1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thế giới nghệ thuật trong tùy bút của đỗ chu

114 784 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 638,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với Tản mạn trước đèn, tùy bút Thăm thẳm bóng người là tác phẩm đi sâu hơn, xa hơn, có sức lan tỏa rộng hơn và thể hiện một tài năng nghệ thuật đã đến độ chín muồi của nhà văn xứ Kin

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

MAI SƠN TÙNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG

TÙY BÚT CỦA ĐỖ CHU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

MAI SƠN TÙNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG

TÙY BÚT CỦA ĐỖ CHU

Chuyên ngành : Lý luận văn học

Mã số: 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN HOÀI THANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của

TS Nguyễn Hoài Thanh

Công trình này chưa công bố dưới bất kì hình thức nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 08 năm 2011

Mai Sơn Tùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Nguyễn Hoài Thanh, người thầy đã luôn khích

lệ và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Để hoàn thành luận văn, tôi cũng đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của gia đình, đồng nghiệp trường THPT Ngô Quyền (Bà Rịa – Vũng Tàu), và quí thầy cô công tác tại Phòng KHCN & SĐH trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Xin cảm ơn tất cả mọi người

Mai sơn Tùng

Trang 7

DẪN LUẬN

1 Lí do chọn đề tài

Truyện ngắn Ao làng được trích in trên tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1961 đã đánh

dấu bước đầu khởi nghiệp văn chương của cậu học sinh tên Chu Bá Trình Tính đến nay đã ngót năm mươi năm, cậu học sinh trường trung học Hàn Thuyên năm ấy giờ đã là một nhà văn lão thành, có những cống hiến không nhỏ cho nền văn học dân tộc Sau những năm miệt mài sáng tạo, ông đã có trong tay trên chín tập truyện ngắn và ba tập tùy bút Có thể nói, Đỗ Chu là nhà văn sớm bén duyên với thể loại truyện ngắn và được đông đảo độc giả biết đến qua các tập truyện ngắn Trước năm 2004, người ta biết một Đỗ Chu với những truyện ngắn mang giọng điệu nhẹ nhàng sâu lắng và giàu sức biểu cảm Ông được vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật vào năm 2001 với bộ ba tác phẩm

Hương cỏ mật, Phù sa, Mảnh vườn xưa hoang vắng, và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt

Nam năm 2003 với tác phẩm Một loài chim trên sóng, đặc biệt cũng với tập truyện ngắn

này Đỗ Chu cũng vinh dự nhận Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2004 Với các giải thưởng này, tài năng, tâm huyết và những đóng góp của văn Đỗ Chu về thể loại truyện ngắn đã được ghi nhận, tôn vinh Đồng thời, tên tuổi của ông cũng có vị trí nhất định trong nền văn học hiện đại Việt Nam và khu vực

Quả là một trường hợp hiếm thấy, khi nhà văn vừa bước sang tuổi lục tuần, cái tuổi đã trông thấy rõ rệt sự mệt mỏi và già nua, nhà văn của thể loại truyện ngắn lại bất ngờ làm

một cuộc chuyển hướng đột ngột sang thể loại tùy bút với tác phẩm Tản mạn trước đèn,

xuất bản lần đầu năm 2004 Tập tùy bút này được đông đảo giới nghiên cứu – phê bình và độc giả đón nhận nồng nhiệt Từ đây, Đỗ Chu chính thức được biết đến trong tư cách của tác giả tùy bút Và lịch sử nghiên cứu về thể loại tùy bút đã ghi nhận cái tên Đỗ Chu khá nổi bật giữa các nhà văn trước đó và đương đại Năm 2008, Đỗ Chu lại tiếp tục trình làng

tác phẩm tùy bút Thăm thẳm bóng người với số lượng đầu sách xuất bản ấn tượng 2500 cuốn So với Tản mạn trước đèn, tùy bút Thăm thẳm bóng người là tác phẩm đi sâu hơn,

xa hơn, có sức lan tỏa rộng hơn và thể hiện một tài năng nghệ thuật đã đến độ chín muồi của nhà văn xứ Kinh Bắc Như lời tâm sự của nhà văn với Hà Khái Hưng trên báo Văn nghệ Công an, cả hai tập sách đều là những kỉ niệm dấu yêu, những điều tác giả đã nghe thấy, đã trải qua Với các tác phẩm ấy, tên tuổi của Đỗ Chu được nâng lên một tầm cao mới, xứng đáng là cây bút văn xuôi nổi bật trong nền văn học hiện đại Việt Nam

Trang 8

Về việc nghiên cứu tác phẩm của ông, đã có một số bài báo, bài nghiên cứu viết về Đỗ Chu Và cũng có một số học viên cao học lấy truyện ngắn nói riêng, văn xuôi của ông nói chung làm đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu tập trung, chuyên sâu về tùy bút của nhà văn Vì vậy, chúng

tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu tùy bút của ông với đề tài “Thế giới nghệ thuật trong tùy

bút của Đỗ Chu”

Chọn nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ

đã làm nên nét độc đáo trong sáng tác tùy bút của ông Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn muốn góp thêm một tiếng nói khẳng định những cống hiến của Đỗ Chu cho nền văn học hiện đại Việt Nam nói chung, cho thể loại tùy bút nói riêng

Đây là công trình khoa học tập trung nghiên cứu chuyên sâu về đặc trưng tùy bút của

Đỗ Chu Cố gắng chỉ ra những nét độc đáo làm nên diện mạo sáng tạo tùy bút của nhà văn, chúng tôi mong muốn góp thêm tiếng nói khẳng định vai trò và vị trí của Đỗ Chu trong tiến trình văn học Việt Nam với tư cách là tác giả tùy bút có những nét đặc trưng riêng biệt

và là một trong những đại diện tiêu biểu cho thể loại tùy bút đương đại Trong chừng mực nhất định, người viết cũng hi vọng chỉ ra được những đóng góp riêng của Đỗ Chu trong việc mang lại diện mạo mới cho thể loại tùy bút

Mặt khác, chúng tôi hi vọng rằng luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên, các giáo viên Ngữ văn bật phổ thông và những ai quan tâm đến tùy bút đương đại Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với đề tài “Thế giới nghệ thuật trong tùy bút của Đỗ Chu”, chúng tôi sẽ lấy ba tập tùy bút Những chân trời của các anh (1986), Tản mạn trước đèn (2004 và Thăm thẳm bóng người (2008) làm đối tượng nghiên cứu

Do đặc điểm của đề tài nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thể loại tùy bút của nhà văn Đỗ Chu Phạm vi của luận văn này là đi vào thế giới nghệ thuật và một số đặc điểm chính của ba tập tùy bút trên

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trừ tập Những chân trời của các anh, hai tập tùt bút còn lại là những tác phẩm mới

được xuất bản Hiện nay có khá nhiều bài viết, bài cảm nhận trên báo, tạp chí và trên mạng

Trang 9

Internet khen chê về hai tập tùy bút này như bài viết của Hoàng Ngọc Hiến, Lý Hoài Thu, Thu Hà, Thạch Linh, Phan Huy Dũng, Nguyễn Hòa, Hà Khái Hưng, Tô Hoàng, Nguyễn Thanh Kim…Tuy nhiên đó cũng chỉ là những cảm nhận, suy nghĩ có tính ấn tượng ban đầu và tính thời sự Tùy bút của Đỗ Chu chưa được đặt trong hệ thống tùy bút Việt Nam

để phân tích, nghiên cứu và tìm ra được đặc trưng riêng của nó Đa số các tác giả đều cho rằng Đỗ Chu đến với tùy bút như một hối thúc tự nhiên để trải nghiệm vốn sống, vốn hiểu biết cùng những suy tư, trăn trở của mình trước hiện thực cuộc sống hôm nay và hôm qua

Đỗ Chu “hiểu rành rẽ từng khúc quanh co của dòng sông văn học, lúc này đang chứng kiến một thời kì mới của sáng tác với nhiều bề bộn, lẫn lộn cái thực, cái giả chen nhau, cái đích thực và cái thời thượng xem ra không dễ phân biệt” [22; 21]

Phan Huy Dũng khi giới thiệu về tập tùy bút Tản mạn trước đèn đã khen sự tài hoa, tinh tế trong văn phong tùy bút của Đỗ Chu như sau: “Ta được gặp lại ở Tản mạn trước

đèn vẫn một Đỗ Chu thời Hương cỏ mật, Mùa cá bột – người từng thể hiện rất tính tế, tài

hoa những cảm xúc ân tình ân nghĩa trong đời sống cộng đồng, đưa lại cho độc giả một cảm giác ấm áp, tin yêu Thời thế bây giờ khác xưa khá nhiều, vậy mà vẫn giữ được phần lớn cách nhìn ấy và giọng văn ấy, xét ở một khía cạnh nào đó, có thể nói người viết tỏ ra rất tin ở mình hay nói cách khác là có bản lĩnh” [22; 21] Phan Huy Dũng cũng nhấn mạnh

bản lĩnh văn hóa, những trăn trở về nghề văn và nghệ thuật của Đỗ Chu: “Khi viết Tản

mạn trước đèn, ông muốn đặt lại và tái khẳng định vấn đề trách nhiệm của nhà văn đối với

vận mệnh đất nước, bản lĩnh văn hóa của người viết, sự cô đơn của nghệ sĩ trên hành trình

đi tìm cái đẹp, sự tỉnh táo cần thiết của một nhà văn giữa muôn nẻo đường sáng tạo để làm sao thoát khỏi mê lầm” [22; 22]

Thạch Linh lại thấy vốn sống văn hóa thâm sâu và lối viết tùy bút nhẹ nhàng, sâu lắng của Đỗ Chu: “Đỗ Chu giấu cả trong mình một kho văn hóa dân gian và bác học, lịch

sử, huyền tích, cái trông thấy và nghe thấy, cái sống và cái ngẫm, trộn tất cả vào mình rồi rút ra bằng những câu văn như kể chuyện mà như tâm sự, giãi bày, khiến cho những điều ông nói ra được đọng lại day dứt, ngậm ngùi, có cả những điều khó nói cũng được ông nói

ra nhẹ nhàng, sâu lắng” [66; 14]

Hà Khái Hưng khi nhận xét về tập Thăm thẳm bóng người đã khẳng định vẻ đẹp

ngôn ngữ và phong cách tùy bút trữ tình đằm thắm trong các trang tùy bút của Đỗ Chu:

“Ngoài việc cài cắm được nhiều thông tin văn hóa, xã hội…, ông còn chú trọng đến những khoảng lặng của của cảm xúc và đặt biệt rất chăm chú đến vẻ đẹp và sức bật của câu văn”

Trang 10

[53] Ông còn nhận ra cái tạng cảm xúc “vừa trữ tình vừa hóm hỉnh” Theo Hà Khái Hưng thì Đỗ Chu có một giọng kể chuyện đa sắc: “Giọng kể của tác giả sắc mà vẫn ngọt, có chỗ lem lem, cả cười nhưng cũng có lắm chỗ chạnh buồn, chua chát…kết hợp nhuần nhị chất văn lẫn chất báo” [53; 18]

Nguyễn Hòa trong bài nghiên cứu Văn chương – hi vọng về những điều tốt đẹp đã ca

ngợi Đỗ Chu như sau: “Văn Đỗ Chu viết kĩ, đẹp cả về giọng điệu lẫn những suy tưởng nhân tình” [44] Ông còn những nét đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật: “Đoạn văn nào cũng đầy ắp chi tiết, phập phồng hơi thở đời sống, chốc chốc tác giả lại chêm vào đó cái nhìn sắc sảo, những câu đúc kết dẫu chưa phải hoàn toàn là chân lí thì cũng rất khoáng đạt, độc đáo…Đặc biệt là, dẫu chủ đề có lan man, song tiết tấu câu văn vẫn luôn rộn ràng, cuốn hút người đọc” [44] Bên cạnh đó, Nguyễn Hòa cũng chỉ ra những nét hạn chế trong lối văn miên man dàn trải dễ gây nhàm chán cho người đọc: “Tuỳ bút Đỗ Chu thường mở đầu một cách “chật vật” với những luận đề dài dòng, khô khan, dễ làm người ta ngại đọc” [44]

Trong bài Cái tôi tùy bút, Nguyễn La đã chỉ ra được một nét kết cấu độc đáo trong tùy bút của Đỗ Chu Đó là kết cấu theo kiểu “hình xương cá” Sau đó ông khen sự uyên thâm của Đỗ Chu: “Đỗ Chu viết tùy bút bằng sự hiểu đời của chính ông, tôi gọi văn ông là

thứ văn biết đời – dựa theo cách nói của Cao Bá Quát nhận định về Truyện Kiều là thứ văn

hiểu đời Tất nhiên từ biết đến hiểu là khoảng cách rất xa Nói thế để thấy rằng nhận định thứ văn biết đời của Đỗ Chu cũng có chừng mực chứ không đề cao một cách quá đáng Đỗ Chu biết nhiều lắm, biết nhiều nên làm người đọc thích thú với một câu ca dao cổ được tái hiện trong văn cảnh phù hợp, một câu đối chữ Nho được cắt nghĩa làm rõ cái thâm thúy của các cụ ngày trước, một phong tục xứ Kinh Bắc quê ông, mà bóc đi cái vỏ tưởng là mê tín dị đoan lại là cái nhân đậm đà tình người…” [62] Cuối cùng, Nguyễn La khen sự liên tưởng, nhập thân vào nhân vật của Đỗ Chu trong quá trình trần thuật: “Đỗ Chu là người chéo thuyền giỏi, cái tình – phần nào tôi đã nói ở trên, cái tài là cái duyên của văn anh thể hiện rõ ở sự liên tưởng nhiều khi độc đáo, đột xuất; ở sự nhập vai nhập thân vào nhân vật

để kể, lúc bấy giờ giọng Đỗ Chu hay giọng nhân vật khó mà phân biệt Thi pháp gọi đó là song điệu, tôi gọi đó là giọng nhập vai, bề ngoài vẫn là giọng Đỗ Chu nhưng lại là tiếng

nói, tư tưởng của nhân vật” [62]

Ngũ Nhị Song Hiền đã tìm ra được những cảm hứng chính trong ba tập sách của Đỗ Chu Ngoài ra, cô còn phát hiện ra chất thơ và chất truyện, phân loại được những giọng điệu khác nhau trong tùy bút của ông: “Sự chuyển hướng từ cái nhìn sử thi sang cái nhìn

Trang 11

hiện thức phức hợp, đa chiều của văn học thời kì đổi mới đã giúp Đỗ Chu cảm nhận cuộc sống ở nhiều cung bậc khác nhau, mang đến sự đa sắc trong giọng điệu” [43; 136]

Nhìn chung, tùy bút của Đỗ Chu có những điểm mạnh, điểm yếu riêng Người đọc khi bình luận vừa có khen và vừa có đôi chút không hài lòng Song cái chỗ không hài lòng

ấy cũng rất nhẹ nhàng vì theo họ đây là điều thuộc về cái “tạng” của nhà văn, là đặc trưng riêng của phong cách cá nhân Tuy nhiên tựu trung lại vẫn thấy sự thống nhất ở một điểm

là tùy bút của ông thể hiện một văn phong trữ tình, đằm thắm, chuẩn mực, mĩ lệ… Dù có đông đảo nhiều bài viết về tùy bút của ông nhưng đó cũng chỉ là những nhận định khái quát, hoặc riêng lẻ một tập tùy bút mà thôi Chúng tôi lựa chọn đề tài “Thế giới nghệ thuật trong tùy bút của Đỗ Chu” với tham vọng tìm ra được nét đặc trưng trong thể loại tùy bút của ông Và đây cũng là công trình khoa học đầu tay của một người mới bước những bước đầu tiên trong việc nghiên cứu văn học

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này chủ yếu nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu thi pháp thể loại Trên cơ sở lí thuyết về đặc trưng thể loại tùy bút, người viết đi sâu vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật tùy bút của Đỗ Chu Từ những dấu hiệu nổi bật, người viết đi đến khái quát thành những luận điểm phù hợp, cố gắng lọc ra những yếu tố tiêu biểu nhất để làm cơ sở tổng hợp, đánh giá Để hỗ trợ cho việc nghiên cứu đạt kết quả cao nhất, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như phương pháp thống kê, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh…

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận, luận văn được chia thành ba chương chính tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Chương 1: Thể loại tùy bút và tùy bút của Đỗ Chu

1.1 Về thể loại tùy bút

1.2 Thể loại tùy bút trong sự nghiệp sáng tác văn học của Đỗ Chu

1.3 Thế giới nghệ thuật trong tùy bút của Đỗ Chu

Chương 2: Cái tôi Đỗ Chu trong tùy bút

2.1 Cái tôi trữ tình

2.2 Cái tôi triết luận

Trang 12

2.3 Cái tôi tài hoa, uyên bác

Chương 3: Nghệ thuật tùy bút của Đỗ Chu

3.1 Kết cấu, ngôi kể và nghệ thuật khắc họa chân dung 3.2 Nhịp điệu và giọng điệu

3.3 Ngôn từ nghệ thuật

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 13

CHƯƠNG 1: THỂ LOẠI TÙY BÚT VÀ TÙY BÚT CỦA ĐỖ CHU 1.1 Về thể loại tùy bút

1.1.1 Khái niệm về thể loại tùy bút

Tùy bút là một trong những thể loại thuộc thể kí, một trong năm thể loại của văn học Ngoài những tính chung, tùy bút còn có những đặc trưng riêng biệt Có vẻ như cách hiểu đơn giản theo cảm tính: tùy bút là những trang văn xuôi mà ở đó nhà văn tùy theo ngòi bút

mà đưa đẩy – lâu nay đã được nhiều người yên tâm thừa nhận Ngay cả Nguyễn Tuân – nhà văn sáng tác tùy bút hàng đầu của Việt Nam – cũng có lần thừa nhận: “Nguyên tắc quan trọng của tùy bút là không có nguyên tắc gì cả” Cách hiểu này đặt cơ sở trên một nét đặt trưng của tùy bút là luôn coi trọng và phát huy tối đa cảm xúc, quan điểm chủ quan ở người nghệ sĩ Tuy nhiên, những điểm bất cập và chưa thỏa đáng cũng nảy sinh từ chính những điều đơn giản ấy

Bất kì sáng tác văn chương nào cũng đều bắt đầu từ một nguồn cảm hứng của cá nhân người nghệ sĩ, chứ không chỉ riêng tùy bút Tuy nhiên, với thể loại tùy bút, người nghệ sĩ phải lưu trữ nguồn cảm xúc mãnh liệt thì mới có thể thăng hoa trong quá trình sáng tác Một cách hiểu không thỏa đáng về khái niệm tùy bút sẽ dễ dẫn đến lẫn lộn lối viết tự

do, phóng khoáng với lối viết lan man, tản mạn, bịa đặt tùy tiện Bởi vì “những sự việc, những con người trong tùy bút tuy có thể không kết thành một hệ thống theo một cốt truyện, hay theo một tư duy luận lí chặt chẽ, nhưng tất cả vẫn phải tuân thủ trật tự của dòng cảm xúc, cái logíc bên trong của cảm hứng tác giả Và tất nhiên là sự việc được kể lọc qua cách nhìn của chủ thể thẩm mĩ vẫn phải chân thật” [39; 1888]

Nếu coi tùy bút là một cách viết hay một kiểu bút pháp thì mới chỉ dừng lại ở mức độ cảm tính trong nhận thức, chưa bao quát hết đối tượng Tùy bút còn là một thể loại văn học

có những đặc trưng rõ nét cả về nội dung và hình thức biểu hiện, đủ sức tồn tại ngang hàng với những thể loại văn xuôi nghệ thuật khác

Từ góc nhìn từ nguyên học có thể tìm thấy những giả thiết đáng tin cậy, góp phần

xác định khái niệm thể loại và phân định loại hình tùy bút Trong Hán Việt từ điển giản

yếu, từ “tùy bút” được Đào Duy Anh giải nghĩa là “tùy thời mà chép” Nghĩa là thể loại

này không chỉ bộc lộ cảm xúc chủ quan của người viết mà còn phải chịu sự chi phối từ

Trang 14

hoàn cảnh khách quan Còn từ “bút”, ngoài nghĩa cái dùng để viết, có thêm nét nghĩa nữa

là “biên chép” Vào buổi sơ khai của việc phân loại, một số nhà lí luận Trung Quốc đã chia

văn chương ra làm hai loại: có vần và không vần Ở chương Tổng thuật của tác phẩm Văn

tâm điêu long, Lưu Hiệp có viết: “Kim chi thường ngôn, hữu Văn hữu Bút, dĩ vi vô vận giả

Bút dã, hữu vận giả Văn dã” (Ngày nay thường nói: có Văn có Bút, cho không vần là bút,

có vần là Văn Thời Lưu Tống, trong Nhan Quang Lộc tập, Nhan Diên chia văn chương ra

làm ba loại: Ngôn, Bút, Văn Trong đó, “Bút” có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả truyện ký

Dù mới là giả thiết, nhưng thiết nghĩ những thông tin trên đủ cơ sở để củng cố mối hoài nghi mang ý nghĩa khoa học: không thể tiếp tục hiểu rằng “bút” là ngòi bút và “tùy bút” là “tùy theo ngòi bút mà đưa đẩy” Từ trong nguồn gốc phương Đông, tùy bút đã được xác định là một thể loại văn xuôi thực sự tự do, phóng túng, không bị ràng buộc bởi những khuôn khổ có tính qui phạm, cả về nội dung tư tưởng và cách thức thể hiện

Nét nổi bật của tùy bút là qua việc ghi chép những con người và những việc cụ thể có thực, tác giả tùy bút đặc biệt chú ý việc bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc đời Được gọi là tùy bút, là những tác phẩm mà ở đó nổi lên trên bình diện thứ nhất những phẩm chất riêng, cốt cách riêng của tác giả Chỉ những người muốn làm rõ cái giọng điệu độc đáo riêng của mình, những người thích tự biểu hiện,

tự phân tích, đồng thời những bút pháp vừa giàu chất hình tượng, vừa có khả năng viết chặt chẽ như châm ngôn…những người đó mới đi vào thể loại tùy bút

So với các thể loại khác, đội ngũ sáng tác của tùy bút còn khá khiêm tốn: Trong văn học Việt Nam từ trước Cách mạng đến nay, số lượng nhà văn đứng được ở thể tùy bút không nhiều Nhưng rõ ràng với tư cách một thể loại văn chương, tùy bút đã có quá trình hình thành và phát triển, kế thừa và cách tân, với những đặc trưng nghệ thuật chịu ảnh hưởng sâu sắc cả về phương Đông lẫn phương Tây Còn có thể hiểu “tùy bút” như là một bút pháp tự do, phóng túng, tài hoa, không thuộc sở hữu riêng của sáng tác văn chương Cách hiểu này không phổ biến và chỉ có ý nghĩa gợi mở thêm hướng nghiên cứu

1.1.2 Xác định loại hình nghệ thuật tùy bút

Mặc dù là một thể loại văn xuôi mang rõ nét khá nhiều đặc trưng nghệ thuật, nhưng trên thực tế hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào cho thể loại tùy bút Trong các tác phẩm lí luận văn học, do những biểu hiện có tính chất trung gian, tùy bút bao giờ cũng được nhắc tới với tư cách là một tiểu loại của thể loại kí, bằng sự dè dặt nhất định Quan

Trang 15

điểm trong việc xác định loại hình của tùy bút vẫn chưa thấy có sự nhất trí cần thiết Có thể thấy nổi lên hai quan điểm vừa tương đồng vừa có chỗ chưa nhất trí với nhau về vấn đề này: 1- Tùy bút là một tiểu loại văn xuôi giàu chất trữ tình, nhưng phát sinh từ thể kí (một biến thể của tự sự); 2- Tùy bút là một thể văn xuôi thuộc loại trữ tình Như vậy, cả hai quan điểm trên đều thừa nhận sự tồn tại thường trực của chất trữ tình trong tùy bút, nhưng cách nhìn nhận về vai trò, mức độ của yếu tố tự sự có điểm khác nhau

Các tác giả của quyển Văn học Việt Nam thế kỉ XX đã xếp tùy bút vào loại kí: “Tùy

bút là một thể thuộc loại hình kí có lối viết phóng khoáng, tự do và chủ quan nhất…So với các tiểu loại khác, tùy bút giàu chất trữ tình hơn cả, tuy vẫn không ít yếu tố chính luận và

chất suy tưởng triết lí” [30; 234] Trong quyển Lí luận văn học - vấn đề và suy nghĩ,

Nguyễn Văn Hạnh cũng xếp tùy bút vào hệ thống thể kí: “Các thể kí chủ yếu có mặt cả trong văn học cổ điển và hiện đại là kí sự, tùy bút, bút kí, nhật kí” [43; 99] Khác hẳn với

các ý kiến trên, trong cuốn Lí luận văn học, Nguyễn Xuân Nam lại xếp tùy bút vào loại trữ

tình: “Tác phẩm trữ tình không phải chỉ có thơ trữ tình, mặc dù nó là tiêu biểu nhất Ngoài thơ trữ tình còn có tùy bút, thơ văn xuôi, ca trù, từ khúc,…Tùy bút là thể loại văn xuôi phóng khoáng Nhà văn theo ngọn bút mà suy tưởng, trần thuật, nhưng thực chất là thả người theo dòng liên tưởng, cảm xúc mà tả người, kể việc” [67; 188]

Văn chương bao giờ cũng phải mang tính khuynh hướng, thể hiện rõ nhất ở cách người nghệ sĩ tiếp cận và nghiền ngẫm hiện thực Đằng sau mỗi bức tranh đời sống bao giờ cũng thấm đẫm nỗi niềm, mối suy tư, sự day dứt của nhà văn…Nhưng riêng với thể loại tùy bút – một thể loại thường xuyên xuất hiện những chất liệu còn phập phồng hơi thở cuộc sống – thì việc xếp yếu tố khách quan xuống hàng thứ yếu, chỉ có ý nghĩa như một phương tiện để giãi bày, có vẻ chưa thỏa đáng Bản thân các chi tiết, sự kiện, số phận,…đã tồn tại như một cấp độ ý nghĩa trong nhận thức, nhiều khi hết sức sâu sắc và mối liên hệ nội tại với cái mạch trữ tình của tác phẩm

Mặt khác, dù có màu sắc trữ tình đậm đà, tùy bút vẫn chưa hội đủ điều kiện để được công nhận là một thể văn xuôi thuộc loại trữ tình Bởi vì, trong tác phẩm trữ tình không có

sự mở rộng các chi tiết, hành vi, quan hệ qua lại của con người mà chỉ có thể hiện trực tiếp yếu tố chủ quan của người nghệ sĩ Hêghen cũng khẳng định tính chất trực tiếp của sự biểu cảm là một trong những yếu tố quan trọng của tác phẩm trữ tình: “Anh ta (nhà thơ trữ tình)

có thể kiếm tìm sự kích thích sáng tạo và tìm kiếm nội dung bên trong bản thân mình, tập trung vào những tình thế, trạng thái, xúc cảm và dục vọng nội tại của trái tim và tinh thần

Trang 16

mình Ở đây bản thân con người trong đời sống nội tâm chủ quan của nó trở thành tác phẩm nghệ thuật” [76; 327] Trong khi đó, biểu cảm ở tùy bút thường ít nhiều có màu sắc gián tiếp, thông qua việc miêu tả chân thật và sinh động bức tranh đời sống

Vì những lí do vừa nêu, có lẽ không thể tiếp tục hiểu một cách đơn giản rằng “bút” là ngòi bút và “tuỳ bút” là “tùy theo ngòi bút mà đưa đẩy” Tùy bút – từ trong bản chất của thể loại – là những tác phẩm văn xuôi phát sinh từ kí (gần với tự sự) và được viết chủ yếu theo mạch cảm xúc chủ quan của tác giả (gần với trữ tình)

Vậy thì tùy bút nằm ở đâu trong hệ thống phân loại văn học truyền thống? Có lẽ đặt ở

vị trí trung gian giữa tự sự và trữ tình là phù hợp nhất Các loại hình văn học không bao giờ tồn tại một cách tách biệt với nhau, với những ranh giới không thể vượt qua Và các cách phân chia văn học cũng chỉ mang tính chất tương đối

Đến đây, thiết nghĩ đã có đủ cơ sở để khẳng định: tùy bút là một thể văn xuôi thuộc loại tự sự – trữ tình Vấn đề sẽ phức tạp hơn khi vận dụng quan điểm này để xem xét các tác phẩm cụ thể Nhưng không thể vì thế mà muốn có được sự tường minh về lí thuyết mà lại gò ép thực tiễn sinh động vào tác phẩm không phù hợp

1.1 3 Vẻ đẹp lưỡng hợp trong thể loại tùy bút

Tính lưỡng hợp trong tác phẩm tùy bút có cội nguồn từ một lối viết ở nhiều khía cạnh như cách nhận thức vấn đề, cách xây dựng tình huống, giọng điệu văn chương…Hơn nữa, tùy bút là loại văn rất cần sự hiện diện của lí trí tỉnh táo, lối tư duy về các vấn đề xã hội nhưng cũng không thể loại trừ nhịp đập của con tim với những rung động mãnh liệt, đầy hứng thú trước các hiện tượng của cuộc sống Nếu không có lí trí tỉnh táo, ngòi bút của người viết sẽ tung hứng lên chín tầng mây mà không tìm được nẻo về và rồi cũng đồng thời rơi vào trạng thái mông muội dẫn tới bịa đặt, suy diễn lan man, không hợp với thực tế

Có khi, chính cái trạng thái ngất ngây không có sự kiểm soát của lí trí, người viết sa vào lối văn duy mĩ, dẫn người đọc vào trò chơi chữ nghĩa Cái kiểu “chén đĩa mùa đi nhịp hải hà” ban đầu có thể tạo ra một lực hút, đem lại sự khoái cảm thẩm mĩ nhưng sau đó thì người ta sẽ nhận ra đây chỉ là sự khoe mẽ, phô trương ngôn từ rỗng tuếch, vô nghĩa Ngược lại, nếu bài tùy bút qua nặng về lí trí, chú trọng thông tin, liệt kê chính xác từng sự kiện, dữ liệu thì sẽ biến văn bản thành một thể khác như phóng sự, kí sự Hơn nữa, việc thiếu sự gọt giũa ngôn từ, nghệ thuật hóa dữ kiện, loại trừ cảm xúc sẽ làm trang viết trở thành một loại văn bản khô khan, cứng nhắc, mờ nhạt tính chất, đặc trưng của văn chương

Trang 17

Vì thế, để có được những trang tùy bút hay, người nghệ sĩ phải vừa say mà lại vừa tỉnh, vừa xúc cảm nhưng cũng vừa suy tư Kết quả của cuộc hôn phối của xúc cảm và lí trí

sẽ là tác phẩm tùy bút, một thực thể sinh động mang vẻ đẹp lưỡng hợp dung hòa hai yếu tố trên Cái trọng tâm của sự sáng tạo trong thể loại tùy bút không phải là ở sự hư cấu những hình tượng vốn không hiện hữu trong thực tế mà là cách sắp xếp, trình bày, điều phối sự kiện hay vấn đề nào đó, không những mang lại giá trị nhận thức mà còn đem lại những rung động thẩm mĩ thực sự Tài năng của người viết tùy bút giống như hình ảnh ngưòi nghệ sĩ đi xiếc trên dây cần một thế cân bằng giữa hai bờ vực Đồng thời, người nghệ sĩ còn phải biết chuyển tải cảm xúc và hiện thực bằng một lối văn riêng của chính mình Không tạo được giọng điệu, tác phẩm dễ rơi vào quên lãng, rồi thì sẽ dần mất tích trong vô

số tác phẩm ấn tượng hơn Nhà văn phải để lại trong lòng độc giả một dư vị nào đấy, một nỗi ám ảnh nào đấy bằng một thiên tư không thể nhầm lẫn thì mới hiện hữu lâu bền giữa lòng văn học

1.2 Thể loại tùy bút trong sự nghiệp sáng tác văn học của Đỗ Chu

Đỗ Chu là nhà văn sớm bén duyên với văn học từ những năm 60 của thế kỉ XX Những sáng tác của Đỗ Chu trong mấy mươi năm cầm bút chủ yếu thuộc thể loại truyện ngắn Tính cho đến năm 2002, Đỗ Chu đã cho ra ra đời mười tập truyện ngắn, trong đó có

những tập truyện lưu dấu đậm nét trong lòng độc giả Một lối viết văn đã thành văn hiệu

với chất giọng say đắm, nồng nàn, da diết Đó là thứ văn xuôi giàu chất thơ, chảy tràn nơi lòng người những dòng cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm đà ý vị nhân sinh Ta tìm thấy nơi ông phảng phất nét cổ điển và lãng mạn của Môpatxăng, sự tinh tế tìm vào nội tâm và cảm giác của Thạch Lam, chút bâng khuâng xa vắng của Thanh Tịnh, nét u hoài, sầu cảm của Hồ Dzếnh, Xuân Diệu…Có thể thấy truyện ngắn của Đỗ Chu có cội nguồn nối tiếp, cộng hưởng, lan tỏa từ những nhà văn đi trước, đồng thời phát huy tối đa cái tôi nghệ sĩ của mình đã tạo nên được một đặc trưng riêng không kém phần nổi bật và độc đáo

Sau năm 1975, bước vào thời kì mới, với vốn sống và bản lĩnh văn chương, Đỗ Chu đã

phát triển sự nghiệp sáng tác của mình bằng một thể loại văn học khác Những chân trời

của các anh là tập tùy bút đầu tay được bắt đầu viết từ thời kháng chiến chống Mĩ và trải

dài ngót mười năm sau ngày đất nước giải phóng, được xuất bản vào năm 1986 Tác phẩm gồm mười bốn bài tùy bút viết về đề tài chiến tranh, về công cuộc chiến đấu và kiến thiết đất nước Nhân vật chủ yếu trong tập sách này là những chiến sĩ Họ là những người tiên

Trang 18

phong và hết mình vì sự nghiệp chung của dân tộc, dám lấy sự sống và hạnh phúc cá nhân đổi lấy nền độc lập cho nước nhà Viết về họ, Đỗ Chu mang một tình cảm ngưỡng vọng và yêu mến sâu sắc, chân thành Đỗ Chu như một người thư kí thời đại ghi lại hình ảnh con người Việt Nam trong thời kì bão táp chiến tranh Nhìn chung, đây là tập tùy bút mang màu sắc của bút kí và truyện ngắn Sự pha tạp ấy cũng là điều dễ lí giải Nguyên ủy, Đỗ Chu là cây bút của thể loại truyện ngắn vững vàng và đã định hình được cho mình một lối viết riêng Hơn nữa, ranh giới giữa truyện ngắn và tùy bút cũng rất gần nhau Tuy tác phẩm chưa tạo được tiếng vang mạnh mẽ trong lòng người đọc nhưng lại chính là bước thử nghiệm để nhà văn phát triển sở trường văn chương của mình ở một thể loại văn học mới

Tản mạn trước đèn là tập tùy bút thứ hai được xuất bản năm 2004 Tác phẩm như là sự

trở lại với thể loại tùy bút sau tám năm kể từ khi ông cho ra đời tập tùy bút đầu tiên Với

bốn mươi năm cầm bút, cộng với những trải nghiệm đã mang lại cho Tản mạn trước đèn

một sức nặng về phản ánh và nhận thức nhưng không vì thế mà làm cho cuốn sách mất đi chất thơ ngọt ngào, đằm thắm…Đã có lúc ông viết những câu văn xuôi như thơ, viết rất thơ về cát nóng ở Quảng Bình, hình dung nó như “một bản giao hưởng cát” Rồi có lúc ông lại mơ về một mối tình với cô gái chăn trâu thuở nào, một sự trào lộng về chính con người mình…bao năm mới có được sự tản mạn như thế, và ngẫm được điều đó, ta thấy trân trọng hơn những trang viết của nhà văn Đỗ Chu từng tâm sự: “Bốn mươi năm cầm bút thì có lẽ chỉ có bốn tháng được làm nhà văn thực sự” Là người khó tính lại cầu toàn, ông tự nhận: “Trong một tác phẩm có khi đoạn trước là nhà văn nhưng lúc sau không còn đưôc là nhà văn nữa” Người cầm bút mà cứ phải phân vân, e ngại hay chiếu cố một điều

gì thì sẽ không còn là mình nữa Đọc Tản mạn trước đèn của ông, tập tùy bút hơn ba trăm

trang, người ta thấy ông không nói suông, không chiếu cố những chuyện chính bản thân mình Nó dẫn người đọc vào một trạng thái tâm lí triền miên phải suy nghĩ, thấm thía và nhiều khi có sự nhìn lại mình Trong trang sách, Đỗ Chu hiện lên thật rõ những yêu ghét rạch ròi

Tùy bút của ông khiến người ta nhận thấy trước tiên là thái độ cẩn trọng và có trách nhiệm với những gì mình viết ra Dù chỉ là một câu chuyện tếu nhưng câu chuyện ấy sử dụng vào mục đích gì, và đọc xong sẽ khiến người ta nghĩ gì cũng là điều khiến ông phải cân nhắc Tập hợp các bài viết trên báo trong suốt hai mươi năm qua, nhà văn xếp lại theo

ý tưởng của mình để từ đó phác họa một Đỗ Chu trăn trở và trưởng thành qua từng giai đoạn cuộc sống Cái đáng quí của cuốn sách là ở mỗi câu chuyện, mỗi một tản mạn, người

Trang 19

viết luôn đặt mình trong các mối quan hệ với giới văn nghệ sĩ để từ đó thấy được hình ảnh sống động của văn đàn Từ khi mười sáu, mười bảy tuổi cắp sách theo hầu các cụ Nguyễn Tuân, Tô Hoài, ông đã được dạy là phải viết cho ra viết, nên những câu chuyện rất bình dị trong cuộc sống chiến đấu, hay những câu chuyện đời thường bao giờ cũng được viết ra thấm nhuần tinh thần ấy

Mười chín chân dung các nghệ sĩ đương thời trong các trang viết là cảm nhận riêng trong suy nghĩ của Đỗ Chu Đó là một Nguyên Hồng với trái tim nhạy cảm, giàu lòng yêu thương Đó là một Hoàng Cầm sống lãng đãng trong thế giới của hư và thực Đó là một Kim Lân với thứ văn xuôi thô nháp nhưng chan chứa tình đời, tình người…Cảm hứng thế

sự là nguồn mạch chính tuôn chảy trên khắp các trang văn của ông Sự xuất hiện trở lại với tập tùy bút dày công lực cho thấy trách nhiệm của một con người đối với đất nước và chân dung một nghệ sĩ tâm huyết luôn trăn trở có được những trang viết hay dành tặng bạn đọc Tuy nhiên, tập tùy bút này ít nhiều mang tính chính luận với những vấn đề mang tầm quốc gia đại sự, hoặc các vấn đề xã hội lớn lao

Tiếp nối mạch nguồn thế sự, năm 2008, Đỗ Chu cho ra đời tập tùy bút Thăm thẳm

bóng người Đây là tác phẩm thể hiện độ chín muồi trong tài năng của Đỗ Chu Nhà

nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến đã đáng giá: “Thăm thẳm bóng người là “một thành tựu” và cho rằng đây là “trang sách của người thắp lửa” Đọc tùy bút này “có một cảm giác thăng hoa như vừa uống rượu quí” [47; 20]

Vẫn tiếp nối đề tài về đất nước, con người và những vấn đề xã hội đương thời nhưng cách viết có phần nhẹ nhàng, gần gũi và thấm thía hơn Những bài học về đối nhân xử thế,

về những giá trị nhân văn cũng được khơi gợi một cách tự nhiên, thâm trầm mà không kém phần sâu sắc Thạch Linh đã nhận xét: “Lối kể chuyện mà như tâm sự, giãi bày, khiến cho những điều ông nói ra đọng lại day dứt, ngậm ngùi, có cả những điều rất khó nói cũng được nói ra nhẹ nhàng, sâu lắng” [66]

Tập tùy bút được viết theo từng phần, trong mỗi phần có nhiều mục được đánh dấu

theo số thứ tự Phần đầu mang tên Hoa bờ giậu, một cái tên nghe thật mộc mạc, khiêm

nhường nhưng mang ý nghĩa sâu xa, thấm thía về tình người Đó là những câu chuyện về những người “vô danh tánh” nhưng có vẻ đẹp giản dị và có sức sống bền bỉ như loài hoa

bờ giậu Phần hai của tập tùy bút là Thăm thẳm bóng người, tập hợp viết về cuộc đời,

những con người xưa và nay, trong nước và ngoài nước, những vấn đề từ quá khứ đến hiện tại Tất cả được khơi lên, tái hiện lại bằng một thứ văn phong giản dị, đậm đà cảm xúc và

Trang 20

mang nhiều dư vị triết lí Nhà văn đau đáu đi tìm bóng người thăm thẳm trong niềm hoài

vọng thiết tha Phần ba của tập sách có đề tựa là Về quê đốt lửa Đây là phần được nhà văn

viết chủ yếu trong mạch cảm hứng hoài niệm Quê nhà yêu dấu bao giờ cũng là cội nguồn của mọi sự sáng tạo Bởi lẽ nơi ấy có những người bình thường nhưng vĩ đại, có tuổi thơ lam lũ, cơ bần nhưng tràn ngập niềm vui và kỉ niệm…Đỗ Chu gửi gắm vào đấy những tình

ấm áp nhất, ngọt lành nhất, thân thương nhất

Xuyên suốt cả ba phần là chiều dài thời gian lịch sử của một dân tộc, có những đời người, những thân phận vinh quang có, cay đắng có, nổi danh có, âm thầm có, là chiều rộng không gian của nước Việt mở ra đến những bờ bến lạ, những xứ sở xa xôi Đọc sách này mới thấy Đỗ Chu giấu cả trong mình một kho văn hóa dân gian, bác học, lịch sử, huyền tích, cái trông thấy, cái nghe thấy, cái sống và cái ngẫm, trộn lại tất cả vào mình rồi rút ra bằng những câu văn như kể chuyện mà như tâm sự, giãi bày, khiến cho những điều ông nói ra đọng lại day dứt, ngậm ngùi…

Chúng ta đang sống trong thời đại mà nhịp sống bị dồn đẩy rất gấp gáp Con người thích tìm đọc những cuốn sách có tính chuyên đề phục vụ cho sở thích riêng cũng như chuyên môn hẹp của mình Trong bối cảnh ấy, những loại sách có chủ đề tản mạn, bát ngát

và cách nhìn nhận, đánh giá phần nào mang dấu ấn chủ quan của tác giả như Thăm thẳm

bóng người, thoạt xem có vẻ như một món quà hơi xa xỉ với một số người Tuy nhiên, nhìn

một cách tổng thể thì đó thực sự là một loại sách hữu ích

Nhìn chung, qua ba tập sách, ta thấy tùy bút của Đỗ Chu hoàn toàn có sắc thái riêng Ông không có chất ngông như tùy bút của Nguyễn Tuân, cũng không gợi buồn u uẩn như tùy bút của Vũ bằng, không tài hoa lịch thiệp như tùy bút Hoàng Phủ Ngọc Tường…Tùy bút của Đỗ Chu dung dị, đôn hậu mà không kém phần sâu sắc, mượt mà, trữ tình nhưng lại thấm nhập ý vị triết lí nhân sinh Đỗ Chu luôn hết mình với những trang viết để chuyển đến cho con người những bức thông điệp của ngoại giới và nội tâm Ba tập tùy bút với dung lượng ngàn trang tuy chưa phải là đồ sộ nhưng đủ sức đi sâu vào lòng người và làm cho tên tuổi nhà văn Đỗ Chu sống lâu hơn với thời gian

Trang 21

1.3 Thế giới nghệ thuật trong tùy bút của Đỗ Chu

1.3.1 Quan niệm về thế giới nghệ thuật

Đây là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của thể của sáng tác nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thế giới khác với thế giới thực tại bên ngoài hay thế giới tâm hồn con người, được dựng lên theo những nguyên tắc tư tưởng để phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật

sở hữu không gian riêng, qui luật tâm lí riêng, quan niệm đạo đức riêng

Thế giới nghệ thuật là khái niệm thường hay được đề cập đến trong nghiên cứu văn học nghệ thuật Từ thời cổ đại, Aristote đã hình dung chỉnh thể tác phẩm như một cấu tạo Nếu như người ta thay đổi hay lấy đi bớt một bộ phận thì toàn thể sẽ thay đổi hay vận động Đến thời trung đại, quan điểm xem tác phẩm là một khách thể toàn vẹn ấy vẫn còn phổ biến Bước vào thời kì chủ nghĩa lãng mạn, người ta đã nhìn tác phẩm văn học như một thế giới

có tổ chức và có sự hấp dẫn riêng, phụ thuộc vào ý thức của các nhà nghệ sĩ

Ở Việt nam, chuyên gia lí luận văn học Trần Đình Sử có quan niệm khá dày dặn về khái niệm thế giới nghệ thuật: “Thế giới nghệ thuật trước hết xác định tính độc lập tương đối của sáng tạo nghệ thuật so với thế giới tự nhiên hay thực tại xã hội là sự thừa nhận quyền sáng tạo của nghệ sĩ đối với tác phẩm, không phải sao chép, lệ thuộc máy móc vào thực tại vật chất bên ngoài nghệ thuật Thứ hai, thế giới nghệ thuật là sản phẩm tinh thần, kết quả của trí tưởng tượng sáng tạo, chỉ có trong các tác phẩm nghệ thuật Thứ ba, thế giới này là một mô hình nghệ thuật có cấu trúc riêng, qui luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lí, không gian, thời gian, đồ vật, xã hội…, gắn liền với một quan niệm về chúng của tác giả Thế giới nghệ thuật tương ứng với thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan, lịch sử quan, hay cảm nhận thế giới của chủ thể sáng tạo Do đó, thế giới nghệ thuật bao quát sâu rộng hơn hình tượng nghệ thuật, ví như hình tượng nhân vật, phong cảnh…Điều này làm cho mỗi hiện tượng, chi tiết trong tác phẩm văn học đều mang một ý nghĩa đặc thù, không giống với ý nghĩa của các hiện tượng, chi tiết tương ứng trong thực tại Con người trong văn học chẳng những không giống với con người trong thực tại về tâm lí, hoạt động

mà còn có ý nghĩa khái quát tượng trưng, ngay cả trong các sáng tác được gọi là hiện thực

xã hội chủ nghĩa Cái giếng, cây đa, con đò, bến sông, hoa sen, hoa nhài…trong văn học có

ý nghĩa khác hẳn với các thứ ấy trong thực tại Và do đó nghiên cứu thế giới nghệ thuật cũng khác với phân tích hình tượng nghệ thuật Thứ tư, thế giới nghệ thuật là một thực tại tinh thần mà người đọc mở vào khi sống với tác phẩm Nhưng đó không đơn giản là một tồn

Trang 22

tại khác của thực tại, mà là một thế giới đã đột phá tính hữu hạn của thực tại để mở vào chiều sâu vô hạn của ý nghĩa, làm thành một thế giới ước lệ, tượng trưng” [48; 1660-1661]

Trong lịch sử văn học, những nhà văn có tầm đều tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng Mỗi thể loại văn học cũng có thế giới nghệ thuật với qui luật riêng của nó Tính sáng tạo của nhà văn chính là yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên thế giới nghệ thuật Đọc

ba tập tùy bút của Đỗ Chu, chúng tôi có dịp đi vào một thế giới nghệ thuật rộng rãi, thoáng đạt với nhiều cảnh sắc ở các vùng miền, nhiều con người ở những không gian và thời gian khác nhau, nhiều sự hiện xã hội trải dài theo dòng lịch sử Trong Miền sáng tạo của mỗi

nhà văn, Đỗ Chu tâm đắc với lời độc thoại cũng là lời tâm sự của nhà văn Nguyễn Minh

Châu: “Mỗi thằng nhà văn phải có một miền quê của mình Nơi ấy chưa phải là quê cha đất

tổ, cũng chả phải là chỗ nó sinh ra Nhưng trong nó, nơi ấy không bao giờ quên nổi, nơi ấy ngày đêm cứ trăn trở cựa quậy trong lòng Đấy là thánh địa mà nó gửi gắm hồn mình” [17; 145] Không phải ngẫu nhiên mà Đỗ Chu viện lời dẫn của Nguyễn Minh Châu, Với ông, quê hương xứ sở luôn là nguồn cảm xúc bất tận tràn đầy nỗi thương yêu Nó là cội nguồn của cảm hứng nghệ thuật Mỗi lần đặt bút viết là một lần nhà văn thực hiện cuộc hành trình tìm về với hồn dân tộc, dù rằng chưa một ngày Đỗ Chu rời xa, chưa một lần xem quê hương mình, đất nước mình trong cái nhìn xa lạ

Đỗ Chu viết nhiều về những con người Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm cũng như trong công cuộc kiến thiết đất nước với cảm hứng yêu mến, ngợi ca và tri

âm chân thành và sâu sắc Xin được mượn chính lời văn nghệ thuật của nhà văn để nói về cái tình sâu nặng của ông đối với con người: “Tôi lại thích bắt đầu từ người, đến đâu tôi chỉ muốn được gặp người, bàn chuyện về người, những kiếp người Còn như phong cảnh

cho dù có lạ đến mấy cũng vầy vậy thôi, nó là chuyện chóng nhớ chóng quên” [17; 71]

1.3.2 Khái quát về thế giới nghệ thuật trong tùy bút của Đỗ Chu

Ai trong chúng ta cũng đều có một quê nhà yêu dấu, nơi đó có tuổi thơ hồn nhiên, tinh nghịch, có dáng mẹ hôm sớm tảo tần, có dòng sông, bến nước, con đò… Nhà thơ Đỗ Trung Quân từng định nghĩa về quê hương trong những vần thơ giàu hình ảnh : “Quê hương là chùm khế ngọt / Cho ta trèo hái mỗi ngày / Quê hương là đường đi học / Con về rợp bướm vàng bay…” Quả thế, trong tâm thức của mỗi người, quê hương luôn là miền kí

Trang 23

ức đẹp và thân ái Đỗ Chu sinh ra và lớn lên từ cái nôi của quê hương Kinh Bắc Và chính

vì lẽ đó, Kinh Bắc, một miền đất giàu bản sắc văn hoá, đã đi vào trong viết của ông một cách hết sức tự nhiên, sống động và thấm đẫm nhiều xúc cảm Có thể thấy một không gian văn hóa với những đặc trưng vùng miền đã được nhà văn tạo dựng qua thế giới nghệ thuật tùy bút của ông Quê hương hiện lên trong trang viết của Đỗ Chu là miền đất từ phủ Thuận Thành xuống Gia Bình, qua Liễu Ngạn đến phủ Từ Sơn Xưa nay, Kinh Bắc nổi tiếng với nhiều đền chùa, miếu mạo Có ngôi chùa Dâu gắn liền với câu chuyện nhà sư “quê gốc ở Tây vực, theo gia đình qua đây buôn bán làm ăn, gặp cảnh cha mẹ mất sớm, nhà sư còn nhỏ tuổi đã được gửi vào chùa tu và đắc đạo tại chùa này” [18; 318] Trước đây hai ngàn năm, chùa Dâu là trung tâm thương mại sầm uất, phồn thịnh Con sông Dâu chảy mãi rồi cũng chịu đổ vào sông Hồng chở nặng sắc đỏ của phù sa Ngoài ngôi chùa mang màu sắc

cổ kính ấy, tùy bút của Đỗ Chu còn nhắc tới những đền chùa khác như chùa Bút Tháp, đền

thờ Sĩ Nhiếp Nam giao học tổ, đền thờ cụ Lê Văn Thịnh Nam quốc khai khoa đệ nhất

nhân, đền thờ người anh hùng thời An Dương Vương tên là Cao Lỗ Có thể nói, ít có nơi nào có nhiều đền chùa cổ kính và nổi tiếng như quê hương Kinh Bắc

Đây cũng là miền đất có cảnh trí và cảnh sắc đẹp Đến với thiên nhiên Kinh Bắc, người đọc có thể thưởng ngắm hàng giờ những hàng lau sậy tiếp nối mênh mang một điệu hồn muôn thuở trên những bờ bãi vào mùa nước rút, thả hồn theo dòng trôi êm đềm của con sông Đuống đã đi vào thơ Hoàng Cầm trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, lại có con sông Cầu và con sông Thương rất đỗi nên thơ, hay những cảnh sắc bình

dị, thân thương như bờ bãi ngô khoai, dâu, mía… và cả những vạt cỏ giàu sức sống hồn nhiên xanh ngát giữa trời đất mênh mang Miền quê của tác giả là miền đệm trung du, dốc thoai thoải, có vài quả núi nhỏ bất chợt nhô lên chơ vơ tựa như những điểm nhấn làm cho bức tranh làng cảnh thêm sống động và ấn tượng Các nhà địa chất gọi chúng là

“những hòn núi sót, là dấu chấm hết cho diễn thế một dải địa tầng” [18; 269] Cái thế đất như chênh chao hóa ra lại là điểm đặc biệt tạo cho Kinh Bắc một địa thế đa dạng, phong phú, vừa có đồng cao vừa có vùng chiêm trũng Vào mùa nước nổi, “sóng vỗ ì oạp, thuyền câu trôi nổi, qua Ninh Khánh, Núi Hiểu, Bài Xanh, Trúc Tay, xuống mãi Lục Đầu” Quê hương của Đỗ Chu có một dòng sông máng lấy nước từ Thái Nguyên chảy qua Hiệp Hòa, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên, đến vùng Kinh Bắc là chấm hết Dòng nước từ sông máng về đến làng thì đổ xuống những dãy ao trước làng Kinh Bắc còn còn có những

bờ khe dẫn nước từ tận chân núi voi chảy về, chạy quanh co trên cánh đồng Không rõ

Trang 24

những khe nước ấy có tự bao giờ mà lại hiền hòa, thân thương đến vậy Mùa khô, “nước đọng thành vũng trong lòng khe, mùa mưa, nước khắp các cánh đồng đều dồn cả xuống đấy, cái khe bỗng hóa thành suối ồn ào, răm ba ngày, đổ nước lung tung ra những dộc đất thấp, xong xuôi, khe lại hoàn khe” [18; 273]

Quê hương của tác giả là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời, nơi sản sinh ra các danh nhân văn hóa lịch sử như Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát…cũng là miền đất ươm mầm cho những tài năng nghệ thuật như Nguyễn Khải, Hoàng Cầm, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Địch Dũng, Kim Lân , Nguyên Hồng…và là nơi hun đúc những trí thức tài giỏi như Trần Đức Thảo, Ngô Ngọc Quản, Đỗ Đình Chất…

Trong tùy bút của Đỗ Chu, quê hương còn là miền đất của tuổi thơ, của mộng tưởng hồn nhiên trong sáng Thấp thoáng hiện đến trong trang văn của Đỗ Chu là những đàn trâu chen lấn nhau trên những con đường nhỏ để ra đồng gặm cỏ Chúng đuổi nhau, húc nhau, ghì đầu nhau xuống đất Theo sau chúng là những đứa trẻ với những trò chơi của tuổi nhỏ đầy hồn nhiên, phấn khích, tinh nghịch, vụng dại : “Đám con gái chia bài tam cúc, lũ con trai đánh đáo đánh khăn, có hôm trẻ con làng nọ ném nhau với trẻ con làng kia, đuổi nhau dọc bờ sông máng, trên những luống cày, những cục đất khô khốc cứng như những cục gạch tương cả vào đầu nhau máu chảy ròng ròng” [18; 272] Ở miền quê, nhất là những vùng có ao hồ sông suối, một trong những sở thích của trẻ nhỏ là được lặn ngụp dưới dòng nước trong trẻo, mát lành Những đứa trẻ chăn trâu ở làng Mật Ninh “lên năm lên bảy, cởi truồng nhao xuống một loáng, lúc nhô lên đã thấy hai con cá” Cuộc sống gần gũi, hài hòa

với thiên nhiên đã đào tạo chúng thành những thợ lặn tài tình Bên dòng sông máng cạn

nước, “trẻ con gọi nhau vơ cành khô, lá khô, rơm rạ, vơ tất cả những gì có thể vơ, càm cả xuống lòng máng đốt cho khói um lên làm nước mắt ràn rụa” [18; 271] Những trang văn viết về tuổi thơ khiến người đọc liên tưởng đến một khúc đồng dao dân dã, mộc mạc, mang lấy tinh thần vui tươi, trong trẻo: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ…” ngân nga trong tuổi thơ với niềm vui giản dị, tươi sáng, …Nhớ về tuổi thơ ở làng quê, tác giả còn mang nỗi ám ảnh về những mùa đông rét buốt của xứ hàn phương Bắc Cái khí hậu khắc nghiệt làm “chân tay nẻ toác, má đứa nào cũng thấy ram ráp như da rắn” [18; 271] Rồi những buổi sớm, “tôi ngồi trước thềm, hai tay bó gối, bên mảnh sân nổi rêu, những lùm nhãn um tùm tối sẫm, hàng cau nhè nhẹ đung đưa” [18; 266] Một thoáng buồn nhớ mênh mang hòa lẫn trong tiếng cuốc còn sót lại vọng về từ đâu đó Ngọn lửa ai đốt trên ngọn núi xa lúc ẩn lúc hiện, chập chờn tựa như một giấc chiêm bao…

Trang 25

Ống kính hoài niệm của nhà văn còn thu về bức tranh cảnh làng quê Kinh Bắc những ngày giặc Pháp tấn công, tàn phá gợi lại bao nỗi đau cho một dân tộc bị ngoại bang xâm chiếm Trong đó có hình ảnh bi thương của người anh trai đương tuổi xé núi dời non, đi làm du kích, bị giặc bắn chết ngoài bãi sông trong khi làm nhiệm vụ Cái chết của người anh để lại trong tâm hồn thơ trẻ của tác giả một nỗi đau khó thể nào nguôi ngoai Đã qua mấy mươi năm mà tiếng khóc nức nở, bi thiết của người mẹ mất con vẫn còn văng vẳng bên tai như một nỗi ám ảnh thương tâm về cảnh làng quê ngày ấy Một nhân vật khác nữa cũng được nhắc đến trong dòng hồi tưởng của nhà văn, đó là chị Gái Không ai ngờ cô bé quanh năm suốt tháng chỉ biết quẩn quanh với vo gạo, chẻ củi, chăn lợn chăn gà, gánh phân ra đồng ném vào những dõng khoai dõng bí mà trở lại thành Việt Minh Cô bé đã kiên cường vượt qua nòng súng của kẻ thù để vào căn cứ kháng chiến Hành động gan dạ, anh hùng của cô bé trở thành nỗi kinh ngạc cho những kẻ tầm thường, nhát gan: “Con bé kia liệu có điên không nhỉ, nó đâm đầu vào chỗ ấy lúc này để ăn bổng ăn giải gì, một viên đạn găm vào đầu là cuối năm đừng lấy chồng nữa” [18; 279]

Giọng nói của người làng Mật Ninh làm toát lên bản sắc con người Kinh Bắc Giọng nói ấy “không trộn vào đâu được, nghe nặng lắm, mà nói to lắm” Có thể người khác miền xem đấy là một trở ngại trong giao tiếp, có khi cảm thấy kì khôi, khó chịu nhưng đối với người Kinh Bắc, đó là những âm điệu mặn mà, thân thương, không kém phần quí phái, sang trọng… Cũng nhờ giọng nói quê nhà mà người cùng quê có thể nhận biết nhau, chạy đến tìm nhau trên bước đường tha hương cầu thực: “Năm trước vợ chồng tôi sang thăm Hàng Châu, có ông bạn Trung Quốc vừa gặp đã ôm lấy tôi mà bảo, đồng tính đấy nhé, phải uống rượu tại đây theo phong tục gặp họ mới được” [18; 275] Cái đáng yêu đáng quý của con người Kinh Bắc là họ còn mang nét thuần hậu, luôn có ý thức về đối nhân xử thế và cũng như giữ gìn tâm hồn: “…đàn ông, đàn bà nhìn chung đều đon đả mau mắn” [18; 274]; “những nụ cười đôn hậu, những cách khu xử mặn mà vừa phải mà tin cậy vững vàng, có lề thói, đủ biết lui tới, đủ biết ý tứ ngượng ngùng, biết xấu hổ biết tự trọng, không

dễ gì sa vào những cạm bẫy của ham hố tham lam, của quàng xiên viển vong và rối loạn” [18; 265]

Quê hương Kinh Bắc còn là vùng miền lưu giữ những giá trị văn hóa phi vật thể của văn hóa Việt Điệu hồn xứ sở Kinh Bắc là những làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào, ru hồn người vào thế giới của tình người, thế giới của nghệ thuật Lời ca nhạc điệu của dân

ca Kinh Bắc có một sức lôi cuốn, hấp dẫn lạ lùng mà không nơi nào có được: “Mỗi lần

Trang 26

ngồi vào chiếu nghe canh quan họ là y như rằng thêm một lần được dẫn dắt vào mê cung của những tình cảm vừa lịch lãm vừa đằm thắm Những khúc thức nhặt khoan vững chãi, những giai điệu vương giả bay lượn Kìa những lời than thở mới bùi ngùi làm sao Đời sống một vùng đất vùng người mặn mà hiện ra với bao lớp lang tầng vỉa, ta chìm vào đấy

để bắt gặp tinh thần quê nhà” [18; 301] Cũng từ những câu hát mê say ấy mà tác giả nhận

ra cái tình người muôn thuở, cái “sức sống phồn thực của dân tộc được cất giấu trong những luyến láy í a…” Những câu hát “Chàng buông dải áo em ra / Để em đi chợ kẽo mà chợ trưa…” không biết có tự bao giờ mà dễ thương, ngọt ngào, làm duyên dáng thêm cho nét đẹp của con người xứ Bắc, khiến cho ai đó phải ngẩn ngơ kiếm tìm, chờ đợi… Giai điệu mượt mà cùng với sắc áo mang vẻ đẹp truyền thống: “áo sống mớ năm mớ bảy những mận những đào”, gắn liền với những cử chỉ điệu nghệ, nhập thần khi diễn xướng: “những cái cổ nghểnh lên để nhả lời, thon thả và kiêu kì như những cọng lan cọng huệ, con mắt lấp lánh lửa, gương mặt ngời ngợi nồng nàn” [18; 302] Những giá trị ấy là những giá trị truyền thống góp phần tạo nên nét độc đáo cho văn hóa vùng miền Kinh Bắc Quả thế, nói

về các làn điệu dân ca Bắc bộ, trước hết phải nhắc đến quan họ Bắc Ninh Đó đâu chỉ là

âm nhạc mà đó còn là điệu hồn của xứ sở, là bóng dáng quê hương, một quê hương Kinh Bắc u hoài mà lộng lẫy, thâm trầm mà dìu dặt, bình dị nhưng cũng rất đỗi sang trọng… Đọc Đỗ Chu, người ta được đến với nhiên nhiên, con người và cuộc sống của một miền quê không giàu về vật chất như những nơi khác nhưng lại rất giàu có về tình người

và các giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa dân gian và huyền tích Quê hương Kinh Bắc là một phần máu thịt trong tâm hồn nhà văn, thấm sâu vào trong những trang văn và tuôn chảy thành dòng xúc cảm những cảm xúc ngọt ngào, sâu lắng… Có thể nói, Kinh Bắc, đó

thánh địa thiêng liêng để bất cứ những người con xa xứ có thể tìm về bất cứ lúc nào

trước những bộn bề, lo toan và thăng trầm của cuộc sống

Không chỉ có Kinh Bắc, trang viết của nhà văn Đỗ Chu còn mở ra những miền đất khác Đó là những nơi mà tác giả đã từng đi đến, đã từng có những trải nghiệm với những

kỉ niệm khó phôi pha… Lưu lại trong tâm tưởng của người nghệ sĩ, những miền đất ấy trở thành cội nguồn của sáng tạo nghệ thuật, khơi nguồn cho cảm xúc và suy tư… Có một điều khá thú vị là những vùng đất ấy dẫu có những khác biệt về địa lí, lịch sử, văn hóa

…nhưng chúng cùng được tụ họp lại trong tâm hồn tác giả, được tác giả yêu dấu, nhung nhớ và mang theo bên mình

Trang 27

Ở tùy bút Cát nóng, người đọc được giới thiệu về Quảng Nam – Đà Nẵng, một dải

đất thuộc miền Trung đầy nắng và gió Mở đầu tác phẩm, những cồn cát dần dần hiện ra, nhanh chóng tạo ra ấn tượng sâu đậm về những đồi cát, núi cát, đồng cát, sông cát và biển cát… Đâu đâu cũng có sự hiện diện của cát Không nơi nào nhiều cát như ở miền Trung Cát lại có một sức sống mãnh liệt, “mặc cho đạn bom tha hồ cày xới, cát vẫn cứ trơ ra, cát không bao giờ chết, nó chỉ biết nóng lên và nguội đi” [17; 65] Trong cuộc đọ sức để giành lấy sự thanh bình với kẻ thù, máu của những người yêu nước đã bao lần “loang đỏ trên cát, thấm vào lòng cát” [17; 65] Người ta còn “cất nhà dựng cửa, yêu thương nhau trên cát, khi nhắm mắt lại vùi vào cát, mọi kỉ vật vùi nhau vào cát, mọi kỉ vật buồn vui đều có cát tham dự” [17; 66] Rõ ràng, cát gắn bó với con người trong những sinh hoạt đời thường cũng như trong những biến cố quan trọng, cát trở thành máu thịt, thành tâm hồn của người dân Quảng – Đà Ý văn của Đỗ Chu có gì đó rất giống với sự chiêm nghiệm của Tố Hữu trong những vần thơ: “Sống trong cát chết vùi trong cát / Những trái tim như ngọc sáng ngời” (Mẹ Tơm) Dưới ngòi bút của Đỗ Chu, cát chính là biểu tượng nghệ thuật sinh động và

mang ý nghĩa sâu sắc Cát là bản giao hưởng trầm hùng mà không nơi nào có được Cảnh sắc miền Trung không chỉ có nắng, gió, cát mà còn có những “núi cao bão lớn và biển mặn sóng dữ” [17; 66]

Từ xưa đến nay, miền Trung luôn được nhắc đến là dải đất khắc nghiệt và dữ dội, là điểm hẹn của giông bão, thiên tai Cái hoàn cảnh khắc nghiệt ở một phương diện nào đó đôi khi lại là môi trường tốt để thử thách rèn luyện ý chí, bản lĩnh cho con người Sống lâu trong gió bão thiên tai, con người nơi đây không không biết tự lúc nào đã trở nên không còn biết cúi đầu chịu khuất phục trước những tai ương, thử thách, không còn biết mềm yếu Như thế, hoàn cảnh và điều kiện sống khắc nghiệt đã tạo cho họ một bản lĩnh cứng cỏi, một nghị lực sống vô cùng mạnh mẽ Để rồi khi đứng trước ngoại xâm, một hiện thân của tai ương, họ luôn giữ vững tinh thần bất khuất, hiên ngang, dám lấy sự sống cá nhân để

hi sinh cho dân tộc Con số “ba ngàn mẹ được phong Mẹ Việt Nam Anh hùng lần đầu và hai ngàn bà mẹ được phong lần sau” [17; 66] chỉ là những con số tượng trưng chứ thực tế những người cha anh hùng, những người con anh hùng và cả những người phụ nữ âm thầm cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc là không thể nào thống kê hết Có

một căn cứ nằm trong vòng vây địch, người ta gọi đó là vùng lõm Dân số chỉ có sáu ngàn

nhưng sau những mấy chục năm dài chiến đấu đã chi sinh hết một phần ba Trong số hai ngàn hộ thì đã có chín trăm hộ thuộc diện gia đình thương binh liệt sĩ Quả thật, mảnh đất

Trang 28

này là mảnh đất của những người con anh hùng và cũng là mảnh đất gánh chịu những hi sinh mất mát vô cùng to lớn mà không gì có thể bù đắp được Đó thật sự là vùng đất anh hùng với những con người anh hùng, những anh hùng lặng lẽ lớn lên, lặng lẽ chiến đấu, lặng lẽ hi sinh giữa lòng dân tộc

Đất nước được giải phóng, thống nhất, cũng là lúc mọi người quay về với cuộc sống mưu sinh với bao nỗi lo toan vất vả canh cánh đè nặng trên vai, phải chống chọi với bao sức ép về kinh tế, nhất là phải đối mặt với cái nghèo Con đường duy nhất của họ thoát nghèo là dùng nghị lực, bàn tay và khối óc để thay đổi hoàn cảnh, biến vùng đất cát nóng rãy khắc nghiệt, nhiều những khó khăn thành một vùng nước non kì vĩ thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế Bán đảo Sơn Trà, sông Hàn, sông Thu Bồn…, một ngày không

xa sẽ trở thành điểm dừng chân của du khách, đem lại nguồn lợi to lớn cho tỉnh nhà

Điện Biên, một miền đất nằm ở phía tây bắc của Tổ quốc, nơi đã từng diễn ra những trận đánh và làm nên những chiến thắng vang dội được Đỗ Chu nhắc đến một cách tập trung trong tùy bút Trời Điện Biên mây trắng Cái đề tựa làm cho người đọc mường tượng

một không gian có những áng mây trắng phiêu du cùng gió ngàn sương núi Ở tác phẩm này, Điện Biên được nói tới như là nguồn cội của âm nhạc cách mạng, từng nâng hồn chắp cánh cho nhiều nhạc sĩ như Hoàng Vân, Đỗ Nhuận, Huy Du… bay vào khung trời nghệ

thuật sáng tác và làm nên nhiều tác phẩm âm nhạc để đời Những bài ca như Hò kéo pháo,

Trên đồi Him Lam, Giải phóng Điện Biên…đã ra đời trong hào khí bừng bừng của dân tộc

ta trong những năm tháng diễn ra trận đánh tại Điện Biên Trong tâm hồn của người nghệ

sĩ lão thành Huy Du, “Điện Biên vẫn đang vẫy gọi chúng ta ở phía trước, chưa bao giờ Điện Biên ở phía sau, chưa bao giờ Điện Biên là quá khứ” [17; 94] Điện Biên mang tầm vóc và ý nghĩa lớn lao, có sức vang vọng, thúc đẩy chuyển động rất mạnh và rất xa Bởi vì,

để có ngày vui chiến thắng, để có ngày về lại thủ đô, rất nhiều chiến sĩ đã phải nằm lại vĩnh viễn nơi cánh đồng Điện Biên Đến đây, người viết chợt nhớ đến một tứ thơ của nhà thơ Chế Lan Viên: “Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất / Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân” (Tiếng hát con tàu) Điện Biên của hôm qua là Điện Biên của quá khứ hào hùng Còn hôm

nay, Điện Biên từ một vùng đất bị bom đạn cày xới đã trở thành một sân cảng ngang tầm khu vực, có một đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc hăng say để ngày càng hoàn thiện và vững vàng của ngành hàng không

Mở đầu tùy bút Ông già ngồi dịch Đăm Săn, Đỗ Chu đã giới thiệu ngay: “Tây

Nguyên không phải là vùng đất mới, rất cổ xưa và nguyên sinh, từ trong lịch sử của nó đã

Trang 29

mang tố chất bi hùng và mẫn tiệp” [17; 47] Người nghệ sĩ đưa người đọc đến “những vạt đất mênh mông, rừng mênh mông, cỏ mênh mông” [17; 36] Không gian Tây Nguyên mở

ra với khung cảnh xanh ngời, bao la, rộng lớn Không những thế, Tây nguyên còn có những khu rừng già: “Nghe nói bên dãy núi kia có một khu rừng bằng phẳng, từ những thảm rêu dày đâm lên hàng ngàn những cây trăm tuổi nhưng cây nào cũng chỉ ngập vai

người, lính ta quen gọi nơi ấy là rừng lùn Bá hương, thông ngàn, cẩm lai, táu mật…đủ cả Trên đó gió táp dữ dội và rất lạnh” [17; 44] Vẻ đẹp của khu rừng trăm tuổi kia là vẻ đẹp nguyên sơ, trầm mặc, vừa thơ mộng vừa uy hùng Và tự trong nội lực, chúng có một bản năng sinh tồn mạnh mẽ

Quả là một thiếu sót nếu như nhà văn không nói về những thác nước nơi đây Trong nhiều thác nước ở Buôn Mê Thuộc, Đỗ Chu chú ý nhiều nhất đến thác có một cái tên rất Tây Nguyên – thác Đrai sák Nó “xuất hiện đột ngột giữa một vùng trời đất mênh mang như sương như gió lại như mưa” [17; 44] Nhà văn miêu tả khá tỉ mỉ, chi tiết dòng chảy của nó từ phía trên cao đổ về phía cánh đồng: “Dòng nước từ trong núi ào ào đổ xuống chia thành nhiều nhánh tràn ra phủ kín vách đá Chân thác là một cánh đồng đá lô xô, nước sôi sục, nước len lỏi tỏa thành trăm ngả như trăm con rồng vật mình uốn lượn và bọt tung trắng xóa” [17; 44] Con thác Đrai sák mặc dù không được tạc vẽ công phu để nổi bật

thuộc tính phức hợp hung bạo và trữ tình như dòng thác trên sông Đà trong tùy bút Người

lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân nhưng nó cũng có một âm hưởng dữ dội và cái dáng nét

độc đáo uốn lượn uyển chuyển ở chốn đại ngàn Tây Nguyên Âm vang của nó tựa như một khúc tráng ca đầy kiêu hãnh thể hiện sức sống và trầm tích văn hóa của con người Tây Nguyên Buôn Mê Thuộc còn có dòng sông Sêrêpốc chảy qua hướng tây để gặp dòng sông lớn Mê-kông Nguyên ủy của dòng sông này là hai nhánh sông Krông Nô và Krông Na

Có lẽ trong tâm thức của con người Tây Nguyên, sự hợp lưu của hai nhánh sông kia là một

cuộc hôn phối kì diệu giữa chàng trai và cô gái Qua đây, ta nhận ra rằng, thiên nhiên Tây

Nguyên cũng ẩn chứa bao nỗi niềm và khát vọng về tình yêu, về hạnh phúc đôi lứa mang tính nhân bản sâu sắc Cánh đồng Krông Pông nối liền giữa hai nhánh sông kia được ví như “mâm xôi Giàng ban cho dân chúng vùng này” Ngoài ra Buôn Mê Thuộc còn có những cánh đồng phì nhiêu, xanh tốt khác cung cấp lương thực cho dân như Yasúp, Ecao, Lắc…

Tây Nguyên mẫn tiệp còn chứa chất một kho tàng văn hóa dân gian phong phú Nơi

đây “qua những dòng sử thi truyền từ đời này sang đời khác người ta tìm thấy những phẩm

Trang 30

chất hết sức thuần phác của một vùng người vùng đất, của một vùng lịch sử đã được hình thành với đầy đủ sức mạnh để đi tới, bất chấp mọi thử thách” [17; 43] Không chỉ có những bản khan nổi tiếng, những điệu cồng chiên mang âm hưởng núi rừng, những điệu nhảy đậm chất hoang dã…mà còn có bao nhiêu chuyện xưa tích cũ đầy ý nghĩa, làm nên những huyền thoại về con người Tây Nguyên

Không những thế, Tây Nguyên huyền bí đã hun đúc, nuôi dưỡng những người con núi rừng mang phẩm chất mộc mạc nhưng giàu lòng nhân hậu như ông Y Bí Alêô, Y Blốc Eban…Nơi ấy có những con người hội tụ trong trí tuệ và tâm hồn những giá trị văn hóa của Tây Nguyên như cụ Điểu Câu, cụ giáo Thấu Họ là những “đại biểu của văn hóa Tây Nguyên, là một thực thể văn hóa sống động, là bộ bách khoa toàn thư, là cuốn từ điển của nhiều ngôn ngữ, là người có đôi tai thần, là cái lưỡi khôn ngoan và một trí tuệ hiếm thấy” [17; 45] Những cụ già ấy là cả một triết lí sống và là một bí ẩn như chính vùng đất mà họ

đã sống Vẻ đẹp của núi rừng Tây nguyên còn được thể hiện ở vẻ đẹp nơi các thiếu nữ, một vẻ đẹp không tân kì, lộng lẫy như minh tinh màng bạc mà hoang sơ, kì bí và thần thiêng, đầy sức quyến rũ: “Các cô gái Tây Nguyên nhìn chung rất nhiều cô đẹp, nét đẹp của thần Siva, mê hoặc và bùng nổ say đắm, một vị thần mang sức mạnh hủy diệt và sáng tạo” [17; 54]

Cùng với tác giả đi qua những vùng miền như Tây Nguyên, Điện Biên, Quảng Nam – Đà Nẵng, người đọc như thấy mình được mở rộng tầm nhìn, yêu mến thêm cảnh sắc, con người và văn hóa của đất nước ta

Khi viết về giai đoạn này, văn học đã cố gắng đi sâu vào việc giáo dục, đào

tạo, xây dựng con người mới, phát hiện con người cộng đồng trong mỗi cá nhân Thuở ấy,

con người như là sản phẩm hoàn hảo của hiện thực cách mạng Văn học đóng vai trò là mặt trận tư tưởng Nhà văn thông qua con người để biểu hiện lịch sử, con người trở thành phương tiện để khám phá lịch sử Chiến tranh đặt ra vấn đề sống còn của dân tộc, mọi quyền lợi, mọi ứng xử phải có sự thống nhất muôn người như một Cá nhân tự nguyện hòa tan trong cộng đồng Và chính những con người đó đã góp phần vào cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, làm nên chủ nghĩa anh hùng, mang lại vẻ vang cho dân tộc Hầu hết các nhà văn thiên về khuynh hướng ca ngợi Đỗ Chu cũng hòa chung vào tiếng nói văn học ấy Cũng là một nhà văn mang áo lính nên ông có lẽ hiểu rằng Tổ quốc và nhân dân, nhất là

Trang 31

những con người đang trực tiếp tham gia vào các sự kiện lịch sử là đối tượng thẩm mĩ khơi nguồn cảm hứng sáng tạo

Trong bộ ba tùy bút, nhất là tùy bút Những chân trời của các anh, Đỗ Chu đã dành

rất nhiều trang văn ghi lại chân dung của người lính Không phải chỉ trong tùy bút mới có hình tượng này mà ở thể loại truyện ngắn loại nhân vật này có rất nhiều như trong các tác

phẩm Ngọn lửa, Khoảng xanh, Trung du và còn nhiều truyện ngắn khác nữa… Đa số họ là

những thanh niên ưu tú mang trong mình lí tưởng sống cao đẹp, gánh trên vai vân mệnh của dân tộc, hăng hái lên đường với bầu nhiệt huyết sôi sục của tuổi trẻ, gác lại bao chuyện riêng tư đối với gia đình, người thân…Trong trái tim anh mang một lòng căm thù giặc sâu sắc, một quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù: “Anh chiến sĩ chiều nay lên biên giới hành lí quá gọn gàng, hình như anh chẳng mang theo gì ngoài một quả tim đã nặng trĩu tình yêu quê hương xứ sở, ngoài một ngọn lửa chưa bao giờ nguội lạnh trong lòng – ngọn lửa tình yêu cuộc sống” [14; 93] Từ đây những chàng trai mang chí lớn bước vào cuộc đời chinh chiến với bao khó khăn thiếu thốn: “…các chiến sĩ của mình đã lăn ra ngủ trên khắp những hành lang dài hun hút, họ nằm ngổn ngang đầu gối lên ba lô, lên súng, lên cả những hòm đạn, ngủ mà mồ hôi vẫn chảy ròng ròng khắp mặt khắp cổ Những khuôn mặt măng

tơ, những khuôn mặt dầu dãi, áo quần tất cả đều lấm láp, đó là tấm áo chiến bào của trên nửa thế kỉ trường chinh gian khổ” [18; 178-179] Không những thế, sống trong nhà tù, đôi

khi người chiến sĩ phải chịu cảnh sinh hoạt khắc nghiệt Khát quá, họ uống cả thứ nước không lấy làm vệ sinh trong những ống tre vốn dùng để đựng phân và nước tiểu của tù nhân Những đêm cuối mùa đông, các chiến sĩ đóng quân ở rẻo cao phải chịu đựng cái giá rét tê người vì không có đủ áo ấm: “Tháng chạp trên Cao Bằng có tuyết Trời lạnh xuống 0

độ, các chiến sĩ mang súng lên điểm tựa tiền tiêu đôi gác, phong phanh một chiếc áo mỏng, rét từ trong bụng rét ra, rét đến đỏ tai, đỏ mắt” [14; 87]

Chân dung người chiến sĩ thật sự nổi bật khi các anh xuất hiện giữa chiến trường ác liệt, dữ dội trong tư thế hiên ngang, anh hùng Chính tình yêu non sông và lòng căm thù giặc đã tạo cho các anh một nghị lực phi thường để các anh có thể vượt qua cuộc sống gian khổ, để khi đối diện với kẻ thù các anh nhằm thẳng chúng mà tiêu diệt: “Khuyến, pháo thủ số 5 nạp đạn vào nòng cho khẩu đội bắn, thật khó nói trong lòng các anh tình yêu thương gia đình, làng xóm và lòng căm thù lũ giặc Mỹ đằng nào lớn hơn Chỉ có một điều chắc chắn là chính tình yêu mà các anh mang ra trận nhóm lửa cho sự căm thù bùng cháy” [14; 57] Nòng súng của người chiến sĩ quả cảm đã bao phen khiến kẻ thù phải tan xác trên

Trang 32

bầu trời, chỉ còn lại vết đạn đỏ rực, vun vút lao lên nền trời lóa nắng Cứ mặc cho khói lửa mịt mù, bom đạn của đế quốc Mỹ cày xới không ngừng, không một tấm lá chắn, những người lính vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu: “Trong tiếng máy bay gầm rú điên loạn trên đầu, trong tiếng bom nổ xung quanh, các chiến sĩ vẫn vững vàng trên mâm pháo, đánh trả quyết liệt” [14; 56] Cảm động thay hình ảnh người lính pháo thủ đã nhanh chóng cởi chiếc áo đang mặc đem nhúng bùn để bịt mấy lỗ dò trên vỏ đạn, ngăn chặn kịp thời quả đạn phát nổ Cuộc đọ sức với kẻ thù diễn ra vô cùng gây cấn, cam go, nguy hiểm: “Cánh đồng bị bom đạn cày xới ngổn ngang, mấy lần Trường vấp ngã, mấy lần lăn xuống hố sâu, lại vùng lao đi Lẫn trong bùn ruộng, trong bóng đêm là khói bom khét lẹt, không gian dày đặc tiếng gầm rú của phản lực, mặt đất rung lên giận dữ Giữa tình thế ấy trong anh dường như có một sức mạnh phi thường Cố lê cái chân phải bị liệt, tì vai lên vách hầm, nửa nằm

nửa ngồi, anh thét to trong máy: “Xê hai báo cáo, tất cả đã sẵn sàng” [14; 63] Ranh giới

giữa cõi sống và cõi chết lúc ấy xem ra chỉ là gang tất, người lính trở nên rất nhỏ bé, mong manh trước sự truy kích của kẻ thù Không cần phải lật giở những trang sử thời ấy, ai trong chúng ta cũng thấy rằng, trong cuộc đánh chiếm Việt Nam, Mỹ đã sử dụng những vũ khí hết sức tối tân, phát huy tối đa sức mạnh và uy lực của chúng Lính Mỹ có thể tàn phá hàng loạt các làng mạc, nhà cửa, biến trận địa thành bình địa, lấy đi vô số sinh mạng con người một cách dễ dàng Thế nhưng có một thứ mà chúng không san bằng, tàn phá nổi, đó

là tinh thần chiến đấu anh dũng, ngoan cường của con người Việt Nam Cái sức mạnh, cái

uy vũ kia trở nên vô hiệu hóa trước những con người nhỏ bé về hình thể nhưng lớn lao, vĩ đại trong tâm hồn

Cũng chính vì thế mà tổn thất to lớn của ta là không để nào tránh khỏi, người người

ra trận hi sinh, nhà nhà tiễn người thân ra trận mà không có được ngày đón họ quay về Bao người lính đã phải nằm lại nơi chiến trường đương độ tuổi thanh xuân: “Ở huyện Gia Lương, tôi mới được gặp được bà mẹ một người anh hùng Anh ngã xuống vào năm hai mươi sáu tuổi, đi từ năm mười bảy, chưa một lần hò hẹn yêu đương, trước khi đánh trận cuối cùng trên người anh đã có hai mươi vết thương lớn nhỏ” [17; 52] Những cái vết thương ấy chính là hiện thân vết thương của cả dân tộc, sự chịu đựng của anh là hiện thân của một dân tộc quá đỗi kiên gan, quá đỗi bền lòng trong những ngày tháng đánh giặc Mỹ…Chìm sâu trong dòng hồi tưởng của người cựu chiến binh Mỹ về cuộc chiến ở Ban

Mê, có người chiến sĩ bị thương, anh ta là đối tượng nguy hiểm trong con mắt kẻ thù Khi

bị bắt lên máy bay, “anh lấy hết sức nhỏm dậy, nhìn xuống vùng trời xanh dưới kia, thình

Trang 33

lình anh ấy nhoài người ra khỏi cửa Lúc chúng em hiểu ra thì đã thấy bóng anh ấy mất hút trong khoảng không, dưới ấy chỉ là một vùng rừng xanh thẳm trùng điệp đang vùn vụt lướt

nhanh” [17; 36] Phi công Vũ Xuân Thiều trong tùy bút Kìa đàn hồng hạc là người anh

hùng đã ở lại mãi mãi với bầu trời: “Ba mươi năm trước trong một đêm tháng Chạp, Hà Nội rực cháy, mặt đất rung lên từng cơn trong ánh chớp của bom Mỹ của tên lửa và đạn

pháo cao xạ ta, có một người con trai Hà Nội đã bay lên đối mặt với những chiếc pháo đài bay B.52 Anh lao vào chúng làm một trận đánh cảm tử, làm một chiến công góp phần kết thúc cuộc oanh kích cực kì dữ dằn” [17; 8]

Mãi mãi, vẻ đẹp cao cả, kì vĩ, bi hùng của những người chiến sĩ sẽ có sức sống bền

bỉ trong lòng dân tộc, trở thành đuốc hồng soi sáng đường cho các thế hệ mai sau, và là niềm kiêu hãnh của dân tộc trong hành trình đấu tranh giành lại độc lập và xây dựng đất nước Chân dung người lính cũng chính là chân dung của dân tộc ta trong những tháng ngày đánh Mỹ: kiên cường, bất khuất, quyết tâm đánh thắng kẻ thù, dù phải trải qua bao gian nan, hi sinh trên bước đường tranh đấu

Những nghệ sĩ được nói đến trong các tập tùy bút của nhà văn Đỗ Chu không phải được chọn lọc theo một công thức hay tiêu chí nào mà chủ yếu theo những ấn tượng chủ quan và cảm hứng thẩm mĩ rất riêng tư của nhà văn Vì thế đây không phải là những bài nghiên cứu, khảo cứu về tác giả văn học – nghệ thuật mà chủ yếu là những bài tuỳ bút nhằm để giãi bày xúc cảm và suy tư trước nghệ thuật và cuộc đời ngang qua những đối tượng thẩm mĩ là những người nghệ sĩ

Ở lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ, đối với tác giả văn xuôi, Đỗ Chu dành riêng ba bài tùy bút cho ba nhà văn Người đầu tiên phải nhắc đến, cũng là tác giả luôn tạo cho người đọc những ấn tượng mạnh mẽ, đó là Nguyễn Tuân Mở đầu bài tùy bút số 5 trong Thăm thẳm bóng người, giữa đại gia đình của Hội nhà văn, Nguyễn Tuân được trân trọng xưng tụng bằng danh hiệu “vị trưởng lão kì tài” Khi tùy bút này ra đời, Nguyễn Tuân ra đi đã được hai mươi năm nhưng những kỉ niệm và ấn tượng về cây viết bậc thầy về văn xuôi hiện đại Việt Nam vẫn còn tươi nguyên, gần gũi Theo cảm nhận của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn

Tuân đã hiện diện giữa văn đàn bằng một phong thái sang trọng, khác xa với vẻ lấm láp của số đông nghệ sĩ Phong thái sang trọng kia là gì nếu không phải là tư chất tài hoa vượt

trội của người nghệ sĩ Nó là cái thiên bẩm quí báu mà không phải ai cũng có được Chính nét tài hoa đã tạo ra một sức thu hút lạ lùng ngay cả trong những lần kể về những chuyện không đâu tại một quán cóc lấm láp bụi đường trên một vỉa hè nào đó Nguyễn Tuân

Trang 34

không phải là nhà khảo cổ học cũng tuyệt nhiên không phải là kẻ ngẩn ngơ vô công rỗi nghề khi mà hằng ngày ông đi thu thập tẩu thuốc cổ, lọ tăm tre, cái bút máy, cuốn sổ ghi chép, một chút rượu, một con mực nướng…vào trong cái túi vải thô một đời xách theo mình Hành động ấy của ông rất đỗi lạ lùng Nhưng kì diệu thay, chính những cái tưởng như tầm thường, đơn giản kia lại trở thành đối tượng thẩm mĩ độc đáo cho những sáng tác văn chương Có thể nói hành trình đi cóp nhặt lạ lẫm đó là hành trình sáng tạo nghệ thuật tuy âm thầm nhưng rất đỗi phấn khích của người nghệ sĩ tài hoa hết lòng vì nghệ thuật Đỗ Chu khẳng định rằng, mọi thứ sẽ qua đi, nhưng tác phẩm và con người Nguyễn Tuân mãi mãi là những giá trị trường tồn Hiểu Nguyễn Tuân là không dễ, bởi vì trong ông là cả một thế giới bí ẩn, càng ngắm càng nhận ra nơi ông có nhiều cái lạ, một cái lạ không phải ở cái

dáng kiêu bên ngoài mà là ở cái cốt kiêu thuộc về bề sâu

Đôi khi những tác phẩm xuất sắc vượt quá tầm đón đợi thẩm mĩ thường rất gian nan

trong quá trình xuất bản, lưu hành Tùy bút Tờ hoa chính là một ví dụ tiêu biểu cho trường

hợp này Suýt nữa nó đã bị bóp chết và làm ảnh hưởng luôn đến việc xuất bản của những

tác phẩm khác Nguyễn Tuân tỏ ra rất kiên định trong việc giữ lại Tờ hoa trong tập sách Cho mãi về sau này, khi Tờ hoa được đón nhận nồng nhiệt, người ta mới vỡ ra một điều:

“Nguyễn Tuân đâu phải người cố chấp hay kiêu ngạo, ông chỉ là một người biết giữ nguyên tắc sống của mình, không thể khoan nhượng trước mọi u tối, lẩn quẩn, luôn luôn biết điều và khoan hòa, trong việc lớn nhỏ ông đều đã khu xử đàng hoàng nhiều tự trọng” [18; 87]

Tác phẩm của Nguyễn Tuân trải qua bao biến động của thời cuộc vậy mà vẫn luôn giữ được mới mẻ, luôn có sức hút và lay động mạnh mẽ tâm hồn người với một phong cách độc đáo và một tinh thần thuần Việt Mãi mãi Nguyễn Tuân luôn là niềm yêu mến và ngưỡng mộ đối với những ai yêu mến loại hình nghệ thuật này và nhất là những hậu sinh

kế tục thế hệ ông trong việc làm cho cuộc đời đẹp thêm bằng các sáng tác văn chương Kim Lân là một gương mặt quen thuộc với những sáng tác hiện thực chủ nghĩa Nếu Nguyễn Tuân hướng đến cái mĩ thì Kim Lân lại chú ý đến cái chân, một cái chân mộc mạc quê kiểng nhưng có sức hút lạ lùng Độc giả xem đây là dấu hiệu duy nhất để nhận biết về ông Không những Kim Lân có những trang viết chân thật mà ông còn có một nguồn cảm hứng chân thật Nguồn cảm hứng trong con người nghệ sĩ Kim Lân không biết cố gắng gượng ép trước những thúc bách bởi những nhu cầu của bản thân và xã hội Quả là một cái tôi nghệ sĩ hết sức hồn nhiên và trong sáng, thấu suốt những nguyên tắc trước sau trong

Trang 35

sáng tạo nghệ thuật Vì thế mặc dù số lượng những đứa con tinh thần của ông không nhiều nhưng mỗi tác phẩm ông viết ra luôn có chỗ đứng trong lòng người đọc Kim Lân viết về những con người nghèo khổ nhưng vẫn giữ được nét cao quí bên trong tâm hồn Nó có ý nghĩa gì nếu không ngoài việc thể hiện tình yêu, sự đồng cảm, niềm trân trọng của người nghệ sĩ đối với những mảnh đời bất hạnh

Bình sinh, Kim Lân không bao giờ chịu trú vào một lớp vỏ bọc giả tạo, một thứ phẩm cách thanh khiết thuộc về hình thức Ông sống thật thà với như chính con người của mình giữa thanh thiên bạch nhật Hơn nữa, Kim Lân còn là một minh chứng cho “chân lí không thể sống nhạt, sống tồi mà lại có văn chương” [18; 71] và là “sự bí hiểm chẳng khác nào những chiếc lọ được ông bày la liệt trong phòng khách chật chội” [18; 74]

Có một nhà văn cùng thế hệ với Đỗ Chu, xuất hiện biệt lập trong bài số 6 thuộc phần

Hoa bờ giậu, đó là nhà văn của tuổi nhỏ – Trần Hoài Dương Viết về Trần Hoài Dương,

Đỗ Chu ghi lại khá nổi bật sự gian truân của người nghệ sĩ trên bước đường tìm đến chân

trời nghệ thuật Dám từ bỏ cuộc sống êm đềm tại báo Văn Nghệ, Trần Hoài Dương quyết

chí thực hiện một chuyến đi thực tế để tích lũy vốn sống khơi nguồn cho sáng tạo nghệ thuật Người nghệ sĩ ấy đến với một miền đất mới, nhận lấy một công tác mới tại một trường giáo dưỡng chuyên dạy trẻ em hư vị thành niên Bước đường của Trần Hoài Dương

trong cái nhìn của Đỗ Chu thật “lắm đoạn trường” Điều này biểu hiện rằng, nhà văn trẻ

Trần Hoài Dương thuở ấy là người nghệ sĩ ủ ấp khát vọng lớn lao, có ý thức trong việc dấn thân để phụng sự cho nghệ thuật chân chính, lấy nghệ thuật làm lẽ sống và làm mục tiêu vươn tới Thiết nghĩ rằng, phải là người có bản lĩnh hơn đời, hơn người thì mới có một sự dấn thân cá thể như thế

Và ông đã được đền bù Hai tập sách Miền xanh thẳm và Truyện chọn lọc, hoa trái

của những tháng ngày gian truân, miệt mài trên miền đất sáng tạo nghệ thuật sắp được tái bản Những trang viết giàu chất liệu hiện thực và hơi thở cuộc sống đã đưa ông đến với đông đảo độc giả, nhất là độc giả nhỏ tuổi Mỗi tác phẩm của nhà văn là bài học giúp người đọc quay về với lòng nhân ái, trung hậu, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ giữa một thế giới dần đi vào lối sống thực dụng, vô cảm Cái hay trong văn của Trần Hoài Dương là cái hay của sự “yên ả, không ồn ào, đẹp một cách mong manh dung dị, như cây cỏ lan kia đang lặng lẽ tỏa hương nơi u cốc” [18; 95] Về bút pháp, “sáng tác của anh không nằm ngoài qui luật chung, anh viết những chuyện rất bình thuờng bằng một bút pháp không tầm thường”

Trang 36

Thấp thoáng trong các tập tùy bút của Đỗ Chu còn có một Nguyễn Minh Châu từng trải, về cuối đời vẫn còn chưa thôi niềm khao khát cho ra đời những tác phẩm hay; một

Mai Ngữ khiêm nhường có giọng văn nhát gừng, lừng khà lừng khừng nhưng khiến người

đọc bao bao lần cười ra nước mắt; một Phan Hồng Giang có những tác phẩm dịch góp phần đưa người đọc đến gần hơn với văn học Nga; một ngôi sao văn học mới lên, Nguyễn Ngọc Tư có giọng văn mộc mạc, nhân cách vững vàng, tự tin và đằm thắm

Đối với các tác giả thơ hiện đại, cũng giống như ở văn xuôi, Đỗ Chu cũng dành ba bài tùy bút để giới thiệu về ba nhà thơ Đó là Phạm Tiến Duật, Nguyễn Xuân Thâm và Chính Hữu

Phạm Tiến Duật, tác giả của những bài thơ nổi tiếng hiện lên với hai con người riêng biệt nhưng rất thống nhất với nhau - con người nghệ sĩ và con người chiến sĩ Câu chuyện

về chàng thanh niên đang học năm cuối khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, theo tiếng gọi của tổ quốc, từ giã giảng đường lên đường ra trận được Đỗ Chu kể lại thật cảm động Mà đâu chỉ là cảm động thuần tuý, sự quyết tâm dấn thân của con người trẻ ấy còn làm ta mến yêu và ngưỡng vọng sâu xa Thực sự không quá khó khăn khi nhà văn phát hiện ra trong thơ ông có một thế giới nghệ thuật tràn ngập ánh lửa Lửa ấy vừa là hiện thực cách mạng, hiện thực cuộc sống đầy khói thuốc nổ mà còn là lửa tâm hồn, lửa của tuổi trẻ, lửa của tình yêu mến đất nước nồng nàn, cháy bỏng… Lửa trở thành một hiện tượng thẩm mĩ, một biểu tượng nghệ thuật sống động, lung linh trong thơ ông Thơ ca giai đoạn này bay bổng với cảm hứng lãng mạn cách mạng Và thơ của Phạm Tiến Duật cũng hòa vào nguồn cảm hứng ấy Tác phẩm của ông được đón nhận nồng nhiệt, nhất là thành phần thanh niên xung phong đang sống đời chinh chiến Cũng dễ hiểu thôi, vì “anh là một người làm thơ cho lính đọc, anh chưa bao giờ sắm vai người nói hộ, khóc hộ, lo âu hộ” [18; 55] Tiếng nói thi ca cất lên từ chính những trải nghiệm dày dạn, từ những xúc cảm chân thành Vì nó khởi đi từ trái tim nên nó cũng sẽ dễ dàng đến với nhiều trái tim để tìm

sự đồng điệu Không những thế, con người nghệ sĩ trong Phạm Tiến Duật còn có sự bản lĩnh mà không phải người cầm bút nào cũng có: “…anh vẫn luôn luôn là người dám hát, dám sống và viết như chính mình nghĩ thế, cảm nghĩ về những năm tháng mà mình đã đi qua” [18; 56] Cuộc gặp gỡ giữa nhà văn với đội nữ thanh niên xung phong giúp ta nhận ra rằng, Phạm Tiến Duật là một thần tượng thơ ca của những người lính trong những tháng năm dài đánh Mỹ Với Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật được coi như một sự kiện lớn của thơ ca kháng chiến; còn theo Hoài Thanh, “sự xuất hiện của anh trên văn đàn là sự xuất

Trang 37

hiện của một bút pháp có sức đột phá, có sức khai mở một thi pháp” [18; 50] Sau lần được

vinh danh với giải thưởng thơ do báo Văn nghệ tổ chức, ông bị đánh vì bài Vòng trắng, theo một số người lãnh đạo có vấn đề !

Phạm Tiến Duật có quan niệm rất đúng đắn về thơ: “Thơ với anh như một thứ nhật

kí, thấy ngay, nghĩ ngay và viết ngay” [18; 59] Với quan điểm ấy nên thơ đã nở hoa theo

mỗi bước chân khi ông qua những vùng miền, đất nước khác nhau Ở Lào, ông có Ngủ ở

Ăng Khăm nghe tiếng vượn; đến Nga, ông có Tuyên bố chung với hàng cây Matxcơva;

sang Bắc Âu, ông có Yên tĩnh Copenhaghen; đặt chân trên đất Mỹ, ông có Lạm tóc của gia

đình Hakin Phần cuối bài tùy bút, tác giả đã hết lời đề cao Phạm Tiến Duật – “một hiện

tượng không dễ gặp trong đời sống thi ca cũng như trong đời sống xã hội”

Nguyễn Xuân Thâm không phải là nhà thơ được nhiều người biết đến Cái tình riêng sâu sắc là nguồn cảm hứng mạnh mẽ chắp bút cho Đỗ Chu có bài viết khá dày dặn về ông

Là nhà nghiên cứu ngành hóa học, Nguyễn Xuân Thâm có trên bốn mươi năm làm giảng viên Đại học Bách khoa Thật thú vị khi ông là nhà khoa học tài danh mà cũng có tư chất nghệ sĩ và niềm đam mê đối với thơ ca Cái năng khiếu thơ ca thể hiện ngay từ lúc ông còn

là một cậu học sinh trường Quốc học với bút danh Dao ca Ông “tình nguyện làm một người hát rong trên đời và làm những bài đồng dao cho trẻ nhỏ của các làng mạc xa xôi vừa nhảy lò cò vừa hát” [18; 110] Những vần thơ ngày ấy đậm chất học trò, hồn nhiên, mộng mơ nhưng cũng đủ khiến nhóm nữ sinh Đồng Khánh “hồi hộp không sao thở được”

Nhà văn Đỗ Chu bắt đầu biết đến ông qua tập Đồng xanh, in chung với Nguyễn Nhã từ

những năm sáu mươi của thế kỉ XX Theo sự cảm nhận của nhà văn, “càng về già thơ anh càng khởi sắc, chất trữ tình trong thơ anh càng đằm, ngôn từ nhiều tìm tòi và rất chắt lọc” [17; 112] Điều này cũng thật dễ hiểu, vì một người chung thủy và hết lòng với thơ như anh thì không lẽ nào thơ ca đóng sập cánh cửa sáng tạo trong ông được Nguyễn Xuân Thâm đã được vinh danh khi ông được nhận Giải thưởng văn học của Hội nhà văn vào năm 2001

Tài hoa bạc mệnh, điều này dường như rất ứng hợp với Nguyễn Xuân Thâm Ông bị ung thư hàm, phải phẫu thuật nhiều lần Căn bệch quái ác làm héo hắt và méo mó cả hình hài: “Anh gầy xọp, đôi mắt lồi ra như sắp rụng xuống đất, hình tướng nhàu nát dị dạng, tiếng nói cũng bị méo đi, nghe rất khó” [18; 112-113] Có một dự cảm rằng nhà thơ của chúng ta sẽ không thoát được cái nạn này Nhưng hình như ông trời vẫn còn muốn Nguyễn

Trang 38

Xuân Thâm hiện diện giữa cuộc đời nên đã cho ông được trở về lại với người thân, bằng hữu và thơ ca, trả lại cho ông một khuôn mặt bình thường, một giọng nói trong và ấm Một nhà thơ được đề cập ở sau bài viết về nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm, đó là Chính Hữu, quê gốc ở Can Lộc – Hà Tĩnh Mười chín tuổi, sau khi nhận bằng tú tài, Chính Hữu nhanh chóng hòa vào dòng người tham gia kháng chiến Ông là người chín chắn từ trẻ, lại

có khả năng tự học tốt Về việc sáng tác, Chính Hữu không phải là người ham viết nhiều, viết dài nhưng “bài nào ra bài ấy, câu chữ nào ra câu chữ ấy, như những hạt ngô hạt thóc mẩy trên sàng” Có lẽ để có được những “hạt ngô hạt thóc” ấy, Chính Hữu đã phải nhiều chắt chiu trên cánh đồng nghệ thuật với một tinh thần miệt mài, cần mẫn… Trong lịch sử

văn chương không hiếm có những trường hợp hoa lạ trái mùa và tác giả của nó cũng được

sống mãi giữa lòng nghệ thuật cùng với những tác phẩm ấy Chính Hữu là một trong số ít

có được cái may mắn ấy Đỗ Chu nhận ra rằng, cảm hứng chủ đạo trong thơ Chính Hữu là

“tình đồng chí, đồng đội và đất nước” Để chuyển chở được cái tính ấy, nhà thơ đã vận

dụng một bút pháp gợi mở, giản dị và sâu lắng Đây là một kiểu thơ nhẹ nhàng, mang nét

duyên thầm, rất đáng quí và đáng yêu

Khi nói về mối quan hệ giữa văn học và hội họa, người xưa từng có câu: “Thi trung hữu họa” Người nghệ sĩ ngôn từ và người nghệ sĩ màu sắc xem ra rất gần nhau Trong các tập tùy bút, Linh Chi là nghệ sĩ được Đỗ Chu viết dài nhất, công phu nhất Cái bút hiệu Linh Chi làm cho nhà văn liên tưởng đến một loài nấm quí có giá trị y học và một loài thảo mộc gắn liền với câu chuyện đầy màu sắc huyền thoại Ở phần đầu, nhà văn giới thiệu rất chi tiết về dòng tộc, gia đình, nơi sinh sống của họa sĩ Linh Chi Ngay từ lúc nhỏ, ông là người có năng khiếu và tình yêu đối với hội họa Tình yêu ấy lớn dần theo thời gian, cho đến một ngày ông quyết định tìm thầy học vẽ, để lại sau lưng sự học dở dang Linh chi đã

đi theo tiếng gọi của nghệ thuật, lấy nghệ thuật làm sự nghiệp cho riêng mình Và ông đã sớm gặt hái được những thành công nhất định, bốn mươi ba bức sơn dầu và bột màu được bày triển lãm tại Phòng thông tin Tràng Tiền khi ông vừa qua tuổi hai mươi bốn Tuy nhiên, đó cũng chỉ là bước khởi đầu, một bệ phóng khích lệ Linh Chi đi sâu vào thế giới hội họa

Sự nghiệp sáng tác của Linh Chi kinh qua nhiều giai đoạn Sau Cách mạng tháng Tám, ông trở về quê nhà là Nọi Doi trong những ngày đói kém Đây là khoảng thời gian Linh Chi mang giá vẽ đi khắp quê hương: “vẽ con sông cạn bò ngoằn ngoèo đến chân núi Dạm, ra bờ sông Cầu vẽ những cánh buồm no gió từ mạn Phả Lại đang đẩy thuyền củi,

Trang 39

thuyền than lên bến Đáp Cầu Vẽ những cô du kích cầm mã tấu đứng gác ở cổng làng, vẽ những đứa trẻ cầu bơ cầu bất mót khoai mót sắn” [18; 217] Rõ ràng, cảm hứng nghệ thuật của người họa sĩ gắn bó mật thiết với thiên nhiên, cuộc sống và con người Nó khác xa với những khuynh hướng nghệ thuật thoát li cuộc sống hay xem cuộc sống chỉ là thứ yếu Rồi đầu năm 1947, Linh Chi một lần nữa đã lên đường để tham gia kháng chiến Đây là một trong những bước ngoặt quan trọng của linh Chi Từ đây, nét cọ của người nghệ sĩ không chỉ gắn bó với hiện thực cuộc sống mà còn gắn bó với hiện thực cách mạng, không chỉ phụng sự cho nghệ thuật mà còn phụng sự cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà Linh Chi bước vào cuộc sống mới với bao gian khổ, đắng cay, với bao thử thách đang đón chờ ông ở phía trước Những trải nghiệm đã biến ông trở thành một họa sĩ giàu nội lực, có cốt cách vững chãi Ông đạt được những thành công lớn Nhiều lần tranh của Linh Chi được triển lãm, có sức lan toả rộng rãi không chỉ trong nước mà còn

ở nước bạn

Qua bài tùy bút này, độc giả nhận ra rằng, Linh Chi không chỉ là họa sĩ tài ba, giàu tâm huyết mà còn là một người hết sức nặng lòng với dân tộc, mang khát vọng lớn trước nghệ thuật và cuộc đời Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, Linh Chi vẫn âm thầm đi về trên những nét cọ, từng ngày vượt qua những khó khăn, thiếu thốn của đời thường để tiếp tục sáng tạo và cống hiến Đáng quí hơn, ông còn có tình bạn bè thân hữu, không ồn ào, phô trương mà luôn chu đáo, chân thành, sâu lắng

Một họa sĩ nữa, đó là Mai Văn Hiến Ông là người vẽ tiền nhưng lại có cuộc sống quá đỗi túng quẫn, quá đỗi nghèo khổ, thêm vào đó là chứng bệnh tắt động mạch chi làm cho hai chân ông teo tóp dần Căn phòng méo mó, ẩm thấp, rộng mươi mét vuông là chỗ sinh hoạt duy nhất của gia đình ông Mọi chuyện buồn vui đều diễn ra tại không gian chật chội đó Nghèo là thế mà con cháu vẫn đông đúc, đề huề như ai, cái tình bạn không vì thế

mà trở nên hiếm hoi: “Anh Hiến có nhiều bạn, đời anh lấy sự nhiều bạn làm giàu Già có, trẻ có, đủ các tầng lớp nghề nghiệp, nhiều người tiện qua thì tạt gặp nhau một thoáng, có người mấy chục năm nay lặn mất tăm, không rõ còn sống hay đã mất, cũng chẳng hiểu gia cảnh giờ đã ra sao, vậy mà bỗng đột ngột hiện ra, đứng chắn ngang cửa ra vào, lù lù như một đống rạ, hỏi anh có nhận ra ai không” [17; 171] Câu văn có pha chút hài hước mà sao nghe thấy lòng rưng rưng về tình cảm bạn bè đáng quí, đáng yêu

Cùng thời với Linh Chi, họa sĩ Mai Văn Hiến cũng là người được nhà văn dành nhiều tình cảm yêu mến và ngưỡng mộ Trong những năm tháng kháng chiến, họa sĩ Mai

Trang 40

Văn Hiến cũng góp sức vào việc tranh đấu Anh vẽ áp phích, khẩu hiệu kêu gọi địch ra hàng Rồi khi ta bắt tay vào xây dựng Nhà nước, ông được giao công việc vẽ tiền Thế là,

“anh lẳng lặng lên khu gang thép Thái Nguyên vẽ ống khói lò cao, ra Hòn Gai vẽ cần cẩu xúc than và tờ bạc nào anh cũng vẽ hình cụ Hồ” [17; 182]

Trong tùy bút Một con người đã ra đi, bức chân dung của Văn Cao được khắc họa

với tư cách ba con người nghệ sĩ: thi sĩ, họa sĩ và nhạc sĩ Đó là “một người nói năng thủng thẳng, nói năng quá ôn tồn, vừa nói vừa ngẫm” [17; 187] Phải là một người điềm đạm, có đời sống nội tâm phong phú và sâu sắc thì mới có thể có những biểu hiện như thế

Phong thái ấy làm tác giả liên tưởng đến bức chân dung của nhà văn Đốt-xtôi-ep- xki, đại văn hào của nền văn học Nga Trải qua bao biến động, Văn Cao vẫn giữ được cái nét ấy:

“vẫn thủng thẳng thế, nhưng rất nhân hậu và chân thành” [17; 193], vẫn “sống dai dẳng,

âm thầm và ngoan cường” [17; 193] Tranh của ông được đón nhận nồng nhiệt: “vẽ đến đâu được người ta rước đến đấy” [17; 193] Ngoài công việc vẽ tranh, Văn Cao còn nhận

vẽ trang bìa cho các tác phẩm văn học Ông có những vần thơ giàu chất triết luận: “Đêm đêm cầu nguyện bên đèn, chưa thấy ngày mai hửng sáng, chỉ thấy những xác thiêu thân, chết trên mặt bìa những cuốn sách kinh, những pho tượng không bao giờ nói, hai con mắt nhìn an ủi” [17; 188] Nhà xuất bản Văn học mới vừa làm hợp tuyển cho Văn Cao, cũng là

để tôn vinh và ghi nhận những cống hiến của ông về thể loại thơ Bài tùy bút mở ra nhiều khung cảnh gặp gỡ với Đỗ Chu, lần nào cũng có hương rượu nồng nàn chắp thêm nguồn cảm hứng, làm cho lòng người miên man chợt nghĩ, chợt nhớ xa xăm…

Ngoài Văn Cao, Đỗ Chu còn nhắc đến một nghệ sĩ đa tài khác, đó là Trịnh Công

Sơn Trong bài viết, Hoa trước thềm văn, Đỗ Chu đánh giá rất cao tài năng nghệ thuật của

Trịnh Công Sơn: “Anh không chỉ là một nhạc sĩ lớn, nhưng với tôi, anh còn là một nghệ sĩ lớn nữa” Những nghệ sĩ lớn thường tạo cho mình một phong cách không trùng lặp với bất

kì một ai Thế giới nghệ thuật của ông đầy những trăn trở, ưu tư, có lúc quằn quại trong nỗi đau của riêng chung: “Anh Sơn như một con chim lạ từ khoảng sáng nhân văn, từ cõi nhân ái nào rất xa đã bay về nước non Việt Nam, nó kêu khắc khoải, nó kêu thổn thức, mùa lại mùa, nó hát lên những khúc thơ đau và thương về số phận trầm luân nhiều máu và nước mắt của dân tộc mình” [17; 243]

Qua những bức chân dung về những người làm nghệ thuật, độc giả được tiếp xúc với thế giới của những người tài hoa, giàu tư chất nghệ sĩ Nhìn chung, họ sống trong bão táp chiến tranh với bao bất ổn không thuận lợi cho sáng tác nghệ thuật Nhưng chính hiện thực

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (chủ biên) (2001), Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí , NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí
Tác giả: Tạ Duy Anh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2001
2. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức và thẩm định , NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
3. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1984
4. Lại Nguyên Ân (1996), Loại hình tác giả văn học và vấn đề phương pháp nghiên cứu, t ạp chí Văn học , số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình tác giả văn học và vấn đề phương pháp nghiên cứu
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1996
5. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại , t ạp chí Văn học, số 9, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
12. Đỗ Chu (1978), Nơi con đường gặp biển , NXB Phụ Nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nơi con đường gặp biển
Tác giả: Đỗ Chu
Nhà XB: NXB Phụ Nữ
Năm: 1978
13. Đỗ Chu (1982), Phù sa , NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phù sa
Tác giả: Đỗ Chu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1982
14. Đỗ Chu (1986), Những chân trời của các anh, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chân trời của các anh
Tác giả: Đỗ Chu
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 1986
15. Đỗ Chu (1989), Mảnh vườn xưa hoang vắng, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mảnh vườn xưa hoang vắng
Tác giả: Đỗ Chu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1989
16. Đỗ Chu (2004), Một loài chim trên sóng, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một loài chim trên sóng
Tác giả: Đỗ Chu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2004
17. Đỗ Chu (2006), Tản mạn trước đèn, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản mạn trước đèn
Tác giả: Đỗ Chu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2006
18. Đỗ Chu (2008), Thăm thẳm bóng người, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăm thẳm bóng người
Tác giả: Đỗ Chu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2008
19. Tào Dư Chương (chủ biên) (2003), Những phong cách nghệ thuật, NXB TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phong cách nghệ thuật
Tác giả: Tào Dư Chương (chủ biên)
Nhà XB: NXB TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2003
20. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
21. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm như là quá trình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
22. Phan Huy Dũng (2007), Đỗ Chu chiêm nghiệm con người và nghệ thuật , t ạp chí Nhà văn, số tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Chu chiêm nghiệm con người và nghệ thuật
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 2007
23. Lê Tiến Dũng (2007), Nhà văn và phong cách, NXB Đại học Quốc gia, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và phong cách
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2007
24. Lê Tiến Dũng, (1999) Phê bình và cái roi ngựa, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình và cái roi ngựa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP.HCM
25. Đức Dũng (1996), Các thể báo chí, NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: NXB Văn hóa - thông tin
Năm: 1996
26. Trần Thanh Đạm (2003), Trước thềm 2003, nghĩ tiếp về văn học thế kỉ XX và rộng hơn , tạp chí Nhà văn, tháng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trước thềm 2003, nghĩ tiếp về văn học thế kỉ XX và rộng hơn
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w