Có thể nói, chính họ với những tài năng thể hiện qua thực tiễn sáng tác của mình đã tạo cho nền văn học dân tộc một diện mạo độc đáo, đa dạng về phong cách, phong phú về thể loại,… Khảo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Một công trình nghiên cứu ra đời là kết quả của cả một quá trình ấp ủ, tìm tòi
và khám phá nó đòi hỏi người viết phải có sự cần mẫn, nghiêm túc ở từng khía cạnh cụ thể Vì thế, từ lúc nhận đề tài người viết đã có thời gian tìm hiểu, tham khảo nhiều nguồn tài liệu Trên cơ sở thừa hưởng nhiều ý kiến quý báu và có giá trị mà các công trình đi trước đã gợi ra hoặc khẳng định và cùng với sự nỗ lực của bản thân để đi đến hoàn thiện bài viết này
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi nêu trên thì một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công chính là sự tiếp nhận nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn
bè và những người thân gần xa Đặc biệt, người viết xin gửi lời tri ân sâu sắc, lời cảm ơn chân thành đến cán bộ hướng dẫn Phan Thị Mỹ Hằng người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Cuối lời người viết xin được gửi lời cảm ơn đến cha mẹ và anh chị những người luôn mang lại hơi ấm của tình thương và là nguồn động lực lớn nhất để người viết có thể hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ quan trọng của cuộc đời mình
Trang 31.1.1 Khái niệm
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ
1.1.3 Phân loại truyện thơ
1.2 Khái quát truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
2.1.1 Lòng yêu nước thiết tha sâu nặng
2.1.2 Thái độ bất hợp tác đối với kẻ thù
2.2 Y đức của người thầy thuốc
2.2.1 Phổ biến những kiến thức về y học
Trang 42.2.2 Coi trọng việc cứu dân như cứu nước
2.3 Niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai của dân tộc
2.3.1 Tin tưởng vào sự thắng lợi của đạo lý
2.3.2 Tin tưởng vào sự thắng lợi của dân tộc
CHƯƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC TRUYỆN THƠ “NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP” 3.1 Kết cấu truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
3.1.1 Yếu tố thần kỳ
3.1.2 Hiện tượng Y – Văn kết hợp
3.1.3 Hiện tượng xen kẽ nhiều thể thơ
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
3.2.1 Nhân vật ước lệ tương trưng
3.2.2 Nhân vật mang tính tự truyện
3.3 Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
3.3.1 Ngôn ngữ văn tự Hán và Ngôn ngữ văn tự Nôm
3.3.3 Ngôn ngữ vấn đáp
3.4 Nghệ thuật sử dụng điển cố trong truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
3.4.1 Điển cố mượn những câu chuyện về nhân vật lịch sử và các triều đại 3.4.2 Điển cố mượn những dẫn chứng tích cũ, lời xưa trong thơ cổ Trung Quốc
3.4.3 Điển cố mượn những địa danh trong văn chương Trung Quốc
3.4.4 Điển cố mượn từ Hán Việt kết hợp với từ Thuần Việt
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 51 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước, một chiến sĩ của lý tưởng nhân nghĩa Ông có một lòng thương yêu sâu sắc đối với nước, với dân, ông có một thái độ dứt khoát đối với kẻ thù, luôn nêu cao khí phách của một nhà nho chân chính trước uy vũ của quân địch Suốt đời ông đã mượn giấy bút chiến đấu không biết mệt mỏi để bảo vệ cho chính nghĩa được toàn thắng, cho đạo lý được bảo toàn, cho nhân dân nhân được yên ổn Thơ văn của ông giúp ta thấy rõ thêm quá trình đấu tranh anh dũng của dân tộc trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Nó nung nấu chí căm thù giặc và tay sai lên cao độ Nó kích thích và động viên tinh thần chiến đấu tiêu diệt quân thù
Dù cuộc đời riêng gặp nhiều bất hạnh nhưng không vì thế mà ông buông xuôi, Nguyễn Đình Chiểu đã khiến cho mọi người phải khâm phục cả về tài năng và ý chí vươn lên của bản thân ông Với ba truyện thơ, hàng chục bài văn tế là một số lượng không nhỏ nhưng đáng quý hơn nữa nếu biết rằng sự nghiệp văn học của nhà thơ chỉ bắt đầu khi ông không còn nhìn thấy ánh sáng của cuộc đời Đường đời và sự nghiệp văn chương của Đồ Chiểu ngay từ lúc sinh thời đã được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài chú ý,
để tâm tìm hiểu Trong chiến tranh ác liệt gian khổ, thỉnh thoảng người ta vẫn nghe ngâm
nga vài câu Lục Vân Tiên Ngày nay, thơ Đồ Chiểu được đưa vào trương trình phổ thông,
chương trình đại học của ngành Ngữ Văn,… nói như vậy để thấy rằng Nguyễn Đình Chiểu cùng với các tác phẩm của ông đã, đang và sẽ mãi là đề tài cho thế hệ nhân dân, các tầng lớp trí thức tìm hiểu
Trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, đáng kể đến là mảng truyện thơ với ba
tác phẩm: Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và Ngư tiều y thuật vấn đáp Tác phẩm Lục
Vân Tiên có lẽ được mọi người biết đến nhiều nhất vì đã được chuyển thể thành nhiều loại
hình sân khấu và lĩnh vực điển ảnh từ lâu đã được quần chúng nhân dân ngâm vịnh trong
cuộc sống Nhưng truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp, tác phẩm cuối cùng của Đồ Chiểu
thì ít được phổ biến vì một số người cho rằng tác phẩm ấy chỉ thiên về y học mà không mang một giá trị văn học nào
Trang 6Hiểu về vùng đất, con người và văn hóa của Nam Bộ, hơn ai hết những người nơi đây phải là những con người tường tận nhất Bản thân người viết là đứa con của vùng đồng bằng sông Cửu Long nên cũng muốn góp phần tìm hiểu, giới thiệu một phần nào đó những giá trị tinh thần ở mảnh đất thân yêu và cùng nhằm giới thiệu phần nào giá trị sâu
sắc của tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp đến với mọi người Chính vì thế người viết đã chọn truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử phát triển của văn hóa dân tộc, so với nhiều ngành nghệ thuật khác, văn học là nhân tố có vị trí quan trọng Theo dòng lịch sử văn học Việt Nam từ cổ điển đến hiện đại, qua từng giai đoạn từng thời kỳ, hòa trong dòng chảy chung của quy luật phát triển đã ghi đậm dấu ấn riêng của từng tác giả Có thể nói, chính họ với những tài năng thể hiện qua thực tiễn sáng tác của mình đã tạo cho nền văn học dân tộc một diện mạo độc đáo, đa dạng về phong cách, phong phú về thể loại,… Khảo sát văn học trung đại Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến những đỉnh cao như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ…
Và đến với Nguyễn Đình Chiểu một tác giả tiêu biểu, một “ngôi sao sáng” làm khởi sắc cho nền văn học trung đại Việt Nam ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX Ông là tấm gương sáng trên cả hai phương diện đạo và đời Nhà yêu nước, nhà thơ giữ đạo vẹn tròn, nhà văn giàu dũng khí và tài năng, người đã giữ gìn và đưa văn chương lên vị trí cao quý
Nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu không thể không đề cập đến giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Bởi hình thức nghệ thuật phải hòa quyện với nội dung và góp phần thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm
Trở lại với đề tài của bài viết ta thấy “Đặc điểm truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp” đã
được rất nhiều người quan tâm tìm hiểu Ở mỗi tác giả với những công trình khác nhau lại
có góc độ và mức độ phản ánh cũng không giống nhau Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu:
Quyển Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm [19] là một sưu tập chọn lọc
những bài nghiên cứu, phê bình – tiểu luận, trích đoạn chương sách từ những công trình
Trang 7nghiên cứu tiêu biểu do các tác giả trong và ngoài nước về Nguyễn Đình Chiểu Đây là một quyển sách có giá trị nhằm cung cấp một hệ thống tư liệu khoa học đáng tin cậy cho học sinh phổ thông, sinh viên đại học, cán bộ nghiên cứu và giảng dạy, cũng như bạn đọc
rộng rãi Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm có thể chia thành năm phần: phần
một “Tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu”; phần hai “Về con người và sự nghiệp”; phần ba “Về tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu”; phần bốn “ Ý kiến của người nước ngoài
về tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu”; phần năm “Phụ lục và thư mục”
Đặc biệt ở phần thứ ba của quyển sách, tác giả đã đề cập đến các truyện thơ Lục
Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và Ngư tiều y thuật vấn đáp Nhưng về truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp chỉ được đề cập đến qua hai bài viết là “Lệ ngôn” (cho Ngư tiều y thuật vấn đáp) của Phan Văn Hùm [19; 488] - đi vào tìm hiểu và so sánh các bản dịch,
nêu lên những khó khăn trong việc tiếp nhận tác phẩm do tồn tại nhiều dị bản và những vấn đề ngoài lề khác chứ chưa đi sâu khai thác nội dung và nghệ thuật của tác phẩm và
một bài khác là “Qua Ngư tiều y thuật vấn đáp, tìm hiểu thế giới quan Nguyễn Đình
Chiểu” [19; 498] – với nhan đề nêu trên cũng phần nào đã giúp cho người đọc hiểu được nội dung mà tác giả Bùi Thanh Ba muốn nói đến Bài này đi tìm hiểu quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu về thuyết âm dương, ngũ hành, và tác dụng của thế giới quan tiến bộ
ấy đối với sáng tác của nhà thơ: “viết Ngư tiều y thuật vấn đáp Nguyễn Đình Chiểu đã để
lộ một thế giới quan tiến bộ mà chúng ta không thể tìm thấy ở các nhà thơ khác cùng thời đại với ông” [19; 500]
Quyển Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và dư luận [20] đã tập hợp những bài viết của
một số tác giả tiêu biểu: Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phạm Xuân Chi, Lê Trần Đức,… kể cả những cây bút mới nghiên cứu lần đầu Nhưng nhìn chung họ đều có đóng góp ý kiến và quan điểm của mình về hầu hết các sáng tác của Đồ Chiểu Đáng quan tâm
hơn cả là bài “Hiện tượng văn y kết hợp và giá trị văn học của tác phẩm Ngư tiều y thuật
vấn đáp” – tác giả Phạm Xuân Chi [20; 382] Bài viết này đã phản những đặc điểm nổi
bật trong nghệ thuật của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp như hiện tượng văn y kết
hợp, sự xen kẽ nhiều thể thơ, ngôn ngữ, nhân vật,… nhưng vì dung lượng nhỏ nên mỗi
Trang 8vấn đề chỉ điểm qua khá sơ lược: “Chúng ta thấy sự kết hợp giữa văn và y diễn ra trong toàn bộ kết cấu cốt truyện và ngay trong từng phần một cách có dụng ý Tất cả những kiến thức về y học đều được trình bày dưới một hình thức văn học Và chủ đề văn học của tác phẩm thì lại ẩn kín dưới một câu chuyện có hình thức của y học [20; 383]
Và một bài khác là “Tìm hiểu Ngư tiều y thuật vấn đáp” của Lê Trần Đức bài viết
này đã khám phá tác phẩm ở góc độ phổ biến những kiến thức về y học, y đức của người
thầy thuốc: “ Ngư tiều y thuật vấn đáp đã cho chúng ta hiểu được tư tưởng nhân đạo cao
quý và bản lĩnh chân chĩnh của người thầy thuốc Tập sách là một bài học lớn về tư tưởng yêu nước, yêu dân, về tinh thần trách nhiệm, nhẫn nại và tận tụy trong nghề nghiệp Tất cả
vì mục đích cao quý là phục vụ cho dân tộc” [20; 377]
Quyển Nguyễn Đình Chiểu tác giả trong nhà trường [29] có đề cập một số vấn đề
về nội dung, nghệ thuật của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp: “nghệ thuật tượng trưng, phiếm chỉ vốn là phương pháp phổ biến của sử thi dân gian Các nhân vật của Ngư tiều y
thuật vấn đáp vẫn chỉ để minh họa cho lý tưởng “Đạo” của ông” [29; 82]
Qua những khảo sát sơ lược trên để đi đến kết luận về Nguyễn Đình Chiểu, nói chung đã có rất nhiều công trình bài viết với đầy đủ các quy mô khác nhau, phản ánh
nhiều góc độ khác nhau về cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng của ông Nhưng Ngư tiều y
thuật vấn đáp vẫn chưa được quan tâm tìm hiểu toàn diện, đúng mức Các bài viết thường
chỉ điểm qua một vài nét về đặc điểm nội dung và nghệ thuật rất của tác phẩm này
Nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu về “Đặc điểm truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp” từ trước đến nay đều có những tìm tòi, khám phá đáng quý, đáng trân trọng Bởi tiếp thu, kế thừa và phát huy những thành quả của các công trình nghiên cứu đi trước cũng là để góp phần nhận thức, khám phá thấu đáo hơn, toàn diện hơn vấn đề Trên
cơ sở thừa hưởng nhiều ý kiến quý báu của các công trình đi trước, người viết có nhiều điều kiện thuận lợi để đi sâu hơn, phát hiện thêm những đều mới mẻ khi đến với thế giới
văn chương của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp
3 Mục đích – yêu cầu
Trang 9Trong thế giới văn chương vốn dĩ là rất muôn màu muôn vẻ thì mỗi một tác giả - tác phẩm trong thế giới đó là một đóa hoa mang hương sắc riêng Đối với nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã có biết bao công trình lớn, nhỏ khác nhau nghiên cứu về ông Nhưng việc khám phá văn chương Đồ Chiểu chắc chắn là chưa thể dừng lại ở đây, bởi việc đi sâu khám phá vẻ đẹp riêng của văn chương Đồ Chiểu để giúp cho các thế hệ ngày thêm yêu quý văn chương cụ Đồ hơn vẫn là một việc làm có cơ sở khách quan và rất mực cần thiết
Nguyễn Đình Chiểu – không chỉ là nhà thơ tiêu biểu cho nền văn học trung đại ở chặng đường cuối mà công là tác giả quen thuộc luôn được giảng dạy ở các trường phổ thông nên trong công trình nghiên cứu này chúng tôi xin được bỏ qua những phần liên quan đến tác giả như: Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, quan điểm nghệ thuật,… trên cơ sở
đề tài người viết cần làm rõ một số vấn đề về thể loại truyện thơ và tác phẩm Ngư tiều y
thuật vấn đáp Nhưng phần quan trọng mà bài viết cần nghiên cứu sâu hơn là những đặc
điểm về nội dung như: Tâm trạng yêu nước nhưng bất lực trước cuộc đời, y đức của người thầy thuốc, niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai của dân tộc; và những đặc điểm
về nghệ thuật như: Kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, điển cố
Qua đó người viết có được cơ hội tìm hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng như các tác phẩm của ông Đặc biệt là những đặc điểm về nội
dung và nghệ thuật của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp, góp phần làm phong phú
nâng cao vốn kiến thức nghiên cứu chuyên sâu, nắm vững vận dụng tri thức đạt được giúp ích cho việc giảng dạy, nghiên cứu về tác giả và tác phẩm sau này
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, đối tượng khảo sát là tìm hiểu “Đặc điểm truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp” ở hai phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm và một
số vấn đề về thể loại truyện thơ Để mở rộng phạm nghiên cứu, luận văn còn tìm hiểu một
số tác phẩm truyện thơ khác có mối quan hệ với Ngư tiều y thuật vấn đáp
Vì phải lưu truyền khá lâu trong nhân dân trước khi được xuất bản nên Ngư tiều y
thuật vấn đáp tồn tại khá nhiều dị bản Trong bài viết này chúng tôi đã chọn một trong số
Trang 10những bản hiện nay được lưu hành để thuận lợi cho việc sử dụng dẫn chứng và nghiên cứu là bản in trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (tập 2) [14] Và một số tài liệu liên quan:
- Điển cố văn học [9]
- Lí luận văn học [13]
- Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm [19]
Luận văn gồm ba phần - Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung có 3 chương Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Đặc điểm nội dung truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp
Chương 3: Đặc điểm hình thức truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là phương thức, thao tác được người viết lựa chọn, sử dụng để sáng tạo ra các tri thức mới về đối tượng Và phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn này cụ thể là phương pháp nghiên cứu tác phẩm trên bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật với những mối liên hệ biện chứng nội tại - tức là nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở Đồng thời người viết còn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích nhân vật trên cơ sở chức năng lịch sử nghệ thuật, kết hợp với các thao tác phân tích, tổng hợp, chứng minh, liệt kê, trích dẫn để đi đến diễn giải khái quát vấn đề cần nghiên cứu
Bên cạnh đó người viết còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để tổng hợp tri thức của nhiều lĩnh vực và nhiều ngành học Đây là quá trình liên kết, thiết lập các quan hệ qua lại, quy định ảnh hưởng bổ trợ lẫn nhau giữa các ngành khoa học Không những vậy người viết còn đưa vào phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp với phương pháp so sánh đối chiếu để giúp nâng cao nhận thức định hướng kết quả nâng dần đối tượng nghiên cứu lên ngày một sâu và rộng hơn
Trang 11CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái quát truyện thơ
1.1.1 Khái niệm
Truyện thơ về tên gọi thể loại, hiện nay phổ biến gọi là truyện Nôm vì do điều kiện
lịch sử văn xuôi Nôm không phát triển, nghĩa là văn Nôm chỉ tồn tại dưới dạng văn vần
và biền ngẫu cho nên gọi truyện thơ hay truyện Nôm đều không sợ nhầm lẫn là truyện văn xuôi Nôm Đã có khá nhiều ý kiến, khái niệm khác nhau xung quanh thuật ngữ truyện thơ
Theo Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Truyện Nôm là thể loại tự sự bằng thơ dài rất
tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, do
viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm”
Trang 12Truyện Nôm có tác phẩm được viết bằng thơ Đường luật như Vương Tường, Tô
Công Phụng Sứ, nhưng phổ biến nhất là loại viết bằng thể thơ lục bát Có hai loại truyện
Nôm: Truyện Nôm bình dân viết trên cơ sở truyện dân gian như Phạm Tải Ngọc Hoa,
Tống Trân Cúc Hoa, Thạch Sanh, Truyện Nôm bác học có loại viết trên cơ sở cốt truyện
có sẵn của văn học Trung Quốc như Phan Trần, Hoa Tiên, Nhị Độ Mai, Truyện Kiều, có loại xây dựng theo cốt truyện sáng tạo bằng hư cấu như Hoàng Trừu, Trê Cóc, Sơ Kính
Tân Trang, Lục Vân Tiên,
Truyện Nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả, được lưu truyền trong dân gian, ngôn ngữ bình dị, mộc mạc Truyện Nôm bác học có ngôn ngữ trau chuốt, điêu luyện, dùng nhiều từ Hán Việt, điển tích tiêu biểu cho trình độ diễn đạt của văn học viết của dân tộc, trong đó có những tác phẩm đạt tới mức độ cổ điển, mẫu mực, bất hủ như
Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du
Đây là một thể loại sáng tác tiếng Việt (chữ Nôm) thời trung đại, phát triển mạnh
từ nửa sau thế kỷ XVIII và suốt thế kỷ XIX Số lượng tác phẩm còn tìm được khoảng trên
100 truyện, tạo thành một bộ phận khá lớn của sáng tác tự sự (cả chữ Hán và chữ Nôm) ở thời trung đại Việt Nam
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ
Truyện thơ Nôm là một thể loại khá độc đáo của văn học Việt Nam Song cho đến nay chưa ai khẳng định được chính xác nó ra đời khi nào và hình thái đầu tiên của nó ra sao chỉ có thể khái quát được đôi nét như sau:
Hình thức đầu tiên của truyện Nôm là những bài hát tự sự của các nghệ nhân hát rong Cũng không ai biết hiện tượng hát rong này xuất hiện từ lúc nào, chỉ biết nó phổ biến ở thế kỉ XV Các bài hát này phần lớn là do các nghệ nhân sáng tác Nhà chùa cũng sinh ra truyện Nôm Một số nhà sư đã diễn ra những sự tích trong kinh phật để phổ biến cho tín đồ Hai hình thức này chưa ai khẳng định được cái nào ra đời trước cái nào ra đời sau Có thể truyện thơ Nôm đã hình thành từ thế kỷ XVI, nhưng căn cứ vào tác phẩm hiện còn thì chỉ có thể cho rằng nó định hình ở thế kỷ XVII
Trang 13Truyện thơ Nôm phát triển trong xu hướng “diễn Nôm” – dùng tiếng Việt (chữ
Nôm) chủ yếu là trong thể lục bát, để diễn đạt những nội dung tự sự khác nhau; đây là một trong những xu hướng ngày càng phát triển mạnh ở văn học trung đại Việt Nam Kết quả là nhiều nguồn tự sự có bản chất thẩm mỹ và văn hóa khác nhau đã hội tụ ở truyện
thơ Nôm Nguồn tự sự lịch sử, gồm: Huyền sử, dã sử, truyền thuyết, lịch sử… được diễn Nôm như Thiên Nam ngữ lục, Đông các Nguyễn đại vương bản truyện, Ông Ninh cổ
truyện, Chúa Thao cổ truyện, Chử Đồng Tử diễn ca,
Nguồn tự sự tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, từ các “ chân kinh”, “bản hạnh”, vốn
thường được viết bằng thơ Nôm lục bát, đã được chuyển biên thành truyện Nôm, ví dụ:
Quan Âm tống tử bản hạnh (và dạng truyện Nôm sau này là Quan Âm tân truyện) Nguồn
tự sự xã hội của vốn truyện dân gian bản địa được diễn Nôm như: Bích Câu kỳ ngộ,
Chàng Chuối tân truyện, Phương Hoa… Nguồn tự sự xã hội mượn từ các tác phẩm văn
học Trung Hoa được diễn Nôm (như một loại phóng tác, dịch thuật, cải biên, thậm chí
sáng tác mới trên cơ sở một cốt truyện vay mượn): Phan Trần, Nhị độ mai, Hoa tiên,…
Cuối cùng là loại sáng tác mới cốt truyện được tạo ra như là kết quả sự hư cấu nghệ thuật
của chính tác giả (dựa trên kinh nghiệm sống riêng của mình) như: Mai Đình mộng ký của Nguyễn Huy Hổ, Sơ kính tân trang của Phạm Thái…
Khi phong trào truyện Nôm được truyền khẩu rộng rãi, một số người đã sử dụng loại hình này để sáng tác Trên cơ sở của những thành tựu truyện Nôm, các nhà nho nâng cao nghệ thuật viết truyện Nôm lên một mức Họ xây dựng hình tượng, miêu tả tính cách nhân vật, miêu tả hành động của nhân vật cho đến kết cấu, ngôn ngữ, rõ nét, mượt mà
và kỹ xảo hơn so với hình thức ban đầu Kho tàng truyện Nôm còn lại hiện nay có loại viết bằng thể thơ lục bát, có loại viết bằng thể thơ Đường luật, có những truyện có tên tác giả và có những truyện khuyết danh
Ở thế kỉ XVI, Phùng Khắc Khoan có Lâm Tuyền Vãn, Đào Duy Từ có Tư Dung
Vãn, Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào, Sứ Trình Tân Truyện của Nguyễn Tống
Khuê, yếu tố tự sự đã bắt đầu hình thành và phát triển Sang thế kỉ XVII có Thiên Nam
Trang 14Ngữ Lục Đặc biệt ở thế kỉ XVIII kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du xuất hiện là một
bước đột phá về nội dung và hình thức truyện thơ Nôm Việt Nam
Cũng cần nói thêm, phần lớn các truyện Nôm dựa vào cốt truyện của Trung Quốc hoặc kể lại các truyện cổ tích Việt Nam bằng chữ Nôm Dĩ nhiên là các tác phẩm có sự sáng tạo nghệ thuật chứ không đơn thuần chỉ là ghi lại các cốt truyện
Như vậy, có thể nói đến thế kỉ XVI truyện Nôm được hình thành Từ thế kỉ XVII bắt đầu phát triển và đạt đến mức thịnh nhất vào thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX Sang đầu thế kỉ XX việc sáng tác chữ Nôm dần dần chấm dứt Truyện thơ Nôm là một thành tựu lớn của nghệ thuật ngôn từ tiếng Việt thời trung đại Sự xuất hiện của bộ phận tác phẩm này có ý nghĩa điều chỉnh lại diện mạo chung của văn học thành văn Việt Nam trước đó, vốn là nền văn học phát triển theo mô hình văn học trung đại Trung Hoa
1.1.3 Phân loại truyện thơ
Có nhiều cách phân loại truyện Nôm Phân loại dựa theo nguồn gốc trực tiếp của
đề tài có ba loại: Loại dựa vào truyện cổ tích, loại dựa vào truyện thần hay sự tích thần phật, loại dựa vào thực tế Việt Nam sáng tác Phân loại dựa trên sự có tên hoặc không có tên tác giả thì có hai loại: Truyện Nôm khuyết danh và truyện Nôm hữu danh Truyện Nôm hữu danh là loại truyện biết rõ tên tác giả; còn truyện Nôm khuyết danh là loại truyện chưa biết tên tác giả là ai Thực ra lối phân chia này thuần túy có tính chất hình thức, mà không nói lên một đặc điểm nào về nội dung hay về thể loại Bởi vì chỉ cần tìm
ra tên tác giả của một truyện Nôm khuyết danh nào đó thì ta có thể xếp truyện Nôm khuyết danh ấy vào kho tàng những truyện Nôm hữu danh, mà không phải băn khoăn, thắc mắc về một điều gì Cách phân chia như thế không phải là việc phân loại khoa học,
và do ranh giới không có tính chất khoa học ấy, cho nên việc nghiên cứu truyện Nôm khuyết danh như một thể loại hay một loại hình, không thể đem lại kết quả xác đáng được
Theo giáo sư Nguyễn Lộc thì thực tế kho tàng truyện Nôm của ta tồn tại song song hai loại truyện cần được nghiên cứu như hai chủng loại của một thể thống nhất: Một loại được gọi là truyện Nôm bình dân và một loại được gọi là truyện Nôm bác học Loại
Trang 15truyện Nôm bình dân như kiểu Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Phương Hoa,
Lý Công, Hoàng Trừu, Loại truyện Nôm bác học như Truyện Kiều, Hoa Tiên, Sơ Kính Tân Trang, Phan Trần, Nhị độ mai, Truyện Tây sương,
Các cách phân loại này xét theo mặt nội dung và hình thức Từ đó có thể nhận ra được rõ ràng do hai loại tác giả sáng tác khác nhau:
Truyện Nôm bình dân thường được viết dựa theo những câu chuyện cổ dân gian
của ta, chứ không phải dựa theo những cốt truyện của Trung Quốc Nói cách khác, đó là những truyện dân gian do các tác giả là trí thức bình dân, nho sĩ nghèo sáng tác Về mặt nội dung, nó có tính quần chúng, gần gũi với nhân dân lao động, phản ánh các vấn đề có liên quan đến vận mệnh của quần chúng hơn Về mặt nghệ thuật thì thô sơ, mộc mạc, đôi
khi vụng về “Truyện Nôm bình dân” như Thạch Sanh, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải
Ngọc Hoa, Phương Hoa… đều là khuyết danh, thường là loại diễn ca truyện cổ tích,… lời
thơ mộc mạc nôm na, gần với lời kể vè; sự tích trong truyện thường được phiếm chỉ hóa (làm mất tính xác định lịch sử của không gian, thời gian), nhân vật không phải là những
cá tính mà là những “loại tính” (tính cách chung nhất của một hạng người) Các câu
chuyện được kể ra đều như là nhằm khuyến khích điều thiện, cảnh báo việc ác; cốt truyện được phát triển như là để minh chứng cho quan niệm mang tính ảo tưởng của dân gian “ở hiền gặp lành”, các nhân vật chính đều là những người tốt, lương thiện, dù có gặp tai ương chướng họa trên đời, cuối cùng cũng đều vượt qua, đều chiến thắng, được làm vua… Giới nghiên cứu nêu lên sự liên hệ chặt chẽ về nguồn gốc và về loại hình của
“truyện Nôm bình dân” với sáng tác dân gian Có những đề xuất theo đó nên xem “truyện Nôm bình dân” là thuộc loại hình văn nghệ dân gian (tức là truyện kể dân gian bằng văn vần)
Truyện Nôm bác học phần lớn có tên tác giả, chỉ một số ít là khuyết danh Nói
chung, tác giả của truyện Nôm bác học là những người thuộc tầng lớp phong kiến quí tộc,
có trình độ học vấn uyên bác, có quá trình tu dưỡng nghệ thuật Hầu hết loại truyện này được viết dựa theo những cốt truyện trong văn học cổ Trung Quốc, cá biệt mới có truyện
được nhà thơ hư cấu, sáng tác Về nội dung của nó có nhiều mặt phong phú, tiến bộ, đồng
Trang 16thời cũng ghi lại dấu vết đậm nét những mâu thuẫn và hạn chế trong thế giới quan và nhân
sinh quan của tác giả, vốn là những người thuộc tầng lớp trên Về nghệ thuật, một mặt thì
những tác phẩm này được gia công trau chuốt nhiều, nhà thơ tỏ ra có trình độ nghề nghiệp khá điêu luyện Mặt khác, ở những mức độ khác nhau trong từng tác phẩm, nó lại có tính chất cầu kỳ, kiểu cách, như nhà thơ sử dụng nhiều chất liệu lấy trong thơ ca Trung Quốc, nhiều từ ngữ Hán Việt, nhiều điển cố,… Truyện Nôm bác học được sáng tác theo phương thức của văn học thành văn, là những tác phẩm chủ yếu để xem, để đọc, chứ không phải
để kể Điều đó chi phối cách xây dựng cốt truyện, cách miêu tả nhân vật, miêu tả các biến
cố, các sự kiện của nó Theo phân loại ước lệ nêu trên, thường có tên tác giả (trừ một vài
tác phẩm như Nhị độ mai…), những sáng tác trong đó có dấu hiệu của việc xây dựng cốt truyện mới, rút từ một vài chi tiết, sự kiện và biến cố trong tiểu sử của chính tác giả (Sơ
kính tân trang), trên thực tế cũng đồng thời sử dụng nhiều mô típ cốt truyện có sẵn ở loại
phóng tác nêu trên Đề tài phổ biến ở “truyện Nôm bác học” là tình yêu của các cặp tài tử
- giai nhân; loại tình yêu tự do, ít nhiều vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo này thường được
mô tả say sưa như một lĩnh vực thể hiện khát vọng tự do của con người Truyện Nôm bác học tuy có một số khác biệt so với truyện Nôm bình dân về chuẩn mực nghệ thuật (lời thơ điêu luyện hơn, dùng nhiều từ Hán Việt, nhiều điển tích hơn, tuy có phần chú trọng ca dao, dân ca và ngôn từ dân gian, chú ý nhiều hơn đến tính hoàn chỉnh của cốt truyện, đến việc miêu tả tính cách và tâm lý nhân vật…), nhưng vẫn gần gũi với truyện Nôm bình dân
về mô hình cốt truyện
1.2 Khái quát truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
1.2.1 Hoàn cảnh sáng tác
Nguyễn Đình Chiểu sinh trưởng giữa lúc thực dân Pháp đang tiến hành xâm lược nước
ta Năm 1858, chúng đánh phá hải cảng Đà Nẵng Năm 1859, quân Pháp sau khi đánh chiếm Đà Nẵng, đã kéo quân vào Sài Gòn, tràn vào sông Bến Nghé, quan quân của triều đình chống trả yếu ớt Thành Gia Định bị giặc chiếm đóng, lúc bấy giờ Nguyễn Đình Chiểu đang sống và dạy học ở Gia Định, cho đến khi thành Gia Định thất thủ (17/02/1859) mới dọn về ở quê vợ tại làng Thanh Ba, quận Cần Giuộc (gần Chợ Lớn)
Trang 17lánh nạn và tiếp tục dạy học ở đấy Về Cần Giuộc khoảng một năm thì xảy ra cuộc kịch chiến giữa nghĩa binh và giặc Pháp (1861)
Sau hàng ước ngày 05-06-1862 do Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp ký giao ba tỉnh miền Đông cho giặc Pháp, Nguyễn Đình Chiểu không thể sống trong vùng giặc chiếm đóng, ông đã phải dọn về ở Ba Tri Bến Tre Từ thời gian này cho đến cuối đời ông tiếp tục sáng tác để góp phần chống giặc, bên cạnh việc tham gia cố vấn cho nghĩa quân
Trương Định Nguyễn Đình Chiểu sáng tác tập truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp từ sau
khi ông về Ba Tri, có lẽ là vào năm 1867 khi cả một miền đất đai rộng lớn, màu mỡ của
Tổ quốc rơi vào tay giặc Pháp Tác phẩm này được viết bằng thể lục bát: gồm 3642 câu lục bát, 21 bài thơ Đường luật và một số bài thuốc Đông y Bản in trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (tập II) của nhà xuất bản Văn Học xuất bản năm 1997
Tác phẩm được lưu truyền trong hai tỉnh Bến Tre và Mỹ Tho cho mãi đến năm 1952 mới được nhà xuất bản Tân Việt Sài Gòn xuất bản, tác phẩm còn có rất nhiều dị bản Đây
là một tác phẩm hết sức độc đáo cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật
1.2.2 Tóm tắt cốt truyện
Vào đời Hậu Tấn khoảng năm 936 đất U Yên ở Trung Quốc, Thạch Kính Đường vì muốn chiếm ngôi báu của nhà Hậu Đường nên đã thông mưu với quân Khiết Đan (nước Liêu), cắt đất nhượng cho Khiết Đan, để được Khiết Đan phong cho làm vua xứ này Dân trong chốn nhượng địa phải sống khổ sở lầm than, dưới ách đô hộ của nước ngoài và dưới
sự áp bức của bè lũ gian nịnh bù nhìn trong nước Những người có tâm huyết không khuất phục chế độ ấy Một số xiêu bạt đi nơi khác để sinh sống, không ít kẻ phải lánh đi, kẻ lên núi hái củi (tiều) hoặc kẻ xuống biển đánh cá (ngư) để kiếm sống
Trong truyện, nhân vật Ngư tên là Bào Tử Phược, nhân vật Tiều tên là Mộng Thê Triền
Họ vốn là hai người bạn, vì nạn “nước mất”, hoàn cảnh loạn ly mà xa cách nhau từ lâu, cả hai cùng bỏ con đường khoa cử để sống ẩn dật Hai nhân vật Ngư và Tiều đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn người thì vợ chết, vợ bệnh liên miên, kẻ thì con đông nhưng đau
không dứt Sau khi kể cho nhau nghe hoàn cảnh gia đình, Ngư và Tiều rủ nhau đi tìm Kỳ
Nhân Sư là một vị thầy thuốc có “tài cao đức trọng” ở đất U Yên, lúc này cũng đang đi ở
Trang 18ẩn, thương dân nên ra làm thuốc cứu dân độ thế Dọc đường họ gặp được Châu Đạo Dẫn
(nghĩa là kẻ dẫn đường vào nhà Châu (Chu)) vốn là đồ đệ của Kỳ Nhân Sư, liền nhờ Châu Đạo Dẫn dẫn lối cho
Biết Kỳ Nhân Sư đi vắng, Châu Đạo Dẫn liền mời Ngư và Tiều vào am Bảo Dưỡng nghỉ tạm vài ngày Ba người từ đó kết thân với nhau và Châu Đạo Dẫn đã dạy cho Ngư và Tiều những bài học vỡ lòng của nghề thuốc Châu Đạo Dẫn có ý định giới thiệu họ với
Đường Nhập Môn (kẻ dẫn vào cửa chính đạo của đời Đường Nghiêu) là một môn đồ giỏi
của Kỳ Nhân Sư Họ chưa kịp đến ra mắt Đường Nhập Môn thì tình cờ Đường Nhập Môn
đi qua am Bảo Dưỡng, nhân đó Châu Đạo Dẫn liền mời Đường Nhập Môn vào am Bảo Dưỡng chơi Tại đây, họ cùng nhau xướng họa để tỏ nỗi lòng mình trước cảnh non nước
bị ngoại bang xâm chiếm
Sau đó, Châu Đạo Dẫn phải từ biệt bạn để về Đông Thanh học luyện đan, Ngư – Tiều ở lại với Đường Nhập Môn để học về y thuật và chờ ngày gặp Kỳ Nhân Sư Đường Nhập
Môn cho họ biết Kỳ Nhân Sư có hai người bạn là Hưởng Thanh Phong (tên này có nghĩa
là tiếng vang của làn gió mát) và Ảnh Minh Nguyệt ( nghĩa là bóng vầng trăng sáng), đều
là bậc tài cao đức trọng, không màng gì đến vòng danh lợi trần tục
Bấy giờ, vua Liêu sai sứ đến rước Kỳ Nhân Sư về triều giữ chức thái y Kỳ Nhân Sư lấy cớ bị bệnh nên không ra nhận chức Nghe tin, Đường Nhập Môn vội đưa Ngư – Tiều đến xin học Kỳ Nhân Sư Họ cùng nhau đến Đan Kỳ là nơi Kỳ Nhân Sư đang ở Tới Đan
Kỳ, họ được Châu Đạo Dẫn ra đón và kể cho nghe truyện Kỳ Nhân Sư ở Thiên Thai, vì không chịu ra làm thái y cho vua Liêu, lại muốn được yên thân nên đã tự xông cho mù cả hai mắt Nghe kể, Đường Nhập Môn lấy làm đau lòng và trách Hưởng Thanh Phong và Ảnh Minh Nguyệt không biết can ngăn thầy Châu Đạo Dẫn cho hay là họ đã can thầy, nhưng thầy lại cho rằng, giữa lúc đất nước bị ngoại xâm giầy xéo thì thà đui mà giữ trọn được thảo ngay, còn hơn là mắt sáng mà cam tâm làm ngơ trước mọi hành vi tàn ngược của kẻ thù
Nghe kể, ai cũng tỏ lòng kính phục Kỳ Nhân Sư Ngư và Tiều ngỏ ý xin được học Kỳ Nhân Sư và tiện thể hỏi Hưởng Thanh Phong và Ảnh Minh Nguyệt về tương lai của đất
Trang 19nước Nhưng Châu Đạo Dẫn khuyên họ hãy ở lại để chờ và Châu Đạo Dẫn đã giảng thêm cho hai người về y thuật Tuy không gặp được Kỳ Nhân Sư nhưng hai người đã học được hai thiên dạy về cách làm thuốc do chính Kỳ Nhân Sư soạn thảo
Sau còn vương vấn chuyện gia đình Ngư, Tiều lãnh hai bài đó rồi trở về Sau khi từ biệt Đạo Dẫn và nhập Môn, Ngư - Tiều dự định sẽ bỏ nghề cũ để đi làm nghề y Đêm đi lạc đường trong rừng, vào ngủ ở một cái miếu trong hang, nằm mê thấy mộng xử án các thầy thuốc, thầy châm cứu chữa xằng, và thầy phép, thầy chùa gieo mê tín dị đoan Tỉnh
ra, Ngư, Tiều mới biết đó là những lời răn, nên khi về nhà, cả hai người đều ra công học thuốc cho thật giỏi, thấu đáo, rồi chuyên mỗi người một khoa Ngư chữa bệnh nhi khoa, Tiều chữa bệnh phụ khoa Họ đều trở nên những thầy thuốc lành nghề và chân chính Họ thường qua lại với nhau và thỉnh thoảng lại đến Đan Kỳ để học thêm những bí quyết trong nghề thuốc của Kỳ Nhân Sư
1.2.3 Ý nghĩa truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
Đến khi cuộc chiến đấu bằng gươm súng đã buộc phải tạm ngưng, Nguyễn Đình Chiểu cũng như nhân dân miền Nam lúc bấy giờ vô cùng căm phẫn Ông rất đau xót về tình cảnh đất nước bị chia cắt, nhân dân khổ cực nhiều bề, vì bị mù không có điều kiện cầm vũ khí giết giặc, nên ông đã dùng bút thay gươm, viết văn làm thơ để nói lên lòng yêu nước - thương dân, căm thù sâu sắc đối với quân cướp nước và bè lũ vua quan nhà Nguyễn bán nước, hại dân
Ngư Tiều y thuật vấn đáp là tác phẩm tiêu biểu cuối cùng của Nguyễn Đình Chiểu
Đây là một truyện thơ mang nhiều ý nghĩa, nhằm mục đích phổ biến Đông y tác giả đã mượn bối cảnh đất nước U Yên ở Trung Quốc đời xưa bị giặc nước ngoài xâm chiếm, dựng lên câu chuyện người dân xứ này đi lánh nạn , tìm thầy học thuốc cứu người, cứu dân trong cảnh lầm than nheo nhóc Dưới hình thức câu chuyện về y học để nói lên sự quan tâm của mình đối với tính mạng của bệnh nhân trước tình cảnh các dung y vụ lợi, nhằm bổ cứu tình hình y học đương thời vì nhiệm vụ của người thầy thuốc là bảo vệ sức khỏe cho nhân dân Song song với nhiệm vụ cứu người, tác giả còn nêu cao vấn đề cứu
Trang 20nước nhằm động viên tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân, nói lên tấm lòng yêu nước thiết tha sâu nặng của mình
Tình thế không còn cho phép kêu gọi đánh Tây, tác giả lại chủ trương không cộng tác với Tây, kiên trì thái độ chống đối, bất hợp tác với thực dân Pháp Nhà thơ vẫn nêu cao chí hướng của những người yêu nước, nuôi dưỡng lòng căm thù giặc Qua đó ta thấy được khí phách bản lĩnh của một nhà nho chân chính - Nguyễn Đình Chiểu
Ngư Tiều y thuật vấn đáp là một truyện thơ độc đáo, sâu sắc mang nhiều ý nghĩa
Chính vì thế Giáo sư Lê Trí Viễn viết trong lời tựa của quyển Ngư tiều y thuật vấn đáp
lần xuất bản năm 1982 “Y thuật ấy là kết tinh nghề thuốc của hàng trăm bộ sách của mấy mươi thế kỷ Yêu nước ấy có chiều sâu cá nhân một đời người và chiều sâu dân tộc hàng trăm năm Nhưng cả hai đều đúc lại thành một thang thuốc hồi sinh, một đạo lý sống, một con đường phù hợp cho những người yêu nước bình thường trong tình hình quê hương rơi vào tay giặc: giữ vững khí tiết không phục vụ quân thù, làm một công việc vừa có ý nghĩa vừa giúp dân vừa giúp nước, ”
Trang 21CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRUYỆN THƠ “NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP”
2.1 Tâm trạng yêu nước nhưng bất lực trước cuộc đời
2.1.1 Lòng yêu nước thiết tha sâu nặng
Trong lịch sử nước ta, thời nào cũng vậy hễ có ngoại xâm là tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước chống ngoại xâm lại nảy nở và phát triển mạnh mẽ Bởi Tổ quốc hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên trong lòng mỗi người gợi lên một niềm yêu thương bao hàm tất
cả những gì thân yêu và quý báu nhất Tình yêu Tổ quốc là một tình cảm cao cả, nó cũng vận động không ngừng cùng với lịch sử Đi qua một thời kì tư tưởng yêu nước lại mang những dấu ấn riêng biệt và trong văn học tư tưởng ấy đã làm nên những giá trị bất diệt Nền văn học thành văn của Việt Nam ra đời cùng với nền độc lập của dân tộc Một trong những tiếng nói đầu tiên của nó là tiếng nói khẳng định, tiếng nói quyết chiến, quyết thắng kẻ thù
Từ đây song song với nền văn học dân gian, văn học thành văn đánh dấu sự trưởng thành của mình bằng sự trưởng thành của ý thức dân tộc, và những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm thắng lợi đã đem đến cho thơ văn những trang viết hết sức hào hùng, sôi nổi Thơ của Lý Thường Kiệt, Trần Quang Khải, hịch của Trần Hưng Đạo, cáo của Nguyễn Trãi, phú của Trương Hán Siêu,… là những tác phẩm mẫu mực của văn học yêu nước các giai đoạn trước, đồng thời cũng là những tác phẩm mẫu mực của văn học dân tộc nói chung Văn học yêu nước chống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đã kế thừa một cách tốt đẹp truyền thống yêu nước trong lịch sử và có những bước phát triển mới của nó
Trang 22Nguyễn Đình Chiểu là người mở đầu cho giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX,
là nhà thơ tiêu biểu nhất cho dòng văn học yêu nước chống Pháp Tên tuổi của ông tượng trưng cho lòng yêu nước Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là tượng trưng cho lòng yêu nước của nhân dân miền Nam, và thơ văn của ông như cố thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã viết là: “những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân
ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta”(…)
Nói đến thầy Đồ Chiểu – cái tên trìu mến mà nhân dân miền Nam dùng để gọi cho nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, người ta không thể không nhắc tới tình yêu đất nước thiết tha trong tâm hồn ông và trong thơ văn của ông Bản thân cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu có những đặc điểm hết sức đặc biệt Ông sống trong giai đoạn nước nhà đang
có những cơn nguy biến và gay go nhất của lịch sử Nhân dân đã tiến hành một cuộc chiến đấu quyết liệt chống kẻ thù, nhưng giai cấp phong kiến mục nát nhà Nguyễn từng bước đầu hàng thực dân Pháp Tự Đức năm 1862 cắt ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, và năm
1867 cắt luôn ba tỉnh miền Tây Nam Bộ cho giặc Pháp, mở đầu cho một thời kì đen tối của đất nước ta dưới ách đô hộ của quân xâm lược trong gần một thế kỉ Nguyễn Đình Chiể - người Gia Định, bị mù lòa, không có điều kiện cầm gươm, cầm súng giết giặc, ông vẫn theo dõi rất sát phong trào chống giặc của nhân dân và ngay từ đầu đã dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Với ngòi bút chiến đấu nhà thơ đã trực tiếp đánh giặc suốt đời Có thể nói bao nhiêu đau khổ của con người đã dồn vào một con người trong một hoàn cảnh đau khổ của đất nước
Lúc bấy giờ ông tập trung sáng tác cuốn Ngư tiều y thuật vấn đáp, bày tỏ thái độ
chống đối Thạch Kính Đường đầu hàng bọn Khiết Đan dâng đất cho giặc mà gián tiếp tỏ thái độ chống Tự Đức của mình Tự Đức chỉ ích kỷ lo cho ngôi vua của mình, thậm chí còn hoang phí tiền của nhân dân, khiến binh dân nổi lên chống lại Vì tình nghĩa thiết tha
Trang 23đối với dân, với đồng bào ruột thịt mà ông mạnh mẽ tố cáo nhà vua và đồng thời bày tỏ tấm lòng yêu nước thiết tha đối với nhân dân, đất nước
Ngư tiều y thuật vấn đáp, như tên gọi thì đây là một quyển sách dạy nghề thuốc
chữa bệnh Nhưng chủ ý của Nguyễn Đình Chiểu là qua câu chuyện vấn đáp giữa hai nhân vật Ngư và Tiều, mượn những lời của nhân vật trong truyện để nói lên lòng yêu nước, căm thù giặc, khinh ghét bọn người cam tâm làm tay sai cho quân xâm lược Và ông cũng mượn câu chuyện này để phản ánh những vấn đề thời sự mà ông hằng quan tâm
và đau lòng vì nó Thơ văn yêu nước chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu là phần thành công nhất, phần có giá trị nhất trong toàn bộ sáng của ông, nó không chỉ chở đạo mà còn mang tính chiến đấu Bởi yêu nước là tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của tác giả, đồng
thời nó cũng là nội dung quan trọng trong truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp
Hãy giở lại những trang lịch sử “khổ nhục nhưng vĩ đại” của đất nước ta hồi ấy:
Trời Đông mà gió Tây qua
Mở đầu những vần thơ hào hùng của tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu đã lớn tiếng lên
án nhà vua đã đầu hàng cắt đất cho giặc, đẩy non sông vào cảnh non nước phân li, người người, nhà nhà phải chia biệt
Kể từ Thạch Tấn lên ngôi,
Một phần đất nước bị cắt cho giặc, nhân dân khôn xiết lầm than “Sinh dân nào xiết
bùn than” Có thể thấy dưới lớp vỏ đàm đạo y thuật, tác phẩm này là một ẩn dụ lớn, gói
trọn tấm lòng yêu nước thiết tha mà sâu nặng, kín đáo Mượn câu chuyện là Thạch Kính Đường vì muốn chiếm ngôi báu nên đã cam lòng cắt đất U Yên cho giặc Dân trong chốn
nhượng địa phải sống khổ sở, chật vật, đói kém “sinh dân đồ thán”, trước cơn nguy biến của Tổ quốc “cuộc cờ thúc quý đua bơi” một cuộc đời loạn lạc, đua nhau giành dật, thắng
bại, loại trừ lẫn nhau:
Đời vương đời đế xa rồi
Trang 24Với lòng yêu nước thiết tha sâu nặng đau buồn về thời cuộc, về lòng người với đạo trời, hai nhân vật Ngư - Tiều gặp nhau, sau câu hàn huyên rồi cùng nhau hoài cổ về một thời đã qua, từ thời Tam hoàng Ngũ đế Họ bàn luận, khen chê, họ thương xót thở than
cho những gì đã qua từ thuở “Đông Chu, Hạ Thương, Thất hùng, Ngũ bá”:
Uống thêm vài chén rượu giao,
Tất cả toàn là những câu chuyện xa xưa, chuyện của một thời đã qua nay lúa đã
“trổ đầy, bò lấp” những dấu rêu xanh Thế nhưng qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Đình
Chiểu những tình cảm dạt dào, những xót thương, thở than ấy chẳng khác chi chuyện thực
trước mắt khiến cho lòng người xao xuyến, bồi hồi “Thấy người đau giống mình đau”,
mượn chuyện xưa để giãi bày tâm sự của mình, mượn lời hàn huyên giữa hai nhân vật Ngư và Tiều cụ Đồ Chiểu đã bày tỏ tấm lòng yêu nước thiết tha, sâu nặng, ông luyến tiếc
xót thương cho cảnh vua sáng tôi hiền “vững bốn phương” đã chẳng còn dấu vết gì ở cái
triều đình đương thời Không những vậy nhà thơ còn mượn chuyện Ngũ bá xem nhẹ nhân
nghĩa “nhân nghĩa mọn” coi trọng quyền lợi của bản thân, mà giả dối, kéo bè nước này
đánh nước kia, chiến tranh liên miên, dân phải chịu trăm bề điêu đứng Việc Thất hùng vì
“lợi danh bay” mà giành xé lẫn nhau gây đau khổ, tang tóc cho nhân dân, để phê phán
bọn xâm lược, bè lũ bán nước và tay sai vì quyền lợi nhỏ nhen, tục tằn của bản thân mà cam tâm bán rẻ đất nước quê hương Ông đau buồn trước hoàn cảnh nhưng không sao
ngăn nỗi lũ cướp nước “tôi con loạn”, không sao dẹp nỗi bọn gian tà, bọn bất lương vô đạo “mọi rợ con” Vì giờ đây cuộc đời trước mắt chỉ là:
Mấy dòng biển nghiệt chia nguồn nước, Trăm khóm rừng hoang bít cội cây Hơi chính ngàn năm về cụm núi,
Bởi đó không chỉ là hai châu U, Yên quê hương của hai nhà yêu nước Ngư Tiều mà
đó còn là cuộc đời đen tối của đồng bào, thương dân Lục tỉnh bị giặc Pháp cướp đất, phá
nhà, sát hại dưới thời Tự Đức mà nhà thơ ngầm nói đến thông qua tác phẩm Ngư tiều y
Trang 25thuật vấn đáp Mảnh đất bị cắt lìa khỏi Tổ quốc, quê hương đang quằn quại dưới gót giặc
ngoại xâm, những người yêu nước đương thời như Ngư và Tiều là tiêu biểu cho tất cả những người yêu nước Họ đau xót trước cảnh quê hương, đất nước bị chia cắt Trong quá khứ dễ thường chẳng có mấy ai đau sâu, đau nhiều như cụ Đồ Chiểu Văn thơ yêu nước
đã có những xót xa, nhiều cảnh “bờ cõi qua phân” Nhưng không đâu nỗi đau tập trung
bằng ở tác phẩm này, chen vào giữa những đoạn thuần túy chuyên môn, những câu những chữ nói lên tinh thần bất khuất, tâm tư đau xót của nhà thơ, có một sức xúc cảm lạ thường Cho nên cây cỏ cũng điêu đứng vì Tây trên con đường Ngư – Tiều đi tìm thầy học thuốc:
Trăm hoa nửa khóc nửa cười,
Mắt nhìn “đất cũ cảnh tình trêu ngươi”, tất cả nỗi kinh ngạc, đau thương, căm thù
như hòa vào chim muông, cây cỏ, đá núi, nước khe, cảnh vật thiên nhiên vô tri vô giác mà cũng buồn đau da diết, u uất như người vì đất nước bị chia cắt, vì linh hồn đất nước đang quằn quại rên xiết dưới gót sắt của giặc ngoại xâm Ngòi bút của nhà thơ lại được lôi cuốn trong một dòng trữ tình mãnh liệt như một cơn nước lũ giữa:
Ngày xuân mà cảnh chẳng xuân
Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu khi thì hùng hồn, cảm khái, khi thì tha thiết lâm ly, nhiều đoạn uyển chuyển du dương, có lúc lại sôi nổi mạnh mẽ Trong thơ văn
yêu nước của ông còn có những đóa hoa, những hòn ngọc rất đẹp như bài Xúc cảnh một
bài thơ do nhân vật Đường Nhập Môn ngâm Đây là một bài thơ tiêu biểu cho nỗi đau xót của chính các nhân vật hay cũng chính là của tác giả Trong chiều sâu tư tưởng của tác giả
đó là một nỗi đau buồn trước cảnh đất nước bị chia cắt, quê hương trở thành đất giặc:
Bờ cõi xưa đà chia đất khác
Câu thơ của các nhân vật trong truyện mà nghe như chính là tâm trạng là tiếng lòng, tiếng khóc nức nở của tác giả, một nỗi đau quằn quại một nỗi chịu đựng đứt ruột nát
Trang 26gan, vừa chịu dựng mà như vừa phân bua mình không phải là kẻ có thể chịu sống với
giặc Vậy mà giờ đây chỉ còn một nỗi nhớ mong, khắc khoải, chờ mong một “ ngọn gió
đông”, “một trận mưa nhuần”, nhưng lại là chờ mong trong cảnh “mây giăng, ngày xế”,
“tin nhạn, tiếng hồng” bặt tăm Đau xót vì quê hương bị cắt dâng cho giặc, buồn rầu, bứt
rứt vì phải sống dưới trời của giặc, khắc khoải ngóng trông một vị cứu tinh, một sự đổi thay, lũ giặc tanh hôi bị quét sạch khỏi bờ cõi để non sông và con người được trở lại với cảnh xuân, độc lập tự do Người nghe thấm thía ở đó một tấm lòng yêu nước thiết tha
Các tập đoàn phong kiến đã nhiều phen chia cắt đất nước ta, gây ra nỗi đau cho dân tộc nhưng có lẽ trong lòng người dân Việt Nam chưa bao giờ có nỗi đau xót lớn lao như lần đất đai tổ tiên muôn đời bị cái triều đình tệ hại cắt đất dâng cho giặc hồi này Nhiều người
đã đề cập đến nỗi đau ấy, nhưng dường như không ai có giọng điệu thiết tha, bi thống như Nguyễn Đình Chiểu
Trong văn học trung đại các thời kì trước, lòng yêu nước gắn liền với các khái niệm mang màu sắc chính trị và tôn giáo như: sách trời định phận, lãnh thổ, quyền lợi chủ tướng, bản sắc văn hóa,… Nếu như cách đó một vài thế kỷ, Trần Quốc Tuấn căm thù bọn
cướp nước “đem thân dê chó mà bắt nạt tệ phụ”, Nguyễn Trãi căm giận quân thù nhưng ở
vị thế của một người làm cha mẹ dân, ông có tấm lòng bao dung, đau xót khi nhìn thấy lũ giặc:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ
Còn Nguyễn Đình Chiểu yêu Tổ quốc bằng tình yêu máu thịt, từ những khái niệm
quen thuộc, bình dị không phải vì những khái niệm sách vở nào Yêu nước là yêu “ tấc
đất, ngọn rau, bát cơm manh áo”, yêu những thuần phong mỹ tục của xóm làng và phải
chăng cuộc sống bấy nhiêu năm dưới sự yêu thương đùm bọc của nhân dân, đã góp phần giúp ông thấm nhuần thêm tình yêu Tổ quốc, yêu quê hương đất nước thiết tha sâu nặng Đặc điểm nổi bật nhất, riêng biệt nhất trong chủ nghĩa yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu
có lẽ là yêu nước gắn liền với thương dân vì dân Ông ít nói đến sơn hà xã tắc ở một khái
Trang 27niệm trừu tượng, ông chỉ luôn nhắc đến nhân dân trong tình yêu thương gắn bó với Tổ quốc
Ông là người mở đầu cho dòng văn học yêu nước và là ngôi sao sáng trong bầu
trời văn nghệ dân tộc của thời cận đại Giá trị lớn lao mà ông để lại cho con cháu chính là
những ánh hào quang tư tưởng chiếu tỏa từ những tác phẩm ưu tú đã được kết tụ lại thành những viên ngọc quý Giá trị đạo đức, nhân nghĩa, yêu nước của ông kết tinh từ nguyện vọng, ý chí của những người lao động, những người đã từng hy sinh xương máu để dựng nước và giữ nước với ước mơ vươn tới một xã hội công bằng và nhân đạo Cái vĩ đại của cuộc đời thơ văn Nguyễn Đình Chiểu căn bản là ở chỗ đó Vì cuộc đời của ông là một điển hình cho cuộc đời của nhân dân, ít có nhà thơ, nhà văn nào mà cuộc đời và tác phẩm gắn chặt và hòa hợp với nhau như vậy
Sở dĩ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu sống mãi với non sông, có lẽ không phải vì văn chương tuyệt bút mà trước hết vì lòng yêu nước, yêu dân, thương người của
Cụ, giá trị lớn của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là ở đó
2.1.2 Thái độ bất hợp tác đối với kẻ thù
Ngư tiều y thuật vấn đáp là tác phẩm tiêu biểu cuối đời của Nguyễn Đình Chiểu
Trong giai đoạn này, thực dân Pháp đẩy mạnh xâm lược nước ta, nhưng những cuộc kháng chiến của nhân dân và sĩ phu yêu nước vẫn tiếp tục sôi nổi Thực dân Pháp đã bước đầu ổn định được chế độ thống trị của chúng trên mảnh đất Lục tỉnh mà triều đình Huế đã
cắt dâng cho chúng Ngư tiều y thuật vấn đáp đã nói lên tâm tư và chí hướng của những
người yêu nước như Nguyễn Đình Chiểu vẫn kiên trì thái độ chống đối, một mặt thì bất hợp tác với thực dân Pháp Tình thế không còn cho phép kêu gọi đánh Tây, ông kêu gọi không cộng tác với Tây
Cốt truyện của Ngư tiều y thuật vấn đáp cũng như chủ đề của nó mang một ý nghĩa
tượng trưng Vua cắt đất U, Yên nộp cho quân Liêu để cầu hòa Nhân dân U, Yên không chung sống với quân xâm lược nhưng phải sống như thế nào trong tình cảnh đương thời
“đổi hình tóc râu” , mà “theo thói tinh chiên” hay đứng lên chống lại Các sĩ phu yêu
nước như Châu Đạo Dẫn, Đường Nhập Môn, Bào Tử Phược, Mộng Thê Triền đều là
Trang 28những nhân vật yêu nước bằng tình yêu máu thịt sâu sắc, xuất phát từ muôn ngàn điều bình dị trong cuộc sống và hành động của họ cũng vì dân, cho dân Vì muốn giúp người, giúp đời, trong cảnh đất nước bị giặc chiếm đóng nên quyết lòng học nghề làm thuốc, đó
là một hành động vừa mang tính nhân nghĩa, vừa mang tư tưởng yêu nước, yêu dân sâu
đậm trong điều kiện chưa thể làm gì khác được Một âm điệu bị thương “nước loạn người
lìa” như đang xoay quanh câu chuyện, hai nhân vật Ngư và Tiều họ vốn là những “người kiệt”:
Trước theo nghề học đều tài bậc trung Chẳng may gặp buổi đạo cùng,
Nhưng phải lánh vòng loạn ly mà “theo thói ẩn cư”, vì thời cơ chưa thuận lợi đành
“ôm tài giấu tiếng làm tiều làm ngư” Thế nhưng song song với ước mơ phò đời giúp
nước còn có ước mơ tìm một nơi non xanh nước biếc, thong thả làm ăn, thoát hẳn ra ngoài vòng danh lợi Tuy nhiên ở đây hành động ẩn dật không có nghĩa là vô tâm, là tiêu cực trong cảnh ẩn dật vẫn không ngớt lo đời, vẫn tìm cách giúp người trong cơn hoạn loạn,
vẫn “đau đáu” nỗi niềm sâu kín Những người yêu nước tuy vẫn cảm thấy ngọn lửa căm
hờn luôn rực cháy, thúc giục nơi lòng mình và làn sóng uất hận ấy vẫn trào sôi trong dân chúng, nhưng họ cũng phải tạm thời im hơi lặng tiếng chờ đợi thời cơ Tuy cũng có phần hạn chế, nhưng dù sao đó cũng là biểu hiện của lòng yêu nước ở một mức độ nhất định cũng như nhân vật Ngư và Tiều, nhân vật Châu Đạo Dẫn và Đường Nhập Môn đã bỏ đục theo trong, lánh mình ở ẩn Vì một lẽ quân thù đang mạnh, thời thế không còn thuận lợi
“chính khí đang hao mòn quá đỗi”, nên dù tài giỏi đến đâu cũng đành ẩn nhẫn làm người
dân bình thường với biết bao đau thương, tuổi nhục trong lòng:
Dù sinh Y Phó đời giờ,
Vào giai đoạn cuối cùng này, tuy ngọn lửa kháng chiến ở Nam Bộ đã tàn rụi, nhưng ngọn lửa trong lòng con người vẫn chưa tắt Nguyễn Đình Chiểu vẫn kiên trì chủ trương nuôi dưỡng căm thù và bất hợp tác với địch Ông không có dịp bộc lộ lòng căm
Trang 29thù bằng cách như trước kia nhưng ông vẫn bộc lộ bằng sự cổ vũ những hành động anh hùng, bằng đạo lý làm người cứu nước Và đó đây trong thơ văn của mình Nguyễn Đình Chiểu vẫn gửi gấm lại cho đời những câu thơ đầy ý nghĩa:
Dù cho Phật tổ lại ra
Ẩn nhẫn tìm con đường thích hợp là làm thuốc, với quan niệm coi việc chữa bệnh cho dân cũng là yêu nước Một sự lựa chọn tối ưu nhưng vẫn bất đắc dĩ, nhân vật Ngư và
Tiều của Nguyễn Đình Chiểu không “mai danh ẩn tích”, cũng không “cư sĩ” như Hải Thượng Lãn Ông chỉ chăm lo “y dân” mà không tích cực tìm phương châm “y quốc”,
nhân vật Ngư, Tiều của Nguyễn Đình Chiểu buồn vì đời loạn, nhưng không chán đời:
Buồn xem trong đất U, Yên,
Nhân vật tiêu biểu nhất trong Ngư tiều y thuật vấn đáp là nhân vật Kỳ Nhân Sư, Kỳ
Nhân Sư là một con người có tài, có đức, trước cảnh loạn ly đã lánh mình ở ẩn, nhưng vẫn không thoát đời Đôi mắt của Nhân Sư tuy có bị mù, nhưng từ trong cảnh tăm tối ấy vẫn sáng lên ánh sáng của đạo nghĩa – và lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc Hành động phản kháng quyết liệt của Kỳ Nhân Sư còn mang bóng dáng của cụ Đồ
Không phải ngẫu nhiên mà trong sáng tác của ông đã có đến hai nhân vật chính bị
mù, nhân vật Lục Vân Tiên trong tác phẩm cùng tên và nhân vật Kỳ Nhân Sư trong Ngư
tiều y thuật vấn đáp hai nhân vật đó đều mang bóng dáng và cũng là hiện thân của tác giả
Ông xây dựng nhân vật Kỳ Nhân Sư ở tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp không còn là
chàng trai trẻ tài hoa, mới bước chân vào cuộc đời như nhân vật Lục Vân Tiên, Kỳ Nhân
Sư là người từng trải, không chỉ là một thầy thuốc giỏi mà còn là một triết nhân hiểu sâu biết rộng, được mọi người trọng vọng vào bậc tôn sư tài cao đức trọng, trong tác phẩm
Nhân Sư quả là một nhân tài hiếm có ở trần đời, được mọi người khắp nơi ca ngợi “ vốn
thiệt thầy nhu”:
Nói ra vàng đá chẳng xao, Văn ra dấy phụng rời giao tưng bừng
Trang 30Trong mình đủ việc kinh luân,
Với tài năng xuất chúng như thế, lẽ ra đường công danh là thênh thang rộng mở để ông có thể đem tài ra giúp nước, giúp dân và bản thân cũng có được chút danh phận Bởi
những kẻ sĩ sinh ra trong thiên hạ ai lại không canh cánh bên lòng việc “tu thân, tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ”, để chứng minh rằng mình là đấng mày râu Thế nhưng Nhân Sư đã
không may vì “sinh không gặp thời”:
Chẳng may gặp thuở nước loàn
Nước nhà bị bọn Tây Liêu xâm lược, hai từ “nước loàn” ở đây nhằm chỉ khi đất
nước đang gặp cảnh nguy khốn Trên thì vua cắt đất cho giặc dưới thì bọn quan lại, bọn tiểu nhân xu thời hùa theo quân cướp nước Chỉ có nhân dân là phải chịu cảnh lầm than,
kẻ sĩ có tâm thì bất mãn đều quy ẩn chốn rừng xanh để sinh sống qua ngày Đến như Kỳ Nhân Sư cũng phải về Y Lâm lánh cơn bĩ cực ấy, thế nhưng bọn Tây Liêu vẫn không chịu
để cho ông được yên, nghe danh Kỳ Nhân Sư chúng liền sai sứ đến Đan Kỳ rước Nhân Sư
về triều làm thái y, có lúc quân giặc còn ép buộc ông phải phục vụ cho chúng, Nhân Sư xưng bệnh không chịu ra làm quan với Tây Liêu Do đó, chỉ còn cách từ chối không hợp tác với giặc nên ông đã xông đui hai mắt, dứt khoát từ chối không để giặc lợi dụng:
Thầy ta chẳng khứng sĩ Liêu
Đó là một trong những hành động phản kháng quyết không chịu theo giặc, khước
từ mọi sự mời mọc, dụ dỗ để bảo vệ lòng đạo, trước bao nhiêu việc trái tai gai mắt, đảo
điên thiên hạ của “nhơn tình éo le”:
Gặp cơn trời tối thà đui,
Nếu cái mù của Lục Vân Tiên là do tai ương bệnh tật gây nên thì giờ đây bệnh mù của nhân vật Kỳ Nhân Sư không còn do tai họa thiên nhiên mà chính là do một hành động phản kháng, nhất quyết không theo địch:
Trang 31Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Nhân vật Kỳ Nhân Sư dù có mù nhưng ông lại “sáng” hơn nhiều kẻ sáng mắt khác biết bao, sáng mà “đắm sắc tham tài, lung lòng nhân đục”, “Sáng chi nhân nghĩa bỏ đi”, ông mù mà vẫn “thấy” được đất nước đang lầm than, sinh dân khốn khổ, thấy được trách
nhiệm của kẻ làm trai là phải vì nước, vì dân, thấy được thế nào là chính tà Trong khi nhiều kẻ có mắt mà lại bưng bít không thấy được nỗi nhục mất nước, mù quáng chạy theo
bã vinh hoa của giặc Vậy thì mù còn đáng quý hơn sáng gấp trăm nghìn lần Đối với những việc trái tai gai mắt, những sự kiện đảo điên thiên hạ, những kẻ có tài có chí khí
nhưng buộc phải bất lực khoanh tay trước thời cuộc “Đã cam chút phận dở dang”, “Đã
cam lỗi với thương sinh” Trước kia, nhân vật Lục Vân Tiên mặc dù cuộc đời gặp nhiều
gian truân, nhưng trong lòng vẫn thanh thản, vẫn chan chứa một niềm tin vào cái chính nghĩa cuối cùng sẽ thắng Bây giờ Kỳ Nhân Sư, tài năng và ưu ái là thế mà cuối cùng cảm thấy bó tay, không thể làm gì được trước thời cuộc, cảm thấy một nỗi bất lực đến cay đắng giày vò tâm hồn mình vì:
“Trí quân” hai chữ mơ màng năm canh
Bất lực trước thời cuộc nhưng không đồng nghĩa với bỏ cuộc, Kỳ Nhân Sư vẫn chủ trương không hợp tác với địch, tốt hơn hết là giữ vững khí tiết trong một sự chịu đựng thầm lặng để giữ lại cái chính khí của trời đất Sống giữa một thời buổi đen tối nhất của lịch sử dân tộc, Nhân Sư nói:
Thà cho trước mắt mù mù, Chẳng thà ngồi ngó kẻ thù quân thân Thà cho
trước mắt vô nhân,
Mù như vậy là một sự bảo vệ đạo đức, lý tưởng, một biểu hiện căm thù, bất hợp tác với địch, một sự phê phán gay gắt cho bọn cơ hội đầu hàng Mù nhưng vẫn hơn sáng mà làm điều sai đạo lý Chúng ta thông cảm và trân trọng đối với tâm trạng của Kỳ Nhân Sư,
Trang 32đó là những suy nghĩ cao thượng của một triết nhân phẫn uất trước cuộc đời mà mình đành bất lực Đoạn thơ viết về Nhân Sư theo đánh giá của Phạm Xuân Chi là một trong những đoạn thơ hay và mẫu mực của Nguyễn Đình Chiểu và của cả nền văn học xưa khi luận về phẩm cách, khí tiết của con người Đọc các câu thơ trên mà ta không gắn liền với tiểu sử, với thân phận mù lòa của Đồ Chiểu thì không thấy được cái lớn lao, cao thượng với chính khí tuyệt vời mới có những lời lẽ kiên cường quyết liệt, thấm đượm nỗi đau từ thể xác đến tâm hồn như thế
Và đây cũng là nguyên tắc trong cuộc sống của Nguyễn Đình Chiểu Cũng như tất
cả các nhà văn thơ chống Pháp đương thời như: Thủ khoa Huân, Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Duy Cung,… Nguyễn Đình Chiểu căm ghét bọn Pháp xâm lược đến cực độ Ông khước từ mọi sự mời mọc của bọn thực dân Pháp muốn thu phục ông Cũng giống như
Kỳ Nhân Sư, hành động lẫn tránh ấy thể hiện thái độ bất hợp tác của chính tác giả đối với bọn giặc ngoại xâm gây bao tang tóc cho quê hương Nhưng chúng nào để cho Đồ Chiểu được yên, biết Đồ Chiểu được quần chúng yêu kính, mến phục, lại là người có tài năng thường dùng thơ đánh giặc, nên bọn tay sai ở Nam Bộ không ngừng dùng mọi thủ đoạn hăm dọa rồi mua chuộc Năm 1883, Pông-Sông tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre đã đến thăm ông,
có ngỏ ý trao trả lại ruộng vườn cho ông mà chúng đã chiếm đoạt Ông thẳng thắn khước
từ từ chối mọi thứ phụ cấp của thực dân dưới bất kỳ hình thức nào Bởi : “Đất vua không
ai trả thì đất riêng của tôi có sá gì!”
Theo lẽ thường tình Nguyễn Đình Chiểu đui mù có quyền chỉ sống yên thân trong gia đình, đồng bào sẽ giúp đỡ, không đòi hỏi ông làm nhiệm vụ gì Nhưng trái lại, sau khi mang tật nguyền, Nguyễn Đình Chiểu vẫn phấn đấu tự mình trở thành người có ích cho
xã hội, và sau khi đất nước bị họa xâm lăng, ông lại tự đặt cho mình nhiệm vụ phải tham gia chống giặc cứu nước Trước kia Lục Vân Tiên, một thư sinh bị mù, sau nhờ tiên dược mắt sáng ra, lập được chiến công, gặp lại người yêu, công thành danh toại Đó là ước mơ của nhà thơ lúc trẻ Bây giờ Kỳ Nhân Sư, một thầy thuốc nổi tiếng đồng thời là một triết nhân, mắt đang sáng lại xông cho mù đi để khỏi phải cộng tác với kẻ thù, và khỏi thấy những cái xấu xa trong xã hội Đó là ước mơ của nhà thơ lúc về già Những nhân vật
Trang 33trong Lục Vân Tiên mang tư tưởng nhân nghĩa sẵn sàng cứu nạn phò nguy, còn bây giờ, những nhân vật trong Ngư tiều y thuật vấn đáp, không trừ một người nào, từ Kỳ Nhân Sư,
Chu Đạo Dẫn, Đường Nhập Môn đến ông Ngư, ông Tiều đều đi ở ẩn, có người đi ở ẩn và
làm thuốc, “cứu công hóa đức cứu bầy dân đen”
Tuy tính chiến đấu không còn như trước nữa nhưng dù sao trong hoàn cảnh khắc nghiệt của bản thân và của thời thế lúc bấy giờ, mà nhà thơ vẫn cố tìm một lối sống có ích, chứ không phải một cuộc sống vô dụng, tầm thương, điều đó thật cảm động Và điều cảm động hơn nữa là cho dù Nguyễn Đình Chiểu có không làm được việc gì ích lợi cho dân cho nước vì mù lòa, thì tấm lòng của nhà thơ trước sau vẫn thuộc về dân về nước, vẫn thủy chung son sắt một tấm lòng yêu nước thiết tha sâu nặng
2.2 Y đức của người thầy thuốc
2.2.1 Phổ biến những kiến thức về y học
Nguyễn Đình Chiểu, một con người tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam trong thời kỳ đất nước đầy biến cố, đau thương, nhưng vô cùng oanh liệt Đất nước bị ngoại xâm, bao nhiêu sự nghiệt ngã của cuộc đời như trút lên vai một người mù lòa, bất hạnh Sinh ra và lớn lên trong tình hình đất nước rối ren, sự nghiệp công danh giữa đường dang dở vì trong khi đang miệt mài sử kinh - chờ khoa thi, và ngày thi vừa đến thì một tin sét đánh từ Gia Định đưa ra: Bà Trương Thị Thiệt, thân mẫu của ông vì bệnh nặng đã mất tại Sài Gòn Ông đành phải bỏ thi, cùng với người em thứ sáu là Nguyễn Đình Tựu mới lên mười tuổi trở về Nam chịu tang mẹ thật là:
Lỡ bề báo hiếu, lỡ đường lập thân
Giữa đường ông vì quá thương khóc mẹ, lo buồn mà lâm bệnh, mắc chứng đau mắt Ông đã phải xin ở trọ tại nhà của một thầy thuốc thuộc dòng ngự y ở Quảng Nam để chữa bênh Nhưng vì bệnh quá nặng đôi mắt của ông từ đây đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy nữa, và từ đây ông phải sống trong cảnh mù tối trọn đời Tất cả như đã lỡ làng, gập ghềnh
giữa chữ duyên, chữ phận ví như quân tử cố cùng gặp cơn khốn khó:
Lanh chanh chữ phận chữ duyên,
Trang 34Sự thử thách nghiệt ngã ấy đặt ra cho Nguyễn Đình Chiểu thái độ phải lựa chọn lối sống và cách sống như thế nào cho thích hợp với vai trò của người trí thức trước thời cuộc
quốc gia lâm nguy thất phu hữu trách Và ông đã chọn con đường sống và chiến đấu dù
chỉ chiến đấu bằng ngòi bút Với tất cả vai trò xã hội và sứ mạng mà Nguyễn Đình Chiểu phải gánh vác Dù con người có là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng nhân cách sống của con người quyết không phải là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh ấy Nguyễn Đình Chiểu một minh chứng sống động, cuộc đời – sự nghiệp của con người ấy không vì thế mà giữa đường - gãy gánh, buông xuôi theo số phận, ông đã kiên cường vượt qua số phận, hoàn thành xuất sắc thiên chức của mình Một người Việt Nam trọng đạo lý, nặng nghĩa tình, đậm đà bản sắc dân tộc, một nhà thơ có cái nhìn sâu sắc thâm thúy, có lối ghét thương, khen chê dứt khoát rõ ràng, chính tà phân minh hợp đạo lý thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam Một nhà giáo mẫu mực trọn đời thầy Đồ Chiểu luôn chăm
lo dạy dỗ môn sinh, truyền thụ cho các thế hệ tương lai những điều cốt lõi về văn hóa, đạo
lý truyền thống của dân tộc và nhân cách của một kẻ sĩ Không những đứng trên cương vị
là một nhà thơ – nhà giáo ông còn là một thầy thuốc giỏi, một lương y hết lòng vì người bệnh
Truyện thơ Ngư Tiều y thuật vấn đáp là tác phẩm lớn cuối đời của Nguyễn Đình
Chiểu, như tên của tập sách, thì đó là một quyển sách dạy nghề thuốc chữa bệnh, cứu
người, cứu dân đang trong cảnh lầm than, nheo nhóc sinh dân nghiêng nghèo Vì Thấy
người đau như mình đau, hơn ai hết cụ Đồ Chiểu hiểu được phần nào nỗi đau của bệnh tật
vì chính ông đã trải qua những tháng ngày điều trị bệnh, ông nghĩ đến cuộc đời, đến con người, và mặc dù đã mù ông vẫn cố công học nghề thuốc Sau khi chữa bệnh và tiếp thu y
lý, y nghiệp từ một danh y, ông đã qua Đông y, một phương thuốc thích hợp với người
nghèo khổ – hoàn thành hoài bão cứu dân độ thế góp phần giúp cho người bệnh sớm thoát
khỏi nỗi khổ của bệnh tật đeo đẳng, giày vò
Tác phẩm ra đời vào khoảng sau khi Nam bộ đã bị quân Pháp xâm lược, đô hộ Trong tác phẩm này Nguyễn Đình Chiểu đã mượn bối cảnh của đất U Yên ở Trung Quốc xưa bị giặc xâm chiếm dựng lên chuyện Mộng Thê Triền và Bào Tử Phược không chịu
Trang 35sống dưới ách ngoại bang, đã rời quê hương đi ở ẩn, thành tiều thành ngư Đời sống quá
cực khổ vợ con ốm đau liên miên Tiều có năm người vợ thì bốn người chết Năm lần cưới
vợ còn nay một người Còn Ngư thì mười đứa con chết tám Rủ bầy con nít đều đi bỏ mình
Người còn sống thì cư đau mê man không dứt Một nhà con vợ rề rề chưa xong, thương
nỗi mình, cám cảnh đồng bào, mà Ngư – Tiều phát nguyện cùng nhau tìm thầy học thuốc,
để mai này chữa bệnh cho cộng đồng
Như trên đã đề cập, Nguyễn Đình Chiểu viết Ngư Tiều y thuật vấn đáp một phần là
nhằm mục đích phổ biến Đông y Qua câu chuyện vấn đáp giữa các nhân vật tác giả đã dốc lòng giới thiệu nghề thuốc của mình và trình bày những cương mục về lí luận Đông y
có kèm theo giải thích một số thuật ngữ thiết yếu liên quan đến ngành y Nhất là về y
thuật gồm có các phần: Mạch, chế dược, vận khí, thương hàn, sản phụ, nhi khoa,
Không chỉ là một thầy thuốc giỏi Nguyễn Đình Chiểu còn là một lương y thông hiểu sâu sắc y lý phương Đông và y thuật Việt Nam Thế nên chỉ qua phần mở đầu của tác
phẩm với hai mục bằng chữ Hán Sưu tinh dụng dược tâm pháp tự truyện (Tìm tòi những
tinh túy về tâm pháp dùng thuốc) và Trích yếu âm dương biện luận (Biện luận về âm dương), đã mở đầu cho mục đích y học Tác giả đã trích lục phần cốt yếu để biện luận về
âm dương, có những nguyên lý cơ bản của Đông y đã được Nguyễn Đình Chiểu trình bày
trên cơ sở âm dương, thủy hỏa, khí huyết và quy nạp bệnh Bát yếu (âm dương, biểu lí, hàn nhiệt, hư thực) để nắm được đều cốt yếu cho khỏi tản mát
Tất cả các sinh khí của con người đều tập trung ở hai khí âm dương này, vì vậy ông
đã phân chia biện luận hai chữ âm dương này rất rõ ràng về cơ bản âm dương, trời đất,
con người thống nhất sinh khí thông thiên, sinh khí của con người thông suốt với trời đất Chữ thiên đây là thiên địa, người xưa có câu Nhân thân tiểu thiên địa, nghĩa là thân người
là một bầu trời đất nhỏ và Nội Kinh (sách kinh điển của Đông y) cũng có câu Nhân dữ
thiên địa tương ứng, nghĩa là con người cùng trời đất tương ứng với nhau, ý nói con
người phải nương tựa vào giới tự nhiên mà tồn tại, và những hiện tượng biến đổi của tự nhiên đều có ảnh hưởng đến thân thể con người:
Dạy rằng: Muốn thấy phép linh,
Trang 36Coi chừng trời đất trong hình có ta (949 - 950) Trời đất do âm dương, ngũ hành tương sinh, tương khắc:
Ai mà rõ lẽ ngũ hành,
Chính khí, tà khí mâu thuẫn nhau, chính khí thắng thì khỏe mạnh, tà khí lấn át thì
ốm đau Mọi vật đều biến chuyển theo những nguyên tắc phổ biến Vật tột thời phản, hết
cùng lại thông Nhận thức của con người do đó cũng phải linh hoạt, chẩn đoán, chữa trị
đều phải theo lẽ thông biến:
Cho hay chỗ diệu hóa công,
Nguyễn Đình Chiểu đã trình bày một cách đơn giản hệ thống lí luận cơ cở Đông y
có phân tích biện chứng sâu sắc và nói lên đường hướng y học chân chính Vì ngoài chủ
đề văn học truyện thơ Ngư Tiều y thuật vấn đáp còn phổ biến kiến thức về y học, cách
xem bệnh, chữa bệnh, và một số bài thuốc mà Nguyễn Đình Chiểu đã đem cả tài năng và tâm quyết của một lương y truyền đạt lại Trong phần giới thiệu sách gần như tuyên ngôn của người thầy thuốc; Nguyễn Đình Chiểu viết: “xưa tới nay, sách thuốc rất nhiều, người làm thuốc không khỏi phàn nàn về nỗi chồng chất man mác quá! Nếu học không căn bản vào đâu, thì tới khi chẩn bệnh, sẽ bỡ ngỡ như nương khoảng không, cưỡi ngọn gió, không biết chỗ nào vào chỗ nào cả”
Ông đã trình bày rất cụ thể về cách chữa bệnh vì bệnh có hư hư thực thực, biến đổi nhiều chứng, nhiều phương, phương có chữa chính (chữa bệnh dùng thuốc đối lập để chữa), chữa tòng (dùng thuốc tương đồng để chữa), chữa tiêu (chữa các biến chứng của căn bệnh chính, nói cách khác là thấy gì chữa nấy), chữa bản (là chữa thẳng vào bệnh),
nên công (nói chung là lối chữa bệnh chủ về công phạt dùng những thang thuốc mạnh để
chữa trực tiếp), nên bổ (là lối chữa bệnh chủ về bồi dưỡng, dùng những thang thuốc để phục hồi sức khỏe cho bệnh nhân), nên trước nên sau (chứng nào gấp hơn thì chữa trước),
phải tùy nghi mà dùng Nếu chẩn trị sai lệch một chút khắc có sự an nguy đến tính mạng, nên người học y phải học từ căn bản đi lên, nếu học không căn bản thiếu trước quên sau
Trang 37thì khi chẩn bệnh sẽ bỡ ngỡ như nương khoảng không, cưỡi ngọn gió không biết chỗ nào
cả
Trên cơ sở những nguyên lý ấy ông tiếp tục đi sâu vào chuyên môn y thuật, phương pháp chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, tác giả đã phân tích cụ thể về việc chẩn đoán bệnh qua
Tâm – Can – Tỳ – Phế – Thận; qua Kinh lạc, ngũ tạng, lục phủ, mạch học, bổn thảo,
châm cứu, phụ khoa, nhi khoa, chế dược, dụng dược
Đơn cử cho tạng can ông viết:
Tạng can thuộc mộc, cây vào mùa xuân Sắc xanh con mắt là chừng
Truyện thơ Ngư Tiều y thuật vấn đáp có khoảng một trăm bài ca bằng chữ Hán đã
được Nguyễn Đình Chiểu dùng để truyền đạt nghề y Mỗi bài là một cách xem bệnh, chữa bệnh hoặc một bài thuốc mà cụ Đồ Chiểu đã phân bố đều khắp tác phẩm theo từng bước học nghề thuốc của Ngư và Tiều Thông qua việc từng bước học nghề của các nhân vật, tác giả đã khái quát một số nội dung chính về Đông y, đồng thời nói lên quan điểm y học của mình, bên cạnh đó ông còn khuyên bảo con người
Muốn bề ăn ở đặng xong,
Tác giả đã chỉ rõ nguyên nhân gây ra bệnh tật là do đắm rượu tham hoa, thực sắc
đắm lòng, con người muốn sống lâu, khỏe mạnh phải tu dưỡng để chiến thắng lục tặc (tức
sáu tên giặc, sáu thứ làm hại cho sự tu hành là: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp Cho nên
người tu đạo mắt không xem sắc, tai không nghe tiếng “Tai tham tiếng nhạc mắt giành
sắc xinh, mũi không ngửi thơm, miệng không nếm mùi “, thân lìa đồ mềm trơn, lòng
không nghĩ bậy
Nếu con người ta mãi ăn ở khác bề, “rượu dầm trong bụng sắc kề bên thân” thì
tuổi chết đi uổng đời”
Trang 38Với quan niệm chống bệnh như chống giặc tác phẩm này đã chỉ cho giới y học đương thời một đương lối đúng đắn là bồi bổ chính khí và giữ gìn nguyên khí, đồng thời biết làm chủ trong việc phòng bệnh và chữa bệnh:
Đau hay cầu thuốc chi bằng ngừa đau
Biết ngừa trước khỏi bệnh đau,
Ngư tiều y thuật vấn đáp là một tác phẩm văn học nhưng đồng thời cũng là một
công trình y học đáng chú ý trong lịch sử dân tộc Có thể nói qua tác phẩm này, Nguyễn Đình Chiểu bộc lộ rõ ông là một nhà khoa học có trí thức uyên bác về nghề thuốc và chữa bệnh Tác phẩm này có thể gọi là một bản luận văn y học – cuốn sách đó đã mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân đặc biệt là những người nông dân Việt Nam thất học Họ đã từng học thuộc tác phẩm đó bởi vì thời bấy giờ họ không tìm đâu ra cách chữa bệnh cả,
truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp xứng đáng được xếp vào các tác phẩm đặc sắc của
Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ kiêm thầy thuốc
2.2.2 Coi trọng việc cứu dân như cứu nước
Trong một bài viết trước đây của lương y Đỗ Phong Thuận có đoạn cho biết lúc còn nhỏ ông có nghe cụ Nhiêu Tâm bạn cùng thời với Đồ Chiểu kể lại rằng cụ Đồ được nhiều nơi rước đi chữa bệnh, phần lớn là bệnh nặng các thầy thuốc khác đều chữa không khỏi Cụ cho thuốc rất hay, nhiều người nhờ cụ mà khỏi bệnh, khi hết bệnh, người bệnh đền ơn bao nhiêu cũng được, không bao giờ cụ ngã giá, người nghèo cụ còn giúp thêm tiền bạc hoặc hốt thuốc không lấy tiền.Cảm ơn đức của cụ, khi cụ Đồ mất, nhiều bệnh nhân được cụ cứu khỏi bệnh ngặt nghèo đến xin để tang cụ như con cháu trong nhà
Đối với lương y Nguyễn Đình Chiểu, y đạo tức là nhân đạo Không phải chỉ từ chối lễ vật được biếu tặng như y tổ phương Tây Hippocrate từ chối phẩm vật của nhà vua
Ba Tư, kẻ thù xâm lược đất nước ông, hoặc không lấy tiền quá cao đối với bệnh nhân nghèo như lời thề trước y tổ của các thầy thuốc châu Âu khi tốt nghiệp ra trường, mà khi cần còn dám hy sinh thân mình để giữ tròn y đạo như nhân vật Kỳ Nhân Sư trong tác
Trang 39phẩm đã tự xông đui mắt mình để không phải đem nghề y ra phục vụ cho kẻ thù của đất nước và nhân dân
Ngoài việc phổ biến, giảng giải những kiến thức về y học Ngư tiều y thuật vấn
đáp còn là quyển sách dạy đạo làm thuốc cứu người và dạy đạo làm người Yêu nước và
yêu thương con người chính là tư tưởng chung của tác phẩm trong đó nhân cách cao
thượng của người thầy thuốc là phải luôn giữ tròn “y đạo” giúp “sống dân” và “giữ
nước” Làm thuốc chỉ vì mục đích từ thiện chứ không phải kinh doanh trên sự đau khổ
của đồng bào tất cả điều được Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rất đậm nét thông qua tác phẩm
Bởi vì nhiệm vụ của người thầy thuốc là bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, kiến thức
và lương tâm của người thầy thuốc cốt lõi là để hoàn thành nhiệm vụ này, phẩm chất của người thầy thuốc được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ hết lòng thương yêu, chăm sóc người bệnh Nhìn chung nghề nghiệp nào cũng cần có đạo đức, riêng đối với ngành y tính trách nhiệm, lương tâm, đạo đức càng phải đặt lên hàng đầu
Với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, sau khi Nam Bộ trở thành nhượng địa của Pháp, Tây y bắt đầu du nhập vào nước ta Thế nhưng trên thực tế trước năm 1894, Pháp chỉ có quân y chăm sóc sức khỏe cho quân đội của chúng để tiến hành xâm lược Đông Dương và đến năm 1896, nhà thương Sài Gòn mới bắt đầu chữa bệnh, làm phúc cho một số dân bản
xứ ở thành thị với tính chất tượng trưng Trong thời gian Pháp tiến hành xâm lược Nam
Bộ, bệnh dịch hoành hành, nhân dân đau ốm, chết chóc nhiều mà tình hình y học miền Nam lúc bấy giờ lại rất kém sút
Trong tình cảnh đương thời số thầy thuốc lành nghề và chân chính hiếm dần, một
số không hiểu y dược, y lí “dám đem thuốc Bắc trộn vào thuốc Nam” (3176) hoặc chỉ biết
một vài phương thuốc cũng ra làm nghề chữa bệnh, dẫn đến tình trạng người bệnh tiền mất tật mang hoặc bỏ mạng vì thuốc:
Lỗi y hại một mạng dân,
Trang 40Có kẻ chỉ biết một phương thuốc gia truyền, không biết phân biệt bệnh lí, “ hàn ,
nhiệt, hư, thực” cũng đem áp dụng bừa bãi xem Mạng dân như trái chơi, hoặc dùng bệnh
nhân làm vật thí nghiệm “ Dám đem thuốc thử bệnh vời thêm đau”:
Người đau hoắc loạn gân co
Ông coi trọng việc cứu dân như cứu nước, làm thuốc, dạy thuốc, chữa bệnh cho dân, tập trung giác ngộ những người dân yêu nước cố gắng làm một thầy thuốc học thông
để “một lòng hiếu sanh”:
Xưa rằng thầy thuốc học thông,
Trong trời đất âm dương giao hòa, ngũ hành phối hợp, vạn vật sinh sinh, hóa hóa không cùng đó là nhân đức lớn của vạn vật Trong ngành y cũng vậy y đức của người thầy thuốc tập trung cốt lõi là ở kiến thức và lương tâm, muốn có kiến thức thì việc làm thầy
không thể “lây lất” được Phải học thầy, học bạn, hỏi cả kẻ trên người dưới “chớ e hỏi
dưới ngỡ ngàng hổ ngươi”, vì “đã đi cầu đạo sợ cười chê chi”, phải khiêm tốn học hỏi,
không tự phụ chủ quan và không giáo điều với sách vở “miễn cho thấy đạo rõ ràng”
Làm thuốc chẳng khác nào “dùng binh”, binh phải kỷ luật, tướng phải trí dũng, kẻ
làm thuốc lành nghề chính là viên tướng có tài, mà phép dùng thuốc chữa bệnh tức là dùng binh đánh giặc:
Ví như ông tướng dùng binh
Binh có khi đánh thẳng, có khi đánh mẹo; thuốc có khi chữa gốc bệnh, có khi chữa
biến tướng Nên làm thuốc cũng phải gắng sức học hành, “rộng xem sách thuốc gẫm tình
dùng phương”, vì lo sợ tổn hại đến mạng người nên phải “ gắng công đọc sách hơn mười năm nay”, phải ý mình suy ra:
Nghĩa trong kinh biết đặng tinh,