Công trình do Nguyễn Hoàng Giáp chủ biên, Cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á giữa một số nước lớn hiện nay, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013 trình bày cạnh tranh ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THẾ CƯỜNG
NGHỆ AN - 2014
Trang 3Trong thời gian học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn “Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013”, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo, các cấp lãnh đạo, gia đình, anh chị
em, bạn bè đồng nghiệp.
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn đối với: Ban giám hiệu, các phòng, khoa, Hội đồng khoa học của trường Đại học Vinh; các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn; đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Lê Thế Cường đã dành nhiều thời gian, tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ Văn phòng Thông Tấn Xã Việt Nam, Thư viện Học Viện Ngoại Giao Hà Nội, Thư viện trường Đại học Vinh đã cung cấp thông tin, số liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình học tập, nghiên cứu tôi đã có nhiều cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Vũ Thị Phương Thanh
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Bố cục luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HOA KỲ -VIỆT NAM TỪ NĂM 2009 ĐẾN NĂM 2013 8
1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực 8
1.2 Khái quát quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trước năm 2009 11
1.3 Chính sách xoay trục sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ và vị trí của Việt Nam 17
1.4 Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh mới 25
Tiểu kết 28
Chương 2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM TỪ NĂM 2009 ĐẾN NĂM 2013 29
2.1 Quan hệ chính trị, quốc phòng - an ninh 29
2.1.1 Chính trị - ngoại giao 29
2.1.2 Quốc phòng –an ninh 36
2.2 Quan hệ hợp tác kinh tế 43
2.2.1 Thương mại 43
2.2.2 Đầu tư 49
2.3 Quan hệ hợp tác về văn hoá, xã hội và các lĩnh vực khác 57
2.3.1 Văn hóa, giáo dục 57
2.3.2 Khoa học công nghệ 62
2.4 Hợp tác giải quyết những tồn đọng về xã hội, nhân đạo 68
Tiểu kết 74
Trang 53.1 Nhận xét về những chuyển biến trong quan hệ Hoa Kỳ - Việt
Nam từ 2009 đến 2013 753.2 Những thuận lợi và tồn tại, thách thức trong quan hệ Hoa Kỳ -
Việt Nam 933.3 Triển vọng của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam 96
KẾT LUẬN 102 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC 114
Trang 6Bảng 2.1 Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu Hoa Kỳ - Việt Nam so
sánh với một số đối tác thương mại hàng đầu của ViệtNam năm 2009 43Bảng 2.2 Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu Hoa Kỳ - Việt Nam so
sánh với một số đối tác thương mại hàng đầu của ViệtNam năm 2010 45Bảng 2.3 Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu Hoa Kỳ - Việt Nam so
sánh với một số đối tác thương mại hàng đầu của ViệtNam năm 2011 45Bảng 2.4 Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu Hoa Kỳ - Việt Nam so
sánh với một số đối tác thương mại hàng đầu của ViệtNam năm 2012 46Bảng 2.5 Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu Hoa Kỳ - Việt Nam so
sánh với một số đối tác thương mại hàng đầu của ViệtNam năm 2013 47Bảng 2.6 Danh mục 10 mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang
Hoa Kỳ trong năm 2012 và 2013 48Biểu đồ 2.7 Tỷ trọng các mặt nhập khẩu chính từ Hoa Kỳ vào Việt Nam
48Bảng 2.8 Đầu tư FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam năm 2008 52Bảng 2.9 Số dự án đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam (1/1/2012-
20/9/2012) 52Bảng 2.10 Đầu tư FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam phân theo ngành
kinh tế 53Bảng 2.11 Đầu tư FDI của Việt Nam phân theo nước tiếp nhận đầu tư
55Bảng 3.1 Tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu giữa Việt Nam và Hoa Kỳ giai đoạn 2007 đến 2013 88
Trang 7Biểu đồ 3.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Việt
Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2010 - 2013 88
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày 11/7/1995, quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ - Việt Nam chính thứcđược thiết lập, chấm dứt một thời kỳ đối địch sau một cuộc chiến tranh khốcliệt dài tới 3 thập kỷ Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ W I.Clinton (2000) đã khép lại một cách đầy ý nghĩa thế kỷ XX và mở ra một bứctranh mới trong quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI.Một bức tranh đa sắc màu phát triển trên các lĩnh vực: Chính trị - ngoại giao,kinh tế, văn hoá - xã hội, nhân đạo, khoa học công nghệ Việc nghiên cứu mốiquan hệ này trong thời kỳ mới trở nên cần thiết và bổ ích
Sau khi lên nắm quyền năm 2009, cùng với sự trỗi dậy và chính sáchđối ngoại cường quyền của Trung Quốc, Tổng thống Mỹ Obama đã có sựthay đổi mạnh mẽ về chính sách đối ngoại, xoay trục và tái cân bằng lựclượng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Sự thay đổi chính sách của Mỹ
đã thúc đẩy quá trình khẳng định lại các giá trị cường quốc khu vực, thắt chặtquan hệ đồng minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin và tái cấu trúc các mốiquan hệ với các nước khác trong khu vực này
Trong xu thế đó, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam được thúc đẩy lên mộttầm cao mới: quan hệ đối tác toàn diện Trong một thời gian ngắn từ năm
2009 đến 2013, một loạt các vướng mắc trong quan hệ hai nước lần lượt đượctháo gỡ hoặc có điều kiện thuận lợi để giải quyết, quan hệ chính trị, kinh tế,văn hóa - xã hội có những chuyển biến nhanh chóng Nghiên cứu mối quan hệHoa Kỳ - Việt Nam trong giai đoạn (2009 - 2013), nhằm tìm hiểu những nhân
tố bên trong và bên ngoài, những thành tựu và hạn chế của mối quan hệ nàytrở nên cần thiết, có giá trị khoa học và thực tiễn
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung diễn ra quyết liệt, làmột quốc gia được xem “nằm ở vị trí quốc gia trung gian”, Việt Nam đangđứng trước những thách thức gay gắt về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đặcbiệt là vấn đề Biển Đông Trong bối cảnh đó việc đẩy mạnh quan hệ với Mỹtrong khuôn khổ chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệđối ngoại nhằm bảo vệ và phát triển đất nước là điều kiện tối quan trọng Đềtài nghiên cứu quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ 2009 đến 2013 nhằm nhìn nhận
Trang 9rõ hơn chính sách của mỗi nước, triển vọng và thách thức của mối quan hệnày trong bối cảnh phức tạp của quan hệ quốc tế trong khu vực
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài
“Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013” làm đề tài luận
văn thạc sĩ Lịch sử, với hy vọng đóng góp phần nhỏ của mình vào việc nghiêncứu quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, đồng thời phục vụ công tác nghiên cứu vàgiảng dạy của bản thân sau này
Công trình do Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), Cạnh tranh chiến lược
ở khu vực Đông Nam Á giữa một số nước lớn hiện nay, NXB Chính trị quốc
gia – Sự thật, Hà Nội, 2013 trình bày cạnh tranh chiến lược của các nước Mỹ,Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Tây Âu, Nhật Bản ở khu vực Đông Nam Á trước
2011, trong đó có đề cập khái lược chính sách của Mỹ đối với Việt Nam
Công trình Góp phần tìm hiểu quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, NXB
Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2010 của Phạm Xanh đề cập đến lịch sửquan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, chủ yếu đề cập đến các cơ hội thúc đẩy quan hệhai nước bị bỏ lỡ, là cơ sở lịch sử cho việc nghiên cứu mối quan hệ này
Công trình Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt
Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội,
2006 do Nguyễn Xuân Sơn - Nguyễn Văn Du chủ biên đề cập đến chiến lượcđối ngoại của các nước lớn, trong đó có đề cập khái lược chính sách của Hoa
Kỳ ở Châu Á – Thái Bình Dương, có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của
đề tài
Công trình do Bùi Thị Phương Lan chủ biên, Quan hệ Việt Nam - Hoa
Kỳ (1994 - 2010) Nxb Khoa học xã hội, 2011 trình bày quan hệ hai nước trên
tất cả các lĩnh vực từ 1994 đến 2010, tạo cơ sở cho tác giả nghiên cứu kế thừa
đề tài này giai đoạn 2009 – 2013
Công trình của Vũ Thị Thu Giang, Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm
1995 đến năm 2005, Luận án Tiến sĩ Sử học, Viện Sử học, 2011 trình bày
Trang 10tương đối toàn diện quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ sau khi bình thường hóaquan hệ đến năm 2005, giai đoạn 2009 đến 2013 không được đề cập tới.
Công trình của Lê Thiết Hùng, Quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam
(2000 - 2012), Luận án Tiến sĩ Sử học, Đại học Huế, 2013 trình bày chuyên
sâu về hợp tác kinh tế Việt Nam và Hoa Kỳ, là cơ sở để tác giả kế thừa khithực hiện đề tài này
Ngoài ra còn có nhiều công trình có đề cập đến nhưng vấn đề mà đề tài
quan tâm như: Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007; Nguyễn Tuấn Minh (2002), Quan hệ
Mỹ - Việt : Cánh nhìn và đánh giá từ phía người Mỹ, Đề tài khoa học cấp
viện, Viện nghiên cứu châu Mỹ, Hà Nội; Nguyễn Thái Yên Hương và Tạ
Minh Tuấn (đồng chủ biên), (2011), Các vấn đề nghiên cứu về Hoa Kỳ, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
Về tạp chí cũng có nhiều bài viết trong và ngoài nước liên quan trực
tiếp đến đề tài như: Lê Thị Vân Nga (2010), Hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ:
Hiện tại và tương lai, Châu Mỹ ngày nay; Nguyễn Anh Cường (2011), Chính sách của Mỹ ở Biển Đông, Châu Mỹ ngày nay; Nguyễn Anh Cường (2012), Một số nhận thức trong lịch sử quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ thời kỳ đổi mới,
Châu Mỹ ngày nay; Nguyễn Tiết Hùng (2009), Bán phá giá và chống bán
phá giá ở Việt Nam, Châu Mỹ ngày nay; Nguyễn Thiết Sơn (2009), Quan hệ kinh tế Việt- Mỹ trong bối cảnh Mỹ điều chỉnh chính sách đối ngoại, Châu
Mỹ ngày nay; Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ của Vũ Khoan, Tạp chí cộng sản, số 15, 8-2000; Hiệp định thương mại Việt – Mỹ cơ hội và thách
thức của Bùi Đường Nghiêu, Tạp chí Châu Á- Thái Bình Dương, số 3-1999; Vài nét về lịch sử và cơ sở phát triển quan hệ Việt- Mỹ của Lê Khương Thuỳ,
Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 7 năm 2006; Hướng tới mối quan hệ Việt – Mỹ
ổn định và bền vững của Hải Sơn,Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 3(62), 2005)
…
Các học giả nước ngoài cũng rất quan tâm đến mối quan hệ giữa hainước trên nhiều góc độ khác nhau
Học giả James Bellacqua trong bài viết The China Factor in
U.S.-Vietnam Relations đăng trên chuyên san của Viện Nghiên cứu Trung Quốc
thuộc Hoa Kỳ tháng 3/2012 nhìn nhận quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong sự
Trang 11tương tác với nhân tố Trung Quốc, trong đó đề cập đến vị trí của Việt Namtrong cạnh tranh chiến lược Trung Quốc – Hoa Kỳ, đề cập đến các vấn đề BiểnĐông, cạnh tranh chiến lược ở Lào, nguồn nước sông Mê Kông… Đây là côngtrình có nguồn tư liệu phong phú, một số nhận định tương đối khách quan.
Học giả M.E.Manyin thuộc Hội đồng tư vấn chính sách Hoa Kỳ trongbáo cáo đặc biệt về châu Á gửi Thượng viện Hoa Kỳ ngày 19/6/2013 có bài
U.S.-Vietnam Relations in 2013: Current Issues and Implications for U.S Policy trình bày khá chi thiết thực trạng quan hệ hai nước Hoa Kỳ - Việt
Nam, chính sách và đề xuất xu hướng phát triển của mối quan hệ này Đây làcông trình có cách nhìn tổng quan về mối quan hệ, có giá trị đối với quá trìnhnghiên cứu đề tài
Một mảng tài liệu cũng rất quan trọng có liên quan trực tiếp đến đề tài
đó là các bài báo, các website chính thức của chính phủ hai nước, các chuyên
đề của Thông tấn xã Việt Nam đăng trên các ấn phẩm như Tin hàng ngày, Tàiliệu tham khảo đặc biệt… Trong đó, nổi bật là các bài phát biểu của Ngoạitrưởng H.R Clinton ngày 23/7/2010 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà
Nội, trên website của Chính phủ Hoa Kỳ; Tuyên bố chung Việt Nam – Hoa
Kỳ ngày 25/7/2013 trên website của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ; Thông
tấn xã Việt Nam, Những khía cạnh quân sự trong chiến lược xoay trục của
Mỹ sang châu Á, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 1/9/2013; Thông tấn xã
Việt Nam, Tái cân bằng ở châu Á với một nước Trung Quốc bất an, Tài liệu tham khảo đặc biệt ngày 1/9/2013; Việt Nam và Hiệp định TPP – Thách thức
và Cơ hội,
http://www.voatiengviet.com/content/vietnam-va-hiep-dinh-tpp-thach-thuc-va-co-hoi/1740230.html v.v Đây là nguồn tài liệu hết sức quantrọng trong quá trình thực hiện đề tài này
Qua nguồn tư liệu này, chúng tôi có thể tiếp cận được những quanđiểm, những đánh giá khác nhau của các học giả trong và ngoài nước về vấn
đề quan hệ giữa hai nước Hoa Kỳ - Việt Nam sau năm 2009, đặc biệt là một
số bài phát biểu về quan hệ hai nước
Điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước mà tác giả tậphợp, hệ thống được, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan
hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013 còn phân tán Các
Trang 12chuyên khảo, luận án mới chỉ hoặc là nghiên cứu giai đoạn trước năm
2009, hoặc là nghiên cứu một lĩnh vực trong mối quan hệ này, hoặc là đề cập mối quan hệ này trong các công trình về quan hệ quốc tế Việc hệ
thống và tái hiện lại mối quan hệ này trong thời kỳ (2009 - 2013) trở nêncần thiết và bổ ích
Thứ hai, đối với các nhà sử học nước ngoài, đã có nhiều bài viết nghiên
cứu về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013 nhưng chủyếu nhìn nhận vấn đề này từ góc độ chính trị, địa chính trị hoặc kinh tế -chính trị
Trên cơ sở kế thừa những công trình đã có, chúng tôi tiếp cận, tổnghợp, phân tích để hoàn thành luận văn này Chính vì những lý do nêu trên,
việc chọn đề tài “Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013”
nhằm đánh giá khách quan về quan hệ này là điều hết sức cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ 2009 đến 2013 nhằm dựng lại
bức tranh tổng thể về quan hệ hai nước trên lĩnh vực kinh tế, chính trị và vănhóa, xã hội Trên cơ sở đó, bước đầu rút ra một số nhận xét về đặc trưng,thuận lợi và thách thức, triển vọng và tác động của mối quan hệ này đối vớimỗi nước, khu vực và thế giới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài luận văn đặt ra một số nhiệm vụ sau:
Luận văn đi vào tìm hiểu khái quát những nhân tố tác động đến quan hệHoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013
Luận văn đi sâu vào tìm hiểu cụ thể những chuyển biến về quan hệ chínhtrị - ngoại giao, hợp tác kinh tế, hợp tác về văn hoá - xã hội, khoa học côngnghệ giữa hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam
Luận văn đưa ra những nhận xét và triển vọng quan hệ Hoa Kỳ - ViệtNam giai đoạn (2009 - 2013)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ giữa Hợp chúng quốcHoa Kỳ và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, luận văn nghiên cứu quan hệ giữa Hợp chúng quốc Hoa
Kỳ và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị
- quân sự, văn hoá, xã hội từ năm 2009 đến năm 2013, trong đó có chú ý đếntác động của chính sách xoay trục, tái cân bằng lực lượng của Hoa Kỳ đối vớiViệt Nam
Về thời gian, luận văn nghiên cứu quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam giaiđoạn từ năm 2009 đến năm 2013, tức là từ khi Tổng thống Obama lên nắmquyền tháng 1 năm 2009 đến chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước TrươngTấn Sang từ ngày 24 đến ngày 26 tháng 7 năm 2013, hai nước tuyên bố thiếtlập quan hệ đối tác toàn diện
Ngoài đối tượng nghiên cứu, giới hạn và nội dung nêu trên, những vấn
đề khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu:
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên cơ sở các nguồn tài liệu tin cậy đãđược công bố trong và ngoài nước:
- Các diễn văn, bài phát biểu, văn kiện ký kết nhân các chuyến thămcủa lãnh đạo cấp cao hai nước; tài liệu hồi ký của lãnh đạo cấp cao hai nước
- Các văn kiện, tuyên bố về đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ và Việt Nam
- Các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước đãcông bố thành sách chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành ở
Việt Nam như: Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu
Quốc tế; Tài liệu tham khảo tại Thông tấn xã Việt Nam; các luận văn thạc sĩ,
luận án Tiến sĩ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về các vấn đềquốc tế, về đường lối đối ngoại
Luận văn sử dụng các phương pháp chuyên ngành, chủ yếu sử dụngphương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic và các phương pháp bộmôn nhằm tái hiện một cách khách quan, khoa học về quan hệ Hoa Kỳ - ViệtNam từ năm 2009 đến năm 2013
Trang 14Luận văn cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế nhằmxem xét quan hệ hai nước Hoa Kỳ - Việt Nam dưới góc độ tổng quan tươngtác lợi ích địa chiến lược và địa chính trị trong khu vực Bên cạnh đó, cácphương pháp liên ngành khác như: tổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu,
so sánh và suy luận… cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề khoahọc đặt ra
6 Đóng góp của luận văn
Với hạn chế về nguồn tư liệu và năng lực bản thân, luận văn mongmuốn có một số đóng góp sau:
- Luận văn bước đầu hệ thống các tài liệu tham khảo trong và ngoàinước về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam (2009 - 2013) nhằm cung cấp lượngthông tin cần thiết cho những ai đi sâu nghiên cứu về vấn đề này, đồng thờiphục vụ công tác giảng dạy của tác giả ở trường phổ thông
- Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống, phục dựng bức tranhtoàn cảnh về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam (2009 - 2013)
- Trên cơ sở những cứ liệu lịch sử, luận văn bước đầu nêu những đặctrưng, thuận lợi và thách thức của mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đối với sựphát triển của mỗi nước
- Việc xem xét với cách tiếp cận tổng thể về quan hệ hai nước, luận văn tạođiều kiện để tác giả hướng tới nghiên cứu chính sách xoay trục, tái cân bằnglực lượng ở châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ và tác động của nó vớiViệt Nam
đến năm 2013Chương 3 Một số nhận xét về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm
2009 đến năm 2013
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM TỪ NĂM 2009 ĐẾN NĂM 2013
1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, sự vận động và phát triển của thếgiới chịu tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố
Trước hết, quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ với xu thế kháchquan đang lôi cuốn hầu hết tất cả các quốc gia vào vòng quay của nó Toàncầu hóa kinh tế với sự phổ biến nền kinh tế thị trường trên cấp độ toàn cầudiễn ra mạnh mẽ cùng với các quá trình tự do hóa kinh tế, tăng cường liên kếtkinh tế khu vực song phương và đa phương Quá trình toàn cầu hóa mặc dù cónhiều mâu thuẫn nhưng ngày càng mở rộng, có những tác động tích cực tớiviệc phân chia nguồn lực phát triển kinh tế một cách công bằng hơn, tạo ranền tảng cho một kết cấu đa cực trong quan hệ quốc tế Tính tập thể và luậtpháp trong quan hệ quốc tế được tiếp tục củng cố trên cơ sở thừa nhận nhữnghiểm họa chung của nhân loại Môi trường cạnh tranh, sự cân bằng dần dầnđược hồi phục kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Bên cạnh đó, toàn cầuhóa cũng có nhiều tiêu cực như: sự lan rộng các không gian xung đột trongnền chính trị thế giới, sự xuống cấp trong việc giải trừ vũ khí cũng như kiểmsoát vũ khí Cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới phát triển nhanh, nềnkinh tế thế giới đang trong bước chuyển sang kinh tế tri thức và xu thế nàykhông còn là vấn đề riêng của các nước phát triển Một siêu cường Mỹ khôngthể đứng ngoài vòng xoáy của sự vận động khách quan đó Một Việt Namđang trong quá trình hội nhập cũng không thể tách rời khỏi sự vận động củathế giới Toàn cầu hóa đẩy Mỹ và Việt Nam xích lại gần nhau hơn vì nhữngmục tiêu chung của hai nước
Bước sang thế kỷ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế ngày cànggia tăng, sức mạnh kinh tế của các quốc gia, khu vực đang ngày dần trở thànhyếu tố quyết định vị thế của họ trong cấu trúc quyền lực của thế giới Sự trỗidậy của Trung Quốc, Ấn Độ, Liên bang Nga đã đặt nước Mỹ đứng trướcnhững thách thức mới trên bàn cờ chiến lược quốc tế Cục diện thế giới đã và
Trang 16đang trải qua những thời điểm biến động với sự nổi lên của các cường quốcvới xu thế hình thành trật tự thế giới đa cực ngày càng hiện rõ Trong bối cảnh
đó, cạnh tranh chiến lược nhằm lôi kéo các quốc gia trung gian, xác định vị tríđịa chính trị của các nước lớn trong khu vực trở nên hết sức quan trọng Quan
hệ Mỹ - Việt với cấu trúc quan hệ giữa một siêu cường với một quốc gia đangphát triển ở khu vực Đông Nam Á - khu vực có vị trí địch chiến lược quantrọng và phát triển năng động nhất thế giới - trở nên hết sức quan trọng đốivới hai nước
Bên cạnh đó, thế giới cũng trải qua các cuộc khủng hoảng về lươngthực, về năng lượng, nghèo đói và dịch bệnh diễn ra tràn lan cùng với sự giatăng về bất bình đẳng giàu nghèo Rõ ràng là nhân loại đang tiến đến giới hạncủa thời khắc cần phải suy nghĩ về kiến trúc một hệ thống an ninh toàn cầumới dựa trên sự cân đối lợi ích một cách sáng suốt của tất cả các chủ thể củacấu trúc đó Cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu diễn ra từ tháng9/2008 đã tác động nặng nề đến kinh tế thế giới Khủng hoảng từ nguồn lươngthực đến nhiên liệu, từ tài chính đến chính trị, từ môi trường đến an ninh, ảnhhưởng trực tiếp đến sự sống còn của nhân loại Từ đầu năm đến hết tháng 5,khắp thế giới dường như chỉ tồn tại hai từ “lạm phát” Lạm phát tại nhữngquốc gia thuộc khu vực sử dụng đồng Euro đạt mức cao kỷ lục trong lịch sử.Tại châu Á, lạm phát đã lên tới 7,5% - gần bằng mức cao nhất trong 9 nămqua và cao gấp hơn 2 lần so với mức 3,6% của một năm trước, mà nguyênnhân chính là giá năng lượng và giá lương thực tăng cao Càng về cuối năm,cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ việc “vỡ nợ” tín dụng bất độngsản càng chứng tỏ sức tàn phá ghê gớm của nó với hệ thống tài chính thế giới.Nước Mỹ chiếm tới 25% GDP của toàn cầu và một tỷ lệ lớn hơn trong cácgiao dịch tài chính quốc tế, nên tác động của cuộc khủng hoảng ở Mỹ khôngchỉ ở trong nước Mỹ mà còn vượt cả ra ngoài biên giới Mỹ, tác động tới nhiềunền kinh tế khác trên thế giới Chính Mỹ rồi lần luợt đến Singapore, NhậtBản, rồi đến các nước dùng đồng euro cùng tuyên bố suy thoái Một loạt cácnước phải tung ra những gói hỗ trợ kinh tế nhiều tỷ USD mà đỉnh điểm là hồitháng 10, Cục dự trữ Liên bang Mỹ, Ngân hàng Trung ương châu Âu và 4ngân hàng trung ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất, nhằmgiảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ
Trang 17cuộc Đại suy thoái năm (1929 - 1933) Khủng hoảng xảy ra đặt ra nhữngthách thức mới, những vấn đề mới buộc tất cả các nước vừa phải hợp tác đốiphó vừa phải có những điều chỉnh sâu sắc trong chiến lược phát triển củamình.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã, đang và sẽ là khu vực trungtâm phát triển năng động của thế giới trong thế kỷ XXI có gắn bó chặt chẽ vớilợi ích của nước Mỹ Trung tâm của nền kinh tế toàn cầu đang chuyển từ Tâysang Đông với sự phát triển năng động của khu vực châu Á - Thái BìnhDương Mục tiêu của chiến lược xoay trục bên cạnh việc tái cân bằng lực
lượng về chính trị, quân sự, việc khẳng định vai trò siêu cường kinh tế nhằm
duy trì và phát triển thịnh vượng của châu Á - Thái Bình Dương là lợi íchsống còn đối với địa vị Mỹ trên bàn cờ chính trị khu vực Công cụ quyền lựcmềm về hợp tác kinh tế - xã hội sẽ có tầm quan trọng như các chính sáchchính trị - quân sự trong chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ Trong thế kỷ XXI,chính quyền Obama nhận ra rằng thịnh vượng và an ninh của nước Mỹ sẽ phụthuộc nhiều hơn vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương bởi các nền kinh tếphát triển nhanh nhất thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bảnhay các nước ASEAN… đều đang tập trung ở khu vực này
Bên cạnh đó, khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng đang đứng trướcnhững thách thức an ninh nghiêm trọng với sự xuất hiện nhiều tranh chấp chủquyền lãnh hải, lãnh thổ và nhiều bất ổn tiềm tàng đe dọa hòa bình và an ninhkhu vực, thế giới Một loạt những vấn đề tranh chấp cùng nóng lên trong giaiđoạn (2009 - 2013), như việc Tuyên bố chồng lấn và xác lập vùng định dạngphòng không ở biển Hoa Đông giữa Trung Quốc với Hàn Quốc, tranh chấpchủ quyền ở đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản, thamvọng chủ quyền và những hành động hung hăng của Trung Quốc ở BiểnĐông, cạnh tranh chiến lược ở Lào và vấn đề an ninh lương thực, môi trườngsinh thái ở hạ lưu sông Mê Công, những bất ổn trên bán đảo Triều Tiên….Trong đó, sự trỗi dậy và những hành động bành trướng của Trung Quốc làmột trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự quan tâm của Hoa Kỳ đếnkhu vực này
Có thể nói, bối cảnh quốc tế và khu vực trong hai thập niên đầu thế kỷXXI trở thành nhân tố động thúc đẩy quan hệ giữa Hoa Kỳ với các nước trong
Trang 18khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam ngày càng pháttriển mạnh mẽ.
1.2 Khái quát quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trước năm 2009
Trong bài diễn văn đọc tại Đại học Quốc gia Hà Nội qua chuyến thămchính thức Việt Nam (11-2000), Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton có nhắc đến
một cách nuối tiếc những cố gắng không thành và những cơ hội bị bỏ quên trong lịch sử bang giao Việt Nam - Hoa kỳ: “ Cách đây gần 200 năm, vào
khởi điểm của mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, hai quốc gia chúng ta
đã cố gắng nhiều để đàm phán một Hiệp định Thương maị, tương tự như Hiệpđịnh Thương mại mà chúng ta đã ký hôm nay Nhưng cách đây 200 năm,những cuộc đàm phán này đều thất bại, và không một hiệp định nào đượcký… Những nỗ lực này đã thất bại vì hai nền văn hoá xa lạ đã cùng lên tiếng
mà không chịu lắng nghe nhau và tầm quan trọng của bên này đối với bên kiakhông đủ sức thuyết phục để vượt qua những trở ngại này ” [26; tr 22]
Trên thực tế lịch sử cho thấy, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã bắt đầu cóquan hệ tiếp xúc sớm hơn bắt đầu từ thế kỷ XVIII: “Năm 1787 tại Pari thủ đôcủa nước Pháp bởi cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ và thú vị giữa Hoàng tử Cảnhđang theo Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) sang cầu viện VuaPháp và Thômát Giépphơsơn, là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Hợp chúngquốc Hoa Kỳ tại Pháp … Đáng tiết là, mãi tới năm 1791 Giám mục Bá ĐaLộc và Hoàng tử Cảnh mới về tới Việt Nam Những lời ước hẹn giữa Hoàng
tử Cảnh và Giépphơsơn bị bỏ qua ” [76; tr 8]
Từ đó, hàng loạt các hoạt động giao thương giữa hai nước từ 1802 đến
1858 được phía Hoa Kỳ thúc đẩy nhưng hầu như không có sự tiến triển Tiêubiểu là sự cập cảng Đà Nẵng của con tàu lớn đầu tiên của Hoa Kỳ mang tênThe Fame để thăm dò thị trường, mua đường, cà phê năm 1903; Hai lần Đặcphái viên Edmund Robert mang theo Quốc thư của Tổng thống Hoa KỳAndrew Jackson và bản Dự thảo Hiệp ước Thương mại với Việt Nam sangViệt Nam vào năm 1833 và 1835 nhưng hai bên cũng không tìm được tiếngnói chung [76; tr 9]
Năm 1850, lãnh sự Hoa Kỳ tại Singgapore kiêm đặc phái viên tại Hoa
Kỳ là Joseph Balestier đến Đà Nẵng để thực hiện sứ mệnh bang giao nhưngchính sách “ Bế quan toả cảng” và cấm đạo đã làm cho những cố gắng củaBalestier không thành [26; tr 64]
Trang 19Sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858), Tự Đức mới bắt đầuchú ý tới những đề nghị cải cách, canh tân của Nguyễn Trường Tộ và một sốđại biểu khác, trong đó có “đổi mới” về ngoại giao Tháng 8-1873 Tự Đức đã
cử Bùi Viện ra nước ngoài để thăm dò tình hình và liên kết với các nước để
“lo việc nước” Cuối năm 1873, được sự giúp đỡ của đại diện Hoa Kỳ ở HồngKông, Bùi Viện sang Nhật rồi đến Hoa kỳ Năm 1874, Bùi Viện được Tổngthống Hoa Kỳ Ulysses Simpson Grant tiếp kiến Bùi Viện đã đề nghị với Hoa
Kỳ giúp đỡ Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp Nhưng vì không có đượcquốc thư của vua Tự Đức nên Tổng thống Grant không thể giúp đỡ ông BùiViện buộc phải trở về nước và năm sau, 1875 trở lại Hoa Kỳ lần thứ hai vớiquốc thư của Tự Đức trong tay Nhưng tình hình thế giới đã đổi khác, chínhsách của Hoa Kỳ cũng chuyển sang chính sách hoà dịu với Pháp để tập trungvào việc ổn định và phát triển đất nước sau nội chiến ( 1861 - 1865) Do đóchuyến đi lần thứ hai của Bùi Viện sang Hoa Kỳ nhằm thiết lập quan hệ vàtìm kiếm sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với Việt Nam đã không đạt được một kếtquả nào
Trong khi đó Pháp càng đẩy mạnh cuộc Chiến tranh xâm lược ở ViệtNam Trong nửa thập niên 80 của thế kỷ XIX Pháp đã hoàn thành việc xâmlược Việt Nam, biến Việt Nam thành thuộc địa của mình (1884)
Trong bối cảnh đó tháng 9/1888, Hoa Kỳ đã mở một cơ quan thươngmại tại Sài Gòn và Aimée Fonsales được bổ nhiệm làm người đứng đầu cơquan thương mại này Đây được coi là cơ quan duy nhất đại diện cho quyềnlợi của Hoa Kỳ ở Việt Nam và Đông Dương cho đến năm 1940 Từ thậpniên đầu của thế kỷ XX, một tập đoàn tư bản lũng đoạn lớn của Hoa Kỳ - tậpđoàn dầu mỏ Rockefeller đã xâm nhập vào Việt Nam đặt trụ sở tại HảiPhòng [26; tr 58]
Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ II (1939 - 1945), Chủ tịch HồChí Minh và phong trào cách mạng do Người sáng lập đứng về phía ĐồngMinh, chống chủ nghĩa phát xít, tích cực hợp tác với các nhóm sĩ quan đượcHoa Kỳ cử đến Việt Nam để bàn về giải pháp chống phát xít Nhật Trước đó,Mặt trận Việt Minh đã cứu giúp viên phi công Hoa Kỳ có tên là Wiliam Shaw
bị pháo cao xạ Nhật bắn rơi gần thị xã Cao Bằng, sau đó Chủ tịch Hồ ChíMinh đã đích thân đưa viên phi công này trao cho bộ chỉ huy quân sự Hoa Kỳ
Trang 20ở Côn Minh Với việc làm đầy thiện chí này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạođược cảm tình với phía Mỹ, vì “chính sự trở về an toàn của trung uý Shawdường như là cầu nối cho sự gặp gỡ sau này của Hồ Chí Minh với nhữngthành viên chủ chốt của cộng đồng Hoa Kỳ tại Côn Minh…” [16; tr 232] Tuy nhiên, mối quan hệ tốt đẹp, đầy thiện chí đó đáng tiếc đã khôngđược phía Hoa Kỳ kế thừa và phát huy trong giai đoạn sau.
Sau cách mạng tháng Tám thành công, “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều
lần gửi thư, điện đến Tổng thống Harry Truman và chính phủ Mỹ yêu cầu ủng hộ nền độc lập của Việt Nam ngăn chặn các âm mưu xâm lược của thực dân Pháp” cũng như bày tỏ nguyện vọng của chính phủ và nhân dân Việt
Nam mong muốn phát triển mối quan hệ với chính phủ và nhân dân Mỹ Song
“một cơ hội thiết lập quan hệ giữa hai nước đã bị bỏ qua từ phía Chính phủ Hoa Kỳ Động thái đó dưới thời Tổng thống H Tơruman đã đẩy hai nước từ chưa hiểu nhau tới đối đầu hàng chục năm với biết bao nhiêu xương máu của nhân dân hai nước đổ xuống” [76; tr 10].
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và chủ tịch Hồ chí Minh đãnhiều lần bầy tỏ lòng yêu chuộng hoà bình để giải quyết vấn đề chiến tranhĐông Dương xong Chính phủ Hoa Kỳ qua các đời Tổng thống đều lẩn tránh
và họ chỉ muốn chinh phục Việt Nam bằng sức mạnh Sau khi miền nam ViệtNam được hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), đất nước Việt Nam thống nhất,độc lập, có chủ quyền đi lên Chủ nghĩa xã hội sau 1975 đã một lần nữa tạonhững tiền đề, điều kiệt vô cùng thuận lợi để phía Hoa Kỳ có thể nhanh chóngbình thường hoá quan hệ với Việt Nam Tuy nhiên, “chính sách ngoại giaocấm vận chống Việt Nam có thể nói gọn là sự kéo dài một cuộc Chiến tranhchưa từng được chính thức phát động, nhưng chưa từng chính thức được kếtthúc” [76; tr 44]
Trong suốt thời gian từ 1979 đến 1989, khi bùng nổ vấn đề Campuchia,Hoa Kỳ đã thực hiện chính sách “ba không” với Việt Nam: 1 - Không có quan
hệ ngoại giao 2 - Không buôn bán 3 - Không viện trợ Trong thời kỳ này,phía Hoa Kỳ đã đặt điều kiện tiên quyết để bình thường hoá quan hệ với ViệtNam là phía Việt Nam phải giải quyết “vấn đề Campuchia” Bên cạnh đó thìtốc độ và phạm vi của việc bình thường hoá quan hệ của Hoa Kỳ và Việt Namtuỳ thuộc vào sự hợp tác của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề vấn
Trang 21đề POW/MIA và các vấn đề nhân đạo khác Do đó, trong suốt thập niên 80dưới thời Tổng thống Ronald Reagan, quá trình bình thướng hoá quan hệ ViệtNam - Hoa Kỳ vẫn không có được những biến chuyển nào đáng kể
Việc rút toàn bộ quân tình nguyện của Việt Nam ra khỏi Campuchiatrước thời hạn trong năm 1989, những chuyển biến mạnh mẽ của tình hình thếgiới sau Chiến tranh lạnh kết thúc và chính sách đối ngoại đổi mới “Việt Nammuốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoàbình, độc lập và phát triển” tạo điều kiện cho việc bình thường hoá quan hệvới Hoa Kỳ Dù vậy, quá trình hiện thực hoá vấn đề bình thường hoá quan hệngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ diễn ra không đơn giản Sau bốn vòng đàmphán ở New York và chuyến thăm Hoa Kỳ của Bộ trưởng Ngoại giao ViệtNam Nguyễn Cơ Thạch ngày 17 - 10 - 1990, hai bên đã thúc đẩy mạnh mẽhơn nữa việc giải quyết các vấn đề nhân đạo liên quan tới hậu quả của cuộcchiến tranh Việt Nam Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sự bang giao của hainước đã có cuộc hội đàm giữa hai Ngoại trưởng Việt Nam - Hoa Kỳ ngay trênđất nước Mỹ và cũng là lần đầu một quan chức cấp Chính phủ của Việt Namđến thủ đô nước Mỹ theo lời mời của phía Hoa Kỳ [76; tr 35 ]
Sau những động thái mang tính khởi động tích cực thúc đẩy việc cảithiện quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, ngày 9 - 4 – 1991, Hoa Kỳ đã đưa ra bản lộtrình (Roadmap) bốn giai đoạn cho việc bình thường hoá quan hệ với ViệtNam Sau đó, phía Hoa Kỳ đã có một số hành động bước đầu thể hiện thiệnchí của mình Ngày 8-7-1991, Hoa Kỳ mở rộng văn phòng đại diện ở Hà Nội
để giải quyết vấn đề MIA cùng với phía Việt Nam Tháng 9-1991, Hoa Kỳtuyên bố viện trợ cho Việt Nam 1,3 triệu USD để lắp chân giả cho thươngbinh và các vấn đề nhân đạo Ngày 23-10-1991, Hiệp định Paris về hoà bình ởCampuchia được ký đánh dấu bước căn bản trong tiến trình giải quyết hoàntoàn “Vấn đề Campuchia ” Tiếp theo đó Hoa Kỳ tuyên bố cho phép các cơquan viện trợ quốc tế Mỹ (USAID) được trực tiếp viện trợ nhân đạo đối vớiViệt Nam, và việc Hoa kỳ công bố viện trợ cho Việt Nam 3 triệu USD, để đáplại thiện chí của Việt Nam trong vấn đề POW/MIA [76; tr 129]
Bãi bỏ hạn chế liên lạc viễn thông với Việt Nam (13-4-1992); ký hiệpđịnh lập lại đường dây liên lạc viễn thông trực tiếp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ(16-4-1992); bãi bỏ tất cả các hạn chế đối với các tổ chức phi chính phủ
Trang 22(NGO) vào Việt Nam và cho phép được xuất sang Việt Nam những hàng hoáthuộc khuôn khổ danh mục những hàng hoá đáp ứng các nhu cầu cơ bản củacon người (29-4-1992).
Ngày 20-1-1993, Bill Clinton chính thức nhậm chức Tổng thống Hoa
Kỳ Cũng ngay trong tháng 1-1993, Uỷ ban về vấn đề POW/MIA của Thượngnghị viện Hoa Kỳ trong báo cáo cuối cùng trước khi chấm dứt hoạt động đãkhẳng định dứt khoát rằng, không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ còn có
tù binh Hoa Kỳ còn sống và đang bị giam giữ ở Đông Nam Á Điều này đãchấm dứt những chuỗi nghi ngờ dai dẳng trong dư luận và chính giới Hoa Kỳ
về cái gọi là, có thể Việt Nam vẫn còn giam giữ ở đâu đó những tù binh Mỹcòn sống như một lá bài để mặc cả với phía Hoa Kỳ trong việc bình thườnghoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Về lĩnh vực kinh tế, chính quyền mới của Tổng thống B Clinton cũngnhận thức rõ rằng, nếu chậm trễ, giới kinh doanh Mỹ sẽ ngày càng bị tụt hậu
so với các đối thủ cạnh tranh khác trong cuộc chạy đua vào thị trường ViệtNam Theo tinh thần này, hàng loạt các văn phòng đại diện của Ngân hàng
Mỹ (Bank of America); Công ty Vatico, hãng thuốc lá Philip Morris, công tysản xuất thiết bị Carte P Llar, công ty máy tính IBM…cũng đã mở tại ViệtNam Đặc biệt, ngày 2-7-1993, Tổng thống B Clinton đã tuyên bố Hoa Kỳ sẽkhông còn phản đối việc các nước trong cộng đồng quốc tế hỗ trợ Việt Namtrả các khoản nợ quá hạn của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Điều này đã tạo điềukiện thuận lợi cho Hội nghị quốc tế về tài trợ cho Việt Nam ở Paris với sựtham gia của đại diện 22 nước đi tới thoả thận về viện trợ không hoàn lại choViệt Nam và cho Việt Nam vay với những điều kiện ưu đãi số tiền tổng cộng1,860 tỷ USD Các thành viên của câu lạc bộ Paris cũng đã quyết định giấn nợ
và giảm tới 50% giá trị trực tiếp của các khoản nợ được hoãn
Về phía Việt Nam để đáp trả lại thiện chí của Hoa Kỳ, ngày 17-7-1993,chính phủ Việt Nam đã đồng ý cho phép 3 nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đượcđóng ở Hà Nội trong sứ mệnh giải quyết vấn đề MIA Ngày 18-8-1993, ScotMarciel đã chở thành quan chức ngoại giao Hoa Kỳ đầu tiên được phépthường trú tại Hà Nội Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ tiến triển kháthuận lợi theo hướng Hoa Kỳ dần tiến đến việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vậnđối với Việt Nam Ngày 6-10-1993, Phó thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải
Trang 23đã có cuộc gặp gỡ với Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher tạithủ đô Washington của Hoa Kỳ Trong cuộc gặp gỡ này, phía Hoa Kỳ tuyên
bố giữa Hoa Kỳ và Việt Nam không còn là kẻ thù Đồng thời phía Hoa Kỳcũng bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam và đồng thời mở quan
hệ liên lạc giữa hai nước
Chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Warren Christopher từ ngày 5đến ngày 7-8-1995 là chuyến thăm và làm việc đầu tiên của một vị Bộ trưởngNgoại giao Hoa Kỳ đến Việt Nam kể từ năm 1975 tức 20 năm sau thất bại củaHoa Kỳ ở Việt Nam (1975-1995) Tháng 10-1995, Ngoại trưởng Việt NamNguyễn Mạnh Cầm đã có chuyến thăm và làm việc chính thức tại Hoa Kỳ
Ngày 3-10-1995, tại Washington, Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đã hội
đàm với Ngoại trưởng Hoa Kỳ W.Christopher Phía Hoa Kỳ vẫn tiếp tục nhấnmạnh ưu tiên hàng đầu của mình là giải quyết vấn đề MIA và khẳng định ViệtNam đã hợp tác rất tích cực và hiệu quả với Hoa Kỳ trong vấn đề này Trongkhi đó phía Việt Nam Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm chủ yếu quan tâmđến việc thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ
Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa hai nước tiếp tục có những bướcphát triển tốt đẹp thông qua các chuyến viếng thăm của cả hai bên Hoa Kỳhoan nghênh Việt Nam gia nhập ASEAN và có vai trò tích cực trong diễn đàn
an ninh khu vực (ARF), cũng như tiến tới gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tếchâu Á - Thái Binh Dương (APEC) và tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vàcoi đây chính là sự đóng góp tích cực của Việt Nam vào hoà bình và ổn địnhcủa khu vực
Sự kiện Tổng thống Hoa Kỳ B Clinton sang thăm chính thức Việt Nam
là chuyến thăm đầu tiên trong lịch sử của một Tổng thống Hoa Kỳ đươngnhiệm đến nước Việt Nam độc lập và thống nhất Chuyến thăm này có ýnghĩa quan trọng trong tiến trình quan hệ hợp tác giữa hai nước sau 25 nămđất nước Việt Nam thống nhất Sau 5 năm bình thường hoá quan hệ ngoại
giao Việt Nam - Hoa Kỳ (1995 - 2000), và sau 4 năm đàm phán khá phức tạp,
ngày 13-7- 2000, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cuối cùng cũng
đã được ký kết, đánh dấu việc hoàn tất quá trình bình thường hoá toàn diệncác quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Sau sự kiện ngày 11/9/2001, để thích ứng với tình hình quốc tế và môitrường an ninh đã thay đổi, chính quyền G W Bush đã công bố về chiến lược
Trang 24an ninh quốc gia mới cuả mình vào ngày 20/9/2002 G Bush có những điềuchỉnh lớn hơn và nhấn mạnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương như là mộttrọng điểm số một, nhất là chiến lược quân sự - an ninh Việt Nam có một ýnghĩa rất quan trọng đối với Hoa Kỳ
Từ khi bình thường hoá, quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước đã
có những bước tiến đáng khích lệ Đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu từ ViệtNam sang Hoa Kỳ Kim ngạch thương mại hàng hoá hai chiều đã tăng đáng
kể từ 220 triệu USD năm 1994, lên 1,4 tỷ USD năm 2000, năm trước khi Hiệp
định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ có hiệu lực Hai bên đã có nhiều nỗ lựctrong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại
Thời kỳ này hàng loạt các công ty đa quốc gia đã đến Việt Nam để đặtnền tảng cho cơ hội phát triển dài hạn như Pepsico, Coca-Cola, Cargil, 3M,P&G, Kimberly-Clark Các công ty đã đặt nhà máy và bán sản phẩm tại ViệtNam Lĩnh vực thu hút được nhiều vốn đầu tư của Mỹ là công nghiệp với 82
dự án (tương đương 63,6% các dự án của Mỹ đầu tư vào Việt Nam) và 620triệu USD (tương đương 58,6% tổng vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam) Tiếpđến là ngành dịch vụ (31 dự án với gần 300 triệu USD) Và cuối cùng là lĩnhvực nông lâm ngư nghiệp với 16 dự án và gần 143 triệu USD.…
Có thể nói, qua gần 150 năm kể từ khi hai nước có những hoạt động giaothương đầu tiên, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đã trải qua nhiều cung bậc thăngtrầm Đó vừa để lại những di sản khó khăn, thách thức, vừa để lại những bàihọc kinh nghiệm quý báu giúp hai nước hiểu nhau và ngày càng xích lại gầnnhau hơn Sau gần 20 năm bình thường hóa quan hệ, trước những yếu tố
thuận lợi về tình hình quốc tế, khu vực và nội bộ hai nước, quan hệ Hoa Kỳ
-Việt Nam đang đứng trước những vận hội để phát triển lên tầm cao mới
1.3 Chính sách xoay trục sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ và vị trí của Việt Nam
Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế vào cuối năm 2008 đã phản ánhnước Mỹ không còn “địa lợi” về kinh tế nữa Điều này cũng có thể thấy từchỗ, “thu nhập trung bình của mỗi hộ dân Mỹ năm 2000 là 52,500 USD, đếnnăm 2008 con số chỉ là 50,303 USD Năm 2000 11,3% dân Mỹ sống dướimức đói nghèo, đến năm 2008 con số là 13,3%”, đồng thời trong 10 năm đầucủa thế kỷ này “ tỷ trọng của nền kinh tế Mỹ trong tổng thể nền kinh tế thế
Trang 25giới xét về khối lượng đã giảm từ 32,6% xuống còn 24,61% ngược lại TrungQuốc tăng tỷ trọng của mình từ 3,7% lên 8.47%” [33; tr 67]
Khủng hoảng tài chính - kinh tế đã kéo theo khủng hoảng việc làm, tínhđến năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ lên tới 10%
Những nhân tố phức tạp trên của nước Mỹ tác động đến cuộc bầu cửnăm 2008 Đây là cuộc bầu cử mà lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ một
người da đen trở thành ông Chủ Nhà Trắng Nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi
những bế tắc trong vấn đề an ninh, chính trị và kinh tế, xã hội cùng nguy cơđánh mất vị thế siêu cường của mình, Tổng thống Mỹ B Obaman đã đưa ranhững nỗ lực mới về chính sách đối nội và đối ngoại, trong đó có chính sáchđối ngoại “khôn ngoan” hay “sức mạnh mền” mà học giả Joseph Ney đã từng
nêu ra Theo đó, Mỹ cần sự ảnh hưởng trên toàn cầu bằng sự hấp dẫn và hợp
tác chứ không chỉ bằng tiền bạc hay vũ lực Quan điểm này cũng đã tác độngsâu sắc đến hệ thống chính sách của Hoa Kỳ dưới nhiệm kỳ của Tổng thống
mạnh, trọng tâm chiến lược đối ngoại trong nhiệm kỳ của Tổng thống Obama
là “xoay trục” và "tái cân bằng" lực lượng ở châu Á - Thái Bình Dương - khuvực được xem là phát triển mạnh mẽ và năng động nhất thế giới
Đây không phải là một hướng đi mới mẻ trong chính sách đối ngoại củaHoa Kỳ, châu Á - Thái Bình Dương thực tế đã được Hoa Kỳ quan tâm và cónhiều đối sách quan trọng trong suốt hơn một thế kỷ Sau khi thôn tínhHawaii năm 1898, phát động chiến tranh ở Philippines năm 1899 và triển khai
Trang 264.000 quân đến Trung Quốc năm 1900 để giúp đỡ dập tắt cuộc nổi dậy NghĩaHòa Đoàn, Mỹ đã hướng tới châu Á như một thị trường tiềm năng đầy hứahẹn cho các nhà tư bản Mỹ Thông qua hàng loạt các hành động can dự vàliên minh can dự vào khu vực với Anh, Nhật Bản trong các vấn đề: Vấn đềĐài Loan (1874), Chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895), Chiến tranh Nga -Nhật (1904 - 1905), vấn đề Mãn Châu, Hoa Kỳ đã chứng tỏ vị thế nước lớn ởchâu Á - Thái Bình Dương Dẫu tổn thất lớn về người và của để chinh phụcPhilippines, Hawaii và Guam, đây chính là cơ sở cho các chiến lược hướngtới và xác lập vị thế của Hoa Kỳ của một cường quốc Thái Bình Dương trongsuốt thế kỷ XX.
Chiến tranh thế giới thứ I kết thúc năm 1918, chủ nghĩa biệt lập của Hoa
Kỳ dường như đã bị lung lay bởi vị thế của nước này tăng lên mạnh mẽ Bỏqua kết quả của Hội nghị Versailles, người Mỹ thực hiện chính sách đối ngoạimang tính toàn diện và quy mô hướng tới châu Á - Thái Bình Dương thôngqua Hội nghị Oashington (1921) Hiệp ước Tứ cường Mỹ, Pháp, Anh, Nhật,nhằm duy trì nguyên trạng trên Thái Bình Dương nhằm phá vỡ liên minh Anh
- Nhật tồn tại từ 1902 đến năm 1921, xác lập địa vị cân bằng của Mỹ ở TháiBình Dương; Hiệp ước Ngũ cường Mỹ, Anh, Nhật, Pháp về xác định tỷ trọngchiến hạm chủ lực xác lập địa vị cường mặt biển của Mỹ song song với Anh;Hiệp ước mở toang cánh cửa Trung Quốc để Mỹ tự do đầu tư không nhữngchứng tỏ vai trò Hoa Kỳ là một cường quốc khu vực Thái Bình Dương màcòn gạt bỏ những rào cản của các nước đế quốc khác, tạo nên những mâuthuẫn ngấm ngầm với những toan tính của đế quốc phong kiến quân phiệtNhật Bản suốt những năm 20 - 30 của thế kỷ XX
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933), tiếp tục đốt cháy thêm
những tham vọng mở rộng đế chế của Nhật Bản vào những năm 1930, lên đếnđỉnh điểm trong cú sốc Trân Châu Cảng, mở ra giai đoạn “xoay trục” thứ haicủa Hoa Kỳ sang châu Á Người Mỹ nhảy vào cuộc chiến Thái Bình Dươngtrong tư thế một cường quốc Đồng Minh chủ yếu đối đầu với quân phiệt Nhậtnhằm lập lại trật tự khu vực Trừ những trận chiến quyết định cuối cùng trênlãnh thổ Nhật, hầu hết những cuộc đụng độ lớn Mỹ - Nhật diễn ra ở ĐôngNam Á và một số đảo thuộc Thái Bình Dương
Trang 27Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, từ năm 1945 đến năm 1949,dường như châu Âu với những sự căng thẳng của vấn đề Đức, cạnh tranhchiến lược ở Tây và Đông Âu thu hút chính sự quan tâm của Hoa Kỳ hơn cáckhu vực khác Tuy nhiên, với sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân TrungHoa và xu hướng hóa đỏ của bán đảo Đông Dương, Hoa Kỳ tham gia sâu sắchơn vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương với một vành đai an ninh chạydài ra toàn khu vực: Hàn Quốc - Nhật Bản - Đài Loan - Nam Việt Nam -Philippines - Thái Lan và xa hơn là Guam, Hawaii [63; tr 2] Quan hệ đồngminh chiến lược với các nước này tạo nên cho Hoa Kỳ một chỗ đứng vữngchắc trong khu vực, bất chấp sự thất bại của chính quyền miền Nam ViệtNam
Thông cáo Thượng Hải năm 1972 đưa quan hệ Mỹ - Trung xích lại gầnnhau hơn, tưởng chừng như tiếp tục khẳng định vị trí của Mỹ trong khu vực
suốt ba thập niên sau đó Tuy nhiên, “Vòng cung bất ổn” này vẫn luôn ngấm
ngầm nhiều mâu thuẫn chỉ chờ bùng phát giữa một bên là Mỹ và đối thủ của
họ (Liên Xô và Trung Quốc)
Sau khi Liên Xô sụp đổ và đặc biệt là sau sự kiện 11/9/2001, người Mỹ
đã quan tâm nhiều hơn đến Trung Đông, trong khi Trung Quốc trỗi dậy saugần ba thập kỷ cải cách để gia tăng vai trò kinh tế và quân sự, thách thức vịthế của Mỹ ở khu vực này Vai trò cường quốc khu vực của Mỹ giảm sút khikhông có những động thái quyết định với các đồng minh trong xử lý cuộckhủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm(2007-2008), và trong cả những bất ổn về vấn đề biển đảo giữa Nhật Bản,Hàn Quốc, Philippinnes… với Trung Quốc Cả ba hướng trục của Mỹ gồm
Mỹ La Tinh, Châu Âu và Trung Đông đã từng bước nhường chỗ cho nhữngthời cơ và thách thức ngày càng lớn hơn ở khu vực châu Á - Thái BìnhDương
Kể từ khi lên nắm quyền năm 2009, Chính phủ Obama đã có nhữngđộng thái cho việc quay trở lại châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, thể hiệnrất rõ ràng qua lịch trình các chuyến công du dày đặc của Ngoại trưởng MỹHillary Clinton, đi thăm tất cả 10 nước thành viên ASEAN và cả Timor -Leste từ cuối năm 2011 đến cuối năm 2012 Trong tháng 7 năm 2012, Ngoạitrưởng Clinton đã đến Campuchia để tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN lần
Trang 28thứ tư liên tiếp Trong tháng 11 năm 2012, Tổng thống Barack Obama đã cómột hành động nổi bật là chuyến công du nước ngoài đầu tiên đến thăm ĐôngNam Á sau khi tái đắc cử, cùng với Bà Clinton thăm Myanmar (chuyến thămđầu tiên tới Myanmar của một Tổng thống Mỹ đương nhiệm), nhằm động
viên hơn nữa những cải cách kinh tế và chính trị ở nước này, đến Thái Lan
gặp Thủ tướng Yingluck Shinawatra “để nhấn mạnh liên minh vững chắc”giữa hai nước và tới Campuchia, nước giữ cương vị Chủ tịch ASEAN năm
2012
Trong bối cảnh đó, thuật ngữ "xoay trục" được đưa ra để mô tả sựchuyển hướng trọng tâm chính sách của Nhà Trắng sang khu vực châu Á -Thái Bình Dương, sau hơn một thập niên đặt trọng tâm vào khu vực TrungĐông với hai cuộc chiến tranh tàn khốc tại Afghanistan và Iraq Cùng với sựtriển khai chính sách "Xoay trục", Mỹ bắt đầu có sự điều chỉnh trên cơ sởthích hợp và tiếp nhận những vấn đề mới nảy sinh với các trung tâm quyềnlực mới và với chính các đồng minh truyền thống Trong chính sách với châu
Á - Thái Bình Dương, Mỹ luôn muốn nhấn mạnh, họ chưa bao giờ rời khỏikhu vực này, sự “xoay trục” của họ chỉ là sự trở lại khu vực đã từng được Mỹquan tâm từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, để khẳng định sự có mặt vàgiành lại những quyền lợi cần thiết cho sự phát triển của Mỹ trên mọi phươngdiện, đặc biệt là về kinh tế và quân sự
Tháng 11 năm 2011, trong bài phát biểu trước Quốc hội Úc, Tổng thốngObama đã khẳng định những tập trung của Mỹ tại khu vực phản ánh một sựthực cơ bản là “Mỹ đã, đang và sẽ luôn là một cường quốc Thái BìnhDương” Với lời khẳng định trên, chính quyền Obama muốn truyền tải thôngđiệp rằng Mỹ không phải quay trở lại châu Á - Thái Bình Dương, vì Mỹ luôn
ở đây, và Mỹ đặt khu vực là trọng tâm chính sách vì Mỹ có những lợi íchchiến lược tại đây
Trong một động thái tương tự, tại Đối thoại Shangri La năm 2012, Bộtrưởng Quốc phòng Mỹ Panetta đã chứng minh việc lấy châu Á - Thái BìnhDương làm trọng tâm là hoàn toàn hợp lý với thực tế Mỹ là một quốc gia TháiBình Dương Theo bài phát biểu của Panetta, nước Mỹ trở thành một quốc giaThái Bình Dương kể từ thế kỷ XIX Trong lịch sử phát triển của nước Mỹ,các hoạt động đánh bắt thủy sản và sự mở rộng của các hải cảng đã giúp gia
Trang 29tăng tầm quan trọng của kinh tế biển trong tổng thể nền kinh tế Mỹ Sang thế
kỷ thứ XX, trong cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ II, Thái Bình Dương trởthành một mặt trận tham chiến của Mỹ Bên cạnh đó, Mỹ còn dính líu tới cáccuộc chiến tranh tại Việt Nam và bán đảo Triều Tiên Chính những dính líunày đã dẫn tới hơn sáu thập niên Mỹ hiện diện quân sự tại khu vực, cùng vớinhững quan hệ về ngoại giao, thương mại, viện trợ
Tại Hội nghị thường niên về an ninh, đối thoại Shangri La ở Singaporenăm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đưa ra thêm nhiều chi tiết
về chính sách của chính quyền Obama nhằm tái cân bằng hoạt động ngoạigiao và quân sự tại châu Á - Thái Bình Dương Ông Hagel nhấn mạnh rằngnăm 2020 không chỉ 60% lực lượng Hải quân Mỹ sẽ được tập trung vào TháiBình Dương, mà còn có tới 60% lực lượng không quân, bao gồm sự hiện diệncủa một số loại phi cơ chiến đấu, cường kích tối tân như F-22 Raptor và F-35Joint Strike Sự kết hợp của công nghệ mới, khái niệm mới và những gì ônggọi là khả năng “thay đổi cuộc chơi” khác sẽ đảm bảo cho người Mỹ có thể tự
do hành động ở khu vực trong tương lai
Như vậy, Hoa Kỳ đã chứng tỏ là một cường quốc Thái Bình Dương ngay
từ rất sớm Nỗ lực xoay trục về châu Á - Thái Bình Dương không phải làchính sách mới mẻ xét trên diện rộng Điều đáng chú ý là trong bối cảnh sauChiến tranh lạnh, việc khẳng định địa vị siêu cường và mong muốn xây dựngtrật tự đơn cực đòi hỏi nước Mỹ phải có nhìn nhận mới hơn với thách thức từcác hướng trục trên bàn cờ quốc tế Châu Á - Thái Bình Dương đã chứng tỏtầm quan trọng trong chiến lược toàn cầu thu hút trục xoay của Mỹ Việt Namnằm trong tâm trục với tư cách là quốc gia trung gian đang lên không thểtránh khỏi ảnh hưởng từ chính sách của Hoa Kỳ
Điểm khác biệt lớn nhất của lần xoay trục đến châu Á lần này là Hoa Kỳkhông thể áp đặt được quyền lực nước lớn như trước đó, mà phải sử dụng cácbiện pháp tái cân bằng lực lượng trên cơ sở tăng cường vai trò với đồng minh
và mở rộng quan hệ bạn bè với các nước khác Chính sách này có 6 nội dungvới bốn trụ cột chính 1 là: thắt chặt quan hệ với các đồng minh truyền thống,
phát triển quan hệ đối tác với các trung tâm quyền lực đang nổi lên, hình
1 Tham khảo thêm bài “America’s Pacific Century” của Hillary Clinton (đăng trên Foreign Policy
số tháng 10/2011) để thấy 6 nội dung chính trong chiến lược tái cân bằng của Mỹ.
Trang 30thành mối quan hệ mang tính xây dựng với Trung Quốc, và tích cực tham gia
các cơ chế đa phương trong khu vực
Từ mục tiêu và trụ cột đó, chiến lược xoay trục, tái xác định vị thế cườngquốc khu vực của Hoa Kỳ hướng tới các mục tiêu cụ thể:
- Ổn định khu vực và tái cân bằng lực lượng bằng việc xây dựng mộtvành đai an ninh từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á gồm: Hàn Quốc, NhậtBản, Philippines, Thái Lan
- Tăng cường cam kết của Hoa Kỳ với các thể chế lấy ASEAN làmtrung tâm, lôi kéo các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Indonesia và Việt Namđứng về phía Mỹ
- Đảm bảo địa vị hàng đầu của một cường quốc khu vực, tuyên bố lợiích của Mỹ ở Biển Đông, lôi kéo các nước nhằm kiềm chế và đối phó với
“mối đe dọa Trung Quốc”
- Đảm bảo tự do lưu thông hàng hải và bảo vệ các đường biển; bảo vệquyền lợi mậu dịch và đầu tư của Mỹ
- Truyền bá dân chủ, chủ nghĩa pháp quyền, nhân quyền
- Ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố ở khu vực Đông Nam Á [28; tr 57] Trong tam giác Mỹ - Việt - Trung, Hoa Kỳ cảm thấy yên tâm hơn rấtnhiều với Việt Nam Dù Hoa Kỳ cần sự hợp tác của Trung Quốc để đối phóvới một số vấn đề quan trọng toàn cầu như chấm dứt các chương trình hạtnhân của Bắc Triều Tiên và Iran, chống hiện tượng nóng lên toàn cầu…, Mỹvẫn coi Trung Quốc là một đối thủ tiềm tàng, có thể trở thành một mối đe dọađối với Mỹ Trong cách nhìn của Mỹ, Việt Nam là một lực lượng quan trọngđóng góp vào trật tự an ninh đang nổi lên ở châu Á - Thái Bình Dương Hoa
Kỳ đã coi việc củng cố mối quan hệ với Việt Nam là “một trụ cột trong sựhiện diện của Hoa Kỳ ở khu vực (Thái Bình Dương) và sự tham gia của Hoa
Kỳ trong các thể chế đa phương ở châu Á - Thái Bình Dương” Quan điểmtích cực này về Việt Nam đã khuyến khích Mỹ thúc đẩy các mối quan hệ gầngũi hơn giữa hai nước Cho đến nay, mong muốn tăng cường quan hệ với ViệtNam từ phía Mỹ biến đổi tỉ lệ nghịch với những hành động hiếu chiến củaTrung Quốc và tỉ lệ thuận với quyết tâm và khả năng của Việt Nam trong việcđóng một vai trò độc lập ở châu Á
Trang 31Hoa Kỳ rất chú trọng đến vị trí chiến lược của Việt Nam ở khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương nói chung và ở khu vực Đông Nam Á nói riêng.Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi đan xen lợi ích của 4cường quốc lớn Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Nga, đồng thời là nơi màảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày càng gia tăng, đe dọa lợi ích của Hoa
Kỳ Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và khu vực ĐôngNam Á nói riêng, Việt Nam có một ý nghĩa chiến lược rất quan trọng đối vớiHoa Kỳ
- Thứ nhất, Việt Nam là một nhân tố khu vực then chốt tại Đông Nam
Á với dân số đứng hàng thứ hai, lực lượng quân sự lớn nhất và trữ lượng dầu
mỏ ước tính 600 triệu thùng Việt Nam đã gia nhập ASEAN (1995), APEC(1998), WTO (2006) … nên có điều kiện và cơ chế hợp tác thuận lợi vớiHoa Kỳ
- Thứ hai, Việt Nam có chung biên giới với Trung Quốc, có cảng nước
sâu Cam Ranh và Hải Phòng và là một trong sáu nước tranh chấp chủ quyềntại Trường Sa Trung Quốc là nước tiêu thụ dầu lửa lớn trên thế giới, do đó họmuốn giành được nguồn tài nguyên thăm dò hoặc tiềm năng ở Đông Nam Á
Để chống lại mưu toan của Trung Quốc, Hoa Kỳ phải khuyến khích Việt Namtham gia các thỏa thuận hợp tác và an ninh với Hoa Kỳ và các nước ĐôngNam Á khác Điều đó sẽ không chỉ hạn chế sự tiếp cận của Trung Quốc đốivới tài nguyên dầu khí và các cảng nước sâu của Việt Nam, mà còn tăngcường an ninh khu vực và yểm trợ hơn nữa các mục tiêu khu vực của Hoa Kỳ.Bên cạnh đó, việc phát triển quan hệ với Việt Nam sẽ đem lại cho Hoa
Kỳ các lợi ích chính trị, chiến lược, kinh tế đáng kể Để đảm bảo các lợi íchchiến lược ở Việt Nam, lãnh đạo Hoa Kỳ cho rằng phải can dự và dính líu vớiViệt Nam bằng cách đưa Việt Nam vào quỹ đạo phát triển chung Qua đó, cóthể thấy, Việt Nam trở thành quốc gia trọng điểm của Hoa Kỳ trong việc pháttriển quan hệ tốt với các nước phi đồng minh ở khu vực Đông Nam Á
Những chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, một mặt muốn cảithiện quan hệ với Việt Nam để phục vụ cho chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương và dành lợi ích cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ.Mặt khác, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”, thông qua
“can dự” với khẩu hiệu “dân chủ và nhân quyền” để áp đặt giá trị Mỹ, thúc
Trang 32đẩy cải cách kinh tế, chính trị ở Việt Nam, nhằm đưa Việt Nam vào quỹ đạocủa Hoa Kỳ,… Các mục tiêu chính sách đó của Hoa Kỳ có tác động đến mọimặt quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong những năm đầu thế kỉ XXI.
Căn cứ trên những cơ sở lợi ích và chính sách nêu trên cho thấy việcphát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là nhu cầu chung của cả hai nước
1.4 Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh mới
Đối với Việt Nam, năm 1975 là năm kết thúc cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước đồng thời cũng là năm mở đầu cho công cuộc xây dựng và pháttriển đất nước của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, khó khăn đối Việt Nam cũngchồng chất, đó là hậu qủa của chiến tranh nặng nề trên hai miền đất nước, cáckhoản viện trợ từ nước ngoài đều bị cắt, trong khi đó phải đối phó với haicuộc chiến tranh biên giới và chính sách cấm vận của Hoa Kỳ Mặt khác,trong công cuộc xây dựng CNXH (1976 - 1986), Việt Nam đã tiếp tục lún sâuvào khủng hoảng
Sang đến những năm cuối thế kỷ XX, sự sụp đổ của Liên Xô và hệ
thống XHCN (1991), đã tác động một cách sâu sắc và toàn diện đối với Việt
Nam Trước bối cảnh mới đặt ra cho Việt Nam những thách thức lớn, đòi hỏiViệt Nam phải đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, tái cấu trúc lại nềnkinh tế để nhanh chóng hội nhập vào xu thế toàn cầu hoá
Những năm đầu thế kỷ XXI, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, cùngvới những quyết sách đúng đắn của Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam tăngtrưởng khá, thị trường xuất khẩu hàng hoá được mở rộng, nền kinh tế trênnhiều lĩnh vực thu được nhiều thành tựu đáng khích lệ Việt Nam cũng đã bắtđầu quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng với việc ra nhập tổ chức quốc tế - khuvực APEC, WTO Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giớinăm 2008 (bắt nguồn từ Mỹ), đã tác động sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam,đồng thời qua đây cũng bộc lộ rất rõ những khiếm khuyết trong quản lý Nhànước về kinh tế, sự yếu kém của hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhànước, sự đổ vỡ của các tập đoàn kinh tế lớn như Vinasin, Vinalines
Đối với Việt Nam, chính sách đổi mới của Đảng ta đã chỉ rõ là đaphương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại, Việt Nam muốn là bạnvới tất cả các nước trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, và phát triển TạiĐại hội Đảng lần thứ IX (2000), Đảng ta khẳng định cần phải thúc đẩy quan
Trang 33hệ đa dạng với các nước phát triển Trong nghị quyết Trung ương 8 về “Chiếnlược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” (7-2003), Đảng ta đã nêu quanđiểm về “Đối tác”, xác định cần thúc đẩy quan hệ với các nước và trung tâmlớn trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, tạo thế đan xen lợi ích giữa các nước với nước ta, tránh bị rơivào thế đối đầu, cô lập hay lệ thuộc Tại Đại hội XI, Đảng ta đề ra chủ trương:
“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác
và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hộinhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộngđồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam XHCN giầumạnh”
Chính vì vậy, tháng 4-1991, xuất phát từ tinh thần nhân đạo và truyềnthống hòa hiếu của Việt Nam, Việt Nam đã nhất trí với một lộ trình gồm cácbước mà Việt Nam và Mỹ tiến tới bình thường hóa các mối quan hệ do chínhquyền Bush nêu ra, theo đó, tiến độ Việt Nam trợ giúp giải quyết vấn đề tùbinh chiến tranh (POW), vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA)
và các vấn đề khác sẽ được xem là tiền đề và được Mỹ đáp lại bằng việc mởrộng các mối quan hệ giữa hai nước Và thực tế cho thấy sự hợp tác Việt - Mỹ
về vấn đề MIA luôn nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ cũng như những ngườidân địa phương trên khắp đất nước Việt Nam
Đồng thời, trong bối cảnh đó, khi thúc đẩy quan hệ với Mỹ, Việt Nam
hy vọng có được nguồn vốn đầu tư, kỹ thuật công nghiệp, kinh nghiệm quản
lý của Mỹ và đặc biệt là tìm thấy được một thị trường xuất khẩu quan trọngcho nền kinh tế Việt Nam Vì vậy, quan hệ Việt - Mỹ được cho là sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào nền kinh tếthế giới và nền kinh tế Mỹ [51] Việt Nam coi quan hệ với Mỹ là một trongnhững mối quan hệ quốc tế quan trọng hàng đầu của mình trong tiến trìnhtriển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa vì anninh và phát triển đất nước, bởi lẽ Mỹ vẫn được xác định là siêu cường hàngđầu thế giới và nắm vai trò then chốt trong kinh tế, chính trị và quân sự toàncầu trong nhiều thập kỷ nữa
Bên cạnh đó, để thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ, Việt Nam cũng đã rấttranh thủ sự hiểu biết và các mạng quan hệ của cộng đồng người Việt đã sống
Trang 34lâu năm với các giới của Mỹ, để gia tăng tư vấn, hợp tác xử lý các vấn đề, phùhợp với lợi ích của Việt Nam nhưng "trung" cơ chế, môi trường Ra quyếtđịnh ở cấp liên bang cũng như ở các địa phương của Mỹ Trên cở sở đó, cóthể xác định mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam là mối quan hệ bất đối xứng(cả về quy mô, đường lối và thể chế) Một mặt, Mỹ không bao giờ từ bỏ âmmưu “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam, nhưng mặt khác chính sách đốingoại của Mỹ rất thực dụng và linh hoạt nên đã chủ động thúc đẩy quan hệvới Việt Nam khi họ thấy Việt Nam ngày càng có vị trí và vai trò trong khuvực Bởi vậy, Việt Nam đã tận dụng cơ hội này để phát triển mối quan hệ hữunghị, hợp tác, hai bên cùng có lợi với Mỹ, giảm thiểu được các nguy cơ anninh từ phía Mỹ.
Phát triển quan hệ với Mỹ trên cả bình diện song phương và đa phương
sẽ giúp Việt Nam vừa tạo được thế, vừa gia tăng về lực, qua đó nâng cao sứcmạnh tổng hợp của quốc gia, nhất là trong bối cảnh hai nước có điểm đồngtrong việc tăng cường vai trò của ASEAN trong khu vực, thúc đẩy hợp táctrong các lĩnh vực an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, nguồn nước,bệnh dịch, vận chuyển người bất hợp pháp qua biên giới và buôn bán - vậnchuyển và tiêu thụ ma tuý Kết quả này lại càng củng cố vững chắc vai tròlãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN
Bên cạnh đó, những thách thức do nhân tố Trung Quốc trong vấn đề
Biển Đông, vấn đề nguồn nước Hạ lưu sông Mê Kông, … đặt ra cho ViệtNam những đòi hỏi mới trong thúc đẩy quá trình đa phương hóa, đa dạng hóaquan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ với Mỹ
Như vậy, quan điểm của Việt Nam về lợi ích và mục tiêu trong quan
hệ với Mỹ là Việt Nam có thể thu được những lợi ích nhất định do Mỹ cótiềm lực kinh tế, an ninh quân sự, chính trị, khoa học công nghệ, đào tạo ,
và đều đứng hàng đầu thế giới Việt Nam nhất quán thúc đẩy các quan hệhữu nghị tích cực với Mỹ trên tinh thần đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạncủa tất cả các nước trên thế giới, hướng tới một mối quan hệ hữu nghị lâudài, bền vững, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi, không ảnh hưởng đến mộtbên thứ ba nào khác
Trang 35Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế và khu vực châu Á – Thái Bình Dươngsau năm 2009 đã và đang có những chuyển biến nhanh chóng Toàn cầu hóatiếp tục phát triển mạnh mẽ thúc đẩy quá trình hợp tác giữa các quốc gia pháttriển nhanh chóng Cạnh tranh chiến lược ở khu vực châu Á – Thái BìnhDương - khu vực phát triển năng động nhất thế giới – tạo cho hai nước những
cơ hội và thách thức trong quá trình hợp tác Trong đó, nhân tố Trung Quốcnổi lên như là nhân tố động giúp quan hệ hai nước xích lại gần nhau
Hơn nữa, quan hệ hai nước được xây dựng trên nền tảng sự tương đồng
về lợi ích chiến lược giữa hai nước Chính sách xoay trục sang khu vực châu
Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ và chính sách đối ngoại bình đẳng, hợp táccùng có lợi của Việt Nam đã có sự tương đồng về mục tiêu Hai nước xácđịnh được tầm quan trọng của nhau trong quá trình hợp tác là cơ sở để thúcđẩy mối quan hệ này lên tầm cao mới
Trang 36Ngay sau khi nhậm chức, Chính phủ của Tổng thống Obama đã xúc tiếncác hoạt động ngoại giao nhằm tăng cường quan hệ với Việt Nam Từ ngày 9đến ngày 12-2-2009, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách công tác lãnh sựJanice L Jacobs đã có chuyến thăm Việt Nam, hội đàm với một số quan chứcchính phủ Việt Nam để thảo luận những vấn đề liên quan việc thiết lập các cơquan đại diện ngoại giao, chương trình nhận con nuôi và các thủ tục lãnh sựchung khác Kết quả ấn tượng nhất của chuyến thăm là hai bên đẩy nhanh xúctiến việc khai trương các lãnh sự quán tại một số bang lớn ở Hoa Kỳ Theo
đó, ngày 22-8-2009, một phái đoàn Việt Nam đã đến Houston, Texas đểchuẩn bị cho việc khai trương Lãnh sự quán Việt Nam Đây là bước phát triểnquan trọng trong mở rộng quan hệ giữa hai nước
Ngày 25-9-2009, trong khuôn khổ phiên họp thường niên của Đại hộiđồng Liên Hợp Quốc, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và đoàn đại biểuViệt Nam gồm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm,
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộtrưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát và đại diện cácdoanh nghiệp Việt Nam cũng đã tham dự Diễn đàn Đầu tư Việt Nam doPhòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tạp chí InstitutionalInvestor Magazine phối hợp tổ chức tại New York Diễn đàn đã tạo cơ hộiquan trọng cho quá trình mở rộng thương mại và đầu tư giữa hai nước vớimột loạt các biên bản ghi nhớ được ký kết
Ngay sau đó, từ ngày 26 đến 27-9-2009, Đoàn quan chức cao cấp liênngành của Hoa Kỳ do Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao JamesSteinberg dẫn đầu đã đến Hà Nội tham dự đối thoại chiến lược an ninh quốc
Trang 37phòng thường niên lần thứ hai Đoàn đã có các cuộc tiếp xúc rất hiệu quả vớiThủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Phó Thủtướng Nguyễn Thiện Nhân và nhiều quan chức khác về các biện pháp nhằmtăng cường mối quan hệ song phương và về một loạt các vấn đề an ninh khuvực và toàn cầu, trong đó có các diễn biến tại khu vực Biển Đông và cácchương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên và Iran Thứ trưởng Ngoại giaoJames Steinberg đã trả lời phỏng vấn báo chí khi kết thúc chuyến thăm, rằngông rất lạc quan về tương lai quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Hoa Kỳ.
Từ ngày 1 đến ngày 2/10/2009, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoạigiao Phạm Gia Khiêm có chuyến thăm và làm việc tại Mỹ theo lời mời củaNgoại trưởng Mỹ Hillary R Clinton Ông cũng tiếp kiến Bộ trưởng Thươngmại Gary Locke, Trưởng Đại diện Thương mại Ron Kirk; Chủ tịch Ủy banĐối ngoại của Hạ viện Howard Berman và năm thượng nghị sĩ cao cấp thuộc
Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện Trong chuyến thăm này, những vấn đềvướng mắc trong quan hệ hai nước được bàn thảo một cách thẳng thắn Vấn
đề nâng cấp quan hệ hợp tác và bước đầu thúc đẩy các hoạt động hợp tác anninh quốc phòng, thái độ của hai nước về vấn đề Biển Đông và các vấn đềquốc tế được hai bên thảo luận
Đây cũng là cuộc gặp tạo điều kiện cho hai nước có hàng loạt các hoạtđộng hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng an ninh sau đó Tiêu biểu là chuyếnthăm của hai tàu hải quân Mỹ, USS Lassen và USS Blue Ridge đã cập cảng
Đà Nẵng vào ngày 7-11-2009; chuyến thăm của Giám đốc Đại học Quốcphòng Mỹ đô đốc Ann Rondeau đến Học viện Quốc phòng Việt Nam và thảoluận về mở rộng quan hệ trong đào tạo sĩ quan quân sự giữa đôi bên Kết quả
là giữa năm 2011, Đại tá Hà Thành Chung - Vụ trưởng tại Học viện Kỹ thuậtquân sự Việt Nam đã trở thành sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam đầu tiêntham dự khóa đào tạo tại Cao đẳng chiến tranh Mỹ khóa học (2011-2012) Tháng 6-2010, Đối thoại chiến lược về chính trị, an ninh - quốc phòngViệt Nam - Hoa Kỳ lần thứ ba đã diễn ra tại Hà Nội, tham dự đối thoại có Trợ
lý ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề chính trị - quân sự Andrew J Shapiro vàThứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh (nay là
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) Hai bên đã thảo luận các vấn đề về chống khủng
bố, buôn bán ma túy, hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam, hỗ trợ nhân đạo cứu
Trang 38trợ thiên tai và các vấn đề quốc phòng khác Hai bên đã cam kết sẽ làm việccùng nhau để hướng tới việc xây dựng quan hệ “đối tác chiến lược” giữa 2nước
Trong cuộc Đối thoại chính trị - an ninh - quốc phòng Mỹ - Việtthường niên lần thứ tư diễn ra tại Thủ đô Washington ngày 17-6-2011, haibên đã thảo luận các vấn đề song phương và an ninh khu vực Đoàn Việt Namtham gia đối thoại do Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Phạm BìnhMinh dẫn đầu và đoàn Mỹ do Trợ lý Ngoại trưởng về các vấn đề chính trị -quân sự do Andrew J Shapiro dẫn đầu Hai bên đã tái khẳng định cam kếttăng cường quan hệ song phương trên cơ sở hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau vàcác cam kết chung nhằm đảm bảo một khu vực châu Á - Thái Bình Dươnghòa bình, ổn định, thịnh vượng và an toàn Các quan chức Việt Nam và Mỹ đãthảo luận các biện pháp tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như: Chốngphổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống khủng bố, phòng chống ma túy, tìmkiếm binh lính Mỹ và bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh, giải quyếtvấn đề chất độc da cam/dioxin, trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thiên tai cũngnhư các lĩnh vực hợp tác quốc phòng và an ninh khác Về các diễn đàn khuvực, hai bên trao đổi quan điểm về việc thúc đẩy hợp tác giữa Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á (ASEAN) - Mỹ và các vấn đề liên quan đến sáng kiến
hạ lưu sông Mê Kông, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởngQuốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) và Hội nghị Cấp cao Đông Á(EAS) Hai bên đồng thời thảo luận việc nâng tầm quan hệ song phươnghướng tới quan hệ đối tác chiến lược Đây là chủ đề đã được tái khẳng địnhtrong chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tới Hà Nội hồi tháng
10 - 2010 Việt Nam và Mỹ khẳng định rằng hợp tác giữa hai bên trong giảiquyết những thách thức an ninh quốc tế và khu vực là sự phát triển tự nhiêncủa mối quan hệ song phương đầy đủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa và xã hội, giúp tạo nền tảng vững chắc cho sự thịnh vượng kinh tế của hainước Các quan chức Việt Nam và Mỹ cũng trao đổi về những diễn biến tạiBiển Đông Hai bên nhất trí rằng việc duy trì hòa bình, ổn định, an toàn và tự
do hàng hải ở Biển Đông là phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế;mọi tranh chấp về lãnh thổ ở Biển Đông phải được giải quyết thông qua conđường ngoại giao và hợp tác, không gây sức ép hay sử dụng vũ lực Hai bên
Trang 39cho rằng các tuyên bố lãnh thổ và lãnh hải cần phải phù hợp với nhữngnguyên tắc được thừa nhận của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước vềLuật biển của Liên hợp quốc năm 1982 Hai bên tái khẳng định tầm quantrọng của Tuyên bố 2002 về ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa ASEAN
và Trung Quốc và khuyến khích các bên đạt được thỏa thuận về bộ quy tắcứng xử đầy đủ Phía Mỹ tái khẳng định những sự kiện bất ổn trong nhữngtháng gần đây không thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực, gây quanngại về an ninh hàng hải, đặc biệt về tự do hàng hải, phát triển kinh tế, thươngmại hợp pháp và tôn trọng luật pháp quốc tế
Đối thoại diễn ra trong không khí tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, gópphần củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước [21].Tiếp theo đó, hàng loạt các chuyến thăm cấp cao giữa hai nước đã được
tổ chức, tiêu biểu như chuyến thăm Hoa Kỳ của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh
từ ngày 7 đến ngày 11-2-2012; chuyến thăm Hoa Kỳ của Phó Chủ tịch Quốchội Uông Chu Lưu từ ngày 12 đến ngày 14-3-2012 Chuyến thăm Việt Namcủa Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Pannetta vào tháng 6/2012; Chuyếnthăm Hoa Kỳ của Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân từngày 24 đến ngày 26-6-2012… Tại các chuyến thăm này, nhiều vấn đề chínhtrị, an ninh quốc phòng, hợp tác thương mại đầu tư, hợp tác giải quyết nhữngvấn đề tồn đọng sau chiến tranh đã được giải quyết
Tháng 6 - 2012, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Lương Minh và trợ lý Ngoạitrưởng Mỹ Andrew Shapiro đã đồng chủ trì Đối thoại chính trị - an ninh - quốcphòng Việt - Mỹ lần thứ 5 Hai bên đã tái khẳng định cam kết tăng cường quan
hệ song phương trên cơ sở hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau và cùng cam kết đối vớihoà bình, ổn định, thịnh vượng và an ninh ở châu Á - Thái Bình Dương Hai bênkhẳng định lợi ích chung trong việc nâng tầm quan hệ đối tác cũng như thảo luậncác biện pháp tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực như: Chống phổ biến vũkhí huỷ diệt hàng loạt, chống khủng bố, hợp tác thực thi pháp luật và chia sẻthông tin, an ninh biển, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai, cùng các lĩnh vựckhác trong hợp tác quốc phòng như đã nêu trong Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợptác quốc phòng song phương ký vào tháng 9-2011…
Từ ngày 10 đến ngày 11-7-2012, trong bối cảnh quan hệ Việt - Mỹ đangngày càng phát triển, đồng thời với sự nóng lên của các hành động của Trung
Trang 40Quốc ở Biển Đông, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton thăm Việt Nam BàHillary Clinton đã có một lịch trình làm việc dày đặc và liên tục, bao gồm hộiđàm với người đồng nhiệm Việt Nam Phạm Bình Minh; Gặp gỡ các nhà lãnhđạo cao cấp Việt Nam, nói chuyện với sinh viên Đại học Ngoại thương, tham
dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Mỹ
Trong các buổi tiếp Bà Hillary Clinton tại Hà Nội, Tổng Bí thư NguyễnPhú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều đánh giá cao vai trò tích cựccủa cá nhân Bà Bộ trưởng và phu quân (cựu Tổng thống Bill Clinton) trongviệc thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước Đề cập tới quan hệhợp tác giữa hai nước, trong cuộc tiếp Bà H.Clinton, Thủ tướng Nguyễn TấnDũng nhấn mạnh hai nước cần tiếp tục nỗ lực tăng cường quan hệ songphương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không canthiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, đóng góp vào hòabình, ổn định và phát triển trong khu vực và trên thế giới
Ngoại trưởng Clinton đánh giá cao những thành tựu mà Việt Nam đã đạtđược trong phát triển kinh tế - xã hội Bà bày tỏ sự vui mừng trước nhữngbước phát triển trong quan hệ hai nước trên các lĩnh vực hợp tác song phươngcũng như trên các diễn đàn khu vực và quốc tế; và cho rằng hai bên cần tiếptục trao đổi về việc nâng tầm quan hệ hướng tới đối tác chiến lược
Tình hình ở Biển Đông là một trong những chủ đề được Ngoại trưởngH.Clinton quan tâm Bộ trưởng Ngoại giao hai nước Việt Nam - Mỹ đã traođổi việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác, an toàn an ninh hàng hải ở BiểnĐông và nhất trí mọi tranh chấp về chủ quyền ở Biển Đông cần được giảiquyết bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt làCông ước Luật biển của LHQ năm 1982, đồng thời tuân thủ Tuyên bố về cáchứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được ký kết năm 2002 giữa ASEAN
và Trung Quốc Bà H.Clinton nhấn mạnh: Mỹ mong muốn ASEAN và TrungQuốc sẽ nhanh chóng thúc đẩy tiến trình xây dựng bộ Quy tắc ứng xử trênBiển Đông Bà khẳng định: Mỹ đánh giá cao đóng góp của Việt Nam trongviệc giảm căng thẳng ở Biển Đông
Thời gian của chuyến thăm Việt Nam lần này của bà Clinton không dài,nhưng hai bên cũng đã đạt được những tiến bộ tích cực trong các vấn đề hợptác song phương, tạo sự hiểu biết hơn nữa trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt, với