

Năm 1990 cuốn Nghệ Tĩnh, gơng mặt nhà văn hiện đại (Nxb Văn hóa)

ra đời, Ninh Viết Giao trong bài tổng luận của mình có khẳng định: “Với vốntri thức phong phú lại cờng kỉ, với trình độ thẩm mĩ sâu sắc nhất là về mĩ học

Trang 5

phơng Đông; nhà văn, nhà nghệ sĩ, vị giáo s thông tuệ này với hàng loạt côngtrình khảo cứu học thuật của mình đã góp phần vào làng văn học hiện đại mộtgơng mặt thật độc đáo” [23, 16] Cũng trong cuốn sách trên, Trần Thị BăngThanh đã có nhận xét, đánh giá rất xác đáng về Đặng Thai Mai: “Trong nềnvăn học nớc nhà, có những học giả khi đi qua đã để lại một khoảng trống màcác thế hệ sau cha thể thay thế bù đắp đợc Giáo s Đặng Thai Mai là một ngờitrong số đó” [23, 68].

Năm 1992 trớc khi kỉ niệm 90 năm ngày sinh của Đặng Thai Mai, tập

Để nhớ Đặng Thai Mai do Nhà xuất bản Hội nhà văn phát hành, tập trung gần

30 bài viết phần lớn là những hồi ức và suy nghĩ “là một nén hơng đợc thắp lên

để tởng nhớ một ngời đã đi xa nhng còn để lại biết bao tình cảm thân thiết chogia đình, bạn bè và dấu ấn sâu sắc đối với nền văn học nớc nhà” [15, 5]

Cuối năm 1992, nhân kỉ niệm 90 năm ngày sinh của Đặng Thai Mai dotrung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Bộ giáo dục và đào tạo, ủyban nhân dân tỉnh Nghệ An, ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa phối hợp tổchức tại Hà Nội và cuộc hội thảo khoa học về Đặng Thai Mai do trờng S phạm

Hà Nội phối hợp với Viện văn học tổ chức đã có tới 50 bài viết và lời phát

biểu về Đặng Thai Mai sau này, năm 1994 đợc tập hợp trong cuốn Đặng Thai

Mai và văn học do Nhà xuất bản Nghệ An phát hành Các bài viết đợc chia

Bài viết của Bùi Duy Tân: Đặng Thai Mai với nền văn học trung đại

Việt Nam đã khẳng định: “Đặng Thai Mai đã không viết ít về văn học trung

đại Việt Nam và trong nhiều trang viết ấy bằng trí tuệ uyên bác, sự mẫm cảmtinh thông Hán học của mình, đã xuất hiện nhiều phát hiện mới mẻ, nhiềukiến giải thông minh, những tổng kết, khái quát nhận xét có ý nghĩa quy luậtcủa cả một tiến trình hình thành và phát triển của văn học trung đại qua hàng

Trang 6

chục thế kỉ” [21, 143] và “Với văn học cổ, Đặng Thai Mai viết còn ít hơn một

vài nhà nghiên cứu đàn em lớp sau nhng ông vẫn có vị trí cao nhất trong sốnhững học giả ở thế kỉ này” [21, 154]

Riêng hai công trình nghiên cứu về văn học cận đại Việt Nam của ĐặngThai Mai đợc đông đảo bạn đọc xa gần và giới nghiên cứu, phê bình ca ngợi,thực sự đây là hai công trình tâm đắc nhất, thành công nhất của Đặng ThaiMai và cũng là đỉnh cao khó có ai vợt qua đợc Theo Trơng Chính: “Đó là haitác phẩm chính trong sự nghiệp văn chơng của nhà văn Đặng Thai Mai thực sựviết với cả tâm huyết của mình” [20, 14] Trịnh Thu Tiết và Nguyễn Đình Chú

trong bài viết Học giả Đặng Thai Mai với nền văn học cách mạng đầu thế kỉ

XX cũng đã khẳng định: “Công lao đầu tiên của giáo s Đặng Thai Mai qua hai

cuốn sách này là công lao góp phần vào việc phục sinh một bộ phận thơ có sốphận bị phũ phàng tởng gần nh đã bị mai một đi vì chính sách thù địch của kẻ

thù dân tộc” [18, 221] Với công trình Văn thơ Phan Bội Châu, từ điển văn

học cũng đã ghi nhận: “Đặng Thai Mai đã dựng đợc một bức chân dung vănhọc tơi đẹp cảm động về nhà văn lớn, nhà chí sĩ Phan Bội Châu cũng có thểcoi đây là một mẫu mực thành công về nghiên cứu tác giả quá khứ”

Đối với văn học Việt Nam hiện đại, Đặng Thai Mai viết một loạt bài về

thơ Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu, đặc biệt là về tập Ngục trung nhật kí Sau lúc

Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, Đặng Thai Mai viết một loạt bài về thơ của Ngời

và tìm cách “quán triệt tinh thần của Hồ Chí Minh vào công tác nghiên cứuvăn học” Đọc thơ Hồ Chí Minh hay đợc gặp Ngời, Đặng Thai Mai cảm thấy

“say sa nh vừa đợc tắm trong suối nguồn ánh sáng của cảm hứng” vì Ngời là

“hiện thân của tình yêu vĩ đại, của chân lí, của cái đẹp, cái đẹp chân thật giản

dị, mà sự sống và nghệ thuật có thể ớc mong” Ngoài ra Đặng Thai Mai còn

viết bài nghiên cứu Giới thiệu tập thơ Từ ấy khẳng định nét đặc sắc độc đáo

của Tố Hữu trong thơ ca: “Tố Hữu là nhà thơ chỉ viết để phục vụ cách mạng từtrớc đến sau Vinh dự của thi sĩ là đã ghi lại đợc một thành công chắc chắncho văn học của nớc nhà, cho văn học cách mạng, văn học xây dựng theonguyên tắc của Đảng”

Các ý kiến đều khẳng định sự đóng góp lớn lao của Đặng Thai Mai đốivới nền văn học Việt Nam Dựa trên các t liệu phong phú của Đặng Thai Mai

và trên cơ sở những gợi ý quý báu từ các bài viết của những ngời đi trớc, ởkhóa luận này chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu những đóng góp của Đặng Thai

Trang 7

Mai trên lĩnh vực phê bình văn học và chỉ ra đợc phong cách nghiên cứu của

cụ thể nh Truyện Kiều, Lôi Vũ, Nhật kí trong tù…nh, đó có thể là những chuyên

luận công phu nh Văn thơ Phan Bội Châu, Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu

thế kỉ XX …nh Riêng hai công trình này nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó làmột công trình nghiên cứu, tuy nhiên, chúng tôi xem đây là công trình phêbình văn học vì những lí do sau: Thứ nhất, Đây là hai công trình thể hiện rõphơng pháp phê bình văn học của Đặng Thai Mai; vì thế, tuy nó viết về nhữngthành tựu văn học trong quá khứ nhng lại đặt ra vấn đề có ý nghĩa rất quantrọng đối với đời sống văn học thời điểm đó, đấy chính là sự khẳng định uy tíncủa phơng pháp phê bình xã hội học mác xít cũng nh làm bộc lộ những khảnăng tiềm tàng của nó Thứ hai, đây là hai công trình tâm huyết mà Đặng ThaiMai đã từng thai nghén nó rất lâu, ông viết về nó với tâm thế của ngời trongcuộc, vì thế, nó in đậm dấu ấn phong cách phê bình của ông Cụ thể, để tìmhiểu về những đóng góp cũng nh phong cách phê bình của Đặng Thai Maichúng tôi tập trung vào những tác phẩm phê bình sau:

- Mấy điều tâm đắc trong khi đọc lại văn học của một thời đại ( 1974 )

- Giảng văn Chinh phụ ngâm ( 1950)

- Phát biểu ý kiến về Truyện Kiều ( 1965 )

- Văn thơ Phan Bội Châu ( 1958 )

- Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX ( 1960 )

- Đọc lại Ngục trung nhật kí (1970)

- Tình cảm thiên nhiên trong Ngục trung nhật kí (1972)

- Giới thiệu tập thơ Từ ấy (1959)

Do khuôn khổ của khoá luận, ở đề tài này chúng tôi tạm gác các bài phêbình về văn học nớc ngoài của Đặng Thai Mai, khoá luận chỉ tập trung vào cácbài viết, công trình phê bình về văn học Việt Nam của ông

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ Đặng Thai Mai là một trong những ngời đặt nền móng cho phêbình xã hội học mác xít

- Trình bày những đóng góp của Đặng Thai Mai qua các tác phẩm phêbình tiêu biểu của ông

- Phân tích phong cách phê bình văn học của Đặng Thai Mai

4 Phơng pháp nghiên cứu

4.1 Phơng pháp lịch sử

Khóa luận nghiên cứu sự nghiệp phê bình văn học của Đặng Thai Mai

nh một quá trình vận động liên tục gắn liền với quá trình vận động của hoàncảnh lịch sử và tiến trình văn học Việt Nam, vì thế phơng pháp lịch sử sẽ đợc

sử dụng

4.2 Phơng pháp hệ thống

Đặng Thai Mai là nhà phê bình có phơng pháp phê bình, phong cáchphê bình độc đáo đa dạng và phức tạp Vậy phải tiếp cận sự nghiệp Đặng ThaiMai nh một hệ thống mới có thể hiểu đợc bản chất và quy luậtt vận động t t-ởng, phơng pháp, phong cách phê bình của ông

4.3 Phơng pháp so sánh

Để có thể hình dung đợc những đặc điểm phong cách phê bình của

Đặng Thai Mai, phơng pháp so sánh văn học sẽ đợc sử dụng trong những ờng hợp cần thiết

tr-5 Cấu trúc khóa luận

Tơng ứng với những nhiệm vụ đã đặt ra, ngoài phần mở đầu và kết luậnkhóa luận đợc chia thành ba chơng:

Chơng1 Đặng Thai Mai ngời đặt nền móng cho phê bình mác xít ở Việt Nam

Chơng 2 Những đóng góp của Đặng Thai Mai qua các công trình phê bình

văn học

Chơng 3 Phong cách phê bình của Đặng Thai Mai

Trang 9

B Phần nội dung Chơng 1 Đặng Thai Mai ngời đặt nền móng cho phê

ợng đã ảnh hởng ít nhiều đến các tác giả “Thi nhân Việt Nam (Hoài 1941) và Phê bình và cảo luận (Thiếu Sơn-1933) Ông Nguyễn Bách Khoa đa

Thanh-ra phơng pháp “phê bình khách quan” và vận dụng nó trong Nguyễn Du và

Truyện Kiều (1943), Tâm lí và t tởng Nguyễn Công Trứ (1945) Trớc 1975

sách giáo khoa Đại học Sài Gòn đã giới thiệu những phơng pháp “phê bìnhmới” nh phân tâm học hiện sinh của Jean paulsauaron, phân tâm học vật chấtcủa Bacharc, phê bình cấu trúc luận của Lucien goldmann và Roland tuynhiên ở Sài Gòn trớc đây dờng nh không có những cây bút phê bình tiêu biểu

áp dụng các phơng pháp “phê bình mới” vào văn học Việt Nam

Một trong những khuynh hớng phê bình tiêu biểu nhất ở Việt Nam trongthế kỉ XX là khuynh hớng phê bình xã hội học mác xít, chúng ta đã có cả một

đội ngũ các nhà lí luận phê bình mác xít có tên tuổi và đầy uy tín nh HảiTriều, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Hồng Chơng, Hà Xuân Trờng, Lê Đình

Kỵ, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ,…nhhọ là những chiến sĩ trên mặt trận phê bình,

là ngời bạn tri âm, tri kỉ với các nhà sáng tác, là kẻ môi giới, giữ nhịp cầu liênlạc giữa quần chúng với nghệ sĩ và chịu trách nhiệm trớc cả đôi bên

Phê bình mác xít là khuynh hớng phê bình lấy chủ nghĩa Mác làm cơ sở

lí luận Mác và Ăng ghen trong quá trình hoạt động cách mạng của mình luôn

Trang 10

quan tâm chú ý đến văn học, hai ông đều có nhiều ý kiến, quan niệm về văn

học, những ý kiến đó về sau đợc tập hợp trong cuốn Mác, Ăng ghen bàn về văn

học nghệ thuật Sau khi Mác và Ăng ghen qua đời nhiều ngời đã kế tục phát

triển và cụ thể hóa những quan điểm của hai ông về văn học nghệ thuật

ở Việt Nam, Hải Triều là ngời đầu tiên giới thiệu truyền bá t tởng quanniệm Mác vào Việt Nam và những t tởng quan niệm đó lần lợt đợc trình bàytrong cuộc tranh luận đối với Hoài Thanh, qua đó Hải Triều phê bình nghệthuật chỉ vì miêu tả cái đẹp, thoát li đời sống xã hội, ông lần đầu tiên cổ vũcho một thứ văn nghệ vì nhân dân lao động thực hiện các mục tiêu xã hội, ôngcũng là ngời cổ vũ cho chủ nghĩa tả thực trong văn chơng thể hiện trong cuộc

tranh luận tiểu thuyết Kép t bền của Nguyễn Công Hoan.

Hải Triều cũng là ngời đầu tiên đa khái niệm xã hội học mác xít vàotrong lĩnh vực văn học, sau Hải Triều, Đặng Thai Mai là ngời tiếp tục truyền

bá t tởng mác xít vào Việt Nam qua công trình lí luận nổi tiếng Văn học khái

luận (1944), cuốn sách này phát triển thêm những quan niệm đã đợc Hải Triều

đề xuất, hệ thống hóa thành hệ thống lí luận chặt chẽ, đặt nền móng cho líluận mác xít ở Việt Nam

Sự phát triển rộng rãi của phê bình mác xít gắn liền với sự lãnh đạo của

Đảng về văn nghệ Năm 1943 bản đề cơng văn hóa của Đảng Cộng sản ĐôngDơng ra đời, là văn bản đầu tiên đánh dấu sự lãnh đạo của Đảng về văn hóanghệ thuật Bản đề cơng đã nêu ra những nguyên tắc lớn của cuộc vận độngvăn hóa: Dân tộc - khoa học - đại chúng Những t tởng trong bản đề cơng tuycòn sơ lợc nhng là bản tuyên ngôn về văn học mác xít ở Việt Nam, đánh dấu

sự khởi đầu mác xít hóa toàn bộ nền văn hóa, t tởng văn học Việt Nam và biếnchủ nghĩa Mác thành hệ t tởng thống trị của thời đại, sau bản đề cơng thànhlập hội văn hóa cứu quốc Đây là điều kiện để giúp những nhà lí luận tiếp tục

cụ thể hóa bản đề cơng văn hóa Đáng chú ý là bản đề cơng của Trờng Chinh,

Đặng Thai Mai là những ngời tham gia hoạt động cách mạng lấy việc tuyêntruyền chủ nghĩa mác xít trong văn học nghệ thuật làm cơ sở cho việc đấutranh và đấy cũng chính là cách để phổ biến t tởng của mác xít tới toàn thểquần chúng ở Việt Nam, cả hai ông đều tham gia tích cực vào hội văn hoá CứuQuốc

Từ năm 1956 - 1958 ở miền Bắc xảy ra vụ “Nhân văn giai phẩm” và sựkiện này đã thúc đẩy thêm sự thắt chặt lãnh đạo của Đảng đối với nghệ sĩ

Trang 11

Tóm lại trong thực tiễn đấu tranh cách mạng Đảng lãnh đạo nghệ sĩsáng tạo theo chủ trơng đờng lối của Đảng, chủ nghĩa Mác LêNin là t tởng

độc tôn của thời đại, nó gạt bỏ nhiều thứ chủ nghĩa khác và do đó khuynh ớng phê bình mác xít giữ vị trí vai trò độc tôn

h-Dới sự lãnh đạo của Đảng cũng nh sự phổ biến của lí luận mác xít thìnhiều công trình phê bình theo khuynh hớng mác xít lần lợt ra đời Trớc cách

mạng phải kể đến Quyền sống của con ngời trong thế kỉ của Hoài Thanh, đây

cũng là công trình đầu tiên đánh dấu sự chuyển đổi t tởng phê bình của ông và

là công trình đầu tiên khi ông tham gia vào Hội văn hóa Cứu Quốc của Đảng.Sau cách mạng đầu tiên phải kể đến một bộ Văn học sử của nhóm Lê Quý

Đôn tổng kết lịch sử văn học, những bộ lịch sử văn học của trờng Đại học tổnghợp văn học, về lí luận phải kể đến công trình của Nguyễn Lơng Ngọc, côngtrình chịu ảnh hởng sâu sắc của quá trình lí luận văn học của Timôpiex củaNga Từ những năm 60, 70 trở đi ở ta xuất hiện nhiều chuyên luận, nhiều côngtrình phê bình có giá trị gắn với hàng loạt các tên tuổi mới: Phan Cự Đệ, HàMinh Đức, Lê Đình Kỵ, Nh phong, Nguyễn Văn Hạnh…nhlàm cho phê bìnhmác xít trở thành chủ lu

Phê bình mác xít giữ đợc vai trò độc tôn trong những năm chiến tranh,

từ những năm sau chiến tranh, đặc biệt là từ những năm 80 trở đi ngời ta ngàycàng nhận thấy hạn chế của khuynh hớng phê bình mác xít nhất là trong hoàncảnh chiến tranh các quan niệm của nó đợc tuyệt đối hóa một cách cực đoankhiến cho phê bình văn học có nguy cơ càng xa rời đặc trng của văn học, đócũng chính là nguyên nhân khiến nhiều nhà phê bình đã nổ lực tìm tòi đổi mớiphê bình văn học của Việt Nam Tuy nhiên không phải thế mà đánh giá thấpkhuynh hớng phê bình mác xít Cũng giống nh mọi khuynh hớng về phê bìnhvăn học khuynh hớng nào cũng có u điểm, khuyết điểm Quan điểm mác xít

về văn học đến nay vẫn đợc khẳng định là sự tiếp cận có nhiều u thế, nhiềunhà nghiên cứu đã đề xuất xây dựng nền lí luận mới trên cơ sở lí luận mác xít

Các nhà phê bình mác xít quan niệm văn học là một trong các hình thái

ý thức xã hội đặc thù, là sản phẩm của quá trình phản ánh thực tại của nhà văn

do đó khi phê bình tác phẩm nhà văn phải căn cứ vào hoàn cảnh xã hội đã làmsản sinh ra tác phẩm đó để cắt nghĩa lí giải, xã hội trở thành mũi nhọn tiếp cậnvăn học Do đó trớc khi bắt tay vào nghiên cứu, nhà nghiên cứu phải dựng lênhoàn cảnh xã hội, bộ mặt xã hội mà nhà văn sống, căn cứ trên những tri thức

Trang 12

đó mà đánh giá tác phẩm, việc dựng lại hoàn cảnh có cả hoàn cảnh lớn, hoàncảnh nhỏ Công việc phê bình thờng đối chiếu với thế giới đợc miêu tả trongtác phẩm với những thế giới thực tại của xã hội Chẳng hạn với cách làm nh

vậy khi phê bình tiểu thuyết Mời năm của Tô Hoài, khi so sánh thế giới trong

tiểu thuyết với thực tế cuộc cách mạng tháng Tám, Nh Phong thấy Tô Hoàikhông phản ánh đúng bản chất của cách mạng, có nhiều sự xuyên tạc hình ảnhngời chiến sĩ cách mạng, rơi vào tự nhiên chủ nghĩa

Trong phê bình văn học phải đối chiếu với hoàn cảnh lịch sử xã hội đểtrên cơ sở đó mà cắt nghĩa lí giải tác phẩm Tuy nhiên không đợc đồng nhấtvới hoàn cảnh bên ngoài của nó Nhà phê bình luôn ý thức đựợc tác phẩm vănhọc chỉ thống nhất với hiện thực và việc phê bình chủ yếu cốt làm sao đánhgiá thoả đáng nhà văn có làm rõ đợc bản chất của hiện thực trong tác phẩmcủa mình hay không Sự sáng tạo h cấu của nhà văn trong sáng tạo về cơ bảnchính là nhào nặn cuộc sống để khái quát đợc cái gì là cơ bản, điển hình nhất

Do đó, thông qua việc tìm hiểu tác phẩm, những hình tợng, các điển hình nghệthuật, nhà phê bình đánh giá nhà văn đó có phản ánh đợc những vấn đề cốt lõicủa thời đại hay không? Chính điều đó đã quyết định tài nămg tầm vóc của

nhà văn Chẳng hạn khi phê bình Truyện Kiều Lê Đình Kỵ cũng vận dụng

nguyên tắc phê bình này, và từ đó ông khẳng định rằng giá trị cơ bản của

Truyện Kiều là giá trị hiện thực, Nguyễn Du đã phản ánh đợc những vấn đề

bản chất của thời đại mình sống Tuy nhiên nếu nhà phê bình đồng nhất giữahiện thực với hình tợng hoặc trong phê bình so sánh hình tợng với đối tợngbên ngoài tìm ra chỗ giống và khác nhau của chúng từ góc độ chi tiết thì sẽkhiến cho phê bình rơi vào xã hội học dung tục Từ đó, đẻ ra lối phê bình quychụp máy móc, đánh giá không đúng về tài năng nhà văn

Nhà văn bao giờ cũng thuộc về một giai cấp tầng lớp trong xã hội vàsáng tác của nhà văn nhất định sẽ in dấu ấn giai cấp và đẳng cấp của anh ta,phê bình phải tìm thấy đặc điểm, tiểu sử lí lịch của nhà văn, bản chất xã hộicủa anh ta thể hiện trong sáng tác

Các nhà phê bình mác xít quan niệm nội dung là cái thứ nhất quy địnhhình thức, hình thức thể hiện nội dung song bản thân nó có tính độc lập tơng

đối, nó có thể lạc hậu hơn so với nội dung, tác phẩm văn học phải đạt đến sựhài hòa giữa nội dung và hình thức, nhiêm vụ chính của nhà phê bình là tìmhiểu nội dung Việc nghiên cứu hình thức chỉ trong chừng mực chúng có phù

Trang 13

hợp với nội dung hay không và do đó không ít nhà phê bình xem nhẹ việcnghiên cứu hình thức nghệ thuật của tác phẩm.

Những đặc điểm nói trên của phê bình xã hội học mác xít chi phối tất cảcác công trình của các nhà phê bình nghiên cứu văn học đơng thời, nó quyết

định giá trị, gơng mặt riêng của nền phê bình văn học cách mạng Việt Nam

1.2 Đặng Thai Mai, ngời đặt nền móng cho phê bình mác xít

Nếu nh Hải Triều là ngời lính xung kích dũng cảm cắm ngọn cờ duy vậttrên thành lũy của Phan Khôi và giành chiến thắng cho quan điểm “Nghệthuật vị nhân sinh” trong cuộc tranh luận với Hoài Thanh thì Đặng Thai Mai

là ngời tổng kết lại cuộc tranh luận về nghệ thuật đó và cũng cố thêm chonhững luận điểm của Hải Triều bằng cái chiều sâu học thuật uyên bác củamình

Đặng Thai Mai là ngời đầu tiên viết cuốn lí luận theo quan điểm mác xít

đó là Văn học khái luận Đó là tác phẩm đầu tiên trình bày một cách tơng đối

hệ thống nhiều vấn đề lí luận văn nghệ theo quan điểm cách mạng Với mộtphơng pháp t duy đúng đắn, một lối viết chặt chẽ, khách quan, một cách líluận đầy sức thuyết phục, công trình đã đóng góp phần to lớn trong việctruyền bá quan điểm văn nghệ mác xít ở Việt Nam Ngoài ra cũng qua tácphẩm này Đặng Thai Mai đã tiến hành nhiều cuộc tranh luận nổi tiếng: “Nghệthuật vị nghệ thuật” hay “Nghệ thuật vị nhân sinh”, “Thơ Mới hay thơ cũ”,

“Dân tộc hay quốc tế” và cả những vấn đề tự sự trong văn học nớc ngoài nhngthiết thực và gần gũi với văn học Việt Nam nh vấn đề “Điển hình và cá tínhcủa văn học”

Dới ánh sáng những phơng châm: Dân tộc - khoa học - đại chúng của

“Đề cơng văn hóa”, Đặng Thai Mai phê phán những khuynh hớng văn nghệlãng mạn, suy đồi, phản động của nền văn học công khai Ông công kích mộtbọn nhà văn “hy sinh hết bản ngã của mình, a dua theo sở thích của lũ hãnhtiến, lũ Parvenus để mà in sách, mà bán văn chơng, hê ha ngâm vịnh theo luận

điệu duy tâm, say sa với hình ảnh của mình”, ông phủ định không thơng tiếc

“cái thứ văn mơn trớn béo tốt nh đẩy thịt, trơn nh tảng trán hói của nhà trởnggiả”, “đem giọng lãng mạn mà tiêu khiển các ông bà, cô cậu t sản trong lúcchúng ngáp dài, ngáp ngắn trớc cái mặt quầy đã trơn lì dới bàn tay vơ đi vétlại” Hoặc ông đã kích một bọn bồi bút tự xng là học giả “Viết những sách

Trang 14

dày sùng sục về triết học, về lí luận, về xã hội học, kinh tế học để tán dơng,ủng hộ một cái chế độ đã “đèo mình” tới địa vị cao quý…nh”

So với Hải Triều, Đặng Thai Mai vào cuộc chiến đấu trên mặt trận vănhọc đã có một sự chuẩn bị chu đáo hơn Ngoài những sách báo mác xít, nhữngtác phẩm văn nghệ Xô Viết đã đợc đọc trong thời kì mặt trận dân chủ, ở đây tathấy ông viện dẫn Blêkhanốp (Nghệ thuật và sinh hoạt xã hội), Lỗ Tấn (Tạpvăn, những bài viết về lí luận sáng tác) và nhiều ngời khác nữa…nh

Về mặt lí luận Đặng Thai Mai đã vợt qua những vấn đề chung nh “Vịthuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh” để đi sâu vào sự thống nhấtgiữa nội dung và hình thức, điển hình và cá tính, sự kết hợp giữa truyền thốngdân tộc và tinh hoa của văn nghệ thế giới…nh và cuối cùng, trình bày một cáchkhá hệ thống chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Lần đầu tiên, vận dụngkhái niệm điển hình và cá tính, Đặng Thai Mai đã phân tích khá sâu sắc chủnghĩa Đôngkisốt, chủ nghĩa AQ, tính cách điển hình của các nhân vật nhGdandét của Bazac, Harpagon của Molière Nh Phan Cự Đệ nhận xét: “ĐặngThai Mai là một trong những ngời đặt nên móng đầu tiên cho lí luận văn họcmác xít ở nớc ta”

1.3 Sự vận dụng sáng tạo phơng pháp phê bình mác xít của Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai là một trong những ngời tích cực vận dụng phơng phápxã hội học mác xít vào trong phê bình văn học Hầu hết tác phẩm phê bìnhcủa ông đều quán triệt nguyên tắc của khuynh hơng phê bình này.Tuy nhiên,

sự vận dụng và triển khai của Đặng Thai Mai lại hết sức đa dạng

Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của phê bình xã hội học mác xít

là dựa vào hoàn cảnh lịch sử xã hội, đây là nguồn gốc nảy sinh ra tác phẩmlàm cơ sở lí giải và cắt nghĩa nó Cũng nh các nhà phê bình xã hội học mác xítkhác, Đặng Thai Mai đã vận dụng sáng taọ nguyên tắc phê bình này Có thể

lấy ví dụ ở công trình Mấy điều tâm đắc trong khi đọc lại văn học một thời

đại Trớc đây, các nhà nghiên cứu có xu hớng nhìn nhận các sáng tác của các

Thiền s dới góc độ tôn giáo, Đặng Thai Mai với công trình của mình lại cócách nhìn khác Ông bắt đầu nghiên cứu thời đại Lí - Trần, đặc biệt là bầukhông khí xã hội, không khí học thuật, tâm lí xã hội đơng thời để từ đó cắtnghĩa các sáng tác của các Thiền s Nét tâm lí chung của thời đại đã tạo nênkhối đoàn kết vô cùng vững chắc và một niềm tin chiến thắng không gì laychuyển nổi vì vậy mà chiến thắng oanh liệt đã đành nhng cũng có khi gặp thất

Trang 15

bại con ngời ta vẫn khẳng khái không hề nản chí với sự nghiệp cứu nớc Vềkhông khí học thuật lúc bấy giờ theo Đặng Thai Mai là “thoải mái và lànhmạnh” Tất cả những điều đó đã tạo nên nét đặc sắc của thơ ca thời đại đóchính là tinh thần lạc quan, thanh thản, sống vui vẻ Ta không ngạc nhiên khicác nhà s thời Lý không xuất thế nh giáo lý nhà phật răn dạy mà sẵn sàngnhập thế giúp vua cứu dân, cứu nớc Ngoài ra Đặng Thai Mai còn khám phá racái ngọn nguồn cảm hứng vô tận đó là thiên nhiên Sự xuất hiện cụm thơ thiênnhiên của thời đại này không phải là ngẫu nhiên Niềm vui sống, cái nét tâm

lý chung của thời đại đã khiến con ngời gần gũi với thiên nhiên Trong công

trình chuyên khảo Văn thơ Phan Bội Châu Đặng Thai Mai đã rất công phu

dựng lại hoàn cảnh, không khí thời đại có ảnh hởng sâu đậm tới Phan Tiên

Sinh ở đây chính là tác giả nói về xứ Nghệ, là sinh hoạt vật chất và tinh thần,

truyền thống đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ trong xã hội phong kiến nớcViệt Nam hồi ấy Bởi thế Đặng Thai Mai đã dành hẳn một chơng khá dài đểnói về cái lí thú và bản sắc của Nghệ Tĩnh mà không thể đánh đồng với một

địa phơng nào khác

Trong việc nghiên cứu các tác giả xa nay, các nhà nghiên cứu vẫn cóphần viết về quê hơng, nơi sản sinh ra tác giả đó Song trong d luận ngời đọcsách vẫn không thấy không đâu viết về quê hơng xứ Nghệ của Phan Bội Châutâm huyết, độc đáo, cảm xúc nh Đặng Thai Mai đã viết Có chăng ta chỉ có thể

kể thêm trờng hợp Nguyễn Tuân viết về Thành Nam trong Tú Xơng con ngời

và thời thế Nguyễn Tuân vẽ lên không khí lịch sử và ở trong bầu không khí

lịch sử đó bằng chi tiết cụ thể và sinh động Đến công trình Văn thơ cách

mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX Đặng Thai Mai cũng dựng lại không khí thời

đại, không khí chính trị với nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành lại quyền tựchủ cho nớc nhà Chính việc tái hiện này làm cho ngời ta sống trong bầukhông khí cách mạng, bầu không khí xã hội, yêu thêm nền văn học cáchmạng Điều này cũng thể hiện rõ sự sáng tạo của Đặng Thai Mai về mặt ph-

ơng pháp phê bình

Đặng Thai Mai còn kết hợp phơng pháp xã hội học mác xít với các

ph-ơng pháp khác nh phph-ơng pháp loại hình, ông chia văn học thành các loại hìnhvới đặc điểm riêng, đặc thù về mặt nghệ thuật, chia văn thơ Phan Bội Châu vàthơ văn Tố Hữu vào loại hình thơ cách mạng và xem hạt nhân cơ bản của nó là

Trang 16

lãng mạn cách mạng Ngoài ra Đăng Thai Mai còn rất hay sử dụng phơng

pháp so sánh vì có vốn tri thức uyên bác Trong Mấy điều tâm đắc về một thời

đại thơ văn Lý - Trần Đặng Thai Mai so sánh sự ảnh hởng tơng tác, xúc tiếp

vay mợn và sáng tạo về t tởng, khái niệm nghệ thuật giữa các nền văn học ởnhững thời đại khác nhau cùng với những đặc điểm lịch sử đã quy định tínhchất những tiếp xúc vay mợn và sáng tạo đó theo t tởng cơ bản Đặng Thai Mai

đã phát biểu trong bài giới thiệu sách thơ văn Lý - Trần: “Tôi vẫn nghĩ rằngkhi chúng ta ảnh hởng của nền văn học này đối với nền văn học khác thì cốnhiên là phải so sánh So sánh cố nhiên phải tìm thấy chỗ giống nhau nhng

điều cần thiết là phải nhìn thấy chỗ khác nhau Bởi vậy, điều đáng chú ý ở đây

là những đặc sắc Việt Nam trong thơ trung đại này”

Đối với văn học hiện đại, đặc biệt là thơ Hồ Chí Minh và Tố Hữu, ĐặngThai Mai sử dụng phơng pháp tiếp cận văn học về mặt lịch sử Đối với những

bài thơ cụ thể trong Ngục trung nhật kí bằng phơng pháp lịch sử Đặng Thai

Mai tránh đợc những suy luận chủ quan mà một số nhà nghiên cứu đã khôngtránh đợc Rõ ràng, bản thân hiện thực lịch sử cụ thể trong tập thơ đã tràn đầy

bi tráng, tràn đầy đau khổ, tràn đầy vẻ đẹp thiên nhiên, tràn đầy niềm tin vànghị lực, tràn đầy chất thép và sự chân tình của ngời chiến sĩ

Cũng trên khuynh hớng phê bình mác xít Đặng Thai Mai còn phát hiện ra

chức năng của tác phẩm Từ ấy đối với lịch sử thì không đơn thuần là “bản cáo

trạng gay gắt nhân danh phẩm giá của con ngời lao khổ, nhân danh cái đẹpcủa tự nhiên và của nghệ thuật để phản kháng cái xấu xa, cái giả dối của chủnghĩa cá nhân ích kỉ, hống hách, nhân danh cái mới của sự sống chống lại cái

lạc hậu và cái chết” Từ ấy còn “bao hàm một ý nghĩa dự báo đanh thép về

t-ơng lai của nớc nhà, của nhân loại Dự báo của thi sĩ đã đợc thực hiện vớithành công của cách mạng tháng Tám” [11, 93-94] Tác động của tác phẩmnày những năm trớc đây không phải chỉ là một lời hiệu triệu, một bài ca tuyêntruyền, “phải nói rằng giữa những năm ảm đạm, tê tái của lịch sử nớc nhà dớihai tầng áp bức của chủ nghĩa thực dân Pháp và chủ nghĩa phát xít Nhật, tiếnghát của thi sĩ là một hoat động cách mạng” [11, 93]

Công trình Giảng văn Chinh phụ ngâm, Đặng Thai Mai chủ yếu phân

tích nét đặc thù nghệ thuật của nó, thậm chí nhiều ngời cho rằng Đặng ThaiMai là ngời tiên phong sử dụng phơng pháp phê bình thi pháp học Đặng ThaiMai sử dụng thuật ngữ không gian, thời gian, hiệu quả âm thanh nhạc điệu,

Trang 17

thơ trữ tình điệu ngâm…nhTuy nhiên phơng pháp xã hội học vẫn đợc vận dụngvì Đặng Thai Mai có xu hớng xem khúc ngâm có phản ánh hiện thực haykhông? Không chỉ chú ý tới thành công của khúc ngâm, Đặng Thai Mai còn l-

u ý tới hạn chế của tác phẩm, ông khẳng định rằng Chinh phụ ngâm “thiếu

nguồn cảm giác trực tiếp và khinh miệt thực tế vật chất của lịch sử, của tựnhiên, sức tởng tợng trong khúc ngâm đã thiếu trực cảm và đành phải vay mợncảm giác trong ngọn nguồn gián tiếp của sách cũ” [17, 396]

Một hình thức cũng rất đợc Đặng Thai Mai chú ý là khám phá tính đa trị

(pháp: bolivalenta) Trong bài Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội

dung Truyện Kiều, sau khi chỉ ra các lớp ý nghĩa khác nhau của tác phẩm đợc

khai thác qua các thời kì lịch sử, Đặng Thai Mai khẳng định: “Sự thực là thế,một áng thi văn kiệt tác cũng là một phi kiến trúc phức tạp, sâu sắc, phong phú

và nhiều vẻ Cho nên qua các thời đại, mỗi một thế hệ đều có thể nhận thấy ở

đây nhiều tiêu chuẩn mới để đối chiếu với ý thức của mình Cũng vì vậy mà

đứng trớc một tác phẩm cổ điển, các thế hệ độc giả, các giai cấp xã hội đều cóthái độ khác nhau trong khi phê bình, thởng thức Sự trạng đó chứng minh mộtcách rõ rệt tính chất lịch sử của mọi công trình kiến thiết văn nghệ” [11, 228]

Nh vậy có thể thấy Đặng Thai Mai là ngời tiếp tục Hải Triều đặt nền móngcho phê bình văn học mác xít Qua các công trình phê bình tiếp theo của ông,

ông đã vận dụng sáng tạo phơng pháp phê bình mác xít Một điều đáng ngạcnhiên Đặng Thai Mai còn vận dụng một cách sáng tạo nhiều phơng pháp phêbình nên nhiều luận điểm văn học của ông có ý nghĩ thời đại sâu sắc, điều nàycho thấy vai trò tiên phong của ông cũng nh đóng góp của ông cho phê bình.Tuy nhiên nhìn xuyên suốt các tác phẩm của ông ngời ta vẫn thấy phơng phápphê bình mác xít là phơng pháp trung tâm

Trang 18

Chơng 2 Những đóng góp của Đặng Thai Mai qua các

công trình phê bình văn học

2.1 Đặng Thai Mai với nền văn học trung đại Việt Nam

Đặng Thai Mai là ngời viết không ít về văn học trung đại Việt Nam Vàtrên những trang viết ấy, bằng trí tuệ uyên bác và sự mẫm cảm tinh thông Hánhọc của mình, đã xuất hiện nhiều phát hiện mới mẻ, nhiều kiến giải thôngminh, những tổng kết, khái quát nhận xét, có ý nghĩa quy luật của cả một tiếntrình hình thành và phát triển của văn học trung đại qua hàng chục thế kỉ Ông

đã bỏ nhiều công sức, tâm huyết của mình để nghiên cứu với tham vọng dựnglại không khí và bộ mặt lịch sử văn học nh nó vốn có, và bao giờ cũng xuấtphát từ nguyên tắc: “Nghiên cứu xa là để phục vụ nay, phục vụ công tác bồi d-ỡng t tởng và tình cảm cho thế hệ mới” [17, 30]

Vì bận bịu với công việc của một ngời ở cơng vị lãnh đạo nên ông chỉhớng trọng tâm vào những hiện tợng văn học tiêu biểu điển hình TrơngChính có nhận xét rất đúng: “ông chỉ nhìn những đỉnh cao” và điều này cũng

đợc chính Đặng Thai Mai thừa nhận “thật vậy, tôi không có thời gian đọcnhiều nh anh Hoài Thanh và các anh khác”

2.1.1 Với văn học Lý - Trần

Nói đến cái nhìn tinh tế, độc đáo, ở cái mức tâm đắc, thì phải kể đến bài

Mấy điều tâm đắc về thời đại văn học Lý - Trần Bài viết nêu ảnh hởng của

Hán học đối với văn học Lý - Trần, vừa nói về ảnh hởng đời sống tâm lý, xãhội và không khí học thuật, vừa nói những nét đặc sắc của thơ ca thời đại Lý -Trần

Trang 19

Trớc khi khai thác những nét đặc sắc của thi ca thời đại Lý - Trần, ĐặngThai Mai đã đi tìm cội nguồn là điều kiện, tiền đề nảy sinh những nét đặc sắccủa thơ ca thời đại Ông chú ý tìm hiểu kĩ đời sống tâm lí và xã hội cùngkhông khí học thuật lúc bấy giờ.

Đặng Thai Mai lí giải điều làm cho thơ Lý Trần hay là do “Tâm lí thời

đại” Sau hàng nghìn năm nội thuộc nớc Việt Nam đã lấy lại quyền tự chủ.Tình trạng nớc chia rẽ nội bộ dới thời “mời hai sứ quân” cũng vừa chấm dứt.Chúng ta có thể hiểu nỗi niềm vui sớng của cả một dân tộc lúc này là thế nào

Và niềm vui sớng không của riêng ai, mà của chung dân tộc: “Đây là hàohứng của cả nớc Hào hứng đó suốt trong thời gian này bao hàm một niềm tin,một quyết tâm sắt đá Tin vào tiền đồ của đất nớc, quyết tâm bảo vệ bờ cõi,xây dựng cơ đồ” [17, 355] Chỉ qua một vài ví dụ tiêu biểu, Đặng Thai Mai đãcho ta thấy đợc nét tâm lí của thời đại in đậm trong văn thơ và không còn nghingờ ta cũng thấy lòng tự hào, niềm vui của ngời viết ẩn sau những câu chữ:

“Bài Chiếu Thiên đô của Lí Thái Tổ từ đầu thế kỉ XI và sau đó bài thơ nói là

của Lí Thờng Kiệt: Nam quốc sơn hà Nam đế c khi cầm quân chống nhà

Tống; và sau đó nữa vần thơ của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần

H-ng Đạo, Trần QuaH-ng Khải, Phạm Ngũ Lão đời Trần, ấy là chỉ nhắc tới tên tuổilừng lấy nhất, đều bộc lộ niềm tin, một tinh thần quyết thắng và một ý chí kiêncờng qua một loạt thơ văn bất hủ” [17, 355] Nét tâm lí chung của thời đại đãchi phối mọi hoạt động của con ngời Chúng ta biết thời Lý - Trần là thời kì

đất nớc ta liên tiếp có chiến tranh Nét tâm lí chung của thời đại đã tạo nênkhối đoàn kết vô cùng vững chắc và một niềm tin chiến thắng không gì laychuyển nổi vì vậy mà chiến thắng oanh liệt đã đành nhng cũng có khi gặp thấtbại con ngời ta vẫn khẳng khái không hề nản chí với sự nghiệp cứu nớc ĐặngThai Mai lấy ví dụ qua lời thơ của Đặng Dung, một vị tớng già đời Hậu Trầnlàm minh chứng

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỉ độ Long tuyền đới nguyệt ma ( Thù nớc cha đền đầu vội bạc

Đòi phen dới nguyệt mài gơm thiêng)

Trong đời sống: quan hệ giữa con ngời với con ngời thật giản dị Vuatôi, chủ tớ sự cách biệt còn cha đến nỗi gay gắt Ngời ta thấy “vua quan củathời này luôn biết tìm ở đồng quê hoặc ở các chùa chiền những giờ phút êm

Trang 20

đềm để di dỡng tinh thần để suy nghĩ về lẽ sống” [17, 357] Trên cơ sở thực tế

đó, Đặng Thai Mai đa ra lời đánh giá nhận xét rất đúng về đời sống xã hộithời kì này: “hồi ấy ngời ta biết sống, biết sống trong tinh thần, trong vui vẻ,trong tin tởng” [17, 358]

Về không khí học thuật giai đoạn này theo Đặng Thai Mai là “thoải mái

và lành mạnh” Những nét tích cực của đạo Nho, đạo Phật và đạo Lão có ảnhhởng lớn đến đời sống tinh thần của ngời dân Việt Nam Bên cạnh đó chữ Nho

có những đóng góp nhất định, “đã đa lại những kết quả rực rỡ hơn thời kì trớcnhiều” Nó “là cái chìa khóa để ngời tri thức có thể đi vào Phật học” Điều này

có ý nghĩa lịch sử quan trọng

Những ý kiến xác đáng, có tính khoa học của Đặng Thai Mai trong việc

lí giải cội nguồn tạo nên nét đặc sắc của thơ ca thời Lý - Trần đã có sức thuyếtphục bạn đọc Chính từ những cơ sở xã hội đó Đặng Thai Mai đã nêu ra đợcnhững nét đặc sắc của thơ ca thời đại

Đặng Thai Mai không đi sâu tìm hiểu những nét đặc sắc mà ai cũng dễnhận ra của thơ ca thời đại này nh: Lòng yêu nớc, triết lí siêu hình trongthơ…nhông đi vào khám phá quan niệm nhân sinh đã tạo nên một trong nhữngnét đặc sắc của thơ ca thời đại này Và có lẽ đây là điều tâm đắc, nó là minhchứng cho sự thể hiện nét tâm lí chung của thời đại nh đã nói ở trên

Theo Đặng Thai Mai, trớc hết đó là thái độ tích cực lạc quan trớc đờisống Từ lời kể của S Vạn Hạnh ( thế kỉ XI) nói với đồ đệ:

Thân nh điện ảnh hữu hoàn vô

Van mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy nh lộ thảo đầu phô

( Đời nh chớp nhoáng có mà không Cây cối xuân tơi, thu não nùng Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi Kìa kìa ngọn cỏ giọt sơng đông)

Đặng Thai Mai dẫn giải cho chúng ta thấy quan niệm của ngời xa chorằng: con ngời sống trên đời không sợ lẽ tử sinh vì thế mà họ rất thanh thảnnên sống vui vẽ, sống lạc quan

Ngoài ra thông qua thơ văn, Đặng Thai Mai còn khám phá ra cái ngọnnguồn của cảm hứng vô tận đó là thiên nhiên Thiên nhiên, là cả một “long

Trang 21

mạch cảm hứng vô tận” mà cái hay của nó là “bắt nguồn từ những cảm giác

đã “sống”, từ những cảm giác trực tiếp” [17, 364] Về hình thức: “Lời thơ chữHán không cầu kì, uyên bác, không tô đậm đến cờng điệu” [17, 365] Có thểnói, bằng những kiến giải khoa học, có căn cứ thực tiễn qua bao nhiêu nămtháng nghiền ngẫm, suy nghĩ, khám phá, Đặng Thai Mai đã rút ra đợc nhữngtinh hoa đặc sắc của văn học Lý - Trần Những lời đánh giá của ông thật tinh

tế, chí lí Nó cho ta thấy sự am hiểu sâu sắc về lịch sử, về thơ văn của một thời

đại ở ngòi bút Đặng Thai Mai

2.1.2 Giảng văn Chinh phụ ngâm

Khi lịch sử phê bình văn học Việt Nam đợc tổng kết một cách đầy đủ

công trình Giảng văn Chinh phụ ngâm của Đặng Thai Mai đợc ghi nhận nh

một cố gắng đầu tiên để phân tích trọn vẹn một tác phẩm văn học cổ điển theophơng pháp chỉnh thể

Điều đáng chú ý trớc hết là quan niệm và phơng pháp giảng văn của

Đặng Thai Mai Đặng Thai Mai đã trình bày một quan niệm giảng văn sáng

tỏ “Giảng văn không chỉ là nói lại bằng mấy câu văn lối không xuôi tí nàobao nhiêu ý chí tình tứ màu sắc mà ngời xa đã nói với những lời chứa chan thivị” [17, 361] Giảng văn cũng không phải là trổ tài thôi miên học sinh, giảngvăn cũng không phải chỉ là khơi gợi trực cảm để khơi gợi sự tiếp nhận hồnnhiên phản luận lí (illogique), giảng văn theo ông trớc hết là một việc làm củatrí tuệ và mang tính chất khoa học Đó là “Giảng văn trớc hết là theo dõi qua

áng văn tất cả cái tinh vi về t tởng, cái độc đáo về nghệ thuật của một tác giả”[17, 361] tức là “chỉ rõ sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, giữa kĩ thuật

và t tởng trong một tác phẩm văn chơng” [17, 162] Ông nhấn mạnh tới phơng

diện kĩ thuật và tính chính xác của giảng văn Rõ ràng là ông không tán thành

lối bình tán tùy tiện Đặng Thai Mai không hề xem nhẹ sự cảm nhận hồnnhiên, trực tiếp Nhng theo ông “Cảm thấy hay cha đủ, có hiểu là hay, sự th-ởng thức mới có nghĩa lí và có tác dụng” [12, 361] Mục đích của giảng văn

nh vậy, rõ ràng là giúp nâng cao năng lực “hiểu cái hay” cho con ngời Quanniệm này vẫn còn có ý nghĩa thời sự cả trong ngành s phạm, giúp uốn nắncách hiểu giảng văn chỉ nh là trình bày cảm nhận chủ quan, nặng về bình tánsuy diễn Cho đến nay vẫn có quan niệm coi nhẹ vai trò của ông thầy dạy văn,xem hứng thú của bài giảng văn chủ yếu là do bài văn mang lại, chỉ cần lựachọn đợc bài văn hay là đủ Nhng Đặng Thai Mai lu ý về phơng diện chủ quan

Trang 22

“một kĩ thuật giảng văn sâu sắc và chính xác cũng là một động cơ để xây dựng

và bồi dỡng trong tâm hồn ngời nghe, ngời đọc những hứng thú văn chơng dồidào và đúng đắn” [12, 362] Một ngời giảng văn, nếu không có “Một kỉ thuậtgiảng văn sâu sắc và chính xác” thì có nghĩa là anh ta không có gì cả để bồi d-ỡng hứng thú văn chơng cho ngời nghe ở đây tuyệt đối không nên nhầm lẫn,nhập cuộc hứng thú do bản thân bài văn gợi lên và hứng thú do bài giảng gợilên Từ những lí giải trên Đặng Thai Mai đã phân tích chính xác về khúcngâm

Để chỉ rõ sự thống nhất nội dung và hình thức, kỷ thuật và t tởng, nhàhọc giả đi tìm trọng tâm hứng thú của áng văn, đoạn văn của đoạn tả cảnh tảngời, tả sự trạng, coi đó nh là tiêu điểm của sự thống nhất hình thức và nộidung ở đây chúng ta còn bắt gặp những phát hiện về quan niệm con ngời,quan niệm về không gian, thời gian đợc thể hiện trong khúc ngâm

Về trọng tâm hứng thú trong đoạn tả cảnh ở phần đầu khúc ngâm “Tấtcả cái gì là vật chất, là thực thể, bao nhiêu màu sắc, thanh âm dờng nh đã bịtác giả xóa nhòa đi trong những nét bút mơ hồ mênh mông Một con sông,một đoạn đờng, một nhịp cầu, một dòng nớc, một cánh đồng và xa xa, nơi

“lớp mây đa”…nhlà một rặng núi cả một khung cảnh bao la, đại thể, họa chăng

ta nhặt đợc hai nét, nếu không nên họa, thì ít nữa cũng có thể gọi là linh động,giàu chất thơ” [17, 381]

Ngoài đầu cầu nớc trong nh lọc

Đờng bên cầu cỏ mọc còn non

Tả cảnh ở đây không phải chỉ đơn giản là tả cảnh mà tả cảnh là để tảngời Bởi vì “Theo một quan niệm nghệ thuật khá đúng đắn, thì cảnh vật chỉ

có ý nghĩa là làm khung động tác cho con ngời, cho đời sống tinh thần củaloài ngời” [17, 381]

Đặng Thai Mai đã nêu một câu hỏi then chốt về thi pháp tác phẩm

“Nhng con ngời ở đây đã đợc trình bày thế nào?” Trả lời câu hỏi này tác giảnhận thấy “trình độ tỉ thức về vũ trụ, nhân sinh” - tức là vấn đề mental mà cácnhà nghiên cứu văn học hiện đại muốn khám phá ở các hình ảnh - cha chophép tác giả và dịch giả khúc ngâm có hứng thú về tính chính xác, tính tảthực, tâm lí cụ thể, mà chỉ hứng thú về con ngời phổ biến với “tâm lí phổ biếncủa mọi ngời” Khi đã dành hẳn một đoạn để tả về giờ xuất phát của đoànquân tác giả cũng không có ý định nêu một tiết mục gì là chính xác nh số lợng

Trang 23

đoàn quân, trang bị bộ đội hay bộ mặt của một ngời lính nào trớc giờ xuấtphát Ngay bộ mặt ngời chồng trong giờ biệt li Chàng là con dòng cháugiống, chàng có học thức, có chí khí thế thôi Họa chăng ta có thể đoán đợc làtrong quân đội chàng phải là một ngời có địa vị qua hai màu sắc tình cờ đợc tôlên

áo chàng đỏ tựa ráng pha Ngựa chàng sắc trắng nh là tuyết in

mà nó vẫn chỉ là màu sắc bề ngoài - là màu sắc cái áo và con ngựa mà thôi

So với văn học phơng Tây Đặng Thai Mai chỉ ra rằng “khi các nhà thi

sĩ Hi Lạp, hay Pháp, kể lại giờ từ biệt giữa Hector với Andromeque Bộ mặtcon ngời dới ngòi bút của họ quả là dồi dào hơn về sinh khí, về tính ngời vẫn

“humain” hơn Bút pháp của họ vẫn là tinh tờng, chu đáo hơn”

Trả lời câu hỏi này tác giả nhận thấy “trình độ về vũ trụ, về nhânsinh” của thi sĩ - tức là vấn đề mental mà các nhà nghiên cứu văn học hiện đạimuốn khám phá ở các hình ảnh - cha cho phép tác giả và dịch giả khúc ngâm

có hứng thú về tính chính xác, tính tả thực, tâm lí cụ thể, mà chỉ hứng thú vềcon ngời phổ biến với “tâm lí phổ biến của con ngời” Đó là “con ngời muônthuở” chứ không phải là một cá tính, một nhân cách riêng biệt” So sánh vớimột con ngời trong một tác phẩm phơng Tây, tác giả nêu ra một số nét củatình cảm phụ nữ phơng Đông “Ngời thiếu nữ lại cũng không phải là một nữtính bồng bột, táo bạo nh những vai ngời đàn bà Tây Âu, hoặc Cận Đông, đã

đợc các nhà danh gia nh Shakespeare hoặc Racine đem giới thiệu lên sânkhấu Đây là ngời đàn bà Việt Nam, một ngời đàn bà phơng Đông nhu mìthuần thục, có phần nào nhạt nhẽo, e dè và uốn nắn từ ngàn xa theo khuôn khổluân lí tam tòng và tứ đức” [17, 393]

Tác giả cũng nhận xét về cái không gian, viễn cảnh của chiến trờng.Khúc ngâm khêu gợi cảnh chiến trờng nhng kì thực cốt để tập trung chú ý vào

bộ mặt rầu rĩ, vào nỗi lòng bi thơng của bao nhiêu chinh phụ ở đây khônggian h thực có tác dụng cực tả nổi thất vọng nặng nề của ngời chinh phụ, cũng

nh cái thời gian siêu thời gian “Cuộc ly biệt ở đây là câu chuyện hai ba năm vềtrớc - nh ta thấy trong mấy đoạn sau Nhng trong đoạn mở đầu này, nó dờng

nh tiến hành trớc mắt độc giả tác giả và dịch giả Chinh phụ đã xóa mờ hẳn

quan niệm thời gian, đã vận dụng một bút pháp riêng biệt - có thể nói là siêu thời

Trang 24

gian trong khi trình bày một câu chuyện dĩ vãng Văn tự sự đoạn này đã hút đợctrong bầu trời hiện tại cả một luồng sinh khí mới” [17, 420].

Có thể nói, tiếp thu nhiều cách tiếp cận hiện đại của phơng Tây, ĐặngThai Mai đã nêu ra hàng loạt vấn đề thi pháp của khúc ngâm này, chẳng hạn nh íthứng thú với màu sắc, thanh âm, sự vật, cử chỉ, lời ăn tiếng nói của con ngời,

“thiếu nguồn cảm giác trực tiếp và khinh miệt thực tế vật chất của lịch sử, của tựnhiên, sức tởng tợng trong khúc ngâm đã thiếu trực cảm và đành phải vay mợncảm giác trong ngọn nguồn gián tiếp của sách cũ” [17, 396]

Đặng Thai Mai còn chú ý đến vai trò cú pháp đợc thể hiện trong khúcngâm qua tài nghệ của dịch giả nh cách dùng chủ ngữ, trạng ngữ, lối đảo nhữ,

vị trí trên dới, trớc sau của một câu thơ Hay cái gọi là “thi pháp lời văn đốithoại” Đặng Thai Mai đã vận dụng nó nh một phơng tiện khám phá cái độc

đáo của Chinh phụ ngâm trong việc cực tả nỗi buồn tủi xót xa của ngời chinh

phụ Ta có thể nói, Đặng Thai Mai không đơn giản trình bày một bản phântích của ông về khúc ngâm, mà cái chính là đặt ra hàng loạt vấn đề mới choviệc phân tích khúc ngâm giữa một thời kì mà trình độ giảng văn còn rất lạchậu, cũ kĩ

Giảng văn Chinh phụ ngâm đã phân tích khúc ngâm trong bối cảnh

văn học thế giới, nhìn nó theo con mắt của nghệ thuật thế giới Trớc ông, hình

nh ngời ta chỉ nhìn khúc ngâm thuần túy theo con mắt phơng Đông, cha đa lạicho ngời đọc một nhận thức mới về đặc sắc của văn học nớc nhà

Tuy nhiên, cái nhìn so sánh, nếu đã giúp nhà nghiên cứu cảm nhậnmột cách mới mẽ khúc ngâm quen thuộc thì đồng thời cũng làm cho tác giảnhận ra bao nhiêu thiếu sót của khúc ngâm Trong phê bình, ngời ta rất dễxem cái khiếm khuyết thành cái độc đáo, mà cũng dễ biến cái đặc thù thànhkhiếm khuyết Trong công trình này Đặng Thai Mai nặng về nêu vấn đề, khêugợi suy nghĩ hơn là phân tích triệt để những khía cạnh ông đã gợi ra Có thể lànhà nghiên cứu cha đánh giá hết giá trị nhân văn và thành công nghệ thuật của

nó trong tiến trình văn học dân tộc Dẫu sao thái độ phê bình nghiêm khắc củatác giả cũng buộc ngời đọc suy nghĩ sâu hơn, tránh sự đánh giá dễ dãi

2.1.3 Truyện Kiều – Nguyễn Du Nguyễn Du

Nếu nh Hoài Thanh khi tiếp cận với Truyện Kiều điều mà ông đặc

biệt quan tâm là “Quyền sống của con ngời” trong tác phẩm, với Xuân Diệu

khi viết về Truyện Kiều ông chú ý tới nội dung thì Đặng Thai Mai khi nghiên

Trang 25

cứu về Truyện Kiều ông cũng có mối quan tâm đặc biệt tới nội dung Truyện Kiều qua hai bài viết: Đặc sắc văn học cổ điển Việt nam qua nội dung Truyện

Kiều (1955) và ý kiến về Truỵên Kiều (1965) và một số ý kiến nằm rải rác

trong những bài viết khác Viết về Nguyễn Du ông hớng trọng tâm của mình

vào Truyện Kiều và với Truyện Kiều ông chỉ khai thác những đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam thể hiện qua nội dung Truyện Kiều.

Bằng nhãn quan của nhà phê bình mác xít, Đặng Thai Mai rất kháchquan và rất chính xác về ngòi bút tả thực của Nguyễn Du, ông cho rằng: “ThơNguyễn Du không hề che đậy tý nào trong khi bộc lộ sự thực” Các dẫn chứng

Đặng Thai Mai đa ra rất tiêu biểu để làm minh chứng cho “Nguyễn Du khi tảngời cũng nh khi tả cảnh, khi tự sự cũng nh khi phân tích tâm trạng, vẫn luônluôn chú ý đến một sự thực sâu xa, chân thật” [5, 577] Chính vì thế mà

“Nguyễn Du đã gây đợc cái không khí thích nghi cho hoạt động, ăn nhịp vớitâm trạng của con ngời và đồng thời cũng gây dựng trong tâm hồn độc giảnhững tình cảm sâu sắc chân thật, yêu thơng hay giận ghét” [5, 578]

Hoài Thanh cũng rất chú ý đến tính chất hiện thực và sinh động củangòi bút Nguyễn Du Ông viết: “Trong thế giới Truyện Kiều cũng nh thế giớithật của chúng ta, cuộc đời thì muôn màu, muôn vẻ, có những điều nhìn rõ,cũng có những điều chỉ cảm thấy mơ màng, nhng dới ngòi bút của Nguyễn Du

thì đều dựng lên nh thật” Rất trân trọng giá trị hiện thực của Truyện Kiều

-một đặc sắc của văn học cổ điển nhng Đặng Thai Mai cũng không ngần ngạichỉ ra những hạn chế của tác phẩm về phơng diện nội dung t tởng với một tấmlòng cảm thông sâu sắc Và tất nhiên là ông đứng trên quan điểm lập trờng

của chủ nghiã Mác - Lênin để nhận ra “Truyện Kiều cha thể cung cấp cho độc

giả một nhân sinh quan thích đáng(…nh) Trớc bao nhiêu vấn đề xã hội nêu lên

trong Truyện Kiều giải pháp của nhà thi sĩ cha thể nói là ổn thỏa…nh Rồi vấn đề

đấu tranh đòi quyền sống của con ngời trong Truyện Kiều; mâu thuẫn giữa

chữ tài chữ mệnh, vấn đề luyến ái…nh” Những hạn chế của Truyện Kiều là do

hạn chế của thời đại: giữa thực tế và lí tởng mâu thuẫn nhau “Lý tởng của conngời muốn vơn tới cảnh sống tơi đẹp công bằng hơn giữa những ngày mà chế

độ kinh tế chính trị và trình độ ý thức vẫn ràng buộc cặp cánh của tởng tợnglại trong điều kiện sống gắt gao Đó cũng là tấn bi kịch trong tâm hồn, trong

đời sống sáng tác của thiên tài thuở trớc” [5, 580] Dù sao thì Đặng Thai Mai

Trang 26

vẫn khẳng định: “Sẽ không có một lí do nào để ta có thể hạ giá Truyện Kiều.

Nhân dân đại chúng có lí do chính đáng để yêu Truyện Kiều”

Ngoài giá trị hiện thực, Truyện Kiều của Nguyễn Du còn thể hiện một

cách bao quát giá trị nhân đạo ở tình yêu thiên nhiên, tình yêu đối với con

ng-ời, những con ngời bị giày xéo, đày đọa về thể xác cũng nh về tinh thần

Về tình yêu đối với thiên nhiên, Đặng Thai Mai nhận xét: Truyện Kiều

là tập thơ của thiên nhiên Theo ông: Cái đẹp của thiên nhiên trong Truyện

Kiều là ở màu sắc, ở âm thanh, ý vị của nó Ngòi bút miêu tả thiên nhiên của

Nguyễn Du đã làm rung động tâm hồn Đặng Thai Mai, một con ngời vốn đã

có tình cảm với thiên nhiên từ thời thơ ấu qua những buổi “lêu lổng, nô đùagiữa những hoa lá xinh tơi và thơm nức, những bồn hoa, những cổ thụ đồ sộ tr-

ớc nhà thờ Đại Tôn ” [10, 177] Và giờ đây ngòi bút thẩm bình của Đặng

Thai Mai lại làm rung động lòng ngời đọc Đúng là Truyện Kiều dạy cho ta yêu thiên nhiên Đặng Thai Mai đã chỉ ra đợc: Thiên nhiên trong Truyện Kiều

“vừa là quang cảnh nhìn qua một tâm trạng” vừa là “bức tranh trị họa cho đờisống con ngời” Bằng sự cảm nhận tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm trớcthiên nhiên, Đặng Thai Mai đã khám phá ra cái hay, cái đáng quý và cũng là

sự đóng góp của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du, khi ông mang tới cho độc giả

“những bức họa, bức cảnh tuyệt diệu” thì đồng thời “cũng bồi dỡng lòng yêuquê hơng đất nớc của con ngời” [5, 582] Vì thế mà có thể tìm lấy một lời an

ủi, một lí do cho sự hy sinh với lí tởng của mình qua những trang mỗi khiKiều gặp bớc đờng trắc trở

Không chỉ là “tập thơ của thiên nhiên”, Đặng Thai Mai còn nhận thấy:

Truyện Kiều là tập thơ của tình yêu và trớc hết là ái tình Theo nh cách phân

tích của Đặng Thai Mai thì tình yêu đợc thể hiện trong Truyện Kiều là một

tình yêu tự do, tình yêu ấy chính là mơ ớc, là hi vọng của những đôi lứa thanhniên luôn luôn bị đè nén trong lễ giáo Nó làm cho ngời ta căm thù “biết ghéttất cả những trạng thái luân lí không tự nhiên đã trói buộc con ngời một cáchvô lí, làm cho cõi lòng nghèo nàn”

Nguyễn Du ca ngợi và đề cao mối tình chung thủy Kim - Kiều đồngthời cũng là để phản ánh ớc mơ, nguyện vọng của con ngời về một tình yêu tựdo

Tinh thần nhân đạo của Truyện kiều còn đợc thể hiện ở tình yêu đối với

con ngời Cái thế giới mà ông thơng cảm, xót xa là thế giới của tất cả những

Trang 27

con ngời bị vùi dập dới chế độ xã hội bất công Đặng Thai Mai khẳng định:

“Nguyễn Du là một thi sĩ có tình yêu rộng rãi sâu sắc đối với nhân loại” Ônggiải thích: “Ngời độc giả yêu cô Kiều chính là vì Nguyễn Du đã chảy nớc mắtvới cảnh ngộ của một thiếu nữ tài sắc bậc nhất mà lại bị dày vò dới một xã hộiquá vô tình” [5, 584]

Tình yêu con ngời của Nguyễn Du thật bao la rộng lớn Tình yêu ấy đã

làm cho giá trị Truyện Kiều đợc nhân lên gấp bội Đặng Thai Mai khẳng định:

“chủ nghĩa nhân đạo là yếu tố đẹp đẽ nhất trong Truyện Kiều” và Truyện Kiều

là cuốn truyện “dồi dào tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong một xã hội vônhân đạo ”

Đặng Thai Mai qua bài viết của mình đã khơi sâu trong lòng mỗi chúng

ta niềm tự hào vô bờ về Nguyễn Du tiên sinh và Truyện Kiều, một kiệt tác của

văn học cổ Việt Nam Tuy nhiên đây không phải là bài tổng hợp thành tựu của

ngời đi trớc về Truyện Kiều, ở dây Đặng Thai Mai thể hiện bản lĩnh, chính

kiến, sự đánh giá của mình để đánh giá nó một cách tích cực do đó bài viết

này là một bài viết giá trị góp vào Truyện Kiều của Nguyễn Du và ngời ta xem

nó nh một công trình phê bình văn học chứ không phải quên nó nh một bàiphát biểu ngay sau buổi lễ kỉ niệm

2.2 Đặng Thai Mai với văn học cận đại Việt Nam

Với vốn kiến thức Hán học uyên bác cùng với tấm lòng cảm thông,

đồng cảm mãnh liệt đối với ngời xa, Đặng Thai Mai đã rất thành công khinghiên cứu các tác phẩm văn học cổ từ thơ văn Lý Trần đến thơ văn NguyễnDu Các công trình nghiên cứu của Đặng Thai Mai đã để lại dấu ấn vô cùngsâu sắc trong lòng ngời đọc Bởi “Bài viết nào ông cũng phát hiện ra đợc giátrị cơ bản nhất của đối tợng(…nh) cũng góp phần giá trị “tạc bia”, “định hớng”,

“mở đờng” [21, 152] Ông thành công nhất và cũng là những công trình đợc

Đặng Thai Mai dành nhiều công sức, tâm huyết nhất phải nói đến những công

trình nghiên cứu về văn học cận đại Hai công trình: Văn thơ Phan Bội Châu (1958) và Văn thơ Cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX (1960) “đã đợc viết ra

không chỉ từ lí do khoa học đơn thuần mà có thể nói trớc hết đó là do sự thôithúc của con tim, của tình cảm vừa là của chung đất nớc vừa là của riêng ĐặngThai Mai” [21, 210]

Bằng sự cảm nhận của bản thân cùng với những kỉ niệm của mộtphần cuộc đời và cuộc sống thực của họ hàng, ngời thân, Đặng Thai Mai đã

Trang 28

làm sống dậy cả một thời đại lịch sử của dân tộc mà tinh thần yêu nớc nồngnàn là cội nguồn của mọi hoạt động chống quân thù Qua đó còn thể hiện tấmlòng, tình cảm vui, buồn của Đặng Thai Mai gửi gắm vào trong đó.

2.2.1 Văn thơ Phan Bội Châu

Nói đến việc nghiên cứu giới thiệu nhà yêu nớc nhà văn Phan BộiChâu, ngời ta không thể không quy công cho giáo s Đặng Thai Mai, một trongnhững ngời đầu tiên đặt ra vấn đề tìm hiểu nghiên cứu khá sâu về Phan BộiChâu và đã đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng

Trong công trình chuyên khảo Văn thơ Phan Bội Châu Đặng Thai

Mai đã rất công phu dựng lại hoàn cảnh, không khí thời đại có ảnh hởng sâu

đậm tới Phan Tiên Sinh ở đây chính là tác giả nói về xứ Nghệ, là sinh hoạtvật chất và tinh thần, truyền thống đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ trong xãhội phong kiến nớc Việt Nam hồi ấy Bởi thế Đặng Thai Mai đã dành hẳn mộtchơng khá dài để nói về cái lí thú và bản sắc của Nghệ Tĩnh mà không thể

đánh đồng với một địa phơng nào khác

Đặng Thai Mai viết về quê hơng xứ Nghệ với phong cảnh, lịch sử,phong tục, với bản sắc cá tính ngời dân đã hiện lên không chỉ bằng cảm xúc

mà bằng cả tâm hồn

Nói đến thổ nghi và sản vật: Đất đai xứ Nghệ không giàu nhng cũng

không phải là một xứ nghèo nàn đến thất vọng ở đó có những “vựa thóc”, có

lâm thổ sản nhờ bàn tay con ngời lao động mời mấy thế kỉ ròng rã khai khẩn

Nói đến cảnh vật: Cái đẹp của xứ Nghệ không phải ở nơi cánh đồngphì nhiêu, không phải ở trong màu mè của thổ nhỡng, trong ánh sáng và khíhậu của thời tiết Cái đẹp của xứ Nghệ là ở núi non hùng vĩ, ở nơi sông sâu, n-

ớc trong, với những cảnh vật bao la Cho nên, nhìn phong cảnh Nghệ - Tĩnh

là phải nhìn cho toàn bức: núi non, sông ngòi, làng mạc, đồng điền, cây cối

“cho đến những con đờng to nhỏ, đờng đất đỏ, đờng đất thó, len lõi từ thunglũng này đến thung lũng kia đấu mối cùng nhau nơi bến nớc, hay vắt dốc lêntận lng đèo”

Nói đến con ngời: “Từ xa các nhà viết về Phong thổ ký đã nhận thấy

dân Nghệ Tĩnh có những nét cá tính riêng biệt Nhân dân xứ Nghệ nổi tiếng vềkhá nhiều khuyết điểm tâm lý cũng nh về một số đức tính: Can đảm đến sơsuất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan, và tần tiện đến “cá gỗ”

Trang 29

Đặng Thai Mai lí giải điều những điều này do hoàn cảnh thiên nhiên, do điềukiện sống bởi đây là một khu vực không hề đợc tạo vật cu đơng, đất đai phầnlớn trả có bao nhiêu màu mỡ, nhiều nơi chỉ là đồng chua nớc mặn Cho nênngời dân xứ Nghệ luôn có ý thức tiết kiệm, cố gắng giành dụm cho ngày mai,

họ không thích lối sống xa hoa, họ yêu giản dị, thật thà, chắc chắn Nhngtrong ngày nguy hiểm của đất nớc ngời nông dân xứ Nghệ cũng là ngời línhluôn luôn cam đảm, sẵn sàng hi sinh cho nghĩa vụ của đất nớc Cho nên ở đoạnsau Đặng Thai Mai lại viết: “Nếu ta biết rõ xứ Nghệ qua văn chơng, qua lịch sử,qua đời sống của nhân dân, thì ta sẽ thấy rằng: Rắn rỏi, khô khan là một cạnhkhía của tính cách ngời Nghệ Tĩnh Kì thực đời sống tình cảm con ngời ở đây

đối với tự nhiên, với con ngời, với cá đẹp của tự nhiên, của con ngời, với cái đẹpcủa lí tởng tuy không bộc lộ một cách ồn ào, hời hợt, nhng lại có phần sâu sắc

và bền bỉ, cảm động đến thiết tha” [3, 683]

Có đợc điều này ta biết bởi chính Đặng Thai Mai là ngời xứ Nghệ,

ông rất tự hào về quê hơng xứ Nghệ của mình Và không chỉ tự hào ông còn

am hiểu sâu sắc tới mức hiếm có

Viết về sự nghiệp văn thơ Phan Bội Châu, Đặng Thai Mai có nhậnxét: “Phan Bội Châu đã viết rất nhiều Viết văn chữ Hán Viết văn tiếng Việt.Viết đủ thể văn Viết từ ngày thanh niên còn ở trong nớc Viết trong khi bôntẩu ở nớc ngoài Trong thời gian 15 năm bị giam cầm ở Huế” [3, 709] Nh vậysuốt cả cuộc đời Phan Bội Châu không lúc nào dừng bút Thực ra sự nghiệpvăn chơng đâu có phải là mục đích của Phan tiên sinh theo đuổi

Hai câu thơ của Viên Tử Tài, từ hồi còn trẻ Phan Bội Châu đã xem

nh một lời châm ngôn quý báu:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch Lập thân tối hạ thị văn chơng ( Bữa bữa những mong ghi sữ sách Lập thân xoàng nhất ấy văn chơng)

Nhng theo Đặng Thai Mai: “Trong sự nghiệp Phan Bội Châu, văn

ch-ơng cũng là một hoạt động gắn chặt với đời sống chính trị của nhà ái quốc Sựnghiệp văn chơng của Phan Bội Châu chính là một bộ phận trong công táccách mạng của nhà chí sĩ” [3, 654] Nguyễn Đình Chú cũng khẳng định:

“Phan Bội Châu làm văn, làm thơ cũng là để làm cách mạng Nhà chính trị

Trang 30

Phan Bội Châu và nhà văn Phan Bội Châu là một” [10, 10] Đối với Phan BộiChâu văn chơng trở thành một phơng tiện để phục vụ cho công tác cách mạng.

Hiểu sâu sắc nội dung thơ văn Phan Bội Châu, Đặng Thai Mai đi đếnnhận định khái quát: “Sự nghiệp văn chơng của Phan Bội Châu kết tinh trênmấy yếu tố văn hóa, xã hội trong hoàn cảnh chính trị của đất nớc và của thời

đại” [3, 660] Đặng Thai Mai đã nhìn thấy phần thành công rõ rệt nhất của vănchơng họ Phan là ở chỗ: “Đã biểu hiện đợc tất cả cái tinh thần yêu nớc nôngnàn của cả một dân tộc trong thời đại lúc bấy giờ Hai yếu tố chan chứa, tràn trềtrong bao nhiêu thơ phú, bao nhiêu văn chơng Phan Bội Châu có cả một pho tìnhcảm vĩ đại không có một tí mập mờ nào về hai phơng diện ghét và yêu Yêu nớcnhà, yêu giống nòi, yêu nhân dân Việt Nam Ghét quân thực dân cớp nớc với lũtôi đòi của chúng Và cả một pho tởng tợng rất là đẹp đẽ: Tiền đồ nớc Việt namnhất định sẽ độc lập thống nhất và vinh quang” [3, 773]

Chính vì vậy mà trong mấy chục năm đầu thế kỉ văn thơ Phan BộiChâu có một tác dụng vô cùng lớn lao: “Tình cảm và tởng tợng của nhà chí sĩ

đã quyến rũ, khuyến khích, thúc giục các thế hệ độc giả, kêu gọi họ, thúc giục

họ lên đờng đấu tranh” [3, 773]

Ngọn nguồn tạo nên giá trị thơ văn Phan Bội Châu đợc Đặng ThaiMai chỉ ra: “Đó là sự uyên bác của Hán học, là đất nớc xứ Nghệ là sinh hoạtvật chất và tinh thần, truyền thống đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ trong xãhội phong kiến nớc Việt Nam hồi ấy” [3, 669]

Là một ngời tinh thông Hán học, hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực,

đặc biệt lại có tình cảm yêu mến sâu nặng đối với quê hơng xứ sở, đối vớinhững anh tài, những chí sĩ vì nớc quên thân, Đặng Thai Mai đã hiểu một cách

đúng đắn và sâu sắc giá trị thơ văn Phan Bội Châu, ông phát hiện nét đặc sắc,mới mẻ đồng thời cũng là phần thành công, phần đóng góp không nhỏ củaPhan tiên sinh

Tinh thần lạc quan cách mạng là niềm tin tởng vào tơng lai, vào sựnghiệp thắng lợi của cách mạng Nh vậy theo Đặng Thai Mai đó là một tiêuchuẩn của ngời anh hùng và cũng là một đặc điểm trong chủ nghĩa yêu nớccủa Phan Bội Châu Tinh thần lạc quan đã làm cho thơ văn Phan Bội Châu đ-

ợm màu sắc lãng mạn Màu sắc lãng mạn trong thơ văn Phan Bội Châu là màusắc lãng mạn tích cực “nó có tác dụng thúc giục mọi ngời cố gắng bằng nhữngvần thơ, những hình tợng khích thích quyến dỗ tiến lên”[3, 777] Hai lăm

Trang 31

năm đầu thế kỉ, văn thơ Phan Bội Châu đã làm cho “cả một thế hệ thanh niênsung sớng nhận thấy trong đó một tia hi vọng, một ngọn đuốc soi đờng” [3,778].

Đặng Thai Mai nhận thấy: Cơ sở ngọn nguồn của những vần thơ chứachan tinh thần lãng mạn là ở ngời cầm bút viết lên những vần thơ ấy bao giờcũng tin tởng ở tơng lai, tin ở kết quả ở ý chí con ngời, tin ở mình, tin bạn bè,

đồng chí Đặng Thai Mai kết luận: ở Phan Bội Châu “nét đặc biệt nỗi lên làtấm lòng tin tởng” [3, 771], ở ông có khi sự tin ngời quá dễ dãi, nhiều lúcngây thơ nhng niềm tin đã giúp Phan Bội Châu vững vàng trong cuộc đời cáchmạng đầy gian nan nguy hiểm của mình Cái nét “tâm lí vĩ đại” mà Đặng ThaiMai quả quyết ở Phan Bội Châu là: “Phan tin chắc rằng nớc Việt Nam khôngthể mất đợc, nớc Việt Nam nhất định sẽ độc lập Phan tin chắc rằng ngời ViệtNam không bao giờ chịu làm ngời mất nớc, Phan tin chắc rằng một nhóm thựcdân làm ma làm gió trên đất nớc Việt Nam trong một lúc rồi sẽ phải rời bỏ

“đất nớc gấm vóc” này mà về nớc chúng Phan tin ở mọi ngời Việt Nam, tin ởtiền đồ nớc Việt Nam” [3, 772] Sức thuyết phục của thơ văn Phan Bội Châu

và cũng là yếu tố tạo nên giá trị thơ văn của ông là tinh thần lạc quan sắt đá

đó Nghiên cứu thơ văn Phan Bội Châu, Đặng Thai Mai đã nhận thấy nhữngvần thơ sáng ngời tinh thần lạc quan cách mạng của tiên sinh có một tác độngkhông nhỏ trong việc thúc giục, kêu gọi cả một thế hệ độc giả lên đ ờng tranh

đấu Vào khoảng “đầu thế kỉ này”, có những vần thơ, những bài văn đã làmcho ngời nghe căm hờn, suy nghĩ và phấn khởi “vạch trời xanh mà tuốt gơmra” Phan Bội Châu là ngời đã dẫn đầu và thành công rõ rệt hơn ai hết về lốithơ ca yêu nớc đó Xét về mặt này Phan Bội Châu có thể xem nh nhà văn, nhàthi sĩ đầu tiên đã sáng tác theo tinh thần lãng mạn cách mạng trong văn học n-

ớc nhà” [3, 774]

Đặng Thai Mai cũng chỉ ra rằng: Đứng trên lập trờng dân chủ t sản,thiếu mất sự chỉ đạo của học thuyết duy vật nên tinh thần lãng mạn trong thơvăn của Phan tiên sinh “chỉ gây đợc ít nhiều tác dụng trong một thời gian nhất

định” Quan niệm này của Đặng Thai Mai cũng gần với quan niệm của ngờihọc trò của ông: tinh thần lãng mạn cách mạng trong thơ văn Phan Bội Châukhông bền vững Về sau trong cuộc đời éo le của “ông già Bến Ngự”, “dần dầntinh thần lạc quan mờ đi, nhờng chỗ cho tinh thần bi quan lấn át” [15, 21]

Ngày đăng: 27/12/2013, 20:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Thai Mai, Văn học khái luận, Ngày nay S.1950 (in lại), Hàn Thuyên H.1944 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học khái luận
2. Đặng Thai Mai, Trên kinh nghiệm những năm vừa qua, ấn định phơng pháp hớng phấn đấu năm tới, NCVH, Số 2- 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên kinh nghiệm những năm vừa qua, ấn định phơng pháp hớng phấn đấu năm tới
9. Đặng Thai Mai, Trên đờng học tập và nghiên cứu (Tập I), Nxb Văn học, 1959 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đờng học tập và nghiên cứu
Nhà XB: Nxb Văn học
10. Đặng Thai Mai, Trên đờng học tập và nghiên cứu (Tập II), Nxb Văn học, 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đờng học tập và nghiên cứu
Nhà XB: Nxb Văn học
11. Đặng Thai Mai, Trên đờng học tập và nghiên cứu (Tập III), Nxb Văn học, 1973II. Những tài liệu tham khảo khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đờng học tập và nghiên cứu
Nhà XB: Nxb Văn học
12. Trơng Chính, Nhân đọc cuốn Trên đờng học tập và nghiên cứu của Đặng Thai Mai, TCVH, Sè 5, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân đọc cuốn Trên đờng học tập và nghiên cứu của Đặng Thai Mai
13. Trơng Chính, Chúng ta học tập những gì ở cụ Đặng Thai Mai, Tcvh, Số5, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng ta học tập những gì ở cụ Đặng Thai Mai
14. Trơng Chính, Hồi kí Đặng Thai Mai, Tcvh, Số 5,1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi kí Đặng Thai Mai
15. Nguyễn Đình Chú, Văn thơ Phan Bội Châu, Nxb Giáo dục, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn thơ Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (Tập II), Nxb Văn học, 1982 17. Phan Cự Đệ, Đặng Thai Mai - Tác phẩm (Tập I,II). Nxb Văn học, 1978 18. Phong Lê, Về phong cách trong phê bình, Tcvh, Số 2, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam "(Tập II), Nxb Văn học, 198217. Phan Cự Đệ, "Đặng Thai Mai - Tác phẩm" (Tập I,II). Nxb Văn học, 197818. Phong Lê, "Về phong cách trong phê bình
Nhà XB: Nxb Văn học
19. Tạp chí văn học, Nhà văn - Nhà nghiên cứu - Giáo s Đặng Thai Mai 80 tuổi, Số 5, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn - Nhà nghiên cứu - Giáo s Đặng Thai Mai 80
20. Nhiều tác giả, Để nhớ Đặng Thai Mai, Nxb Hội nhà văn, 1992 21. Nhiều tác giả, Đặng Thai Mai và văn học, Nxb Nghệ An, 1994 22. Nhiều tác giả, Một thời đại văn học mới, Nxb Văn học, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để nhớ Đặng Thai Mai", Nxb Hội nhà văn, 199221. Nhiều tác giả, "Đặng Thai Mai và văn học", Nxb Nghệ An, 199422. Nhiều tác giả, "Một thời đại văn học mới
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
25. Luận án tiến sĩ, Những đóng góp về lý luận và phơng pháp nhiên cứu văn học của Đặng Thai Mai, 1995 [Vũ Quốc Long] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đóng góp về lý luận và phơng pháp nhiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
26. Trần Đình Sử, Lí luận và phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phê bình văn học
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w