Đề tài : Đặc điểm truyện thơ trữ tình Mường
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thùy Trang
PHỤ LỤC
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN THƠ TRỮ TÌNH MƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thùy Trang
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN THƠ TRỮ TÌNH MƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Thị Ngọc Điệp suốt thời gian qua đã nhiệt tình, chu đáo chỉ dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn quý Thầy, Cô Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM đã tận tâm hướng dẫn, giảng dạy chúng tôi trong thời gian qua
Xin cảm ơn văn phòng Khoa Văn, Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học Trường Đại Học Sư Phạm TP HCM; Các cấp lãnh đạo, Sở Giáo Dục - Đào tạo tỉnh An Giang, Trường THPT Chu Văn An -
An Giang cùng gia đình và bạn bè… đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Chương 1 Tổng quan về tộc người Mường và truyện thơ
trữ tình Mường 9
1.1 Vài nét về tộc người Mường 9
1.1.1 Quá trình hình thành dân tộc Mường 9
1.1.2 Nền kinh tế - xã hội - văn hóa Mường 12
1.2 Giới thiệu chung về truyện thơ trữ tình Mường 21
1.2.1 Về nền văn học dân gian Mường 21
1.2.2 Về truyện thơ trữ tình Mường 24
1.2.3 Các truyện thơ trữ tình Mường được khảo sát 29
Chương 2 Đặc điểm nội dung của truyện thơ trữ tình Mường 39
2.1 Truyện thơ trữ tình Mường phản ánh bức tranh
hiện thực Mường 39 2.1.1 Ca ngợi xứ sở Mường giàu đẹp, trù phú 39
2.1.2 Sự bóc lột, áp bức của chế độ lang đạo Mường 42
2.1.3 Cuộc sống xa hoa của tầng lớp lang đạo Mường 46
2.1.4 Tư tưởng trọng nam khinh nữ 50
2.1.5 Quyền thế cha mẹ trong tình yêu con trẻ 56
2.1.6 Một số phong tục, tập quán Mường 62
2.2 Truyện thơ trữ tình Mường mang đậm giá trị nhân đạo,
2.2.1 Ca ngợi những con người nhân ái 65
2.2.2 Những mối tình cao đẹp 71
Trang 5Chương 3 Đặc điểm nghệ thuật của truyện thơ trữ tình Mường 91
3.1 Cốt truyện truyện thơ trữ tình Mường 91 3.1.1 Sự hình thành cốt truyện 91 3.1.2 Mô hình cốt truyện 98 3.1.3 Một số môtip thường gặp trong cốt truyện 104 3.2 Nhân vật truyện thơ trữ tình Mường 112 3.2.1 Nhân vật nữ chính 115 3.2.2 Nhân vật nam chính 122 3.3 Ngôn ngữ truyện thơ trữ tình Mường 125 3.3.1 Các biện pháp tu từ nổi bật 125 3.3.2 Các nhóm dòng thơ chức năng 130 3.3.3 Ý nghĩa các con số trong truyện thơ trữ tình Mường 141
Trang 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHQG: Đại học Quốc gia
Nxb: Nhà xuất bản
KHXH: Khoa học xã hội
THCN: Trung học chuyên nghiệp
THPT: Trung học phổ thông
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TTTT: Truyện thơ trữ tình
VHDG: Văn học dân gian
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Sự phân tầng xã hội trong thể chế xã hội Mường 14
Bảng 1.2 So sánh sự khác nhau giữa văn bản của Mai Trí -
Bùi Thiện sưu tầm và văn bản của Đinh Văn Ân
Bảng 1.3 So sánh sự khác nhau giữa văn bản của Bùi Thiện
và văn bản của Minh Hiệu sưu tầm 34
Bảng 1.4 So sánh sự khác nhau giữa văn bản của Cao Sơn Hải
sưu tầm và văn bản của Minh Hiệu sưu tầm 35
Bảng 3.1 So sánh sự gần gũi giữa lời thơ trong TTTT Mường
và lời dân ca Mường 93
Bảng 3.2 Thống kê mô hình cốt truyện truyện thơ các dân tộc 100
Bảng 3.3 Thống kê tần số xuất hiện các con số trong TTTT Mường 141
Trang 8
MỤC LỤC
Trang Phụ lục 1 Bảng tổng hợp các môtip xuất hiện trong truyện thơ
Phụ lục 2 Bảng thống kê tần số xuất hiện thủ pháp so sánh trong
truyện thơ trữ tình Mường 3
Phụ lục 3 Bảng thống kê tần số xuất hiện biện pháp điệp trong
truyện thơ trữ tình Mường 10
Phụ lục 4 Một số đoạn thơ đặc sắc trong truyện thơ trữ tình Mường 54
1 Ú t Lót - Hồ Liêu 54
3 Nàng Ờm - Bồng Hương 67
4 Nàng Nga - Hai Mối 72
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng tổng hợp các môtip trong truyện thơ trữ tình Mường 1
Bảng 1.2 Bảng tổng hợp các môtip trong truyện thơ các dân tộc 2
Bảng 2.1 Bảng thống kê thủ pháp so sánh trong truyện thơ trữ
Bảng 3.1 Bảng thống kê tần số biện pháp điệp xuất hiện trong
truyện thơ trữ tình Mường 10
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bảo tồn di sản văn hóa truyền thống là vấn đề chung của các dân tộc thiểu số và cũng là vấn đề đặt ra đối với người Việt, trong bối cảnh mà các châu lục, quốc gia, tộc người, tôn giáo đều phải đối mặt với quá trình toàn cầu hóa và sự gia tốc của nó Làm thế nào để hội nhập mà không hòa tan Làm thế nào để giữ gìn được những đặc trưng văn hóa của từng tộc người Vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc Mường có phần khác biệt hơn so với các dân tộc thiểu số khác trên đất Việt Nam Vì người Mường vốn chung huyết thống, ngôn ngữ, văn hóa… với người Việt ở thời cận đại Vì chung cội nguồn nên những cái gọi là tiến bộ, hiện đại hóa… rất dễ làm mất đi bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc độc đáo của tộc người Mường Các giá trị văn hóa bản địa của người Mường cần phải được bảo vệ, đồng thời phát huy những giá trị tinh hoa của dân tộc Mường còn sót lại trong văn hóa tộc người, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học dân gian (VHDG) Văn học dân gian là một mảng rất rộng, nó bao trùm tất cả các giá trị cổ xưa của tộc người Mường
Truyện thơ là loại hình văn học truyền miệng rất phổ biến trong nền VHDG các dân tộc ở Việt Nam và cả ở Đông Nam Á Truyện thơ chứa đựng những giá trị văn hóa lớn, những vấn đề đặc trưng của một dân tộc Hiện nay việc giữ gìn, phát huy những di sản văn hóa, văn học, đặc biệt là thể loại truyện thơ các dân tộc thiểu số đang đặt ra nhiều vấn đề cho ngành folklore học Việt Nam Những biến đổi về kinh tế - văn hóa - xã hội thời kỳ đổi mới đang gia tăng gấp bội nguy cơ thất tán, mai một những sáng tạo văn học quý giá này Đó là lý do khiến chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm truyện thơ trữ tình Mường” với mong muốn góp phần giữ gìn, phát huy di sản văn hóa truyện thơ của dân tộc Mường, cũng chính là làm giàu thêm vốn văn hóa truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Trang 112 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc sưu tầm, nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số hiện nay đang được khẩn trương thực hiện Các đề tài về sự hình thành, phát triển nội dung, thi pháp của loại hình nay được nhận thức theo chiều hướng đầy đủ, toàn diện hơn Xuất phát từ suy nghĩ: Có những áng truyện thơ trữ tình mượt mà, thấm đượm nghĩa tình nhưng chưa được nghiên cứu chuyên sâu, chúng tôi tập trung khám phá những truyện thơ trữ tình của một dân tộc bản địa sinh sống lâu đời trên đất Việt: dân tộc Mường Từ những kết quả khảo sát ở văn bản và nghiên cứu, luận văn nhằm nhận diện những đặc điểm cơ bản nhất về nội dung được phản ánh trong tác phẩm Thông qua đó phát hiện những giá trị nghệ thuật như cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ của truyện thơ trữ tình Mường (TTTT Mường) Với những nỗ lực và kết quả của việc nghiên cứu, chúng tôi mong muốn góp phần tìm hiểu thể loại TTTT Mường, góp phần tìm hiểu văn học, văn hóa tộc người Mường nói riêng, văn học, văn hóa các dân tộc ít người nói chung Góp phần gìn giữ, bảo vệ những di sản văn hóa dân tộc trước những biến đổi về kinh tế, xã hội, văn hóa hiện nay là ý nghĩa thực tiễn mà luận văn mong muốn đạt được
ca Tác giả ca ngơi cái đẹp của câu thơ, sự quyết liệt của những con người chung thủy Đặc biệt tác giả hết lời khen ngợi truyện thơ “Nàng Ờm - Bồng Hương”, vì đó là bản cáo trạng sắc sảo Tác giả bộc bạch những tâm tình rất
chân thành với độc giả: “Tôi trích truyện thơ Nàng Ờm - Bồng Hương đã
Trang 12nhiều mà vẫn còn muốn trích nữa” Lời tâm tình này đã mặc nhiên công nhận
đây là một tuyệt tác của người Mường
Năm 1989, tác phẩm “Thơ một thời” của giáo sư Hoàng Như Mai được Nhà xuất bản Tiền Giang ấn hành, trong đó có một tiêu đề gây xúc động độc giả, “Một bản tình ca não nùng của dân tộc Mường” Hoàng Như Mai đã phát hiện những tinh túy, đặc sắc về tình cảm lứa đôi của dân tộc Mường, lời thơ mộc mạc, giản dị, chân thành đã lôi cuốn người đọc Hoàng Như Mai nhan
định truyện thơ “Nàng Ờm - Bồng Hương” là “Một công trình nghệ thuật
tuyệt mỹ, để nói lên một lời cầu xin cho con người được giải phóng, để không
ai phải chết vì mối tình tuyệt vọng, mặc dù cái chết ấy có khi cung cấp cho văn chương những tác phẩm bất hủ”
Năm 1995, trong Lời giới thiệu quyển Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường, tác giả Bùi Thiện nhận xét TTTT Mường:
Cùng với phương pháp tự sự, dù thần thoại hay hiện thực đều kết hợp với chất trữ tình được miêu tả nhẹ nhàng, tươi mát, dí dỏm mà sâu lắng gây được cảm xúc mạnh mẽ Nghệ thuật cấu trúc thơ kết hợp giữa vần chân với vần lưng, điệp ngữ và gián cách… hợp với khi sử dụng, họ có thể cất giọng ngâm nga thành giai điệu, hoặc ông mo hát theo điệu mo kể chuyện
Năm 1999, trong quyển VHDG Việt Nam do Lê Chí Quế chủ biên, tác giả Võ Quang Nhơn cho rằng:
Truyện thơ trữ tình chủ yếu nêu lên vấn đề hạnh phúc lứa đôi trong phạm vi sinh hoạt gia đình Nhưng vấn đề truyện thơ trữ tình nêu lên có ý nghĩa phổ biến và có tính nhân đạo sâu sắc; đó là tiếng nói đấu tranh cho tình yêu tự do, một đòi hỏi chính đáng và cấp thiết của thế hệ trẻ trong xã hội cũ
Trang 13Năm 2003, trong một công trình nghiên cứu về “Truyện thơ” của Phan Đăng Nhật, nhằm phục vụ cho việc phân loại truyện thơ về đề tài tình yêu đôi lứa của các dân tộc thiểu số Tác giả chọn truyện thơ “Út Lót - Hồ Liêu”, đây
là một trong những truyện thơ dân gian Mường được nhắc đến nhiều nhất:
Có thể nói từ khi ở trong nôi, mỗi người Mường được nghe, được hát
về Út Lót - Hồ Liêu Đến tuổi bắt đầu nhận xét ít nhiều về cảnh vật xung quanh, họ lại được bà mẹ kể cho nghe về sự tích đàn bướm lạc tháng ba, năm năm lại tái sinh và bay qua bay lại dập dờn đông vô
kể ở các nẻo rừng, về con cày cun rũ rượi, buồn bã đáng thương như người tiếc nuối điều gì đến trọn kiếp
Năm 2004, trong Tự điển văn học (Bộ mới), tác giả Trần Gia Linh nhận xét về truyện thơ Mường như sau:
Truyện thơ Mường rất gần gũi với ca dao dân ca Tác giả dân gian
đã tiếp thu những giá trị tự sự và giá trị trữ tình của các loại hình VHDG khác, kết hợp thành thể loại truyện thơ đặc sắc… Có thể nói truyện thơ Mường là khâu chuyển tiếp từ VHDG sang văn học thành văn Cũng có thể nói truyện thơ Mường là bước phát triển cao nhất của văn hoc dân tộc Mường trước 1945…
Mặc dù, TTTT Mường ít được sự chú ý của giới nghiên cứu khoa học nhưng không phải không có Các tác giả đều phát hiện được cái hay, cái tinh túy ở TTTT Mường Mỗi tác giả chỉ nghiên cứu một tác phẩm và với cái nhìn khái quát nhất hoặc đưa ra lời nhận xét chung về truyện thơ Mường Chính từ những ý kiến, nhận xét của các nhà nghiên cứu giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể về TTTT Mường, là cơ sở nghiên cứu kỹ hơn về bốn truyện thơ chọn khảo sát cả về đặc điểm nội dung và thành tựu nghệ thuật
Bên cạnh đó, công tác sưu tầm truyện thơ Mường được quan tâm hơn so với truyện thơ các dân tộc ít người khác Với sự ra đời của các công trình về
Trang 14truyện thơ Mường như: Truyện thơ Mường năm 1963, Nxb Văn Học được Minh Hiệu - Hoàng Anh Nhân giới thiệu; Tráng Đồng năm 1976, Nxb Văn Hóa được Mai Trí - Bùi Thiện giới thiệu; Tuyển tập truyện thơ Mường (3 tập) năm 1986, Nxb KHXH, Hà Nội; Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường năm
1995, Nxb Văn hóa dân tộc; Tuyển tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu so
- Phần truyện thơ tập IV, 1999, Vien Văn học, Nxb Giáo dục… đã gợi mở những vấn đề mới về một di sản truyện thơ còn ít được biết đến của dân tộc Mường
4 Phạm vi đề tài
Do năng lực nghiên cứu còn hạn chế và thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên việc đi sâu khai thác tất cả các TTTT Mường là điều không thực hiện được Trong khả năng cho phép, người viết chỉ tập trung tìm hiểu đặc điểm TTTT Mường được chọn lọc qua bốn tác phẩm tiêu biểu:
Út Lót - Hồ Liêu Vườn hoa núi Cối
Nàng Ờm - Bồng Hương
Nàng Nga - Hai Mối
Tất cả được tuyển chọn trong “Tổng tập Văn Học Dân Gian các dân tộc thiểu số” (Tập IV - Truyện thơ) của Viện Văn học, Nxb Giáo dục, 1999
5 Phương pháp thực hiện đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: Tiến hành thao tác thống kê tần số xuất hiện:
các môtip thường gặp, các con số, những biện pháp nghệ thuật… trong từng tác phẩm để thấy được giá trị của nó
Trang 15- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đi sâu nghiên cứu từng khía cạnh
trong bức tranh xã hội hiện thực Mường, sau đó tổng hợp khái quát lại để có cái nhìn toàn diện hơn về con người và xã hội Mường cũ
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Phương pháp so sánh - đối chiếu
được vận dụng trong luận văn nhằm làm nổi bật bức tranh hiện thực xã hội Mường có điểm gì giống và khác với bối cảnh xã hội của các dân tộc khác Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành so sánh về cốt truyện, các môtip và về phương diện ngôn ngữ trong TTTT Mường với TTTT các dân tộc khác, để từ
đó tìm thấy đặc thù riêng của dân tộc Mường cũng như nét chung của các dân tộc thiểu số qua thể loại truyện thơ Việc làm này cũng giúp phát hiện những giá trị nghệ thuật của TTTT Mường
- Phương pháp văn hóa học: dựa trên nền tảng kiến thức về văn hóa để
nghiên cứu văn học, nghĩa là xuất phát từ những hiểu biết về những nét đặc trưng nhất của dân tộc Mường để tìm hiểu về TTTT Mường
6 Những đóng góp mới của luận văn:
Luận văn bước đầu nghiên cứu một cách sơ bộ về đặc điểm của nhóm TTTT Mường, qua 4 tác phẩm được nhân dân Mường yêu thích Trong luận văn này, người viết cố gắng xác định những đặc điểm cơ bản nhất của TTTT Mường cả về nội dung và nghệ thuật, góp phần nghiên cứu TTTT Mường trong sự đối sánh với TTTT các dân tộc khác
7 Cấu trúc luận văn:
Luận văn gồm có kết cấu như sau: phần mở đầu, kết luận và 3 chương chính:
Chương 1 Tổng quan về tộc người Mường và truyện thơ trữ tình Mường
Chương 2 Đặc điểm nội dung của truyện thơ trữ tình Mường
Chương 3 Đặc điểm nghệ thuật của truyện thơ trữ tình Mường
Trang 16Ngoài ra còn có Thư mục tham khảo và 4 phần phụ lục sau:
Phụ lục 1 Bảng tổng hợp các môtip xuất hiện trong truyện thơ trữ tình Mường
Phụ lục 2 Bảng thống kê tần số xuất hiện của biện pháp nghệ thuật so sánh trong truyện thơ trữ tình Mường
Phụ lục 3 Bảng thống kê tần số xuất hiện của biện pháp điệp ngữ trong truyện thơ trữ tình Mường
Phụ lục 4 Một số đoạn thơ tiêu biểu của truyện thơ trữ tình Mường
Trang 17
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI MƯỜNG
VÀ TRUYỆN THƠ TRỮ TÌNH MƯỜNG
Mục đích của chương này là phác qua một cái nhìn tổng quát về người Mường ở Việt Nam và bộ phận TTTT Mường trong đó có bốn truyện thơ mà luận văn chọn làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp
1.1.Vài nét về tộc người Mường:
1.1.1 Quá trình hình thành dân tộc Mường
Huyền thoại khởi nguyên luận của người Việt Nam là truyền thuyết “Con Rồng - cháu Tiên”, “Con Lạc cháu Hồng” được ghi lại lần đầu tiên thành truyện họ Hồng Bàng trong sách “Lĩnh Nam chích quái”
Theo huyền thoại này: Mẹ Tiên Âu (Âu Cơ) là tiên trên núi xuống đã kết duyên với Bố Rồng Lạc (Lạc Long Quân) từ dưới biển lên, sinh trăm trứng,
nở trăm con trai Sau chia đôi, năm mươi con theo mẹ lên núi và tôn người con trai trưởng len làm vua (Vua Hùng), lập ra nước Văn Lang - quốc gia cổ đại sơ khai của Việt Nam Còn năm mươi người con trai khác theo cha xuống lap nghiệp ở vùng sông biển NÚI - BIỂN; MẸ - BỐ tạo nên một quốc gia Văn Lang thịnh vượng
Huyền thoại của người Mường thì nói rằng nàng Hưu Cơ (Âu Cơ) kết duyên với chàng Cá (Long Vương) sinh ra một trăm con, sau năm mươi con theo mẹ lên núi sinh ra dòng vua áo Chàm (người Mường), năm mươi con theo cha xuống biển sinh ra dòng vua áo vàng (người Kinh)
Giáo sư tiến sĩ Mỹ Keith Weller Taylor trong tác phẩm nổi tiếng “Sự sinh thành của Việt Nam” đã bình luận về huyền thoại khởi nguyên này về phương diện nhà nước pháp quyền như sau:
Cái ý tưởng về một vị thần linh từ NƯỚC (BIỂN) lên xây dựng nguồn cội cho một quyền lực chính trị và pháp quyền, tham dự vào việc hình thành cư dân Việt Nam từ thời tiền sử, là một ám thị sớm
Trang 18nhất về một quan niệm rằng: Người Việt Nam là một nhân dân riêng biệt và tự ý thức Ý tưởng đó được tạo hình ở nghệ thuật Đông Sơn, trên trống đồng với chim biển và các loài thủy tộc bao quanh các con thuyền chuyên chở chiến sĩ [103].
Dân tộc Mường cư trú trên một địa bàn rộng suốt từ phía Tây Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Sơn La, Hòa Bình, Hà Nam Ninh vào đến tận phía Tây Thanh Hóa và Nghệ An Căn cứ vào nhiều ngành khoa học, người Mường và người Kinh vốn là anh em cùng một ông tổ trực tiếp, là người Lạc Việt thời Hùng Vương Đồng bào Mường có cuộc sống của một cư dân nông nghiệp vùng bán sơn địa Đó là cuộc sống ổn định, quy củ, không được thiên nhiên ưu đãi như vùng đồng bào Thái nhưng cũng không quá gay go như vùng đồng bào Kinh “đất chật người đông” Đồng bào Mường có lối sống giản dị, thiết thực,
ưa thích những biểu hiện rõ ràng, chất phác Những nét đặc trưng ấy được thể hiện ngay trong phong cách âm nhạc Mường, được GS Tô Ngọc Thanh nhận
xét: “Giản dị mà không đơn sơ, thiết thực nhưng không thực dụng, rõ ràng
khúc chiết nhưng không thô thiển, chất phác mà không nông cạn”[83]
Nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào các tài liệu khoa học khác nhau đã đi đến nhận định: Người Việt và người Mường vốn có chung một nguồn gốc Về nhân chủng, hai nhóm Việt - Mường cùng chung những đặc điểm nhân chủng trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Môngôlôit Phương Nam Tuy vấn đề về nguồn gốc người Việt - Mường hiện nay còn tiếp tục nghiên cứu, song hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng: Họ là những cư dân bản địa, tổ tiên người Việt Mường là người Lạc Việt, chủ nhân của văn hóa Đông Sơn nổi tiếng Do
đó có cơ sở để cho rằng vào thời các vua Hùng hoặc vào thời đại đồng thau,
và cả giai đoạn tiếp theo, Việt - Mường còn là một khối thống nhất
Căn cứ theo các tài liệu ngôn ngữ, lịch sử thì từ thế kỷ VIII trở về trước hai dân tộc Việt - Mường có một tiếng nói chung Vào đầu thế kỷ X, khi kinh
Trang 19đô chuyển từ trung tâm Mường là Hoa Lư về Thăng Long (năm 1010) thì lúc
ấy tiếng Việt mới tách khỏi tiếng Mường thành hai ngôn ngữ riêng Trước đó, người Việt và người Mường có ngôn ngữ chung với hai phương ngữ: phương ngữ Kinh ở đồng bằng sông Hồng và phương ngữ Mường ở vùng gần chân núi phía Tây - Tây Bắc sông Hồng
Người Mường tự gọi tộc danh của mình là Mol, Mon, Moan, Mual (nghĩa
là người) Còn tên tộc danh Mường là về sau này, khi đồng bào canh tác ruộng lúa nước, mỗi đơn vị cư trú làm hệ thống mương dẫn nước tưới tiêu Từ
hệ thống mương dẫn nước dần dần thành đơn vị hành chính cư trú Mường trở thành tộc danh của một dân tộc ít người ở Việt Nam
Người Việt - người Mường vốn cùng chung một goc, gọi chung là nhóm Việt - Mường, chỉ mới tách ra thành hai tộc người khác nhau từ những thế kỷ đầu công nguyên Trong khi bộ phận người Việt xuống vùng đồng bằng và ven biển thì bộ phận người Mường ở lại các vùng thung lũng và chân các dãy núi Tây Nam Bắc bộ và Bắc Trung bộ vừa làm ruộng nước vừa làm ruộng nương Theo số liệu điều tra dân số công bố năm 2001 của Tổng cục Thống
kê thì dân tộc Mường có 1.137.515 người cư trú ở các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Thanh Hóa, Ninh Bình Nhưng tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình, nơi có bốn vựa thóc lớn, bốn vùng tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, xã hội của người Mường được ghi trong câu tục ngữ cổ:
“Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” (1)
1.1.2 Về kinh tế - xã hội - văn hóa
1.1.2.1 Kinh tế
Người Mường làm ruộng từ lâu đời và sống định canh định cư Nghề nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và lúa là cây lương thực chủ yếu
Trang 20Người Mường trồng lúa khá nhiều trên ruộng bậc thang.Trong công việc đồng áng, có thể nói người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thủy lơi nhỏ Đồng bào làm mương, phai để lấy nước Nhiều nơi thuộc tỉnh Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình còn dùng xe cọn để đưa nước vào ruộng Cọn có thể đưa nước lên cao năm, sáu mét Nhìn chung, hệ thống thủy lợi rất đơn giản nhưng có hiệu
quả cho trồng trọt J Cuisinier nhận xét: “Các phương pháp dẫn nước tưới
ruộng Mường nếu như không phải là những phương pháp cải tiến, thì cũng
-(1) Đó là mường Bi, mường Vang, mường Thàng, mường Động: bốn vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Hòa Bình
Trang 21Người Mường chăn nuôi trâu bò chủ yếu lấy sức kéo trong nông nghiệp, trong nghề rừng và để lấy phân bón ruộng Trâu được nuôi nhiều hơn bò và được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong cưới xin để trao đổi hay bán cho miền xuôi Săn bắn là một hoạt động trong đời sống của người Mường Săn bắn kết hợp với sản xuất để chống thú rừng, bảo vệ mùa màng Săn bắn không những là một nguồn lợi cung cấp thức ăn mà còn là một thú vui Đánh cá là một nghề phụ trong gia đình và tương đối phát triển ở những khu vực ven các con sông và suối lớn Các công cụ đánh cá khá đa dạng: chài, lưới, vó, đơm,
đó, đăng… J Cuisinier nhận xét về nghề đánh cá và săn bắn: “Nghề đánh cá,
tuy không có giá trị to lớn đối với người Mường, song lại đem đến cho họ nguồn lợi thu hoạch ổn định hơn nghề đi săn” [5, tr 176]
Người Mường hái lượm theo mùa Mỗi mùa có những loại rau khác nhau Theo thống kê, về mùa xuân thường có trên 60 loại rau, mùa hè trên 40 loại, mùa thu trên 20 loại và mùa đông khoảng 10 loại Họ nắm vững chu kỳ sinh trưởng và phát triển của từng loại cây trong rừng:
“Tháng sáu gặp nhau ở hố củ mài”
Nghề thủ công trồng bông, kéo sợi, nhuộm sợi, dệt vải đặc biệt phát triển
ở người Mường Các mặt hàng thổ cẩm, mặt gối, mặt chăn, cạp váy của người Mường rất nổi tiếng
Đặc trưng cơ bản trong nền kinh tế của người Mường: Trong lĩnh vực nông nghiệp, cây lúa giữ vai trò chủ đạo, chăn nuôi là nghề phụ nhưng có mối quan hệ khăng khít với trồng trọt, quy mô chăn nuôi tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng gia đình Hoạt động thủ công nghiệp đóng khung trong phạm vi gia đình Hái lượm và đánh cá vẫn đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế, trong khi đó vai trò săn bắt giảm đi nhiều Toàn bộ đời sống kinh tế của người Mường đến nay chủ yếu vẫn dựa vào thiên nhiên, mang tính tự cung tự cấp
Trang 221.1.2.2 Về xã hội
a Thiết chế xóm, mường:
Trước cách mạng tháng Tám 1945, xã hội người Mường nằm trong khuôn khổ một xã hội có đẳng cấp Quý tộc gọi là lang, bình dân gọi là dân Thiết chế xã hội trong xã hội cổ truyền của người Mường là xóm và mường
Ở đó hình thành bộ máy quản lý, điều hành theo luật tục, mọi thành viên trong cộng đồng xóm, mường phải tuân thủ tuyệt đối Sự phân tầng xã hội Mường
cũ của Nguyễn Duy Thiệu được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Sự phân tầng xã hội trong thể chế xã hội Mường [88]
Quý tộc: Lang
cun, Lang đạo
Bình dân: “Jân”
(những người được nhận ruộng công)
Tầng lớp gia nô:
“Mọi Bi”
Tầng lớp bán tự do: “Tứa rọong” (chỉ canh tác nương rẫy)
Nơi cư trú của người Mường được gọi bằng Quêl hoặc xóm, có nghĩa là làng Làng là cơ sở của xã hội Mường gồm nhiều tiểu gia đình phụ quyền mà
tế bào gia đình là cha mẹ và con cái, trong đó quyền thế tập thuộc về con trưởng Khu vực đất đai thiên nhiên được xác lập bền vững được các thành viên của làng biết rõ và các thành viên của làng khác tôn trọng
Trong chế độ lang đạo, tính chất đẳng cấp được bộc lộ rõ rệt Ở Hòa Bình, các dòng họ nắm quyền thống trị lâu đời là Đinh, Quách, Bạch, Hoàng,
Hà, Xa… Trong đó, Đinh và Quách là những họ có thế lực mạnh nhất Lang đạo theo chế độ thế tập Lang cun là con trưởng của chi trưởng, trên danh nghĩa đứng đầu mường, cai quản xóm chiềng là xóm lớn nhất, ruộng đất nhiều Còn con thứ hoặc con trưởng ngành thứ, cai quản các xóm nhỏ gọi là lang xóm hoặc lang đạo Để duy trì quyền lợi, “nhà lang” đề ra các quy định
và quản lý dân theo các quy định đó Lang là người đứng đầu về mặt tôn giáo,
Trang 23dân mường coi lang là người đại diện tiếp xúc với thần thánh Vì thế, trong nhiều nghi lễ của mường, làng nhất thiết phải có mặt nhà lang
Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954), chế độ nhà lang không còn nữa Người nông dân có ruộng đất, tự do làm ăn, sinh sống và bình đẳng
về mọi mặt Tổ chức xã hội theo cơ cấu làng, xã, huyện, tỉnh Xã hội được quản lý bởi hệ thống hành chính thống nhất trong cả nước
b Hôn nhân gia đình:
Gia đình người Mường là gia đình phụ quyền, tính chất gia trưởng được thể hiện rõ: người đàn ông là chủ gia đình, có vai trò quan trọng trong nhiều mặt của đời sống, có quyền hành, quyết định mọi việc: làm ăn, cưới xin, tang ma… và thực hiện các nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng Họ còn là người thay mặt gia đình quan hệ với làng xóm, họ hàng, với các tổ chức xã hội, chính quyền địa phương Mọi tài sản trong nhà đều do người chủ gia đình nắm giữ Những tài sản đó chỉ có con trai mới được quyền thừa kế Địa vị người phụ
nữ thấp kém, họ không được tham gia vào những cuộc họp của làng xóm, không được hưởng quyền thừa kế Người phụ nữ khi lấy chồng là bắt đầu cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào chồng Họ không có quyền bình đẳng với nam giới trong các lĩnh vực Quan niệm truyền thống của người Mường cũng
như của người Việt, xem trọng con trai “Một trai là có, mười gái là không”
Hôn nhân của người Mường là hình thái hôn nhân một vợ một chồng và
cư trú bên nhà chồng Do tính chất phụ quyền của gia đình kiểu gia trưởng nên hôn nhân của con cái chủ yếu do cha mẹ quyết định Người Mường còn tồn tại chế độ đa thê nhưng chỉ có trong tầng lớp lang đạo và những người giàu có
Phần lớn người Mường kết hôn với người đồng tộc Gần đây số lượng phụ nữ Việt lấy chồng Mường, đàn ông Việt lấy vợ Mường khá đông Trước cách mạng tháng Tám 1945, theo khảo sát của Mạc Đường tại ba xã Khánh
Trang 24Thượng, Minh Quang, Ba Trại huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây: 68 cặp chồng
Mường vợ Việt, 63 cặp chồng Việt vợ Mường
1.1.2.3 Văn hóa
Franz Boas, nhà nhân chủng học người Mỹ đã từng khẳng định: “Mỗi
nền văn hóa là một tồn tại độc đáo, hơn thế là một của báu độc đáo; sự biến
mất của bất cứ nền văn hóa nào cũng làm cho chúng ta nghèo đi”
[107, tr 12] Di sản văn hóa dân tộc là cơ sở để dân tộc hòa nhập với tiến
trình giao lưu quốc tế về mọi mặt nhưng không tự tha hóa mình mà còn làm
phong phú, sâu sắc cho chính mình trong sự đối thoại với những nền văn hóa
khác, góp phần làm phong phú cho kho tàng di sản chung của nhân loại
Thành tựu nghiên cứu khảo cổ học đã cung cấp những cơ sở khoa học,
giúp ta hiểu biết con đường phát triển của người tiền sử Đó là văn hóa Hòa
Bình, giai đoạn sớm của thời đại mới cách chúng ta ngày nay chừng 30.000
năm - 5000 năm Di tích văn hóa Hòa Bình phát hiện được nhiều ở vùng chân
núi rộng lớn Việt Nam, tập trung hai tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình Thanh Hóa
có 32 địa điểm, Hòa Bình có 72 địa điểm và rải rác trên địa phận tỉnh Ninh
Bình, Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La
Ý thức cộng đồng trong dân tộc Mường hình thành rất sớm, ý thức ấy là
linh hồn của chủ thể sáng tạo xây dựng xã hội Nó định vị các mối quan hệ
giữa con người với thiên nhiên, con người với con người, con người với thần
linh
a Văn hóa ứng xử giữa con người với thiên nhiên:
Đó là việc bảo vệ chăm sóc kho nguyên liệu ăn uống mà thiên nhiên ban
tặng đã trở thành ý thức của cả cộng đồng Người Mường muốn ăn măng nứa,
măng giang, măng luồng nhưng rừng chưa mở cửa thì dù măng có mọc ngang
sau nhà, họ cũng không bao giờ hái
Trang 25Sông và suối là nguồn nước sinh hoạt: nước tưới cho lúa, cho màu, nước
ăn uống, nước tắm giặt nên các dòng nước được mọi người tự nguyện giữ gìn Người Mường tâm niệm rằng: Nước là thứ nuôi sống con người, ai làm bẩn nguồn nước là có tội Người Mường rất có ý thức trong việc giữ gìn nguồn tài nguyên vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho họ Vì đó là nguồn sống của họ, nền kinh tế của họ chủ yếu dựa vào thiên nhiên
b Văn hóa ứng xử giữa người với người, người với thần linh:
Sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Mường cho phép trai gái giao lưu tình cảm, bày tỏ lời thương tiếng nhớ với nhau Chợ là nơi trao đổi hàng hóa vừa là nơi giao lưu tình cảm Trai gái đi chơi chợ gặp nhau trò chuyện, mời nhau về nhà ăn cơm, uống rượu, đến cuối ngày mới về nhà Trai gái Mường quan niệm:
“Thương nhau nằm gốc cà cũng ấm, nằm đống đá cũng êm
Không thương thì chín lần đệm, mười hai lần chăn nửa đêm nằm vẫn còn kêu lạnh”
Nguyên tắc và nghệ thuật ứng xử của người Mường thể hiện rõ nhất khi
có khách đến nhà Bất luận khách quen hay lạ, người Mường tiếp khách rất chu đáo Hễ thấy khách đến chân cầu thang nhà thì cả nhà đều đon đả ra chào Trước là uống nước, sau đó chủ nhà mang rượu ra mời khách Trước tiên là phải hỏi han sức khỏe của bố mẹ, con cái khách Sau đó nhất thiết phải dùng
cơm, tục ngữ Mường có câu: “Trâu ra đồng ăn cỏ, người đến nhà ăn cơm”
Trước bữa ăn, uống rượu cần súc miệng, trong bữa ăn uống rượu mộng (loại rượu ủ men từ nếp cái không qua chưng cất) Chủ khách nói chuyện vui vẻ bên mâm cơm nhưng chủ nhà bao giờ cũng khiêm tốn nói: “Chỉ có tí cơm đãi khách, chút rượu nhạt mời khách”
Trang 26Khi ăn cơm uống rượu, khách cũng phải có lời khen lại cơm rượu của chủ nhà cho đẹp lòng chủ:
“Ăn cơm không khen cơm
Quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình người Mường tương đối bình đẳng, bằng chữ hiếu Con cái phải yêu quý cha mẹ, chăm sóc phụng dưỡng Khi cha mẹ về già, con cái có trách nhiệm nuôi dưỡng Anh em ruột
thịt sống có trách nhiệm với nhau:“Anh em như dòng nước dù chém cũng
không đứt, dù chặt cũng không lìa”
Người Kinh cho rằng dâu là con, rể là khách Trong xã hội Mường, vai trò người rể cả rất được tôn trọng Khi nhà có công việc, bố mẹ đều gọi anh rể
cả và chị gái cả để bàn tính công việc Người Mường coi con dâu như con gái nên việc đối xử với con dâu cũng bình đẳng như con gái Người con gái về làm dâu nhà chồng được bố mẹ, anh em nhà chồng quý mến Xã hội Mường ít xảy xa mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu như người Kinh
Quan hệ huyết thống họ hàng chi phối sâu nặng trong các hộ gia đình Mường Mọi công việc to lớn của gia đình Mường đều có sự giúp đỡ của họ hàng, nhất là cưới xin, tang ma, làm nhà Mọi người coi đó là nghĩa vụ, trách
nhiệm cao cả của mình với dòng họ Tập quán này ở mường Bi gọi là tục góp
họ
Tang lễ là việc lớn cả xóm mường, ai cũng phải có trách nhiệm Đặc biệt, khi gia chủ phát tang thì bất kể người trong huyết thống hay hàng xóm đều đội khăn tang Họ quan niệm rằng: cùng chung một xóm mường với nhau thì là người thân
Trang 27Người Mường rất tôn kính thần Tản Viên, gọi là Bua Thơ, Pua Pa Vi (vị
vua ở núi Ba Vì) Ông là nhân vật huyền thoại “đi mây về gió”, “ban phúc trừ
tà” cho nhân gian và được thờ phụng ở khắp các gia đình Miếu thờ thần Tản
Viên được xây dựng ở trung tâm mường Thần Tản Viên không chỉ là vị sơn thần trong tín ngưỡng phong thủy, còn là vị anh hùng trong chiến tranh chống Thủy Tinh (chống lụt lội); đánh Thục Phán giúp vua Hùng, là vị thủy tổ dòng dõi Lạc Long Quân - Âu Cơ
Một lễ hội của người Mường được nhiều người yêu thích: Lễ hội Pồn pôông Lễ hội Pồn pôông của người Mường cĩ 2 loại: Pồn pơơng ma vua, Pồn pơơng Eng chng Trong lễ hội Pồn pôông ma vua, ông ậu hoặc bà máy(1) chủ trì Lễ hội này thờ ông Chương Các ông ậu, bà máy lập bàn thờ riêng ở nhà quanh năm hương khói Chủ đề nổi bật của lễ hội này là lòng biết ơn, sự
ngưỡng mộ của “con mày, con nuôi” đối với “khang cha bố mẹ” và cũng là dịp các “con mày con nuôi” các nơi được gặp nhau để vui chơi
Lễ Pồn Pôông Eng Cháng (Pồn pôông Ma Cheng) khác với lễ Pồn pôông
ma vua những điểm sau: Tổ sư tôn thờ là các “anh chàng” trong truyện thơ dân gian Mường: Hai Mối, Hồ Liêu, Bồng Hương Trò diễn có tích và dịch nên trò có nhân vật Tích đó là các thiên diễm tình của các đôi trai gái trong các truyện thơ Nàng Nga - Hai Mối, Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Ờm - Bồng Hương Ba thiên diễm tình này đều là những mối bi tình Những đôi trai gái yêu nhau tha thiết, nhưng bị cản trở, cuối cùng họ đều mượn cái chết để bảo toàn mối tình trong trắng, thủy chung Từ những mối bi tình này dựng nên kịch bản các trò như một vở kịch được diễn trong một nghi lễ với những đối thoại bằng thơ giữa chính các nhân vật Đây là một loại hình sân khấu sơ khai của người Mường
-(1) Những người làm nghề thuốc cứu người
Trang 28Lễ Pồn Pôông ma chenh đề cập đến vấn đề rất nhân văn: khát vọng yêu đương và hôn nhân tự do, một mối tình chung thủy mà xã hội Mường thời ấy không có được Trò Chá Chiêng dân tộc Thái, trò Xăng Bok của dân tộc Kháng, Khơ Mú, Xinh Mun rất giống với lễ hội Pồn pôông của người Mường
Lễ hội cồng chiêng ra đời, tồn tại và phát triển trên nền tảng của nông nghiệp lúa nước Lễ hội được tổ chức hàng năm vào mùa xuân với ý nghĩa cầu phúc bản mường, cầu cho mưa gió thuận hòa, mùa màng tốt tươi Chiêng được xem là vật gia bảo truyền đời của người Mường, chiêng càng được truyền qua nhiều đời thì càng quý Cái quý là ý nghĩa của sự tiếp nối dòng đời, một tinh thần huyết thống gia đình Tết Nguyên Đán, Tết Cơm Mới… họ đánh chiếc chiêng cha ông truyền lại để mời tổ tiên về Chiêng là phương tiện “thông quan” giữa thế giới người sống với thế giới người đã khuất Theo thống kê năm 2001 của cán bộ văn hóa huyện Lạc Sơn thì hiện nay ở Mường Vang là vùng có mật độ cồng chiêng cao, khoảng 300 chiếc Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, đời sống kinh tế xã hội nước ta
có những chuyển biến lớn tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa của người Mường Tính cộng đồng xóm mường được phát huy cùng với việc khơi dậy vai trò của cá nhân người Mường, vai trò của từng hộ gia đình trong chủ động sản xuất kinh doanh và tổ chức sinh hoạt văn hóa Trình độ dân trí nâng cao đánh vào những hủ tục lạc hậu, tạo cho người Mường sự lựa chọn khôn ngoan hơn đối với các giá trị ứng xử truyền thống
1.2 Giới thiệu chung về truyện thơ trữ tình Mường
1.2.1 Về nền văn học dân gian Mường
Dân tộc Mường chưa có chữ viết nhưng ngôn ngữ cơ bản là thống nhất
và có một nền văn học nghệ thuật dân gian rất phong phú Tất cả kho tàng văn học Mường còn lại đến ngày nay đều dựa vào truyền miệng Hoàn cảnh đó đã gây nên nhiều khó khăn cho việc truyền bá và gìn giữ văn học, nhưng đồng
Trang 29thời cũng là một minh chứng cho sức sống mạnh mẽ của nền văn học đó Nó không ngừng sàng lọc và loại bỏ đi những cái gì không hợp với tâm lý dân tộc hay tâm lý của tập thể người cùng chung sống trên một vùng đất khá rộng Nền văn học nghệ thuật dân gian Mường không những đồ sộ về khối lượng
mà còn phong phú về thể loại
Ngay từ năm 1960, tỉnh Hòa Bình đã tiến hành công việc sưu tầm vốn văn nghệ cổ truyền của dân tộc Mường Công việc được tiến hành khẩn trương và đã đạt được những kết quả khả quan:
- 1.443 bài dân ca các loại, gồm 32.975 câu
- Bốn hệ thống mo Mường Vang (7 đêm), Mường Bi (12 đêm), Mường Thàng (7 đêm), Mường Động (5 đêm) trong đó có trường ca “Đẻ đất đẻ nước” dài 4.672 câu và 10 truyện thơ dài
điếng Người Mường sáng tạo nên truyện “Bè bưởi nổi, bè đá chìm” để kết
liễu cuộc đời bọn thống trị ăn bám, tàn ác và ngu ngốc Tác giả Lê Chí Quế đã
nhận xét truyện cười rất hình tượng: “Một khi nhân dân cười thì mặt đất rung
chuyển và cái ác bị đạp nhào xuống”[73, tr 155]
Trang 30Tục ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm quý báu trong lao động sản xuất Tục ngữ phản ánh phong tục, tập quán và ứng xử trong giao tiếp:
“Đàn bà mài dao không sắc
“Rượu trong thì ngọt, rượu bọt thì chua”[56, tr.180 - 182]
Bác Hồ đánh giá cao vai trò của tục ngữ trong đời sống: “Những câu tục
ngữ, ca dao, vè… rất hay là sáng tác của quần chúng… Những sáng tác là những viên ngọc quý”[44, tr 38]
Ca dao - dân ca Mường nổi tiếng với những bài hát cầu chúc vào dịp đầu xuân, đặc biệt là hát sắc bùa (có nơi gọi là xéc - bùa) Có lẽ loại dân ca này xuất hiện từ lúc người Việt và người Mường chưa tách ra thành người Kẻ Chợ với người ở rừng núi Ông Phan Đăng Nhật khẳng định: “sắc bùa, một sinh hoạt Tết phổ biến ở nhiều dân tộc nước ta” Sắc bùa phổ biến rộng rãi ở các vùng người Mường Thanh Hóa, Hòa Bình, Lạng Sơn Sắc bùa của người Việt lưu hành ở Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Nghĩa Bình, Đồng Nai, Bến Tre[74, tr 155]
Các truyện thơ nổi tiếng như: Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai Mối, Nàng Ờm - Bồng Hương, Con Côi, Vườn hoa núi Cối… và còn nhiều thể loại khác
1.2.2 Về truyện thơ trữ tình Mường:
Xuất phát từ tên gọi của khái niệm, có thể định nghĩa như sau:
Truyện thơ là phương thức tự sự bằng văn vần giàu chất thơ Cấu trúc của nó là sự kết hợp giữa truyện dân gian và thơ dân gian Đó
là truyện trong thơ và thơ trong truyện
Tác giả Vũ Anh Tuấn cho rằng: “Truyện thơ là một thể loại văn học dân gian, có nguồn gốc dân gian và là thể loại ở đỉnh cao, thâu hóa được tất cả
Trang 31những tinh hoa của các thể loại tiền đề, từ đó hình thành một khuôn mẫu cấu trúc và một phong cách biểu hiện đặc trưng”
“Văn học dân gian các dân tộc thiểu số” (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) lại định nghĩa:
Truyện thơ là những truyện kể bằng thơ, biểu hiện cảm nghĩ bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc, chứa đựng vấn đề xã hội Có sự kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình, dung lượng lớn, mang tính chất cố
sự của truyện kể dân gian, biểu hiện dưới hình thức thơ ca với màu sắc trữ tình đậm
Nhận định trên chứng tỏ: truyện thơ là một thể loại VHDG mang đầy đủ những đặc trưng của một tác phẩm tự sự đồng thời được bổ sung những yếu
tố tạo nên chất thơ: vần, nhịp điệu…
Khi nói đến truyện thơ có một thuật ngữ cũng rất quan tâm, đó là truyện Nôm Thuật ngữ “Truyện Nôm” được nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm sử dụng lần đầu tiên xếp các truyện Kim Vân Kiều, Hoa Tiên, Phương Hoa, Lý Công… vào thể loại tiểu thuyết bằng văn vần Sau này, các nhà nghiên cứu gọi với các tên: truyện diễn ca (Đông Hồ), truyện ngâm (Thiếu Sơn)(nhấn mạnh phương thức diễn xướng), truyện Thơ Nôm (Cao Huy Đỉnh, Phan Đăng Nhật)(nhấn mạnh hình thức thơ ca) Tuy vậy, tên gọi truyện Nôm vẫn được nhiều nhà nghiên cứu dùng hơn cả
Thuật ngữ “truyện Nôm” theo ý kiến của giáo sư Đặng Thanh Lê, là một thể loại mang hai đặc điểm (xét ở góc độ lý luận văn học và văn học sử):
Truyện Nôm nằm trong hệ thống tác phẩm phản ánh cuộc sống bằng phương thức tự sự có nghĩa là phản ánh cuộc sống xã hội thông qua sự trình bày, miêu tả có tính chất hoàn chỉnh vận mệnh một nhân vật và trên cơ sở ấy, sự phát triển có tính chất hoàn chỉnh của một tính cách nhân vật
Trang 32Thể loại tiểu thuyết này sử dụng ngôn ngữ dân tộc: chữ Nôm và với tư cách tác phẩm tự sự bằng văn vần, đại bộ phận các tác phẩm đều sử dụng một thể thơ dân tộc - thể lục bát [67, tr 69]
Nhận định của Vũ Anh Tuấn có thể xem là kết luận chung cho mối quan
hệ giữa các khái niệm:
Truyện Nôm là truyện thơ Nôm, một dạng tồn tại của truyện thơ
Và nếu sử dụng thuật ngữ truyện Nôm thì chỉ bao gồm những truyện thơ của người Kinh - những tác phẩm hầu như được cố định trong văn bản chữ Nôm từ cuối thế kỷ XIX và một phần truyện thơ Tày [97, tr 93]
Thực chất truyện Nôm chỉ là một bộ phận của thể loại truyện thơ vì
“trong cái giới hạn phát triển tự nhiên của truyện thơ thì truyện Nôm chỉ là một lát cắt đồng đại”[97, tr 31] nhưng lại là thành tựu đỉnh cao về mọi phương diện của truyện thơ nói chung[97, tr 31] Tên gọi “truyện Nôm” và
“truyện thơ Nôm” chỉ là một và cách gọi “truyện thơ Nôm” nhằm nhấn mạnh hình thức thơ ca
Truyện thơ = truyện Nôm (Kinh) + truyện Nôm Tày + truyện thơ các dân tộc thiểu số (kể cả bộ phận còn lại của truyện thơ Tày)
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn phân biệt:
Truyện Nôm hữu danh - truyện Nôm khuyết danh: căn cứ vào tiêu chí tác giả Ví dụ: Truyện thơ hữu danh: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Sơ kính tân trang (Phạm Thái), Tây sương (Lý Văn Phức)… Truyện thơ khuyết danh: Phạm Tải Ngọc Hoa, Phương Hoa, Thạch Sanh…
Truyện Nôm bác học - truyện Nôm bình dân: căn cứ vào tầng lớp xuất thân của tác giả và trình độ nghệ thuật của tác phẩm Ví dụ: Truyện Nôm bác học: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự), Sơ kính tân trang
Trang 33(Phạm Thái)…; Truyện Nôm bình dân: Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Ngọc Hoa, Phương Hoa, Thoại Khanh - Châu Tuấn…
Trong “Văn học dân gian Việt Nam” [73, tr.170], ở phần truyện thơ, tác giả Võ Quang Nhơn căn cứ vào phương thức diễn xướng, lưu truyền và nguồn gốc kế thừa truyện thơ các dân tộc mà phân chia truyện thơ thành bốn nhóm sau:
Nhóm truyện thơ gắn với sinh hoạt nghi lễ dân gian
Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian các dân tộc
Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca dân gian các dân tộc
Nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức của truyện Nôm Việt
Bốn truyện thơ chọn khảo sát trong luận văn thuộc “Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca dân gian các dân tộc”, gọi ngắn gọn là TTTT Mường Nội dung chủ yếu của các câu chuyện: nêu cao khát vọng mãnh liệt của những đôi trai gái trong quá trình đấu tranh chống lại những tục
lệ hà khắc, những quan niệm hẹp hòi trong hôn nhân nhằm vươn đến một hạnh phúc đích thực
Vấn đề trung tâm của truyện thơ nói về tình yêu là cuộc sống đau khổ của những đôi trai gái bị thất bại trong yêu đương do xã hội cũ gây nên Đại diện cho xã hội bất công thường là bố mẹ, những người chịu trách nhiệm trực tiếp
gả bán Thực ra bố mẹ chỉ là người thi hành những quy tắc khắc nghiệt của những kẻ khác ở nơi cao xa khó thấy (Vua Ao Ước trong truyện Nàng Nga - Hai Mối) Vua quan, lang đạo đã thực sự trở thành kẻ cướp cô gái đẹp và gây nên bi kịch của tình yêu bất hạnh Đôi trai gái trong truyện thơ một mực kiên
Trang 34tâm chờ đợi, theo đuổi, bảo vệ và còn đấu tranh để giành lại hạnh phúc bị cướp mất, đặc biệt là vai trò của người phụ nữ: Út Lót, nàng Nga, nàng Ờm Kho tàng TTTT Mường rất phong phú, có khoảng trên mười truyện thơ: Chàng Khong Kheng, Nàng Vật Nga, Chàng Thông Đế Thông Đền, Tráng Đồng, Chàng Chiết Chiết, Vườn hoa núi Cối, Nàng Ờm - chàng Bồng Hương,
Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai Mối…
Mỗi truyện có sự khắc họa sâu sắc hơn như ca ngợi tình yêu trong trắng đẹp đẽ giữa Thông Đế Thông Đền và nàng Mại Lọ, nàng Vật Nga với Vua Thượng Đế; ca ngợi tình yêu chung thủy nồng nàn như Ưới Khào và chàng Chiết Chiết Cao độ nhất là đôi nàng Thờm, Tiên với hai chàng Va, Khói Họ
đã cùng chết bên nhau để trọn lời nguyện ước, ca ngợi Út Lót đẹp người đẹp nết, thông minh, chung thủy suốt đời với Hồ Liêu, mối tình đẹp đẽ trọn đời giữa nàng Nga và Hai Mối, Ơm và Bồng Hương… Phê phán những tư tưởng đạo đức xấu trong xã hội như lừa đảo, gian dối sẽ bị trừng trị như Khong Kheng, Tráng Đồng, nàng Chướng Va Truyện còn tố cáo việc ép gả hôn nhân
sẽ đi đến thiệt hại chết chóc như hai nhà bố mẹ Thờm, Tiên và bố mẹ chàng
Va, Khói Đả phá chế độ đa thê trong hôn nhân, gia đình nào hai vợ thì không sum họp vui vẻ như nhà Chiết Chiết
Bên cạnh đó, TTTT Mường còn được hát - kể trong những sinh hoạt tập thể chòm xóm quanh bếp lửa sàn, cũng có thể được trình diễn đôi đoạn trong
“pồn pôông” là một hình thức sinh hoạt văn nghệ - vui chơi tập thể vừa có chức năng cầu chúc mùa màng bội thu, dân an vật thịnh Truyện thơ Nàng Nga - Hai Mối còn tồn tại gắn kết với tục kết chạ giữa hai mường, xưa là quê hương của hai nhân vật chính, và cũng gắn kết cả với tục lệ thờ cúng nàng Nga ở “miếu nàng Nga” được mở ra định kỳ hàng năm Trong ngày hội có hát
- kể truyện thơ và làm sống lại cuộc đời nhân vật
Trang 35Các TTTT Mường có đề tài rất gần gũi với con người, cuộc sống và xã hội Mường Bố cục thường đơn giản, ít lắt léo, tâm lý nhân vật chưa có tính đột phá Các truyện đã kết hợp chất tự sự và chất trữ tình được miêu tả nhẹ nhàng, tươi mát, dí dỏm mà sâu lắng gây được cảm xúc mạnh đối với người đọc Nhân vật được miêu tả cụ thể từ hình dáng lẫn tâm hồn, tình cảm, có thái
độ dứt khoát rõ ràng Nhân vật truyện thơ gần với con người trong cuộc đời thực Họ trở thành đối tượng thương cảm của nhân dân:
Tiếng thơ trong truyện cũng là tiếng đồng cảm, tiếng khóc uất hận, tiếng nói đòi giải phóng, đòi trừng trị cường hào ác bá, đấu tranh cho chính nghĩa, công bằng cho ấm no hạnh phúc, thể hiện tinh thần lạc quan, ham sống, yêu đời của nhân dân các dân tộc [28, tr 133]
1.2.3 Các truyện thơ trữ tình Mường được khảo sát
Các tác phẩm được tuyển chọn trong “Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số” do GS Đặng Nghiêm Vạn chủ biên dựa trên các quyển:
Tuyển tập truyện thơ Mường (tập 2, 3), Nxb KHXH, Hà Nội, năm 1986 Tráng đồng, Mai Trí - Bùi Thiện sưu tầm, biên dịch, NXB Văn hóa, Hà
Trang 36Nàng Út Lót là con gái thứ ba của ông cun Đủ đạo Dà, em của nàng Nga và nàng Thái
Kim được cắm thành hàng ngăn giữa hai chiếu (thay vì bát nước)
Nàng Út Lót đến thăm chị và anh rể, nàng Nga tưởng đến làm dâu, đã nặng lời khiến Hồ Liêu đau khổ mà chết
b Tóm tắt tác phẩm
Nàng Út Lót vừa đẹp người vừa thông minh, nàng là con gái thứ ba của đạo Tu Liêng và bà Tu Ó Thấy bố lo lắng buồn phiền vì không có con trai đi chầu vua kẻ chợ, nàng xin được giả trai Dọc đường, nàng gặp Hồ Liêu cũng
đi chầu vua Hai người kết bạn “chung lưng, chung lộ, chung cỗ, chung phòng” Trong những ngày ở đất kinh kỳ, không những vua kẻ chợ mà cả Hồ Liêu cũng có ý nghi ngờ Út Lót là gái giả trai Nhờ thông minh bình tĩnh, Út Lót đã vượt qua trở ngại Hết han chầu, trên đường trở về, Út Lót trở lại một
cô gái dịu dàng, lộng lẫy Hai người yêu nhau, thề nguyền vàng đá, tạm chia tay nhau, hẹn ngày gia đình Hồ Liêu đến nhà dạm cưới nàng làm vợ
Ở nhà cha mẹ đã cưới vợ cho chàng, Hồ Liêu vì quá nhớ thương nàng mà chết Nhiều người đến dạm cưới, nàng đều từ chối Cuối cùng nàng nhận lời đạo Cun Cun là người ở về hướng mồ chôn Hồ Liêu Ngày rước dâu, khi đi qua mộ người yêu, nàng xuống thăm mộ Tới nơi, nàng cất tiếng gọi, Hồ Liêu
mở nắp săng đón nàng vào Hai họ dâu rể ngẩn ngơ biến thành đàn bướm trắng Còn chú rể tiếc Út Lót biến thành con cày cun nằm rũ trên cây, không thiết gì ăn uống
* Vườn hoa núi Cối
a Tình hình văn bản
Truyện thơ dài 2275 câu, được Mai Trí - Bùi Thiện sưu tầm và biên dịch,
in trong tập Tráng Đồng, Nxb Văn hóa, năm 1976 Bản dịch này lời thơ rất trau chuốt, đậm chất trữ tình, từ ngữ chọn lọc tinh tế, chính xác
Trang 37Một văn bản cũng của Bùi Thiện sưu tầm và biên dịch, in trong Tuyển tập Truyện thơ dân gian Mường giống với bản dịch trên nhưng lại có thêm một đoạn cuối dài 9 câu
Một văn bản của Đinh Văn Ân có tên là Đang vần va Trong quyển này
có nhiều câu chuyện, trong đó câu chuyện về cuộc tình anh Khói, chàng Va cùng đôi nàng Tiên dài 2660 câu Cốt truyện cơ bản là giống nhau nhưng lời thơ không được trùng khớp giữa hai văn bản Tuy nhiên có một số chi tiết lại khác nhau được thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Sự khác nhau một số chi tiết giữa văn bản của Mai Trí - Bùi
Thiện sưu tầm và văn bản của Đinh Văn Ân sưu tầm
Văn bản của Mai Trí - Bùi
Thiện sưu tầm
Văn bản của Đinh Văn Ân sưu
tầm
Mở đầu giới thiệu về cảnh đất nước ở
vùng vườn hoa núi Cối
Hai người vợ của anh Khói chàng Va:
một người đã có con, một người đang
Trang 38ở lại cưới hai nàng
a núi Cối cùng uống rượu hòa với lá ngón nhà” Đạo Trần, đạo Trà thương tiếc vợ, lấy dây cổ tự vẫn
b Tóm tắt tác phẩm
Chàng Khói và chàng Va là hai lang đạo nhỏ, nhân ngày hội lớn ở đất ông cun Vì Thàng, hai chàng gặp hai nàng Thờm, Tiên rất xinh đẹp Họ đem lòng yêu nhau, mặc dù hai anh đã có vợ ở nhà Hai anh hứa tr
làm vợ Trở về nhà, hai anh trả vợ, trả nàng về quê cũ để đi cưới hai nàng Thờm, Tiên nhưng không được sự đồng ý của cha mẹ
Còn về phần hai nàng Thờm, Tiên chờ đợi đến mỏi mòn vẫn chưa thấy hai chàng trở lại Cha mẹ hai nàng đã nhận đạo Trần, đạo Trà vào ở rể trong nhà Không đồng ý cuộc hôn nhân với đạo Trần, đạo Trà, hai nàng Thờm, Tiên bị cha mẹ đánh đập thê thảm Đến khi hai anh tìm đến gặp Thờm, Tiên thì mọi việc đã lỡ làng Hai nàng Thờm, Tiên đi tìm lá ngón hoa vàng Bốn người hẹn gặp nhau dưới chân vườn ho
Trang 39ngoài Bồng Hương đứng đợi sẵn ở dưới sân, ôm người yêu chạy lên núi Làn
Ai, lấy khăn tay thấm máu cho nàng, vào bản xin một nắm gạo, một cái niêu nấu
y đêm gắn bó Vào những đêm trăng sáng, Ờm kể lại câu chuy các mẹ để khuyên mọi người không nên chia rẽ tình
cơm cho nàng ăn Nhưng Ờm không ăn, chỉ muốn ăn lá ngón Cả Ờm và Bồng Hương cùng ăn lá ngón để được nên “đôi vợ đôi chồng”
Cha mẹ Ờm vô cùng hối hận, bèn lên núi gọi hồn con gái về Nhưng
Ờm không về mặc cho bố mẹ van xin Kể từ đó, hồn Ờm và Bồng Hương ở trên núi Làn Ai ngà
ện của mình cho các cố,
duyên đôi lứa
* Nàng Nga - Hai Mối
a Tình hình văn bản
Tác phẩm dài 1847 câu được tuyển chọn từ văn bản của Minh Hiệu trong quyển Tuyển tập truyện thơ Mường (tập 2), Nxb KHXH, Hà Nội, 1986 Văn bản này được đông đảo nhân dân Mường yêu thích Với lời thơ trữ tình mượ
phẩm còn có một văn bản của Bùi Thiện dài đến 1948 câu Văn b
bảng 1.3
Văn bản của Minh Hiệu
t mà sâu lắng, văn bản đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật, nội dung hợp logic
Tác
ản này có một số chi tiết khác với văn bản của Minh Hiệu được thể hiện ở
3 Sự khác nhau giữa văn b i Thiện sưu tầm và văn bả
của Minh Hi Văn bản của Bùi Thiện
ệu sưu tầm
Nàng Nga là vợ trước của Hồ Liêu, ợ trước của Hồ Liêu là người khác
ai Mối đi chơi chợ gặp được nàng
khi Hồ Liêu chết, nàng Nga trở về
nhà cha mẹ
Hai Mối làm bùa nghệ mới làm quen
V
H
Trang 40được với nàng Nga
Nàng Uồn, vợ Hai Mối làm bùa yếm
cho Hai Mối quên nàng Nga
Nàng Nga nói dối vua Ao Ước rằng
cha nàng đi đánh giặc đã lâu không
về
hôn hai
cũng trôi đến chỗ mộ của nàng Nga
Ở chốn suối vàng vua Ao Ước đi kiện
Hai Mối cướp vợ, Diêm Vương cho
Hai Mối thắng cuộc Sau đó, trên mộ
vua Ao
i tiết này
g: Cha nàng bị ệnh nặng
lính báo cho vua biết nàng Nga
m ma cho Hai Mối
hỉ có quan tài nàng Nga thả trôi
Nàng Nga được chôn cạnh Hai Mối
Không có chi tiết này
Vua Ao Ước giả dạng dân đến nơi
nàng Nga làm ma khóc Hai Mối
Cả quan tài nàng Nga và vua Ao Ước
được thả trôi sông
Nàng Nga và Hai Mối được c
bên bờ sông Ngang Sau đó, trên mỗi
nấm mộ của nàng Nga và Hai Mối
đều mọc lên một cây đa, cành lá vươn
qua sông quấn quýt lại nhau
Quan tài vua Ao Ước không ai vớt
Ước cũng mọc lên một cây
đa Nơi đấy, người ta gọi là cây đa
Csông