1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan hệ ấn độ việt nam trong bối cảnh quan hệ ấn độ asean giai đoạn 1975 1991

147 728 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 819,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền chính trị quốc tế, quan hệ song phương giữa các quốc gia được quy định bởi rất nhiều yếu tố, bao gồm cả vị trí địa chính trị, yếu tố lịch sử, sự tương đồng về văn hóa – xã hội,

Trang 1

MANG VIÊN NGỌC UYÊN

QUAN HỆ ẤN ĐỘ - VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN

GIAI ĐOẠN 1975 - 1991

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

MANG VIÊN NGỌC UYÊN

QUAN HỆ ẤN ĐỘ - VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN

Trang 3

dẫn trong luận văn là trung thực

Tác giả luận văn

Mang Viên Ngọc Uyên

Trang 4

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu Trường Đại học sư phạm Tp Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học cùng các thầy cô Khoa Lịch Sử

Đăc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Cảnh Huệ, thầy đã dành nhiều thời gian và tận tình hướng dẫn em từ lúc bắt đầu cho đến khi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân đã hỗ trợ vật chất cũng như tinh thần cho tôi trong suốt thời gian hoc tập và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!!!

Trang 5

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC 1

BẢNG QUI ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

PHẦN MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1:QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN TỪ 1975 ĐẾN 1991 12

1.1 Quan hệ chính trị 12

1.1.1 Những cơ sở của mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991 12

1.1.2 Thành tựu trong quan hệ chính trị Ấn Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991 23 1.2 Quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991 37

1.2.1 Khái quát mối quan hệ kinh tế Ấn Độ - Đông Nam Á 38

1.2.2 Thành tựu trong quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991 40

Tiểu kết chương 1 67

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ ẤN ĐỘ - VIỆT NAM TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ TỪ 1975 ĐẾN 1991 69

2.1 Những cơ sở của quan hệ chính trị Việt Nam - Ấn Độ từ 1975 đến 1991 70

2.1.1 Mối quan hệ truyền thống hữu nghị giữa hai nước 70

2.1.2 Hai nước có nhiều điểm tương đồng, gần gũi 70

2.1.3 Xu thế khu vực hóa, quốc tế hóa quan hệ giữa các nước ngày càng được mở rộng 71

2.1.4 Tầm quan trọng của nhau trong chiến lược phát triển mỗi nước 72

2.2 Quan hệ giữa hai Nhà nước, Chính phủ 74

2.3 Quan hệ giữa Đảng Cộng sản, các tổ chức xã hội Việt Nam với các đảng phái hàng đầu và các tổ chức xã hội, nhân dân Ấn Độ 88

2.4 Nhận xét mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ - ASEAN trên lĩnh vực chính trị từ 1975 đến 1991 91

2.4.1 Quan hệ chính trị Ấn Độ - Việt Nam 92

Trang 6

2.4.2 Nhận xét quan hệ chính trị Ấn Độ - Việt Nam trong bối cảnh quan hệ Ấn

Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991 93

Tiểu kết chương 2 100

CHƯƠNG 3: QUAN HỆ ẤN DỘ - VIỆT NAM TRÊN CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ, VĂN HÓA TỪ 1975 ĐẾN 1991 103

3.1 Quan hệ về kinh tế 103

3.1.1 Quan hệ thương mại - đầu tư 103

3.1.2 Sự giúp đỡ của Chính phủ Ấn Độ đối với Việt Nam 108

3.2 Quan hệ văn hoá, giáo dục 110

3.2.1 Quan hệ về văn hoá 110

3.2.2 Quan hệ về giáo dục 113

3.3 Nhận xét quan hệ kinh tế - văn hóa Ấn Độ - Việt Nam trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991 114

3.3.1 Quan hệ kinh tế, văn hóa Ấn Độ - Việt Nam 115

3.3.2 Nhận xét quan hệ kinh tế, văn hóa Ấn Độ - Việt Nam trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991 116

Tiểu kết chương 3 124

KẾT LUẬN 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

PHỤ LỤC 139

Trang 7

BẢNG QUI ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CHOGM Hội nghị nguyên thủ cấp cao Khối thịnh vượng

chung

COMECON: Hội đồng tương trợ kinh tế

FICCI: Liên đoàn Phòng Thương mại và Công nghiệp Ấn

Độ

FIEO: Liên đoàn các tổ chức xuất khẩu Ấn Độ

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

ICC: Trung tâm Văn hóa Ấn Độ

ICCR: Hội đồng quan hệ văn hóa Ấn Độ

ITEC: Hợp tác kỹ thuật và kinh tế Ấn Độ

NAM Phong trào Không liên kết

NIIT: Công ty giáo dục máy tính toàn cầu

OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

ONGC: Tổng công ty dầu mỏ và khí tự nhiên

UNCTAD : Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát

triển

UNICEF: Qũy Nhi đồng thế giới

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Đất nước Ấn Độ, nhìn dọc theo hướng Bắc - Nam, từ dãy núi Hymalaya,

được ví như "lâu đài tuyết" hay "bông sen trắng vĩ đại", quốc gia nổi trội nhất của khu vực Nam Á cả về lịch sử cũng như tiềm năng kinh tế Ấn Độ là một trong

những cái nôi văn minh của nhân loại Văn hoá Ấn Độ ảnh hưởng sâu rộng trên

phần lớn khu vực Đông Nam Á, theo nhận xét của ông G.Coedes trong cuốn "Lịch

sử cổ đại các quốc gia Ấn hoá viễn Đông" thì từ đây bắt đầu sự lan toả của một nền

văn hoá có tổ chức, dựa trên quan niệm Hindu về vương quyền, được xác định đặc trưng bằng sự tôn thờ Phật giáo

Ấn Độ là một quốc gia có vị trí địa lý đặc biệt, nằm đúng trên đoạn cuối của đường trung tuyến lục địa Á - Âu Với vị trí này, Ấn Độ có thể được coi là một trục trung chuyển giữa hai lục địa nói riêng và giữa phương Đông và phương Tây nói chung Phần mũi đất nhô ra Ấn Độ Dương trông giống như một bệ phóng hướng ra đại dương và ra 2 hướng Đông - Tây, nhưng đồng thời khi cần, nó cũng có thể là tấm lá chắn che chở cho cả vùng Nam và Trung Á

Ấn Độ là một đất nước có địa hình mở ra đại dương: ngoại trừ phần đất nằm kẹt sâu phía sau Bangladesh, thì biên giới Ấn Độ có tới gần 2/3 chiều dài tiếp giáp với biển Ở phía Bắc Ấn Độ có một loạt dãy núi, trong đó có dãy Hymalaya cao nhất thế giới, án ngữ như một mái nhà che chắn Với địa hình như vậy, người ta còn cho rằng cần phải xem xét Ấn Độ trong bối cảnh địa lý của một tiểu lục địa Ấn Độ độc lập, tức là một tiểu lục địa có khả năng tự cấp tự túc không phụ thuộc vào bên ngoài Tiểu lục địa này bao gồm các nước: Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Buhtan, Pakistan Xét về mặt địa lí địa chính trị, với phía Tây - Bắc, Bắc và Đông - Bắc được che chắn bởi các dãy núi non hiểm trở, phía Đông - Nam, Nam và Tây - Nam tiếp giáp với đại dương bao la, khu vực tiểu lục địa Ấn Độ này được người ta ví như một hòn đảo [2, tr 228 - 232 - 233]

Trang 9

Chính sự gần gũi về mặt địa lí đã tạo mối liên hệ lâu đời giữa quốc gia Nam Á này với khu vực Đông Nam Á cả về lịch sử văn hóa và thương mại, trở thành những người bạn láng giềng thân thiết, đối tác thương mại đáng tin cậy Tuy nhiên, do những biến cố lớn của lịch sử đã đặt mối quan hệ Ấn Độ với các quốc gia khu vực Đông Nam Á trước những sóng gió, thử thách và chông gai, tạo nên những nốt trầm trong lịch sử quan hệ, tiêu biểu nhất là giai đoạn 1975 - 1991

Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1975 - 1991 dưới tác động của Chiến tranh lạnh, đã không tìm được tiếng nói chung khi cả hai khác biệt nhau cả về xu thế chính trị và chính sách phát triển kinh tế, do vậy có thể nói đây là giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử quan hệ của cả hai phía Tình trạng này bắt đầu có xu hướng tiến triển tốt đẹp khi Chiến tranh lạnh bắt đầu đến hồi kết đó là những năm cuối của thập kỷ 80,

xu hướng hòa hoãn Đông - Tây kí kết các hiệp ước nhân nhượng lẫn nhau để cùng phát triển kinh tế và xu hướng đối thoại hợp tác thay cho đối đầu trở thành xu hướng chủ đạo trong chính sách ngoại giao của các nước Cũng từ bước ngoặc này đánh dấu một trang mới tốt đẹp trong quan hệ ngoại giao Ấn Độ - ASEAN khi cả hai đã đánh giá đúng tiềm năng vị thế của mỗi bên trong chiến lược phát triển của nhau

Điều đặc biệt, trong lịch sử quan hệ của Ấn Độ với các quốc gia Đông Nam Á bên cạnh những ảnh hưởng xấu do yếu tố khách quan tác động, vẫn tồn tại mối quan

hệ đoàn kết, gắn bó, thủy chung vượt qua bao thác ghềnh để viết tiếp những trang vàng trong lịch sử quan hệ song phương, đó là tình bạn Ấn Độ - Việt Nam

Trong nền chính trị quốc tế, quan hệ song phương giữa các quốc gia được quy định bởi rất nhiều yếu tố, bao gồm cả vị trí địa chính trị, yếu tố lịch sử, sự tương đồng về văn hóa – xã hội, những tương đồng về quan điểm chính trị - kinh tế, những tư tưởng về xây dựng đất nước và những tình huống ngẫu nhiên không thấy trước được ở khu vực, tư duy về tính thiết thực chính trị và mức độ hội nhập của các nước vào bối cảnh quốc tế chung Hai nước Việt Nam và Ấn Độ có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời, có những mối gắn kết và tương đồng về lịch sử và văn

Trang 10

hóa và là những người bạn thân thiết của nhau trong suốt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Hai nước còn có những quan điểm tương đồng về các vấn đề khu vực và quốc tế, nhất là về các vấn đề an ninh và phát triển ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á

Ấn Độ là một nước lớn ở Châu Á, có uy tín lớn, vai trò quan trọng trong phong trào Không liên kết và trên thế giới Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam

- Ấn Độ là một vấn đề cần thiết và quan trọng nhằm phục vụ cho việc đề ra chính sách đối ngoại của chúng ta và cho sự phát triển của mối quan hệ lâu dài giữa hai nước Nhất là việc tìm hiểu quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trong bối cảnh quan hệ Ấn

Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991 là nhằm làm rõ mối quan hệ hai nước dưới sự tác động của quan hệ Ấn Độ - ASEAN trên lĩnh vực chính trị và kinh tế giáo dục Từ

đó, có cái nhìn toàn diện hơn, góp phần đánh giá đúng đắn hơn mối quan hệ hai nước Việt Nam - Ấn Độ trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử

Với mục đích đó, qua việc tìm hiểu đề tài, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu một mối quan hệ quan trọng của nước ta là quan hệ chiến lược Việt Nam - Ấn Độ Đó là lý do mà tôi quyết định chọn đề tài

“Q uan hệ Ấn Độ - Việt Nam trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn

1975 - 1991” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay, lịch sử quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu, đề cập đến dưới nhiều góc độ,

phạm vi, đánh giá khác nhau

- Đinh Trung Kiên (1993): Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ (1945 - 1975) (Luận

án Phó Tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội) Nội dung luận án trình bày tương đối hệ thống mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong 30 năm (1945 - 1975) Luận án tập trung trình bày

về các mối quan hệ chính trị, ngoại giao còn các quan hệ về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật mới đề cập một cách khái quát

- Đinh Trung Kiên (1995): “Ấn Độ hôm qua và hôm nay” Nxb Chính trị

quốc gia Nội dung giới thiệu những nét khái quát về đất nước và con người Ấn Độ:

Trang 11

Về lịch sử, những giá trị văn hoá truyền thống, quá trình xây dựng nước cộng hoà

Ấn Độ, chính sách đối ngoại của Ấn Độ và quan hệ giữa Ấn Độ với Việt Nam

- Vũ Dương Ninh (chủ biên) (1995): Lịch sử Ấn Độ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Nội dung chủ yếu của công trình là nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ nên quan hệ Việt Nam - Ấn Độ chỉ được trình bày một cách khái quát từ khi hai nước có quan hệ đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX

- Cao Xuân Phổ, Trần Thị Lý (chủ biên) (1997): Ấn Độ xưa và nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Nội dung của công trình là giới thiệu một cách khái quát

về đất nước, con người, lịch sử và văn hóa Ấn Độ xưa và nay Dù vậy, trong phần thứ tư, chương II (từ trang 303 - 348) các tác giả cũng trình bày khái quát về quan

hệ Việt Nam - Ấn Độ từ thời kỳ lịch sử cổ trung đại cho đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX

- Đỗ Đức Định (1999),“50 năm kinh tế Ấn Độ”, Nxb Thế giới ấn hành năm

1999 đã tổng kết 50 năm phát triển kinh tế của Ấn Độ: Cuộc cách mạng xanh, cách mạng trắng, công nghiệp hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn, xây dựng chính sách ngoại thương, đầu tư nước ngoài, công nghiệp, khoa học công nghệ và nông nghiệp, kinh tế đối ngoại…

- Trần Thị Lý (chủ biên) (2002), “Sự điều chỉnh chính sách của cộng hoà Ấn

Độ từ 1991 đến 2000”, Nxb Khoa học xã hội Cuốn sách đã trình bày một số

nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự điều chỉnh chính sách cải cách kinh tế và chính sách đối ngoại của cộng hoà Ấn Độ cũng như những thành tựu mà Ấn Độ đạt được

sau 10 năm điều chỉnh chính sách

- Hoàng Thị Điệp (2006), “Quá trình phát triển của quan hệ Việt Nam - Ấn

Độ từ 1986 – 2004”, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Viện Sử học Nội dung của luận án là

khái quát những điểm tương đồng quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trước năm 1986, tác giả phân tích quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ giữa thập niên 80 trên các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, hợp tác an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hoá và khoa học -

kỹ thuật từ năm 1986 đến năm 2004 Từ đó, tác giả rút ra những thuận lợi, khó khăn, thành tựu và triển vọng của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đồng thời nêu lên một

Trang 12

số kiến nghị nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hai nước

- Nguyễn Thị Phương Hảo (2005 ), “Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ 1991 -

2000”, Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH KHXH & NV Tp Hồ Chí Minh Luận văn sau khi trình bày một cách khái quát về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trước 1991 đã đi sâu vào trình bày quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - khoa học kỹ thuật, an ninh - quốc phòng từ 1991 - 2001

Như vậy, điểm qua lịch sử nghiên cứu về vấn đề này cho thấy, từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ; nhưng, có thể do mục đích, nhu cầu nghiên cứu, họ chỉ đề cập đến giai đoạn này hay giai đoạn khác, khía cạnh này hay khía cạnh khác của mối quan hệ mà chưa có một công trình nào nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn từ 1975 đến 1991 trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ - ASEAN Nhưng, có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đây đã giúp chúng tôi rất nhiều về mặt tư liệu cũng như một số nhận định

3 P hạm vi nghiên cứu

- Về mặt thời gian: thời gian được xác định là từ 1975 đến 1991 Đây là thời gian mà ở Đông Nam Á có những biến động phức tạp, nhất là vấn đề Campuchia (1979 - 1991)

- Về mặt không gian: được giới hạn chủ yếu là ở Việt Nam và Ấn Độ, bên cạnh đó chúng tôi đặt trong mối quan hệ với ASEAN để làm rõ chính sách của Ấn

Độ với Đông Nam Á nói chung và ASEAN nói riêng từ 1975 đến 1991

- Về mặt nội dung: tìm hiểu mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam từ 1975 đến

1991 đặt trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ với ASEAN, tập trung quan hệ hai nước trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá - giáo dục

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ quốc tế để xem xét, đánh giá vấn đề cũng

như đánh giá tư liệu; nhìn nhận các sự kiện lịch sử trong mối quan hệ biện chứng

Đề tài vận dụng những quan điểm cơ bản về đối ngoại, quan điểm của Đảng và Nhà

Trang 13

nước Việt Nam về tình hình thế giới, về hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại mới, đây là nguồn cung cấp căn cứ lý luận, định hướng tư tưởng và khoa học

để thực hiện đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử để khôi phục lại bức tranh sinh động trong quan hệ giữa Ấn Độ - Việt Nam trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ

1975 đến 1991

Tác giả sử dụng phương pháp lôgic để lí giải những yếu tố thúc đẩy mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam, khái quát được những vấn đề trong quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trong sự tác động của quan hệ Ấn Độ - ASEAN

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp liên ngành như phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế nhằm tìm hiểu các sự kiện, các vấn đề quốc tế; phương pháp khu vực học nghiên cứu mối quan hệ giữa Ấn Độ với khu vực Đông Nam Á

và sử dụng những kiến thức địa chính trị, địa văn hóa, địa kinh tế nhằm tìm hiểu rõ nguồn gốc của các vấn đề liên quan đến quan hệ Ấn Độ - Việt Nam

5 Nguồn tư liệu

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu chính sau đây:

- Văn kiện, tài liệu của Đảng, Nhà nước Việt Nam có liên quan đến quan hệ hai nước; tư liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam Đây là nguồn tài liệu gốc Nguồn tài liệu này phong phú, có ý nghĩa rất quan trọng đối với chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài

- Các công trình nghiên cứu của những nhà nghiên cứu Việt Nam, Ấn Độ có liên quan đến đề tài được công bố trên các sách, tạp chí, báo, kỷ yếu các cuộc Hội thảo khoa học về quan hệ hai nước bằng tiếng Việt, Anh Nguồn tài liệu này cũng khá phong phú Nó có ý nghĩa quan trọng, không chỉ cung cấp tư liệu mà còn gợi

mở nhiều vấn đề để chúng tôi đi sâu nghiên cứu

- Các luận án, luận văn nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ Đây là nguồn tư liệu mà chúng tôi không chỉ kế thừa một nguồn tư liệu phong phú, tin cậy

Trang 14

mà còn cả những nhận định khoa học

- Báo chí ở Việt Nam (Bản tin TTX, Báo Nhân dân, Quốc tế…)

- Tư liệu trên internet (trang Web Bộ Ngoại giao Việt Nam) Nguồn tư liệu này cũng khá phong phú

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước và tư liệu

có chọn lọc thu thập được từ nhiều nguồn, công trình này có một số đóng góp chính sau đây:

1 Thông qua công trình nghiên cứu góp phần dựng lại một cách hệ thống, toàn diện, cụ thể, chân thực về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong bối cảnh quan hệ

Ấn Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991

2 Có nhiều công trình liên quan đến đề tài nhưng chưa có công trình nào xem xét một cách toàn diện mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam từ 1975 đến 1991, đặc biệt là xem xét mối quan hệ hai nước đặt trên mối quan hệ của Ấn Độ với ASEAN

Do đó công trình đưa đến một cái nhìn toàn diện mối quan hệ song phương trong mối quan hệ tổng thể khu vực Đồng thời, công trình nghiên cứu cũng đưa ra những kết luận mới về quan hệ của Ấn Độ - Đông Nam Á giai đoạn 1975 - 1991 mặc dù chịu nhiều tác động từ tình hình thế giới và khu vực nhưng không vì thế mà hoàn toàn đóng băng, nốt trầm trong quan hệ thời kỳ này

3 Những nhận xét, kết luận được rút ra, có thể góp phần giúp các cơ quan chức năng tham khảo trong việc đẩy mạnh quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước

Từ đó, chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào sự hợp tác thắng lợi của đối tác chiến lược quan trọng, người bạn đặc biệt đã được thử thách qua thời gian

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc làm 3 chương:

Chương 1: Quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991

Tác giả phân tích quan hệ Ấn Độ - ASEAN trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - khoa học kỹ thuật Tuy quan hệ chính trị Ấn Độ - ASEAN giai đoạn này

Trang 15

mờ nhạt do mỗi bên lựa chọn con đường phát triển khác nhau nhất là chịu sự chi phối của Chiến tranh lạnh nhưng một xu thế không thể đảo ngược là truyền thống quan hệ lâu đời và xuất phát từ những yêu cầu khách quan của lịch sử, yêu cầu phát triển nội tại mỗi quốc gia mà cuối cùng xu hướng hợp tác kinh tế, văn hóa – khoa học cũng đạt được những thành tựu Chương 2: Quan hệ chính trị Ấn Độ - Việt Nam từ 1975 đến 1991

Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam từ 1975 đến 1991 là sự tiếp nối mối quan hệ truyền thống tốt đẹp mà hai Nhà nước, Chính phủ và nhân dân hai nước đã dày công vun đắp Mục đích làm rõ mối quan hệ chính trị tốt đẹp hai nước đã đạt được trong thời gian này, tác giả đã đặt quan hệ chính trị Ấn Độ - Việt Nam trong bối cảnh quan hệ chính trị Ấn Độ - ASEAN để nhìn nhận đúng đắn hơn về mối quan hệ hai nước dù chịu nhiều ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài nhưng quan hệ hai nước phù hợp với nguyện vọng của nhân dân hai nước

Chương 3: Quan hệ kinh tế, văn hóa – giáo dục giữa Ấn Độ - Việt Nam từ

1975 đến 1991

Song song với những thành tựu về quan hệ chính trị, giai đoạn này quan hệ

Ấn Độ – Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa – giáo dục

Đó là sự giúp đỡ về vật chất của Ấn Độ giúp Việt Nam khôi phục và phát triển kinh

tế, quan hệ hợp tác và đầu tư bước đầu được khởi động tuy còn khá khiêm tốn Các chương trình trao đổi hợp tác văn hóa – giáo dục giúp hai nước thêm hiểu nhau và thắt chặt tình đoàn kết

Trên cơ sở đó, tác giả rút ra nhận xét những thành tựu hai nước đã đạt đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - giáo dục từ 1975 đến 1991, nhất là đặt trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ - ASEAN thời kỳ này

Trang 16

CHƯƠNG 1 QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN TỪ 1975 ĐẾN 1991

Độ (tiếng Pali và Sanskrit)

Ấn Độ có ảnh hưởng rõ rệt đến sự hình thành nhà nước cổ đại Đông Nam Á

Cư dân Đông Nam Á ở những vùng thung lũng và đồng bằng, do yêu cầu phải chinh phục thiên nhiên để trồng lúa nước (như làm thủy lợi), họ buộc phải liên minh với nhau Liên minh ấy ngày càng rộng lớn hơn, chặt chẽ hơn và dần dần trở thành những tổ chức tiền quốc gia vững mạnh Và giữa các tổ chức tiền quốc gia ấy

có sự giao lưu thương mại với nhau trong khu vực cũng như mở rộng hoạt động thương mại các thương nhân ngoại quốc, với Ấn Độ là một ví dụ tiêu biểu

Lúc bấy giờ, để phục vụ cho nhu cầu của các hoàng đế Đông và Tây, của các tầng lớp giàu có, việc buôn bán những sản phẩm quý như hương liệu, châu ngọc, tơ lụa…giữa Nam Á và Châu Âu ngày càng tấp nập Các nhà buôn Ấn Độ đã đến vùng

phía đông sông Hằng, tức là Đông Nam Á mua hương liệu, gia vị, long não, xạ hương, gỗ mun…để mang đi bán ở các vùng Tiểu Á, Ba Tư, La Mã Ngoài ra, chính

sự giàu có của khu vực Đông Nam Á là điểm đến thu hút đối với thương nhân

người Ấn Trong sử thi Ramayana, họ gọi khu vực Đông Nam Á là Suvarnabhumi (đất vàng), Suvarnadvipa (đảo vàng), Narikeladvipa (Hòn đảo của dừa),

Karpuradvipa (đảo long não), và Yavodvipa (đảo lúa mạch) Chính vì thế đã nảy

sinh mối quan hệ giao lưu Ấn Độ - Đông Nam Á Và cũng chính sự có mặt của cư dân Ấn Độ ở đây mà bản thân các bộ lạc, các liên minh bộ lạc Đông Nam Á có điều kiện liên kết với nhau, tạo ra một điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự ra đời của một

Trang 17

loạt các nhà nước sơ khai Đông Nam Á Có thể nói, sự hình thành các quốc gia Đông Nam Á có ảnh hưởng không nhỏ của văn hóa Ấn Độ

Khác với Trung Quốc, văn hóa Ấn Độ dễ dàng được tiếp nhận ở Đông Nam

Á, quá trình Ấn Độ mở rộng văn hóa trong khu vực Đông Nam Á được thực hiện bằng biện pháp hòa bình, không phải là sự cưỡng bức hay ách đô hộ Chính vì vậy, đối với các quốc gia Đông Nam Á, việc tiếp nhận văn hóa Ấn Độ, hay nói một cách chính xác hơn, sự giao lưu văn hóa Ấn Độ - Đông Nam Á gần như là tự nhiên

Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ sang khu vực Đông Nam Á được thể hiện ở rất nhiều mặt, nhiều khía cạnh, ảnh hưởng đó khá toàn diện và sâu sắc

Trước hết, đó là sự phổ biến của chữ viết Pali - Sanscrit ở rất nhiều quốc gia Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Thái Lan…Thêm nữa, hàng loạt các từ Ấn Độ cũng đã được du nhập vào ngôn ngữ các nước Đông Nam Á như vào tiếng Melayu (ngôn ngữ quốc gia của bốn nước Đông Nam Á hiện nay là Malaysia, Indonesia, Brunei, Singapore), tiếng Việt, tiếng Khmer, tiếng Thái…Trong tiếng Việt chẳng hạn, một số từ chỉ cây cối (như “mít”, “lài”) và một loạt từ thuộc về Phật giáo (“Bụt”, “Bồ đề”, “Bồ tát”, “Phù đồ”…) đều có gốc từ Ấn Độ

Về phương diện văn học, hai bộ sử thi nổi tiếng của Ấn Độ là Ramayana và Mahabharata được truyền sang nhiều vùng Đông Nam Á, và thậm chí ở một số nơi, chẳng hạn ở đảo Java (Indonesia), dựa theo cốt truyện gốc này, người ta đã tạo ra những biến thể khác tương tự Sự thâm nhập của hai bộ sử thi Ấn Độ vừa nêu vào Java sâu đến mức cư dân địa phương đã không biết chúng có nguồn gốc Ấn Độ, họ vẫn quan niệm đó là của chính họ

Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của Ấn Độ được thể hiện rất rõ nét ở các đền tháp, chùa chiền được xây dựng ở khắp Đông Nam Á, mà tiêu biểu hơn cả là quần thể kiến trúc Ăngco Vat (Campuchia), hệ thống các tháp ở Campuchia, chùa Burobudur (Indonesia), Thạt Luổng (Lào) Đối với các công trình kiến trúc đồ sộ này, ảnh hưởng của quan niệm nghệ thuật kiến trúc tôn giáo Ấn Độ rất đậm đà: đó

là kiến trúc Hindu giáo (Ăngco Vat, tháp Champa) và kiến trúc Phật giáo (Burobudur, Thạt Luổng)

Trang 18

Qua những kết quả khai quật được của ngành khảo cổ cũng là một minh chứng cho thấy sự tương tác giữa Ấn Độ - Đông Nam Á Trên cao nguyên Korat (Thái Lan), các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những chuỗi hạt đá, thủy tinh thuộc các thiên niên kỷ trước Công nguyên; một số đồ tạo tác, gốm các loại tìm thấy ở Madhya Pradesh, Gilmanuk Bali, Prajekan thuộc đảo Java (Indonesia) và Đông Sơn (Việt Nam) Một loại vàng lá mỏng của Ấn Độ tìm thấy ở Arikadmedu, trung tâm thương mại quan trọng Ấn Độ - La Mã Tại Óc Eo (Việt Nam) các nhà khảo cổ đã tìm thấy các chuỗi hạt màu, con dấu với chữ viết tiếng Phạn

Nhưng ảnh hưởng có thể coi là rõ rệt nhất, đậm nét nhất của văn hóa Ấn Độ vào Đông Nam Á là việc phổ biến đạo Phật và đạo Bà la môn giáo Các tôn giáo này, đặc biệt là đạo Phật, có một ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân bản địa Đông Nam Á Một số quốc gia sau này Phật giáo trở thành quốc giáo

Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến Đông Nam Á còn biểu hiện ở chính trị -

xã hội Nhiều nhà nước Đông Nam Á được hình thành trong thời kỳ này tuân theo

mô hình chính trị - xã hội kiểu Ấn Độ, trong đó nhà nước Champa, một trong những vương quốc cổ đại ra đời sớm nhất ở Đông Nam Á là một ví dụ điển hình Có thể nói, mô hình của Ấn Độ về tổ chức chính trị và vương quyền đã được người

Độ đến Đông Nam Á mà bản thân những người Đông Nam Á cũng đến Ấn Độ với mục đích thương mại và nhờ đó tiếp thu văn hóa Ấn Độ

Theo ghi chép trong sử thi Ramayana thì Java và Sumatra có thể là nơi ở của

nữ thần Sita Sử học Hàng hải đã tìm thấy bằng chứng về sự giao thương của người

Trang 19

Đông Nam Á cổ với toàn bộ vùng biển Ấn Độ Dương có niên đại khoảng 1000 năm TCN Người Andhra và Orrissa đã thúc đẩy hoạt động giao lưu hàng hải với những người Đông Dương đặc biệt Mauryas và Andhras khuyến khích di dân đến quần đảo Indonesia và các vùng lân cận Người ta tin rằng cách đây khoảng 600 năm, các

vị vua Saka của Gujrat ra khơi và đã đến bờ biển phía tây đảo Java.[55,tr 2]

Theo nhà sử học Sridharan, "Đây là làn sóng đầu tiên của những người dân

từ bờ biển phía tây của Ấn Độ đã đến Java và đóng góp lớn trong việc truyền bá văn hóa Ấn Độ đến Đông Nam Á Cả hai tộc người Dravidian và người Aryan đã có tiếp xúc với người dân của khu vực Đông Á Triều đại Kalinga đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy di cư tới Đông Nam Á Các nhà sử học tin rằng điều này đánh dấu sự khởi đầu của quá trình ảnh hưởng của "Hindu" trong khu vực Hòn đảo Bali cho đến ngày nay vẫn còn ảnh hưởng đậm nét văn hóa Hindu

Rõ ràng là trước khi có sự xuất hiện của thương nhân Ả Rập ở Ấn Độ Dương, các thương nhân Ấn Độ đã chiếm độc quyền thương mại trong vùng biển

Ấn Độ Dương Thời kỳ đầu Cholas với sức mạnh hải quân của mình họ đã ngăn chặn sự can thiệp của người Ả Rập vào khu vực Đông Nam Á Sau đó, Cholas suy yếu dần và sự suy đồi của đế quốc Sri Vijaya tạo ra một khoảng trống trong thương mại ở bên ngoài, người Ả Rập đã can thiệp và cạnh tranh có hiệu quả với người Trung Quốc Lúc này các thương nhân Ả Rập trên những chiếc thuyền buồm chất đầy hàng hóa buôn bán tấp nập ở cả phương Đông và phương Tây Tuy nhiên, điều này đã không làm suy yếu ảnh hưởng nền văn hóa Ấn Độ với các nước Đông Nam

Á Học giả nổi tiếng Abdul Rachman người Indonesia cho rằng:

Từ Ấn Độ, các tôn giáo lớn như Ấn Độ giáo, Hồi giáo và Phật giáo đã đến Indonesia, sau đó trộn lẫn với các niềm tin bản địa để trở thành một nét đặc trưng văn hóa Indonesia Trong thời gian dài quá trình thích ứng, hợp nhất và phát triển

ở Indonesia đã tạo nên một nét văn hóa - tôn giáo riêng như đền, miếu, các lễ nghi…”[56, tr 4]

Chính vì thế một học giả người Indonesia, Soedjate Djiwandono, trích lời Tổng thống Sukarno rằng:

Trang 20

“ Máu trong mỗi tĩnh mạch của tôi đang chảy là máu của tổ tiên Ấn Độ; văn hóa chúng tôi có được thông qua những ảnh hưởng của Ấn Độ Hai ngàn năm trước, người dân từ quốc gia của bạn đến Jawadvipa và Suvarnadvipa trong tinh thần của tình huynh đệ Chúng tôi học được cách tôn thờ các vị thần và văn hóa mà ngay cả ngày hôm nay phần lớn là giống hệt với của nước bạn” [56]

Tuy nhiên, trong quá trình đón nhận các yếu tố văn hóa Ấn Độ, các nước Đông Nam Á tiếp nhận một cách chủ động, chọn lọc và có sáng tạo riêng Do vậy, mặc dù mang đậm nét dấu tích văn hóa Ấn Độ nhưng chỉ là sự tiếp nhận có chọn lọc, đồng thời trên nền tảng văn hóa Ấn Độ cư dân bản địa cũng có những sáng tạo độc đáo dựa vào những yếu tố phù hợp với đặc trưng phong tục tập quán, cư dân Đông Nam Á

Trong một công trình nghiên cứu của mình, sử gia nổi tiếng người Pháp, Fernand Braudel khi nhận định về mối quan hệ giữa Ấn Độ và Đông Nam Á ông coi đây như "cuộc đàm phán lớn nhất của tất cả các nền kinh tế thế giới"

Qua những phân tích ở trên có thể nói chính sự gần gũi, ảnh hưởng đậm nét yếu tố văn hóa Ấn Độ là một yếu tố thuận lợi để Ấn Độ phát triển quan hệ mọi mặt với khu vực Đông Nam Á

1.1.1.2 Sự gần gũi về địa lý và sự phát triển kinh tế năng động của khu vực Đông Nam Á

Sự giao lưu tiếp xúc giữa Ấn Độ - Đông Nam Á hình thành từ rất sớm do vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi

Đông Nam Á có vị trí chiến lược trên bản đồ chính trị, quân sự và kinh tế của thế giới do nằm ở ngã tư đường nối các khu vực Đông Bắc Á, Nam Á, Châu Úc, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương

Ấn Độ không những có chung đường biên giới phần đất liền với Mianmar

mà về khoảng cách địa lí, Ấn Độ cũng rất gần với các quốc gia Đông Nam Á khác như: nếu tính từ Coco Island, quần đảo Nicobar ở Vịnh Bengal thuộc Ấn Độ thì chỉ cách đảo Sumatra của Indonesia 163 km, cách Thái Lan là 450 km và cách Malaysia là 700 km và thực tế là ở mũi phía nam Ấn Độ có nhiều tuyến đường biển

Trang 21

quan trọng của Ấn Độ Dương nối liền với Đông Nam Á (Đông Á) với Tây Á và châu Âu.

Hơn nữa, an ninh cũng như thương mại trên biển của Ấn Độ lại gắn trực tiếp với những eo biển nằm ở khu vực Đông Nam Á như Sunda, Lombok, đặc biệt là eo biển Malacca, nơi có lượng tàu thuyền qua lại mỗi năm gần gấp đôi lượng tàu thuyền qua kênh đào Suez và gần gấp ba lần kênh đào Panama

Các nhà phân tích Ấn Độ cho rằng, khu vực châu Á - Thái Bình Dương là bàn đạp của Ấn Độ để tiến vào thị trường toàn cầu, tương lai của Ấn Độ có được phồn thịnh hay không là nhờ vào khu vực quan trọng này Mặt khác, các nhà kinh tế cho rằng, thông qua việc hợp tác với ASEAN, Ấn Độ có thể đảm bảo rằng họ sẽ không bị cô lập khi mà các thỏa thuận mậu dịch mang tính khu vực đang trở thành

xu thế chung Xu thế này sẽ bao gồm việc liên kết về mặt kinh tế với những nền kinh tế năng động tại Đông Á Trên thực tế, nhà nước Ấn Độ hy vọng mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với ASEAN sẽ giúp nước này hòa nhập vào một kinh tế lớn hơn bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Ấn Độ xác định rõ ASEAN là mắt xích trung tâm, là khâu đột phá nhằm tăng cường hợp tác kinh tế, ngoại giao với khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Thực tế, Ấn Độ có mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ ở châu Á bởi mối quan hệ truyền thống văn hóa và kinh tế, nơi mà Ấn Độ muốn xây dựng một vị thế nhất định của mình trong tương lai của khu vực cũng đồng nghĩa với việc Ấn Độ cũng sẽ chống lại sự cạnh tranh của bất kỳ nước nào khác hay tập đoàn của họ mục đích thống trị châu Á Từ quan điểm địa chiến lược của Ấn Độ, Châu Á rõ ràng có hai mặt trận: Thế giới Ả Rập, khu vực Vịnh Ba Tư và Trung Á ở phía Tây và Đông Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương ở phía đông

Đông Nam Á đã luôn luôn chiếm một vị trí nổi bật trong quan điểm chiến lược phát triển của Ấn Độ độc lập, một kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc nền văn minh và thương mại lâu đời giữa Ấn Độ với các nước Đông Á

Từ những năm 1930, Thủ tướng Ấn Độ J.Nehru đã có ý tưởng hình thành

"Đông Liên đoàn", trong đó Trung Quốc, Miến Điện (Myanmar), Malaya

Trang 22

(Malaysia), và Siam (Thái Lan) là những thành viên tiềm năng Tháng 3 -1947, tại Hội nghị Quan hệ châu Á khai mạc tại New Delhi, Nehru một lần nữa nhắc lại tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á trong chiến lược tinh thần đoàn kết châu Á của Ấn Độ

Tuy nhiên, ý tưởng châu Á đoàn kết của Nehru đã bị cản trở bởi Chiến tranh lạnh và những tranh chấp phát sinh trong quan hệ giữa Ấn Độ với các nước láng giềng gần như Trung Quốc và Pakistan Trong khi đó, các nước Đông Nam Á tập hợp lại vào Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) (1967) Điều này đồng nghĩa với việc phạm vi hợp tác của chủ nghĩa khu vực ở Đông Nam Á hình thành và càng được mở rộng thông qua các Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS)

Đối với Ấn Độ, «không có khu vực nào trên thế giới có thể bao gồm các thị

trường năng động hơn các thị trường ở phương Đông »

Năm 1944, với tầm nhìn xa của mình, một lần nữa Nehru đã viết trong cuốn sách “The Discovery” cho rằng: «Thái Bình Dương có khả năng thay thế Đại Tây

Dương với tư cách là một trung tâm đầu não của thế giới trong tương lai Tuy không phải là một quốc gia ở Thái Bình Dương nhưng Ấn Độ sẽ phải có được ảnh hưởng quan trọng ở đó »

Tháng 6 - 2000, Ngoại trưởng Ấn Độ trong bài phát biểu tại Singapore cũng

khẳng định: “Ở khu vực này chúng ta có thể tìm được gần như những tồn tại vốn có

của các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật, ASEAN và Ấn Độ” [37]

Như vậy, Ấn Độ đã coi mình là một trong sáu lực lượng lớn ở khu vực châu

Á - Thái Bình Dương

Là một nước lớn cả về diện tích lẫn dân số, nhưng đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Ấn Độ vẫn bị coi là một nước kém phát triển Nằm tại tiểu khu vực Nam Á lạc hậu, song Ấn Độ lại gần kề với các quốc gia Đông Á vốn có sự biến chuyển mạnh mẽ về kinh tế Những năm 1980, các nền kinh tế như Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc được mệnh danh là những con rồng châu Á Cuối

Trang 23

thập niên 80, đầu 90 của thế kỷ XX, hầu hết các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước thành viên ASEAN đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định

Do vậy, sự tăng trưởng kinh tế nhanh và quá trình hội nhập kinh tế ở khu vực Đông Nam Á đã trở thành một lực hút quan trọng đối với Ấn Độ

Những thành công về phát triển kinh tế của các nước ASEAN cũng như

những thành công của mô hình hợp tác khu vực của ASEAN trái ngược với sự trì trệ trong tiến trình hợp tác khu vực của Hiệp hội các quốc gia khu vực Nam Á (SAARC), đã thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách từ Ấn Độ đối với khu vực Đông Nam Á Ấn Độ nhận thấy rằng, việc tăng cường hợp tác với các nước ASEAN sẽ giúp Ấn Độ khôi phục và phát triển kinh tế

Đông Nam Á là khu vực giàu có về nguyên liệu thô và năng lượng, mà Ấn

Độ rất “khát” cho sự phát triển trong tương lai của mình Đặc biệt, chiến tranh vùng Vịnh (1990-1991) gây nên cuộc khủng hoảng về nguồn cung dầu mỏ đối với nền kinh tế Ấn Độ Theo thống kê kinh tế của Bộ Tài chính Ấn Độ, chỉ trong hai năm

1990 - 1991, giá dầu nhập khẩu của Ấn Độ đã tăng 21,9% (tính bằng đồng rupi)[80, tr.3] Trước nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của nền kinh tế, sự không ổn định

về nguồn cung và giá dầu cao buộc Ấn Độ phải tìm kiếm các nguồn cung mới và Đông Nam Á được coi là một khu vực có nhiều tiềm năng

Sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Ấn Độ khiến các nhà lãnh đạo xem xét nghiêm túc nhu cầu nhập khẩu năng lượng và việc đảm bảo an ninh năng lượng

và sự an toàn cho các tuyến đường biển trong biển Ấn Độ Dương trở thành một trong những ưu tiên cao nhất trong chương trình an ninh của Ấn Độ Đây là cơ sở

quan trọng cho việc xây dựng quan hệ an ninh mới với một trong những nội dung

cơ bản là tập trận chung và hoạt động chung trong tạm thời [59]

1.1.1.3 N hững yêu cầu khách quan và chủ quan

Lí do đầu tiên phải kể đến là trong quan hệ nội bộ khu vực Nam Á Do giữa lúc những căng thẳng trong quan hệ Ấn Độ - Pakistan trở nên trầm trọng hơn Ấn Độ lại đang ủng hộ phe của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đồng thời Ấn Độ vẫn

Trang 24

đang tiếp tục với chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, do đó nhu cầu thương mại với các nước Nam Á là không nhiều

Hơn nữa, mặc dù từ năm 1985 hầu hết các nước Nam Á đã cùng tham gia vào Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), tuy nhiên, ngay từ khi mới ra đời,

cơ chế hợp tác này đã có nhiều hạn chế Ấn Độ lo ngại các nước sử dụng diễn đàn

này để chỉ trích và cô lập Ấn Độ trong những vấn đề tranh chấp song phương, còn

Pakistan thì sợ thông qua tổ chức hợp tác khu vực, Ấn Độ sẽ nắm vai trò lãnh đạo, không có lợi cho Pakistan [9]

Chính vì vậy, một nguyên tắc trong hiến chương của SAARC là không tranh luận những vấn đề gây bất đồng trong quan hệ song phương tại các cuộc họp của Hiệp hội Thêm vào đó, hầu hết các nước Nam Á là những nước đang phát triển ở trình độ thấp, cần nhiều vốn và kỹ thuật trong khi Ấn Độ tuy là nước có trình độ

phát triển vào bậc nhất khu vực Nam Á nhưng cũng gặp nhiều khó khăn, không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn và kỹ thuật cho các nước trong tổ chức

Do vậy, Ấn Độ bắt đầu hướng tới khu vực Đông Nam Á- người láng giềng thân thuộc và đầy tiềm năng hơn

Lí do thứ hai thuộc về vấn đề an ninh Đông Nam Á là khu vực láng giềng với Ấn Độ, song khu vực này luôn nóng bỏng, tập trung mâu thuẫn và tranh giành ảnh hưởng, vai trò khống chế giữa các nước lớn, nhất là Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Liên Xô

Từ sau thắng lợi của nhân dân Việt Nam 1975 góp phần tạo nên những thay đổi to lớn, cơ bản và lâu dài cho tình hình Đông Nam Á và thế giới, mở ra một thời

kỳ mới trong quan hệ quốc tế - thời kỳ sau Việt Nam Cũng từ sau thắng lợi của ba nước Đông Dương buộc Mỹ phải rút hết quân khỏi lục địa Đông Nam Á, giảm bớt cam kết ở khu vực, xu hướng hòa bình, độc lập, trung lập ngày càng phát triển ở khu vực Đông Nam Á Từ giữa năm 1978, Trung Quốc công khai chống cách mạng Đông Dương, câu kết với Mỹ, Đông Dương trở thành địa bàn chính của sự câu kết này

Trang 25

Bắt đầu từ cuối những năm 1970 trở đi, Trung Quốc đã nỗ lực đáng kể tăng cường ảnh hưởng chính trị và kinh tế trong khu vực Đông Nam Á, thiết lập quan hệ ngoại giao với gần như tất cả các quốc gia Đông Nam Á, nỗ lực lôi kéo các nước ASEAN vào một mặt trận chống lại cái mà Trung Quốc gọi là « chủ nghĩa bá quyền của Liên Xô », [53]

Theo quan điểm của Ấn Độ, những hành động Trung Quốc có khả năng cô lập ngoại giao Ấn Độ Do đó, các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ cho rằng, chỉ khi Ấn Độ hạn chế được ảnh hưởng của Trung Quốc cũng như giải pháp tốt nhất để làm giảm sự tăng lên của quan hệ chiến lược Trung - Mỹ là làm giảm sự khác biệt giữa Việt Nam và ASEAN Từ đây, Ấn Độ đã phối hợp với Việt Nam để giải quyết vấn đề Campuchia và Ấn Độ trở thành cầu nối giữa Việt Nam và ASEAN [52]Vì thế hơn lúc nào hết, Ấn Độ tính đến giải pháp tăng cường hơn nữa quan hệ với Đông Nam Á nói chung và ASEAN nói riêng để bảo đảm duy trì lợi ích của mình tại khu vực

Chính sách của Ấn Độ với ASEAN bao gồm chính sách chung cho toàn khu vực, đồng thời cũng có chính sách riêng và biện pháp cụ thể đối với từng nước Đó

- Tăng cường quan hệ buôn bán, hơp tác với tất cả các nước ASEAN, nhưng cũng yêu cầu các nước nới lỏng thuế cước, kiểm soát nhập khẩu của Ấn Độ vào các nước ASEAN

Trang 26

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng những động thái của Ấn Độ không phải

là một chiều Vào cuối những năm 1980, quan hệ giữa Ấn Độ với các nước ASEAN

có những bước tiến triển mới khi bản thân các nước ASEAN cũng gặp nhiều khó khăn Khi khu vực ASEAN nổi lên về mặt kinh tế vào thập niên 70 và 80 của thế kỷ

XX, ảnh hưởng của cuộc chiến tranh lạnh đã ngăn cản các mối quan hệ của Ấn Độ với các thành viên ASEAN Sự nghi kỵ lẫn nhau khiến cho ASEAN và Ấn Độ càng thêm xa cách Vào cuối thập niên 80, khả năng ngày càng gia tăng lực lượng hải quân Ấn Độ đã khiến cho một số nước ASEAN lo ngại, đặc biệt là Indonesia, Malaysia và Thái Lan Việc Ấn Độ can thiệp vào Sri Lanka và Maldives cũng khiến một số nước ASEAN lo sợ

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc, việc Liên Xô cũ tan rã cộng với tình trạng bế tắc tạm thời của nỗ lực mở rộng lực lượng hải quân Ấn Độ, đã giúp tạo ra một môi trường dễ tiếp nhận chính sách hướng Đông hơn của Ấn Độ ở khu vực Đông Nam

Á Mặt khác, từ những năm 90 trở đi, các nước ASEAN cũng chủ trương mở rộng quan hệ với các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Ấn Độ

Về mặt an ninh, việc Mỹ và Nga rút quân sự khỏi Đông Nam Á đã tạo nên

“khoảng trống quyền lực” ở khu vực Trung Quốc và Nhật Bản nuôi tham vọng lấp chỗ trống này đã thúc đẩy ASEAN tiến tới các cơ chế hợp tác về an ninh ASEAN cho rằng Ấn Độ là một quốc gia hòa bình và có một đóng góp tích cực trong các chiến lược của Đông Nam Á và càng ngày càng đảm nhiệm một vai trò lớn hơn trong khu vực

Theo sau sự gia tăng giá dầu mỏ lần thứ hai bắt đầu từ năm 1979, nền kinh tế thế giới có những bước thụt lùi nghiêm trọng Sau hai thập kỷ tăng trưởng nhanh,

các nước ASEAN phải đối mặt với mức tăng trưởng thấp Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ giảm sút, các mặt hàng chủ chốt phải hạ giá cộng với những hạn chế nghiêm khắc về hạn ngạch, đặc biệt là chủ nghĩa bảo hộ của phương Tây…Những điều này

buộc các nước ASEAN phải tìm kiếm một thị trường mới Trong khi đó, chính quyền mới của Ấn Độ do Rajiv Gandhi đứng đầu đã có những cải cách về kinh tế

Trang 27

Chính phủ Ấn Độ tiến hành tự do hóa và giảm mức điều tiết của chính phủ đối với nền kinh tế Điều này đã thu hút được sự chú ý của các nước ASEAN

Chiến tranh lạnh kết thúc cũng là lúc Ấn Độ phải đối mặt với những khó khăn mới trong quan hệ quốc tế cũng như tình hình trong nước Ấn Độ đã hướng tới Đông Nam Á nói riêng và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung với những tham vọng mới Trong khi đó, với những khó khăn trong nước, sự giảm sút của nền kinh tế thế giới và đặc biệt là sự kết thúc của sự đối đầu về tư tưởng trong Chiến tranh lạnh, Đông Nam Á đã hướng tới Ấn Độ như một thị trường đầy tiềm năng cả về thị trường xuất khẩu cũng như tìm kiếm nguồn đầu tư từ Ấn Độ Sự trùng hợp về lợi ích giữa Ấn Độ và Đông Nam Á đã làm cho quan hệ hai bên thắt

1 1.2.1 Ấn Độ duy trì và phát triển mối quan hệ truyền thống với các nước ASEAN

Ngay sau khi giành được độc lập, dưới thời Thủ tướng J.Nehru, Ấn Độ đã

cố gắng khôi phục lại các mối quan hệ với thế giới nói chung đặc biệt là với các quốc gia Đông Nam Á nói riêng Biểu hiện cụ thể nhất cho sự nối lại quan hệ này là Hội nghị châu Á tổ chức tại New Delhi (1947) và Hội nghị châu Phi tại Bandung (1955) Cả hai Hội nghị trên đánh dấu cột mốc quan trọng trong việc nối lại quan hệ

Ấn Độ với các nước Đông Nam Á Ấn Độ đã cố gắng vượt lên những khó khăn, tạo lập một mối quan hệ đối thoại hợp tác với ASEAN Ấn Độ tiếp tục duy trì mối quan

hệ truyền thống với các nước khu vực Đông Nam Á được thể hiện thông qua các chuyến thăm hữu nghị lẫn nhau để trao đổi quan điểm về các vấn đề thế giới và khu vực nhằm phát triển hơn nữa sự hiểu biết, gần gũi và hợp tác với các nước Đông

Trang 28

Nam Á Đồng thời, thông qua các chuyến thăm hữu nghị Ấn Độ đã ký kết một số hiệp định song phương trên nhiều lĩnh vực với các nước Đông Nam Á để tăng cường hợp tác kinh tế và kỹ thuật với các nước trong khu vực

Tháng 1 - 1949, Hội nghị đặc biệt về Indonesia đã được tổ chức có sự tham

dự của 15 quốc gia, bày tỏ sự ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang của Sukarno được Mỹ ủng hộ chống lại ách cai trị của thực dân Hà Lan Sau khi Indonesia giành độc lập,

Ấn Độ đã giúp đỡ Indonesia đào tạo các lực lượng quân sự và Indonesia cũng là quốc gia duy nhất ở bên ngoài Khối thịnh vượng chung mà Hải quân Ấn Độ đã tổ chức tập trận chung Ấn Độ cũng đã kí kết điều ước hữu nghị quốc tế với Indonesia, Myanmar và Philippines [58, tr.192]

Ấn Độ cũng hỗ trợ các phong trào độc lập ở Malaysia, Brunei và các nước khác Những nỗ lực này giúp tăng cường quan hệ hữu nghị giữa Ấn Độ với một số các nước Đông Nam Á cả trong khuôn khổ song phương và trong các diễn đàn đa phương

Vào đầu những năm năm mươi, Ấn Độ là Chủ tịch của Ủy ban kiểm soát quốc tế (ICC) tại Đông Dương Trong vai trò này, quan hệ Ấn Độ với Việt Nam,

Campuchia và Lào đã được thắt chặt hơn

Ấn Độ tích cực ủng hộ xu hướng hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác ở khu vực Đông Nam Á Một Đông Nam Á hòa bình, hữu nghị và hợp tác, không có

sự can thiệp của nước ngoài cũng có lợi nhất định cho Ấn Độ

Trong chuyến thăm ASEAN 5 - 1976, Thứ trưởng ngoại giao Ấn Độ, ông

P.Das, đã phát biểu:“Việc khu vực này đứng ngoài các cuộc tranh chấp của các

cường quốc và phát triển trên thực tế thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập dựa trên sự hợp tác giữa các nước trong khu vực là rất quan trọng” [70]

Tuy nhiên, những cố gắng đó của Ấn Độ không thật sự hiệu quả do sự tác động của Chiến tranh lạnh, sự căng thẳng giữa Ấn Độ với Trung Quốc và chiến tranh biên giới Việt Nam - Trung Quốc (1978 - 1979), Việt Nam - Campuchia, đã

có những ảnh hưởng không tốt cho quan hệ các nước, đặc biệt khi Ấn Độ ký kết Hiệp ước Hòa bình và Hợp tác hữu nghị với Liên Xô (1971) đã làm cho các nước

Trang 29

ASEAN nghi ngờ Ấn Độ, cũng kể từ đó mối quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN bắt đầu suy thoái dần

Nếu nói quan hệ giữa Ấn Độ - ASEAN trong lịch sử đầy những thăng trầm quả thực không sai Quan hệ Ấn Độ - ASEAN thật sự căng thẳng, rạn nứt trong những năm 1980, dưới ảnh hưởng của Liên Xô, Ấn Độ công nhận Cộng hòa Nhân dân Campuchia và trong thập kỷ 80, Ấn Độ thiết lập quan hệ chặt chẽ với Việt Nam

về chính trị và quân sự Điều này làm mối quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN xấu đi

Do đó có thể nói, dưới tác động của Chiến tranh lạnh, quan hệ Ấn Độ - ASEAN xấu

đi bởi những định kiến của ASEAN đối với Ấn Độ trước và sau khi Việt Nam ủng

hộ chính phủ của Heng Samrin (Campuchia)

Không những thế, trong Chiến tranh lạnh Đông Nam Á lo lắng trước sự nổi lên của lực lượng quân sự Ấn Độ trong và ngoài khu vực Nam Á

Từ những năm 1970, các nước Đông Nam Á đã bắt đầu chú ý tới sự phát triển của Hải quân Ấn Độ ở Ấn Độ Dương Đáng lo ngại nhất đối với các nước ASEAN là Ấn Độ ngày càng ra sức xây dựng lực lượng hải quân lớn mạnh dần để đảm bảo lợi ích của mình trong khu vực Đông Nam Á Ấn Độ đã có tàu ngầm, tàu sân bay, vũ khí hạt nhân do Liên Xô hỗ trợ Indonesia thậm chí còn cáo buộc Ấn Độ

để cho Liên Xô sử dụng các căn cứ hải quân của mình Do vậy, các nước Đông Nam Á chịu sự bảo hộ của Mỹ bắt đầu lo lắng, dao động về sự mất cân bằng trong khu vực khi Mỹ có những động thái rút dần ảnh hưởng của mình tại đây như giảm

sự bảo hộ về quân sự, thu hồi các căn cứ ở Philippines

Các chuyến thăm các cấp giữa Ấn Độ và các nước khu vực ASEAN được xem như một giải pháp để hàn gắn tốt hơn mối quan hệ đã băng giá từ trước, đặc biệt là để hiểu quan điểm của nhau về vấn đề Campuchia Bằng sự nỗ lực đầy thiện chí của Ấn Độ trong việc nối lại quan hệ với các nước Đông Nam Á, cuối cùng, một

xu hướng hợp tác đã xuất hiện và chỉ ra rằng không chỉ Ấn Độ mà các quốc gia ASEAN cũng quan tâm trong việc nối lại quan hệ tốt đẹp hai bên với việc lập lại quan hệ đối thoại

Trang 30

Tháng 8 - 1977, Hội nghị quan chức cấp cao Ấn Độ và Đông Nam Á được tổ chức tại New Delhi Hội nghị nhấn mạnh tầm quan trọng việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các quốc gia Đông Nam Á, sự ổn định của khu vực cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á

có tầm quan trọng sống còn đối với Ấn Độ Ấn Độ mong muốn giải quyết các vấn

đề chung của khu vực không có ảnh hưởng, áp lực từ bên ngoài và mục đích chung

là hướng tới việc đáp ứng nguyện vọng của người dân cho một cuộc sống tốt đẹp hơn bằng cách thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua hợp tác quốc gia và khu vực

Ấn Độ hoan nghênh sự phát triển của ASEAN là biểu hiện tốt cho sự hợp tác hiệu quả giữa các nước thành viên trong khu vực Đông Nam Á Đồng thời, Ấn

Độ bày tỏ sẵn sàng chia sẻ, hỗ trợ trong phạm vi có thể với các nước Đông Nam Á

để góp phần hướng tới sự phát triển tốt đẹp của các quốc gia Đông Nam Á Trái ngược với bất kỳ sự hiện diện quân sự nước ngoài nào trong khu vực, Ấn Độ nhắc lại thiện chí của mình mong muốn Đông Nam Á là một khu vực hòa bình, tự do và trung lập Ấn Độ hy vọng rằng hợp tác tiểu vùng sẽ phát triển thành ý thức khu vực

để loại bỏ sự can thiệp từ các thế lực bên ngoài, xây dựng ASEAN vững mạnh, đoàn kết

Tháng 5 - 1979, Đặc phái viên của Thủ tướng Morarji Desai, thành viên Quốc hội và cựu Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ấn Độ, Shri Dinesh Singh, đã tới thăm Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam và Lào Qua các cuộc tiếp xúc với nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu các bộ của các nước gồm : Thủ tướng Singapore Lee Kuan Yew và Bộ trưởng Ngoại giao Ông S Rajaratnam, Thủ tướng Malaysia Datuk Hussein Onn, Bộ trưởng Tun Sri Gazali Shafie và Quyền Bộ trưởng Ngoại giao Dato Amar Haji Taib Mahmud, Phó Tổng thống Indonesia Adam Malik, Bộ trưởng Ngoại giao Mochter Kusumaatmadja và Bộ trưởng Thông tin Moertopo, Tổng thống Philippines Marcos và Bộ trưởng Ngoại giao Carlos P.Romulo; Thủ tướng Chính phủ Thái Lan Kriangsak Chomann, Bộ trưởng Ngoại giao Upadit Pachariyang-Kun,Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, Phạm Văn Đồng và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, Thủ tướng Lào, ông

Trang 31

Kaysone Phomvihane và Quyền Bộ trưởng Ngoại giao Khampay Boupha đại diện của Ấn Độ đã trao đổi với các nhà lãnh đạo các nước Đông Nam Á về quan hệ song phương cũng như về tình hình quốc tế, đặc biệt là phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế Ấn Độ với các nước Đông Nam Á [72, tr.11]

Bên cạnh đó, trong chính sách đối ngoại của mình, Ấn Độ không chỉ chú trọng chính sách chung cho toàn khu vực mà còn có chính sách riêng và biện pháp

cụ thể với từng nước ASEAN để tìm mọi cách gạt bỏ những bất đồng trong vấn đề Campuchia, biểu trưng cho nguyên tắc hòa bình, hữu nghị của Ấn Độ với tất cả các nước trong khu vực, mở đường cho các quan hệ khác phát triển

Ấn Độ coi ASEAN là một thực thể liên minh giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á nhưng tổ chức này không có đường lối độc lập vì bị Mỹ và Trung Quốc khống chế Trong các nước ASEAN, Indonesia là nước có đường lối độc lập

rõ hơn và có tham vọng đứng đầu khu vực đã đưa ra nhiều học thuyết và khái niệm

về trật tự khu vực (như Regional resilence, Zopfan) nhằm hạn chế đến mức tối thiểu ảnh hưởng của các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á Indonesia cũng thấy được vai trò của Việt Nam và muốn hợp tác với Việt Nam để ngăn chặn nguy cơ Trung Quốc Quan điểm của Indonesia được Malaysia và Philippines ủng hộ và gần với quan điểm của Ấn Độ Còn thái độ của Thái Lan và Singapore có phần cực đoan Xuất phát từ đánh giá đó, chính sách của Ấn Độ đối với từng nước ASEAN là : tranh thủ Indonesia, Malaysia để hạn chế bớt thái độ tiêu cực của Thái Lan và Singapore, chống lại âm mưu của Trung Quốc gây căng thẳng triền miên ở khu vực, phá hoại hòa bình, an ninh khu vực Đối với Thái Lan và Singapore, Ấn Độ tránh để xảy ra va chạm vì Ấn Độ đang cần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế

Quan hệ Ấn Độ - ASEAN căng thẳng từ sau khi Ấn Độ công nhận Cộng hòa nhân dân Campuchia, không đồng tình với ASEAN gây sức ép chống Việt Nam trong vấn đề này Các nước ASEAN phản ứng dữ dội, nhiều lần gây sức ép buộc Ấn

Độ phải thay đổi lập trường đối với vấn đề Campuchia Song, Ấn Độ vẫn giữ vững lập trường của mình, đồng thời tranh thủ sự gần gũi về quan điểm giữa Ấn Độ với Indonesia và Malaysia để hạn chế bớt sự phản ứng của ASEAN chống Ấn Độ

Trang 32

Chuyến thăm các nước Đông Nam Á của Thủ tướng I.Gandhi (9 - 1981) là

để thuyết phục các nước này thông cảm với quan điểm của Ấn Độ về Đông Nam Á

và Campuchia, bình thường hóa quan hệ với ASEAN, tăng cường quan hệ kinh tế song phương Bà I.Gandhi phát biểu:

“Trong khi vẫn còn có những bất đồng về vấn đề Đông Dương, chúng ta hãy tìm kiếm cái mà chúng ta có thể nhất trí, và tôi cho rằng chúng ta hãy tìm kiếm trong lĩnh vực hợp tác và cố mở rộng lĩnh vực hợp tác đó”[48]

Sau chuyến thăm này của Thủ tướng I.Gandhi, quan hệ Ấn Độ - ASEAN dần được khai thông, hình ảnh Ấn Độ được cải thiện hơn trong nhìn nhận của các nước ASEAN

Trong năm 1982, một số lượng chưa từng có các chuyến thăm giữa Ấn Độ và Indonesia, đó là chuyến thăm của Chủ tịch Hội chợ Triển lãm Thương mại Ấn Độ (5 - 1982), Thủ tướng Ấn Độ, I.Gandhi (9 - 1982), chuyến thăm của Bộ trưởng Bộ Thương mại Ấn Độ (11 - 1982) và của nguyên thủ Ấn Độ (12 - 1982) Nội dung chính được thảo luận trong những chuyến thăm này nhấn mạnh mong muốn phát triển hơn nữa mối quan hệ gần gũi và thân thiện giữa hai nước

Đáp lại thiện tình của Chính phủ Ấn Độ, Indonesia cũng đã cử các đoàn quan chức cấp cao sang thăm Ấn Độ, đó là: tháng 1 - 1985, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Indonesia, ông Kusumaatmadja đã tổ chức các cuộc thảo luận về Hội nghị Bandung

ở New Delhi và mang thông điệp của Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ về cho Tổng thống Soeharto trong vấn đề Campuchia cũng như quan điểm của Ấn Độ về một Đông Nam Á hòa bình, độc lập và hợp tác hữu nghị Tháng 4 - 1985, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Indonesia, Mochtar Kusumaatmadja đã đến Ấn Độ để tham gia điều phối Hội nghị Không liên kết

Riêng Thái Lan mặc dù ban đầu quan điểm hơi cực đoan trong đánh giá tình hình chính trị của khu vực và về Ấn Độ, nhưng lúc này cũng đã đánh giá đúng vai trò của Ấn Độ trong vấn đề Campuchia và an ninh khu vực Tháng 1 - 1985, Phó Thủ tướng Thái Lan, ông Bhitchai Rattakul thăm New Delhi Ngay sau đó, tháng 3 -

Trang 33

1985, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Thái Lan, Marshal Savetsilla viếng thăm Ấn Độ Trong không khí thân mật và gần gũi hai bên đã trao đổi quan điểm về nhiều vấn đề trong quan hệ song phương, khu vực và quốc tế đang diễn ra mà cả hai cùng quan tâm Từ đó, một quy ước tránh đánh thuế hai lần đã được ký kết bởi Bộ trưởng Bộ Tài chính hai nước.[76]

Tháng 8 - 1985, Đặc phái viên của Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ, ông Shri

AP Venkateshwaran đã đến thăm Indonesia, Malaysia và Singapore để thảo luận với các nhà lãnh đạo các nước này về các vấn đề liên quan đến nội dung của Hội nghị Cấp cao Không liên kết sắp diễn ra Trong các cuộc thảo luận với các quan chức Bộ Ngoại giao, các chủ đề song phương và khu vực được đưa ra thảo luận và cuối cùng các bên nhất trí rằng Campuchia không nên đi vào con đường cải thiện quan hệ song phương vì vấn đề Campuchia đã không còn là vấn đề tranh chấp song phương nữa mà liên quan đến khu vực và quốc tế

Tháng 11 - 1985, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Malaysia, Tengku Ahmad Rithauddeen viếng thăm Ấn Độ Các cuộc đàm phán đã được tổ chức giữa Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Malaysia và Bộ trưởng Bộ ngoại Ấn Độ trên một phạm vi rộng của các vấn đề bao gồm các khía cạnh quan hệ song phương và các vấn đề quốc tế và khu vực

Ngày 16 - 11 - 1985, Tổng thống Indonesia, Soeharto đã đến thăm Ấn Độ Chuyến thăm này đã mở ra cơ hội cho các cuộc hội đàm giữa chính phủ hai nước, qua đó những hiểu lầm về quan điểm khu vực và thế giới của hai nước được gỡ bỏ dần, quan hệ truyền thống giữa Ấn Độ và Indonesia tiếp tục được cải thiện và phát triển

Ngày 1 - 1 - 1984, Brunei trở thành thành viên thứ sáu của ASEAN và cũng

là hội viên của Liên Hợp Quốc Ấn Độ tuyên bố hoan nghênh nền độc lập của Brunei và Thủ tướng Ấn Độ đã gửi điện thư chúc mừng Quốc vương Brunei về sự kiện quan trọng này Cũng trong năm này, Bộ trưởng Bộ Y tế và Phúc lợi gia đình, SMT Mohsina Kidwai dẫn đầu phái đoàn Ấn Độ tham dự lễ kỷ niệm mừng Ngày Độc lập của Brunei.[75]

Trang 34

Ấn Độ còn giữ mối quan hệ tốt đẹp với các nước khác của Đông Nam Á, nhất là với các nước Đông Dương

Tháng 12 - 1985, nhân kỷ niệm kỷ niệm 10 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ, ông Shri KR Narayanan đã có chuyến thăm Viêng Chăn Điều đáng nói là Ấn Độ là quốc gia duy nhất bên ngoài khối xã hội chủ nghĩa được mời tham dự buổi lễ Trong bài phát biểu của mình, ông Kaysone Phomvihane, Tổng Bí thư Đảng Cách mạng Lào, đánh giá cao sự hợp tác toàn diện của Ấn Độ với Lào và những hoạt động của Ấn Độ trong Phong trào Không liên kết.[75]

Năm 1985, Thủ tướng I.Gandhi sang thăm Việt Nam trong sự đón tiếp nồng hậu của tình đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân hai nước từ lâu Chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ thắt chặt quan hệ hữu nghị hai nước mà còn là cầu nối Việt Nam với các nước ASEAN

Những nỗ lực của Ấn Độ trong việc hàn gắn, phát triển mối quan hệ truyền thống với các nước khu vực Đông Nam Á thông qua các chuyến thăm các cấp với tổ chức ASEAN và từng nước thành viên được xem là sự liên hệ trực tiếp để thúc đẩy các mục đích chính trị và kinh tế hiệu quả

1.1.2.2 Ấn Độ trong việc gắn kết ASEAN với các nước Đông Dương

Quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ 1975 đến 1991 có thể nói là nốt trầm trong quan hệ chính trị Bởi lẽ, đây là giai đoạn bất ổn, căng thẳng trong khu vực Đông Nam Á : sự đối đầu của hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương, nhất là sự kiện Campuchia (1979) chi phối đời sống chính trị khu vực

Từ sau thắng lợi của ba nước Đông Dương (1975), Đông Nam Á là khu vực xảy ra tranh chấp thường xuyên và quyết liệt của các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Liên Xô, nhất là Mỹ và Trung Quốc đã hình thành liên minh chặt chẽ với nhau để phá hoại hòa bình của khu vực từ bên trong trong việc khoét sâu mâu thuẫn các nước có chế độ xã hội khác nhau Quan điểm của Ấn Độ là muốn có hòa bình, ổn định thì điều kiện trước tiên cần phải có là các nước có chế độ xã hội khác

Trang 35

nhau trong khu vực cần tồn tại hòa bình, giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình Điều này càng có ý nghĩa quan trọng ở Đông Nam Á, vì các thế lực

đế quốc và phản động luôn luôn tìm cách lôi kéo các nước ASEAN đối đầu với Đông Dương Ấn Độ ủng hộ xu hướng đối thoại giữa hai nhóm nước để tạo ra hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á và Ấn Độ muốn đóng vai trò hòa giải để thúc đẩy xu hướng này, qua đó nâng cao uy tín của Ấn Độ ở khu vực, trong phong trào Không liên kết, tạo điều kiện thuận lợi đầu tư và phát triển thương mại với các nước Đông Nam Á Muốn vậy, Ấn Độ đã tăng cường quan hệ tốt đẹp với Việt Nam và Đông Dương, chỉ khi Đông Dương lớn mạnh, đoàn kết chặt chẽ với nhau là nhân tố đảm bảo hòa bình, ổn định ở khu vực Thực tế là trong thời gian này, quan hệ chính trị

Ấn Độ - Việt Nam phát triển hơn bao giờ hết, hai nước có nhiều điểm tương đồng trong quan điểm giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực Ấn Độ đẩy mạnh quan

hệ với Việt Nam và Indonesia để tạo ra một thế cân bằng vững chắc trong khu vực làm đối trọng với các thế lực phản động ở khu vực và tạo ra nhân tố thúc đẩy xu thế đối thoại Theo quan điểm của Ấn Độ khi nhìn nhận và tìm cách giải quyết mâu thuẫn giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á cần chú trọng quan hệ Indonesia - nước đứng đầu nhóm không cộng sản và Việt Nam - nước đứng đầu nhóm nước cộng sản

Trong các nước ASEAN, Ấn Độ đặc biệt chú trọng quan hệ với Indonesia vì Indonesia là nước lớn trong khu vực, có lợi ích giống Ấn Độ trong việc biến Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, tự do và trung lập, cùng có lợi ích trong việc tranh thủ Việt Nam chống nguy cơ Trung Quốc Do đó, Indonesia có thể đóng vai trò như chiếc cầu nối để hòa giải mâu thuẫn giữa Ấn Độ với ASEAN, Ấn Độ cần tranh thủ Indonesia để phân hóa nội bộ ASEAN với Mỹ và Trung Quốc, thúc đẩy xu hướng độc lập, bớt phụ thuộc vào phương Tây trong các nước ASEAN

Ấn Độ chú ý đến sự chuyển biến mạnh mẽ trong thái độ của Indonesia và phần lớn các nước ASEAN trong vấn đề Campuchia Indonesia và Malaysia đều công khai tuyên bố rõ Trung Quốc là nguy cơ chính, đòi gạt Polpot và muốn đứng

ra làm trung gian hòa giải vấn đề Campuchia Ấn Độ khuyến khích Indonesia tăng

Trang 36

cường quan hệ với Việt Nam và đồng thời khuyên Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Indonesia nhằm thúc đẩy xu thế đối thoại, giảm tình hình căng thẳng ở khu vực

Trong vấn đề Campuchia, Ấn Độ nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình cho vấn

đề khu vực vì theo Ấn Độ vấn đề Campuchia là xung đột nội bộ khu vực nhưng thực tế sự kiện này đã trở thành vấn đề thời sự quốc tế nên tìm ra giải pháp giải quyết thỏa đáng vấn đề này sẽ rất phức tạp và mất nhiều thời gian, do đó cần có một giải pháp khôn khéo Thực tế, vấn đề Campuchia sẽ không căng thẳng đến nỗi làm rạn nứt quan hệ truyền thống vốn tốt đẹp của khu vực nếu không có sự can thiệp của các nước lớn đại diện cho ý thức hệ khác nhau cùng khoét sâu vào mâu thuẫn này

Quan tâm trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á, Ấn Độ tích cực hỗ trợ các nước trong việc giải quyết các vấn đề của khu vực và tìm ra giải pháp hòa dịu sự khác biệt của họ thông qua hợp tác đối thoại song phương để Đông Nam

Á có thể trở thành một khu vực tự do, hòa bình và trung lập Tại Hội nghị đại sứ Ấn

Độ tháng 7 – 1977, quan điểm của Ấn Độ là: « Với tư cách là một người bạn và

người có những mong muốn tốt của cả ASEAN và Đông Dương, Ấn Độ có thể đóng góp vai trò của mình trong việc xua tan những mới nghi ngờ kéo dài giữa họ ».[43]

Ấn Độ cho rằng chính sự phát triển của Đông Nam Á sẽ cho phép các nước tìm ra các giải pháp mà khu vực đang đối mặt Trong Tuyên bố chính trị của Ấn Độ tại Hội nghị lần thứ VII (1983) phong trào Không liên kết, Ấn Độ cho rằng một giải pháp chính trị hòa bình là phù hợp nhất cho việc giải quyết mọi bất hòa ở Đông Nam Á Đặc biệt, Ấn Độ tin rằng sự tham gia đối thoại của tất cả các nước trong khu vực sẽ tìm ra được tiếng nói chung cho vấn đề Campuchia, từ đó thiết lập nền hòa bình ổn định bền vững trong khu vực, cũng như loại bỏ sự can thiệp và các mối

đe dọa của các cường quốc bên ngoài

Bên cạnh việc kêu gọi các bên liên quan cần thương lượng và nhìn nhận vấn

đề một cách khách quan, đúng đắn, tránh lún sâu vào âm mưu của các thế lực phản động, bản thân Ấn Độ ngay từ đầu đã công nhận Chính phủ Cộng hòa nhân

Trang 37

Campuchia và tại các hội nghị, diễn đàn khu vực và thế giới Ấn Độ tích cực bảo vệ quan điểm của mình và lên án sự cấu kết của các nước lớn hòng phá hoại nền hòa bình của khu vực Đông Nam Á

Khác với quan điểm của các nước ASEAN cho rằng sự có mặt của quân đội Việt Nam ở Campuchia là nguyên nhân chính gây ra tình hình căng thẳng và không

ổn định ở Đông Nam Á, đe dọa an ninh của Thái Lan, Ấn Độ cho rằng tình hình đó

là do âm mưu và hành động của Trung Quốc cấu kết với Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược các nước Đông Dương và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước ASEAN Việc Việt Nam giúp đỡ nhân dân Campuchia tiêu diệt chế độ Polpot, tay sai của Trung Quốc là phù hợp với lợi ích của hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á Chống lại xu thế đối đầu và ủng hộ xu thế đối thoại ở Đông Nam Á, Ấn Độ đã nhất trí với các nước Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng về việc tăng cường những cố gắng để thúc đẩy xu thế đối thoại phát triển Trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á (1981) và dự Hội nghị khối liên hiệp Anh, Thủ tướng I.Gandhi đã phát biểu:« Nếu không có sự can thiệp của quân đội Thái Lan vào thì Việt Nam đã không phải duy trì sự có mặt quân sự của họ ở Campuchia » [48]

Và bà kêu gọi: « các nước ASEAN nên đi đến một giải pháp thông qua

thương lượng vì lợi ích chung, hòa giải với Việt Nam, Lào, Campuchia thì ASEAN mới có thể có được một bầu không khí tin cậy lẫn nhau để hợp tác khu vực » [48]

Tại Liên hiệp quốc, Ấn Độ bỏ phiếu chống lại việc duy trì chiếc ghế của Campuchia cho các lực lượng Khơme phản động và tuyên bố chống lại mọi âm mưu định làm đảo ngược tình hình ở Campuchia Tại Hội nghị cấp cao Không liên kết lần thứ VII họp tại New Delhi (1983), Ấn Độ đã phối hợp với Việt Nam làm bại

âm mưu của các nước ASEAN, Trung Quốc, Mỹ định xóa bỏ nghị quyết đã được đưa ra tại Hội nghị cấp cao Không liên kết lần VI (1976) để giành chiếc ghế của Campuchia tại Liên hiệp quốc cho chính quyền phản động

Trang 38

Lập trường tích cực và thiện chí của Ấn Độ đã có tác dụng thúc đẩy xu thế tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nước trung gian và các nước ASEAN Xu thế đối đầu giảm đi và xu hướng tích cực chủ trương đối thoại giữa các nước trong khu vực dần dần phát triển

Đồng thời, Ấn Độ còn nỗ lực hướng tới việc tìm kiếm một giải pháp đàm phán hòa bình ở Campuchia liên quan đến tất cả các bên Thông qua các chuyến thăm cấp cao, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước Đông Nam Á và khu vực Thái Bình Dương Ngoài các vấn đề song phương và quốc tế, các vấn đề khu vực đã được thảo luận trong các chuyến thăm, bao gồm cả vấn đề Campuchia Mặc dù không có giải pháp nào được tìm thấy, nhưng đã có một số tiến triển tích cực Các quốc gia ASEAN và các nước Đông Dương đã đưa ra đề xuất tổ chức các cuộc đàm phán khác nhau với mong muốn chung cơ bản là tìm ra một giải pháp thỏa đáng

Tháng 8 - 1985, một đoàn đại biểu ASEAN bao gồm ba thành viên từ Malaysia, Singapore và Brunei, dẫn đầu bởi Đại sứ Talala của Malaysia đã đến thăm Ấn Độ, để giải thích quan điểm của ASEAN về vấn đề Campuchia Đây là chuyến thăm đầu tiên tới Ấn Độ của một phái đoàn đại diện cho ASEAN và đại diện cho sự nhìn nhận và hiểu biết của ASEAN về nguyên tắc của Ấn Độ trong vấn

đề này.[75]

Ngày 27 - 11 - 1985, Thủ tướng Ấn Độ tới Hà Nội để thảo luận với các nhà lãnh đạo Việt Nam để sớm tìm ra giải pháp vấn đề Campuchia Các nhà lãnh đạo Việt Nam khẳng định rằng các nước Đông Dương đã chuẩn bị sẵn sàng để mở các cuộc đàm phán với các quốc gia ASEAN để thúc đẩy việc tìm ra một giải pháp chính trị, đồng thời Việt Nam cam kết rút quân khỏi Campuchia vào năm 1990 hoặc thậm chí sớm hơn trong trường hợp có một giải pháp chấp nhận được tìm ra

Trong tháng 4, 5 và 7 - 1987, các chuyến thăm của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

Ấn Độ, Shri K Natwar Singh đến ASEAN và các quốc gia Đông Dương, tạo ra một

Trang 39

sự hiểu biết tốt hơn giữa ASEAN và các quốc gia Đông Dương, thúc đẩy một cuộc đối thoại giữa các phe phái Campuchia Ấn Độ đã hỗ trợ và giúp đỡ để thúc đẩy cuộc đối thoại giữa Hoàng tử Sihanouk và Thủ tướng Hun Sen của nước Cộng hòa nhân dân Campuchia Đây được xem là một bước đột phá trong chín năm bế tắc, điều này đồng nghĩa với việc hé mở một hướng đi mới cho việc giải quyết vấn đề bất ổn của khu vực.[77]

Những nỗ lực ngoại giao của Ấn Độ đã làm cho các nước trong khu vực hiểu hơn về quan điểm, thiện chí của Ấn Độ Do vậy, đã có sự tương tác đối thoại hai chiều ngày càng tốt đẹp giữa các nước

Ngày 15, 16 - 7 - 1988, cuộc họp quan chức cấp cao được tổ chức ở New Delhi với các bên tham gia bao gồm cả Hoàng tử Sihanouk, Thủ tướng Campuchia Hun Sen và các nhà lãnh đạo ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc và ASEAN

Sau đó, từ ngày 15 đến 17 - 8 - 1988, cuộc họp lần thứ hai tổ chức tại Harare Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao NAM tại Nicosia xem xét Báo cáo của Hội nghị quan chức cao cấp và thiết lập một ủy ban NAM tại Campuchia mà bây giờ đã mười bốn thành viên

Ngày 16, 17 - 11 - 1988, Thủ tướng Chính phủ Campuchia, ông Hun Sen đến thăm và làm việc ở Ấn Độ Ngoài việc thảo luận về quan hệ song phương, mục đích của chuyến thăm này là tham khảo ý kiến với các nhà lãnh đạo Ấn Độ về vấn đề Campuchia

Trong tháng 12 - 1988, Shri K Natwar Singh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thăm các nước Việt Nam, Lào, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Singapore để thảo luận về sự tiến bộ trong việc giải quyết vấn đề Campuchia Bộ trưởng cũng đã thông báo cho các chính phủ về ý kiến của các nước lớn trong các chuyến thăm quan trọng của Tổng thống Gorbachev ở Ấn Độ và tổ chức tham vấn các chuyến thăm lịch sử của Thủ tướng Chính phủ Trung Quốc [78]

Từ 5 - 1989 trở đi, hai bên Campuchia liên tiếp gặp nhau Trong Hội nghị ở Băng cốc (Thái Lan) về vấn đề Campuchia, hai bên đồng ý thành lập một Hội đồng dân tộc tối cao gồm 12 thành viên chia đều cho hai bên, hai bên cũng thỏa thuận về

Trang 40

Campuchia phải do một Hội nghị quốc tế bảo đảm, một bộ máy quốc tế giám sát việc thực hiện những thỏa hiệp

Trên cơ sở đó, từ ngày 30 - 1 đến 1 - 8 - 1989, Hội nghị quốc tế về Campuchia được tổ chức tại Pari với sự tham gia của 17 quốc gia, trong đó có Ấn

Độ - Chủ tịch Phong trào Không liên kết, Tổng thư ký Liên hợp quốc Thảo luận về một giải pháp Campuchia tiếp tục tại các diễn đàn khác nhau bao gồm các cuộc họp khu vực và các cuộc họp của năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P-5) Ấn Độ đã tích cực tham gia trong cuộc thảo luận về đề nghị này và bày tỏ quan ngại về một số vấn đề bao gồm sự cần thiết phải giải quyết để phù hợp với tôn trọng chủ quyền Campuchia Tầm quan trọng của những mối quan tâm đã được công nhận [79]

Tháng 9 - 1990, cuộc họp của quan chức cấp cao các nước P-5 để thảo luận

về vấn đề này tổ chức tại Jakarta

Từ ngày 7 đến 11 - 10 - 1990, Thủ tướng Hun Sen đã đến thăm và làm việc tại Ấn Độ Các cuộc thảo luận đã tổ chức về các vấn đề song phương cũng như triển vọng cho việc giải quyết những xung đột Campuchia Thủ tướng Hun Sen nhấn mạnh tầm quan trọng của Ấn Độ tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề Campuchia.[80]

Ấn Độ tiếp tục đóng đến trò tích cực để đạt được một giải pháp đàm phán hòa bình ở Campuchia thông qua sự tương tác chính thức và tham vấn thường xuyên với các nhà lãnh đạo ở các nước có liên quan

Tháng 11 - 1990, Ấn Độ tham gia cuộc họp dự thảo tại Jakarta để đạt được những thỏa thuận cuối cùng

Tiếp đó, từ ngày 6 đến 11 - 1 - 1991, Thư ký Chính phủ Ấn Độ, Shri LL Mehrotra thăm Campuchia và Việt Nam Các vấn đề song phương cũng đã được thảo luận Ấn Độ sẽ tiếp tục tích cực tham gia thảo luận tại các cuộc họp sắp tới của

Ủy ban Phối hợp tại Hội nghị Paris, dự kiến sẽ diễn ra tại Paris vào đầu năm 1991

Ngày 23 - 10 - 1991, trong phiên họp cuối cùng của Hội nghị quốc tế Pari về Campuchia, các bên tham gia đã ký bốn văn kiện: Hiệp định về một giải pháp toàn

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG QUI ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - quan hệ ấn độ   việt nam trong bối cảnh quan hệ ấn độ   asean giai đoạn 1975   1991
BẢNG QUI ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT (Trang 7)
Bảng 1: Tổng giá trị ngoại thương Ấn Độ và ASEAN từ 1976 – 1979 (Tỷ  USD) - quan hệ ấn độ   việt nam trong bối cảnh quan hệ ấn độ   asean giai đoạn 1975   1991
Bảng 1 Tổng giá trị ngoại thương Ấn Độ và ASEAN từ 1976 – 1979 (Tỷ USD) (Trang 50)
Bảng 2: Thương mại Ấn Độ - ASEAN trong bối cảnh toàn cầu từ 1974 đến - quan hệ ấn độ   việt nam trong bối cảnh quan hệ ấn độ   asean giai đoạn 1975   1991
Bảng 2 Thương mại Ấn Độ - ASEAN trong bối cảnh toàn cầu từ 1974 đến (Trang 52)
Bảng 4 : Tỉ lệ tăng trưởng thương mại Ấn Độ với thế giới, các nước khu vực Đông  Nam Á    từ 1975 đến 1990 (tỉ lệ %) - quan hệ ấn độ   việt nam trong bối cảnh quan hệ ấn độ   asean giai đoạn 1975   1991
Bảng 4 Tỉ lệ tăng trưởng thương mại Ấn Độ với thế giới, các nước khu vực Đông Nam Á từ 1975 đến 1990 (tỉ lệ %) (Trang 53)
Bảng 5 : So sánh Thương mại Ấn Độ với các khu vực trên thế giới trong hai  năm 1980 và 1990 (tỉ lệ %) - quan hệ ấn độ   việt nam trong bối cảnh quan hệ ấn độ   asean giai đoạn 1975   1991
Bảng 5 So sánh Thương mại Ấn Độ với các khu vực trên thế giới trong hai năm 1980 và 1990 (tỉ lệ %) (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w