1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm nhân vật trữ tình trong ca dao cổ truyền việt nam

156 2,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể là nhân vật trữ tình trong ba nhóm bài ca: - Nhóm bài ca về tình yêu lứa đôi - Nhóm bài ca về tình cảm gia đình - Nhóm bài ca về các quan hệ xã hội khác Ở mỗi nhóm bài ca đó, chún

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

TR ẦN THANH VÂN

ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRỮ TÌNH

VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 6

Ca dao có ý nghĩa và giá trị nhân văn rất lớn và sâu sắc Nó là tấm gương soi của tâm hồn dân tộc, là "khí sắc dân tộc" Ca dao đã, đang và sẽ còn âm vang lay động lòng người Việt Nam "ca dao tự vạch cho mình một lối đi, dẫu không hào nhoáng, song hết sức hiên ngang, hết sức độc lập Phát sinh vì Dân Tộc, sống còn nhờ Dân

Tộc, ca dao là kết tinh thuần tuy của tinh thần Dân Tộc" [ 82 ] Đồng chí Lê Duẩn đã nói: "Nay mai, cho đến khi Chủ nghĩa cộng sản đã xây dựng thành công, thì câu ca dao Việt Nam vẫn rung động lòng người Việt Nam hơn hết" [ 18 - Tr 67]

Ca đao phản ánh tâm hồn, tình cảm con người, vì vậy vấn đề nhân vật trữ tình là

vấn đề rất đặc trưng và nổi bật của thể loại này Ca dao có những loại nhân vật nào?

Những loại nhân vật này được thể hiện ra sao và có những tâm trạng tình cảm tiêu

biểu gì ? hệ thống hình ảnh tương ứng với từng loại nhân vật là thế nào ? Đó là

những vấn đề rất cơ bản của thể loại, thi pháp thể loại Chúng ta đã quan tâm nhiều đến thể thơ, kết cấu, đến các hình ảnh so sánh, ẩn dụ, biểu tượng, dù rằng sự quan tâm

ấy vẫn còn phải tiếp tục, nhưng có lẽ chúng ta chưa chú ý đúng mức đến các nhân vật

trữ tình của ca dao Vì vậy chọn nghiên cứu về các nhân vật trữ tình trong ca dao là điều rất cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn Nó sẽ giúp ta thấy rõ hơn đặc trưng thể loại và từ đó soi sáng vào vấn đề nghiên cứu, giảng dạy các tác phẩm ca dao

2 L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ :

Trước Cách mạng Tháng 8, việc tìm hiểu ca dao tập trung chủ yếu vào công việc

sưu tầm ca dao và miêu tả những hình thức sinh hoạt, ca hát của nhân dân Trong mấy

chục năm đầu thể kỷ XX, các nhà Nho (trong đó có người làm quan) tiếp tục truyền

Trang 7

thống ghi chép, biên soạn văn học dân gian có từ các thế kỷ trước và chữ Nôm (là chủ

yếu) được dùng để biên soạn ca dao Các nhà Nho đã trân trọng và đánh giá cao thơ ca dân gian, nhưng những công trình của họ chi mới dừng ở mức độ là cung cấp những

cứ liệu cho việc nghiên cứu lịch sử tục ngữ và thơ ca dân gian, chẳng hạn Thanh Hóa quan phong (Vương Duy Trinh soạn - 1903); Đại Nam quốc túy (Ngô Giáp Đậu soạn

- 1908); Việt Nam phong sử (Nguyễn Văn Mại biên soạn -1914); Nam âm sự loại (Vũ Công Thành soạn - 1925).v.v

Vào đầu thế kỷ XX, ở nước ta đã xuất hiện những trí thức Tây học Nhiều người trong số đó là những người yêu nước, đã góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu văn hoa, phong tục Việt Nam nói chung và ca dao nói riêng

Học giả Nguyễn Văn Huyên đã có những công trình rất sáng giá về mặt tư liệu cũng như phương pháp luận như Hát đối cửa nam nữ Thanh Niên ở Việt Nam (1934);

Những khúc ca đám cưới Tày ở Lạng Sơn và Cao Bằng (1941)

Cũng về lĩnh vực sưu tầm nghiên cứu ca dao thời kỳ này còn phải kể đến Nguyễn Văn Ngọc với Tục ngữ phong dao (1928 - hai tập); Nguyễn Can Mộng với

Ngạn ngữ phong dao (1936) Như vậy, trước Cách mạng Tháng 8, có nhiều khuynh hướng sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian, nhưng thực sự chưa thể nói tới sự có

mặt của khoa nghiên cứu văn hóa dân gian (Folklore học), chưa có công trình nào đề

cập trực tiếp vấn đề nhân vật trữ tình của ca dao

Sau Cách mạng Tháng 8 và đặc biệt từ 1980 đến nay, việc nghiên cứu văn học dân gian, nghiên cứu ca dao đã có một bước tiến đáng kể Người ta đã chú ý tới đặc trưng thể loại, đến những nội dung, hình thức, cấu tứ, hệ thống hình ảnh so sánh, ẩn

dụ, biểu tượng Nhiều công trình có giá trị về thi pháp ca dao đã ra đời như Tục ngữ -

ca dao - dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (bản in lần thứ 8 - NXB KHXH, Hà nội 1978); Kho tàng ca dao người Việt do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật đồng

chủ biên (NXB Văn hoá thông tin, Tp HCM, 2001) Các nhà nghiên cứu cũng đã chú

ý tới đặc điểm kết cấu, cấu tứ, hệ thống hình ảnh so sánh, ẩn dụ, biểu tượng, đặc điểm

thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, đặc điểm ngôn ngữ của ca dao Đó là các công trình của Cao Huy Đinh, Chu Xuân Diên, Vũ Ngọc Phan, Đặng Văn Lung,

Trang 8

Nguyễn Xuân Kính, Bùi Mạnh Nhị, Phạm Thu Yến, Trương Thị Nhàn, Hà Công Tài, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Trần Thị An, Nguyễn Bích Hà, v.v

Mỗi công trình ấy đi vào một vấn đề hoặc một nhóm vấn đề của thi pháp ca dao, góp phần gián tiếp tìm hiểu so sánh đặc điểm nhân vật trữ tình của thể loại Cũng như công trình nghiên cứu về bài ca dao cụ thể và ở đó có nhắc đến nhân vật trữ tình cụ

thể trong bài ca dao đó Nhưng nhìn chung chúng ta chưa có một chuyên luận nào, bài báo nào dành riêng cho vấn đề nhân vật trữ tình trong ca dao Trong Kho tàng ca dao người Việt, ở bảng tra cứu tên các tài liệu, từ trang 2965 đến 3065, các tác giả đẫn ra

885 tài liệu sưu tầm, nghiên cứu, nhưng không có tài liệu nào đề cập trực tiếp đến nhân vật trữ tình của ca dao

Tuy nhiên đã có những công trình nghiên cứu gợi ý cho chúng tôi những vấn đề

rất quan trọng về nội dung, về phương pháp luận và phương pháp cụ thể Chẳng hạn

những công trình nghiên cứu quan tâm đến vấn đề lý luận và phương pháp luận: phương pháp nghiên cứu liên ngành của GS Chu Xuân Diên; phương pháp nghiên

cứu theo típ và môtíp của Nguyễn Tấn Đắc, vấn đề công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc ca dao của Bùi Mạnh Nhị; phương pháp nghiên cứu theo hệ thống của

Đỗ Bình Trị (Xem thư mục của luận văn) đã giúp chúng tôi đi tìm hiểu về đề tài này Những công trình này tuy không trực tiếp nghiến cứu nhân vật trữ tình nhưng đó là

những gợi ý về nội dung, hướng nghiên cứu để người viết bước đầu tìm hiểu đề tài

3.NHI ỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN

Luận văn của chúng tôi hướng tới những nhiệm vụ sau:

3.1.Xác định đặc điểm trữ tình trong ca dao và đặc điểm nhân vật trữ tình trong

ca dao Đây là vấn đề có ý nghĩa cơ sở Nhiệm vụ này được thể hiện ở chương 1 Ở chương này chúng tôi sẽ xác định một số vấn đề thuộc về bản chất trữ tình của thể loại

và tập trung trình bày những vấn đề riêng trong bản chất trữ tình của ca dao cũng như khái niệm nhân vật trữ tình trong ca dao

Ở đây chúng tôi cũng sẽ cố gắng so sánh nhân vật trữ tình trong ca dao và nhân

vật trữ tình trong văn học viết

Trang 9

3.2.Luận văn bước đầu mô tả một số loại nhân vật trữ tình trong các bài ca Chúng tôi sẽ phân loại và miêu tả các nhân vật theo các nhóm bài ca thuộc các chủ đề khác nhau A M Nôvicôva đã nhận xét khi phân loại dân ca Nga: "Theo chúng tôi quan niệm thì nguyên tắc quyết định sự phân loại chi có thể là nguyên tắc chủ đề, đồng thời có tính đến đặc điểm thể loại đặc biệt của từng nhóm" [ 2] Do vậy chúng tôi sẽ miêu tả những bài ca nhân vật trữ tình theo các nhóm chủ đề Cụ thể là nhân vật

trữ tình trong ba nhóm bài ca:

- Nhóm bài ca về tình yêu lứa đôi

- Nhóm bài ca về tình cảm gia đình

- Nhóm bài ca về các quan hệ xã hội khác

Ở mỗi nhóm bài ca đó, chúng tôi chi tập trung miêu tả một số nhân vật chính với

những nét tiêu biểu nhất của nó Cụ thể, ở bài ca tình yêu lứa đôi, chúng tôi miêu tả,

nhận xét về hai nhân vật trung tâm của nó; đó là nhân vật chàng trai và cô gái Đối với bài ca về sinh hoạt gia đình, chúng tôi chi tập trung miêu tả, nhận xét về nhân vật người vợ, người con, người mẹ ở bài ca về những mối quan hệ xã hội khác, nhân vật được luận văn tập trung đề cập là nhân vật người nông dân Việc miêu tả, nhận xét về

từng nhân vật trữ tình như đã nói trong ca dao trữ tình không thể giống nhau vì mỗi nhân vật như vậy xuất hiện trong những nhóm bài ca khác nhau, có những mối quan

hệ khác nhau với những nhân vật khác và thế giới tình cảm, phương thức thể hiện tình

cảm của nó cũng khác nhau Cũng cần nói thêm rằng, đề tài luận văn là đề tài rộng, lại

là đề tài khố vì trước nay chưa có công trình nghiên cứu nào trực tiếp dành riêng cho các nhân vật trữ tình trong ca dao Vì vậy, do thời gian có hạn, do khả năng còn hạn

chế, luận văn thiên về mục đích bước đầu gợi hướng tìm hiểu các nhânvật hơn là miêu

tả kỹ càng về các nhân vật đó Nhiệm vụ nói trên của luận văn sẽ được thể hiện ở chươngII, III, IV

4 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

4.1.Tư liệu:

Tư liệu tác phẩm để nghiên cứu đề tài gồm các tập sưu tầm ca dao sau đây:

Trang 10

- Kho tàng ca dao người Việt, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên) NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001

Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (In lần thứ 8), Vũ Ngọc Phan, NXB Khoa học

xã hội, Hà Nội, 1978

- Dân ca Bình Trị Thiên, Trần Việt Ngữ - Thành Duy - NXB Văn học, Hà Nội,

1967

- Ca dao - Dân ca Nam Bộ, Bảo Định Giang - Nguyễn Tấn Phát, Trần Vĩnh, Bùi

Mạnh Nhị biên soạn, NXB Tp Hồ Chí Minh, 1984

Ngoài các tư liệu đó là những tư liệu về mĩ học, lý luận văn học, lịch sử, văn hoa

học, văn học dân gian, v.v là cơ sở, làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến luận văn Chẳng hạn, công trình Mĩ học của Hêghen, các công trình lý luận văn học của

một số tác giả trong ngoài nước, từ điển thuật ngữ văn học, các giáo trình đại học cao đẳng về lịch sử và về văn hóa học và văn hóa dân gian

4.2.Phương pháp:

- Dùng phương pháp nghiên cứu liên ngành Cụ thể chúng tôi sẽ vận dụng những tri thức, thành tựu của các ngành khoa học như : Văn học; ngôn ngữ học, xã hội học, văn hóa học, văn hóa dân gian, lịch sử học để tìm hiểu những vấn đề liên quan tới

đề tài

- Phương pháp hệ thống Cụ thể là tìm hiểu các nhân vật trong quan hệ với đặc trưng thể loại, với các yếu tố tạo thành đặc trưng hệ thống nhân vật ở đây chúng tôi đặc biệt chú ý những truyền thống lịch sử - xã hội, văn hóa và truyền thống của ca dao Truyền thống chi phối và thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: đề tài, nhân

vật, hình ảnh, ngôn ngữ Chứng tôi sẽ bước đầu cố gắng đặt nhân vật trong những hệ

thống như vậy để xem xét

- Phương pháp phân tích tổng hợp Phương pháp này giúp cho việc phân tích cụ

thể và khái quát nhữhg đặc điểm của nhân vật

- Phương pháp so sánh So sánh cái riêng của ca dao với thơ, so sánh các nhóm nhân vật với nhau và giữa các thể loại văn học dân gian với nhau

Trang 11

5 K ẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần Dẫn luận và Kết luận, luận văn gồm bốn chương:

Chương 1: Sơ lược về bản chất trữ tình, nhân vật trữ tình và nhân vật trong ca dao trữ tình

Chương 2: Nhân vật trữ tình trong bài ca về tình yêu lứa đôi

Chương 3: Nhân vật trữ tình trong bài ca về tình cảm gia đình

Chương 4: Nhân vật trữ tình trong bài ca về các mối quan hệ xã hội

Trang 12

CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ BẢN CHẤT TRỮ TÌNH, NHÂN

V ẬT TRỮ TÌNH VÀ NHÂN VẬT TRONG CA DAO TRỮ TÌNH

1 Ca dao thuộc loại trữ tình, một trong ba loại (bên cạnh tự sự và kịch) của tác

phẩm nghệ thuật ngôn từ Đây là thể loại của thơ ca trữ tình dân gian

Khái niệm "thơ ca trữ tình" có hai nghĩa : a) nghĩa cổ, chi thơ ca diễn xướng với đàn lia; b) nghĩa mới, chi loại thơ ca biểu hiện cảm xúc, tâm trạng

Là tác phẩm trữ tình, ca dao phản ánh cảm xúc, tâm trạng, tức thế giới nội tâm, ý

thức của con người đối với thực tại Nó là âm vang của trái tim, tâm hồn, là sự chất

chứa, dồn nén, "bùng nổ" của suy nghĩ, cảm xúc trong những khoảnh khắc nhất định

Nếu tác phẩm tự sự "tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó , phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố, hành vi của con người" [ 39-Tr.225], thì tác

phẩm trữ tình "phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩa, cảm xúc chủ quan

của mình đối với thế giới nhân sinh" [ 39- Tr.225]

Trong tác phẩm trữ tình, toàn bộ chất liệu đời sống, thực tại đều biểu hiện qua lăng kính cảm xúc, tâm trạng của chủ thể trữ tình Nói cách khác, tác phẩm trữ tình, trong đó có ca dao, là tiếng nói của bản thân chủ thể trữ tình và tất cả những gì biểu

hiện qua chủ thể đó Hêghen đã xác định nội dung và mục đích của loại trữ tình " nội dung của nó là toàn bộ cái chủ quan, thế giới nội tâm, tâm hồn đang tư duy và đang

cảm thấy cuộc sống bên trong Mục đích trữ tình là sự bộc lộ chủ thể" [ 40 -Tr 682]

Do đặc điểm đó, ca dao không lấy việc miêu tả thiên nhiên, cảnh vật sinh hoạt, phong tục làm mục đích chính, dù không ít bài ca dao có những bức tranh này, dù ca dao có nhắc đến "non xanh nước biếc", "Làng tôi phong cảnh hữu tình", nhắc đến một vùng quê nào đó "có sông tắm mát, có nghề ươm tơ" hay ca dao có thời được gọi là phong dao v.v Ca dao cũng không tường thuật những biến cố, sự kiện lịch sử, không

kể lại cuộc đời những nhân vật lịch sử Đôi khi, có những câu ca nhắc đến nhân vật,

sự kiện lịch sử (như Bà Trứng, Bà Triệu, Ông Lê Lợi, v.v ), nhưng không phải để ghi

sử Ở những bài ca dao có miêu tả cảnh vật hay phong tục, hoặc nhắc đến nhân vật, sự

Trang 13

kiện lịch sử nào đó thì cái chính, ý nghĩa và mục đích chính trong đó không phải là miêu tả, chép lại "những điều trông thấy", mà là để biểu hiện tình cảm của con người đối với hoặc gắn với cảnh vật, phong tục, sự kiện, nhân vật ấy và mượn cảnh vật, phong tục, lịch sử mà biểu hiện tình cảm của con người Gôgôn nhận xét: "Tác phẩm

trữ tình trình bày cuộc sống như một bức tranh Ý nghĩa chính không phải là ở bức tranh mà ở tình cảm mà nó gợi lên "[117]

Ta hãy tìm hiểu một bài ca trữ tình thuộc hệ thống hát ru :

Để mẹ xách nước rửa bành cho voi

Hiện lên qua bài ca là hình ảnh người mẹ vùng châu thổ Sông Hồng ru con Trong truyền thống chống quân xâm lược phương Bắc thì Hai Bà Trưng và Bà Triệu là những nữ tướng đầu tiên đứng lên khởi nghĩa, mở đầu cho những cuộc trường chinh chống kẻ thù xâm lược suốt 1000 năm Bắc thuộc Hai Bà Trưng và Bà Triệu đã cưỡi voi ra trận Đó là một hình ảnh chiến trận truyền thống và cũng là hình ảnh trữ tình rất đẹp Trong bài ca này, hình ảnh Bà Triệu "cưỡi voi đánh cồng" hiện lên trong tình cảm kính trọng, tự hào, thán phục, của người dân, người phụ nữ Việt Nam đối với

vị nữ anh hùng Và một khúc hát khác không phải là lời ru:

Mục đích của bài ca này cũng không phải là ghi lại lịch sử của Lê Lợi tiến quân

về đất Thăng Long Cả hai bài ca trên đều không có mục đích tả việc, kể việc mà chi

nhằm thể hiện suy nghĩ, tình cảm của con người Từ tình cảm kính trọng, yêu thương, thán phục những vị anh hùng dân tộc, người dân muốn làm được một việc gì đó, dù là

rất nhỏ : "xách nước rửa bành cho voi", "cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn", có lẽ nhờ

vậy mà tình cảm được biểu hiện một cách tha thiết hơn

Trang 14

Cho nên ở những "bức tranh", trong các bài ca trên sự kiện lịch sử rất có ý nghĩa nhưng cái lõi nổi bật nhất vẫn là hình ảnh tình cảm Có thể thấy rất nhiều bài ca có

xuất hiện loại hình ảnh tình cảm như vậy bên cạnh hình ảnh lịch sử , sự kiện và người anh hùng Soi rọi nhận xét của tác giả vào một số bài ca có ghi nhận các chi tiết lịch

sử, ta càng thấy rõ tình cảm mới là cốt lõi, là hồn vía của bài ca, lịch sử chi giống như

" điểm tựa" để nâng tình cảm lên; Hình ảnh lịch sử càng lộng lẫy, tráng lệ thì tình cảm càng được bộc lộ thiết tha, sâu lắng

Do bản chất trữ tình chi phối, ca dao không cấu tạo tác phẩm theo nguyên tắc

của tác phẩm tự sự và kịch, không có chức năng của tác phẩm tự sự và kịch Nó không

có cốt truyện và không có xung đột kịch hiểu theo đúng nghĩa của những khái niệm này Mặc dù vậy, ca dao có thể có đặc điểm tự sự - trữ tình, kịch - trữ tình vì các loại

và thể loại văn học dân gian thường xuyên có sự tác động qua lại lẫn nhau Thêm nữa,

ca dao là trữ tình nhưng đó không phải là cảm xúc, trạng thái tình cảm chung chung

mà đều bắt nguồn từ cảnh ngộ, duyên cớ nhất định, từ những "chuyện" hoặc "xung đột" cụ thể nào đó và do những cảnh ngộ, duyên cớ đó gợi lên Và người dân - tác giả

ca dao, nếu không dựa vào cảnh vật, sinh hoạt, những "sự" và "cuộc" của cuộc đời hàng ngày, không dựa vào những "thi liệu" ca dao cụ thể đố thì biết dựa vào cái gì để nói Kể về những "sự, cuộc, nỗi, niềm", về cảnh vật, cảnh ngộ, duyên cớ, xung đột

bằng hành động trực tiếp, bằng kịch tính của hoàn cảnh, bằng đối thoại hay độc thoạithì đó chính là những yếu tố của tự sự hoặc kịch Song ở đây cần lưu ý rằng

nhữhg yếu tố tự sự và kịch đó không phải là cái chính và không làm lu mờ yếu tố trữ tình, mà ngược lại, càng làm cho yếu tố trữ tình cụ thể, đặc sắc và đậm đà hơn Thơ

trữ tình, ca đao trữ tình có kể và tả cũng là đi đến mục đích khác - mục đích trữ tình Nhìn rộng hơn nữa, tất cả hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu trong thơ, trong ca dao đều hướng đến mục đích biểu hiện cảm xúc, tâm trạng, về điều này, rất nhiều nhà nghiên

cứu đã khẳng định Chẳng hạn, nhận định của Arnauđốp: "Tâm trạng phải được thể

hiện bằng hình ảnh tương ứng" [ 66 - Tr.525 ]; của Xpenxơ : "Âm luật không phải là cái gì khác mà chính là sự lý tưởng hóa của ngổn ngữ tự nhiên của tình cảm" [ 80 - Tr.47]; của Guygô : "Thơ là một hình thức tổ chức có tình cảm của lời nói" [ 80 - Tr.47 ]

Trang 15

2 Ca dao có nguồn gốc từ rất xưa Nhưng đa số những bài ca sưu tầm được và còn lại hiện nay đều thuộc những thế kỷ gần đây Sự nở rộ của ca dao là vào giai đoạn

khủng hoảng và suy tàn của chế độ phong kiến, giai đoạn mà vấn đề con người và quyền của nó được đặt ra rất gay gắt và bức thiết [ 32 -Tr 1979-2026]

Ca dao ra đời, nở rộ đáp ứng những nhu cầu, nội dung và hình thức bộc lộ đời

sống tâm tình của nhân dân qua nhiều thế hệ "Không chờ đợi thơ chính qui, thơ chuyên nghiệp diễn tả hộ cho mình, nhũhg người lao động đã, thế kỷ này qua thế kỷ khác, diễn tả trực tiếp lòng mình yêu đương, sướng vui, đau khổ" [ 22 - Tr.189]

Tục ngữ Nga nhận xét: "Truyện cổ tích là hư cấu, còn dân ca là thực tại" [73 Tr.201] Nếu truyện cổ tích "mở ra cánh cửa sổ" để "trông vào thế giới khác" [73 - Tr.201], thế giới hư cấu, hoang đường, thế giới ước mơ, nơi nhân vật "ngồi trên tấm

-thảm biết bay, đi hia vạn dặm, phục sinh những người đã chết bằng cách rắc nước thần lên họ, chi trong một đêm thôi cũng xây dựng xong một toa lâu đài" [63 ], thì ca dao tìm thi hứng ở ngay trong cuộc đời hằng ngày - cuộc đời đẫm mồ hôi, nước mắt đắng cay tủi nhục song cũng luôn bồn chồn ấm áp những nhịp đập bồi hồi của tình cảm yêu thương, dạt dào những khoái cảm của niềm vui, của sự cười cợt Ca dao diễn tả sâu

sắc những nỗi thống khổ cũng như những khát vọng về quyền sống, quyền tự do tinh

thần của con người bị áp bức, nỗi bất bình của nhân dân đối với chế độ phong kiến hà

khắc Nó cũng diễn tả rất sâu sắc, tinh tế những tình cảm yêu thương, chung thủy, nhân nghĩa của con người Ca dao giản dị và ám ảnh Nó cứ mộc thế mà đau khổ, căm

giận và yêu thương nhức buốt

Còng lưng mà chạy, cực còn theo sau

Trang 16

C ắt ra từng đoạn cho nhau mà về

Có thể khẳng định rằng: toàn bộ ca dao trữ tình trước hết và chủ yếu là tiếng hát than thân và tiếng hát yếu thương, nghĩa tình của người bình dân Giá trị độc đáo của

ca dao là ở chỗ nó "phản ánh chân thực, tự nhiên, sâu sắc tâm hồn và khí sắc dân tộc"

Đỗ Bình Trị viết: "Chủ thể trữ tình của dân ca - ca dao, khi cảm nghĩ về thân phận mình là thấy buồn, thấy khổ, và tiếng hát cất lên thành tiếng hát thở than về mọi nông

nỗi khổ đau và bất hạnh của kiếp người, "nghe rặt một điệu hắt hiu thương nhớ"; nhiửig khi nó cảm nghĩ về những người thương mến, về những nơi những vật thân thuộc là thấy yêu, thấy thương, và tiếng hát cất lên thành tiếng hát ân tình, nghĩa tình - tình gia đình, tình bè bạn, tình yêu, tình làng, tình người, nghe "đầm ấm dương hòa"

Nội dung dân ca - ca dao dẫu khai thác bao nhiêu đề tài, rút lại căn bản cũng là những

biến tấu của hai "lời" ấy: dân ca - ca dao xưa chủ yếu là tiếng hát than thân phản kháng và là tiếng hát yêu thương tình nghĩa của người làm ruộng, người làm thợ, người làm con, người làm dân, của tất cả những người lao động và bị áp bức trong xã

kết cấu trữ tình như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận

cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét chân dung Đó là cái tôi được sáng tạo ra" [ 39 - Tr 162]

Cũng theo Từ điển thuật ngữ văn học, "không được đồng nhất giản đơn nhân vật

trữ tình với tác giả, phần lớn trong thơ trữ tình nhà thơ xuất hiện như "người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại" (Biêlinxki), nhà thơ đã tự nâng mình lên một tầm

Trang 17

khác với cái tôi đời thường cá biệt Mặt khác lại phải thây nhân vật trữ tình là sản

phẩm tinh thần của nhà thơ" [ 39 - tr 162]

Dựa theo xác định trêu, có thể thấy, trong thơ trữ tình, chủ thể trữ tình và nhân

vật trữ tình không phải lúc nào cũng đồng nhất Và trong thơ, ngay cả thơ cổ điển -nơi chi có cái tôi "vô ngã", "cái tôi vũ trụ", chủ thể trữ tình và nhân vật trữ tình là sở hữu

của người sáng tác, mang dấu ấn của cá nhân người sáng tác Cho nên ta có thể dễ dàng nhận ra thơ và các nhân vật trữ tình của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, ở ca dao vấn đề hoàn toàn khác Trong ca dao, chủ thể trữ tình và nhân vật trữ tình thống nhất với nhau làm một và luồn biểu hiện cho tiếng nói chung của tập thể Đỗ Bình Trị viết: "Trong dân ca - ca dao (của mọi dân tộc) không

có cái dấu ấn của cá nhân ("con người này"), ở đây, chủ thể trữ tình (tức là tác giả) luôn luôn đồng nhất với nhân vật trữ tình (tức là nhân vật mà cảm nghĩ của nó được

diễn tả trong "bài ca" và đó không phải là một cá nhân riêng rẽ mà là một quần thể)

Có thể nói, đó là hiện thân trữ tình của quần chúng nhân dân" [104 -tr.122]

Để làm sáng tỏ thêm điều này, chúng tôi xin dẫn thêm ý kiến kinh điển của Hêghen Theo Hêghen, so với thơ trữ tình, "ở thơ ca dân gian, mặc dù hình thức của

nó hiển nhiên là trữ tình, nghĩa là có tính chất chủ quan, dẫu sao vẫn còn thiếu cái chủ

thể, thiếu cái cá nhân người sáng tạo, mà ta có thể nói rằng cái hình thức ấy và nội dung ấy là của riêng người ấy, là một sản phẩm của tài năng nghệ thuật, là một biểu

hiện của tâm hồn và trí tuệ người ấy" [ 40 - tr.682] Chủ thể và nhân vật trữ tình ở ca dao chưa phải là một cá nhân riêng rẽ, mà là "một cá nhân biết biểu hiện cách cảm nghĩ của nhân dân", cá nhân đó "chi là một khí quan qua đó yếu tố trữ tình của đời

sống dân tộc biểu hiện" [ 40 - tr.682]

Như vậy chủ thể trữ tình và nhân vật trữ trong ca dao là đồng nhất và thường là phi cá thể hóa Sự cá thể hoa không phát triển trong văn học dân gian nói chung và trong ca dao nói riêng Diện mạo của các nhân vật trữ tình trong ca dao là cái chung

Do đặc điểm này, đồng thời do những đặc điểm Folklore về nguyên tắc điển hình hóa,

tất cả các nhân vật được thể hiện trong văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng đều có tính tổng quát, khái quát rộng rãi Nhân vật của ca đao trữ tình là "chàng trai"

"cô gái", "người mẹ", "người vợ ", "người vợ lính", "người lính thú", "người nông

Trang 18

dân", tất cả các nhân vật này đều mang tính khái quát, dù nhân vật được gọi bằng cái tên có vẻ cụ thể nhưng "cô Mơ", "cô Mận", "cô Đào", "anh Hai", "chị Ba" (thực ra đây cũng là những cái tên ước lệ phiếm chi) Chân dung, hoàn cảnh sống, những nỗi niềm

của từng kiểu loại nhân vật đều mang tính chất chung, tính chất tập hợp "Tính chất chung, tính chất tập hợp của các nhân vật gắn liền với khát vọng của nhân dân muốn

biểu hiện điều chủ yếu nhất của con người trong thời đại đó Tính tổng quát rộng rãi cũng tiêu biểu đối với việc miêu tả một cách nghệ thuật những hoàn cảnh của nhân vật

trữ tình" [ 2 - Tr 100] vì vậy mỗi nhân vật trữ tình và những bài ca nhân danh nhân

vật đó đều thể hiện chân dung, hoàn cảnh, tâm trạng, quan niệm điển hình của những con người cùng hoàn cảnh, không có sự cụ thể hoa nào Hình tượng con người trong văn học dân gian, nhìn chung, có tính tổng hợp cao hơn so với hình tượng con người trong văn học viết Ví dụ, vẻ đẹp của nhân vật "Cô gái" trong các bài ca tình yêu là

"tóc bỏ đuôi gà" "mắt lá răm" (hoặc "mắt nhấp nhánh như sao trên trời") "lông mày lá

liễu", "cổ tay em trắng như ngà" "miệng cười như thể hoa ngẫu" Trang phục, y phục

là "nón thúng quai thao", "cái khăn đội đầu như thể hoa sen", "cổ yếm đeo bùa" thế

giới xung quanh cô gái là "vườn hồng", "vườn chè", "bến sông", "đêm trăng thanh"; Tâm trạng điển hình là bồn chồn, thương nhớ người yêu; buồn khổ khi xa cách, đau đớn cay đắng khi không lấy được người mình yêu Ở những người phụ nữ lấy chồng

xa quê, chúng ta gặp một "chân dung tinh thần" khác Tâm trạng của họ thường gắn

với "chiều chiều" với "ngõ sau" "bến sông" "heo hút", vắng lặng Nỗi niềm của họ là

"nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều", là "muốn về quê mẹ mà không có đò", Tất cả

những chi tiết ấy đều là sự khái quát hoa, điển hình hoa cho những con người cùng

cảnh ngộ Đó là những chi tiết phổ biến nhất, tiêu biểu nhất, được nhân dân quan

niệm, diễn tả khi nói về từng kiểu loại nhân vật

Nhà nghiên cứu Cao Huy Đĩnh đã viết: "tình cảm trong ca dao dân ca qua lối đối đáp đã được cá thể hóa đến mức cụ thể linh hoạt làm thỏa mãn tác giả nó, nhtrtig đồng

thời lại phải khách quan hóa đến mức tập thể đồng cảm ngay được Cái tập thể cụ thể trước mắt, trong đêm hát, tức là hai người cùng đối đáp và liền đó hai phường, hai họ, hai cánh nam nữ cùng hát Rồi rộng ra là nhân dân trong vùng, trong cả nước lại tiếp thu, lại sáng tạo và ca hát ở những tập thể cụ thể khác, trong những buổi khác, ở một địa phương khác Vì vậy đôi bên chi có thể giãi bày tâm sự riêng tư đến một mức độ

Trang 19

mà họ nói hộ được tiếng nói chung của cánh hát mình, giới mình, địa phương mình và

do đó của cả dân tộc Nếu chưa đạt đến hoặc trái lại đã vượt quá cái giới hạn của sự

thống nhất "tôi - ta", "riêng - chung" ấy thì câu ca dao mất hay, mất tính phổ biến, cả người hát người nghe đều mất hứìig và lẽ tự nhiên lối hát đối đáp và lời đối đáp càng

trở thành vô nghĩa và khó có lý do tồn tại

Sự hài hòa giữa tâm hồn cá nhân và tình cảm của tập thể đó đã làm nên chất thơ

trữ tình dân tộc của ca dao, dân ca Lối đối đáp sinh ra từ cuộc sống lao động tập thể,

từ cách sinh hoạt thơ ca tập thể, từ yêu cầu trao đổi tâm tình bằng miệng, bằng một lối nói chuyện thực sự bằng thơ ca như vậy trong lúc chưa có chữ viết và sinh hoạt văn

học cá nhân Lối đối đáp này do nội dung trữ tình và điều kiện thực tế qui định Nhưng ngược lại nó cũng chi phối, điều tiết được tình cảm cá nhân và tập thể để đảm

bảo sự hài hòa và thống nhất của hai xu hướng cá thể hóa và khái quát hóa trong ca dao dân ca" [ 33 - Tr 13]

Trong sinh hoạt ca dao, mỗi người trong tập thể nhân dân tùy từng cảnh ngộ, số

phận, đều có thể tìm thấy tiếng lồng, nỗi niềm của mình trong đó Người hát như hát

về mình Người nghe như nghe về mình Ca dao vang lên từ nhu cầu được chia sẻ, tìm

tiếng gọi đàn, tiếng đồng vọng của những người cảnh ngộ tương đồng Tất cả những người cùng cảnh, cùng hội, cùng thuyền, nếu tự thấy mình đồng điệu, đều có thể dùng chung những câu hát của nhau, như thể đó là tiếng hát cất lên tự trái tim chính mình

vậy Chính vì lẽ đó mà ca dao được coi là tấm gương của tâm hồn, khí sắc dân tộc Nhà thơ Xuân Diệu nói ca dao "là thơ của vạn nhà" cũng chính là vì vậy

4 Ca dao được coi là "một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình" (Hêghen) Với tính cách là thơ ca trữ tình, ca đao mang một đặc điểm nổi bật - Đó là

một lối thơ trữ tình - trò chuyện.[ 105 ]

Do đặc trưng trữ tình của sinh hoạt dân ca truyền thống là diễn xướng, đối đáp, đồng thời do đặc trưng của mối quan hệ cộng đồng của người nông dân Việt Nam xưa kia mà tính chất trữ tình trò chuyện in đậm trong cảm hứng trữ tình của ca dao và trong cấu tứ, trong cách xưng hô của lời ca Trò chuyện tức là trao gửi, là chia sẻ, kể

cả khi than trách cũng cần được chia xẻ Ở thơ ca văn học viết, người viết khi sáng tác thường chi cốt biểu hiện cảm xúc của mình, không nhất thiết quan tâm đến việc "trò

Trang 20

chuyện cùng ai" Nhưng ca dao thì khác : Người hát bao giờ cũng muốn đem nỗi lòng mình chia xẻ với ai đó, bao giờ cũng hướng vào một đối tượng cụ thể, cho dù là nói

với một vật vô tri vô giác "cái cọc cầu ao" hay với một con vật thì cũng là bộc lộ nhu

cầu muốn được ngỏ lòng, được chia sẻ tâm tình với một đối tượng cụ thể, không hề bâng quơ, dù lời hát có vẻ như bâng quơ.:

Giã ơn cái cọc cầu ao

hoặc : Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ru ộng trâu cày với ta

Tính trữ tình - trò chuyện in đậm nét trong nội dung và cách thể hiện của ca dao

Vấn đề này liên quan cả đến phương pháp khi tìm hiểu ca dao, thí dụ như khi phân tích tâm tình của người con thì phải tìm người đối thoại là ai (cha mẹ đẻ hay cha mẹ

chồng); phân tích nhân vật trữ tình là người con gái trong bài ca thì phải tìm hiểu hình ảnh người con trai qua lời giãi bày của cô gái v.v Nói như vậy để khẳng định rằng nhu cầu trao gửi nỗi niềm: cho ai, với ai, trong ca dao trữ tình không hề là tình cảm chung chung

Thử tìm hiểu bài hát ru sau đây:

B ắt được con cá rô trê

C ầm cổ lôi về cho cái ngủ ăn

Trong khúc hát ru, nhân vật chính là bà mẹ, đối tượng trò chuyện là đứa con thơ,

dù nó chưa biết nói Miếng ăn và giấc ngủ của con là mối quan tâm thường trực của người mẹ, và với trẻ thơ nơi bình yên nhất, an toàn nhất là lòng mẹ Lời và âm điệu ru con trước hết vẫn là để dỗ giấc ngủ cho trẻ, để kéo "cái ngủ" về đậu trên mi mắt con thơ, rồi sau đó mới là bộc lộ niềm mơ ước Người mẹ mơ ước những gì? Mơ cho con

Trang 21

ngủ yên, đầy giấc, cho con no đủ Nhìn nhận bài ca dao theo tiêu chuẩn của trữ tình - trò chuyện thì sẽ dễ theo dõi và đồng cảm với dòng cảm nghĩ của chủ thể trữ tình

Ở ca dao, dù kết cấu theo lối đối đáp hay lối kể chuyện, ta hầu như luôn thấy bóng dáng một nhân vật trữ tình đang trò chuyện, tức là kể chuyện hoặc giãi bày cảm nghĩ, tâm tình với người khác

Việc xác định chủ thể trữ tình, tức cũng chính là nhân vật trữ tình trong bài ca là

ai, đang nói với ai, là rất quan trọng Xác định như thế nào, hiểu nội dung, giá trị trữ tình của bài ca dao như thế ấy

Xin dẫn một vài ví dụ :

M ẹ đi lấy chồng con ở với ai

Nếu hiểu đây là lời của người con thì đó là lời đứa con trách mẹ hoặc giãi bày để

"cầm chân" mẹ lại "Trời mưa" là một hoàn cảnh đặc biệt Con như "bong bóng phập

phồng", mỏng manh lắm, dễ tan lắm và sẽ mau tan thôi, mau bị cơn mưa cuốn trôi, xóa sạch Sao mẹ lại bỏ con đi bước nữa?

Còn nếu hiểu đây là lời người mẹ tâm sự với con thì đó là nỗi giằng xé, lo âu của

mẹ trước sự lựa chọn nghiệt ngã, không dễ dàng Và hình ảnh "Trời mưa bong bóng

phập phồng" như một sự hợp tan, tan hợp không có gì chắc chắn, cơn mưa cứ kéo dài không dứt, người mẹ nhìn con và nghĩ tới cảnh ngộ hiện tại của mình lại càng thêm day dứt, buồn bã Hơn nữa hầu như người mẹ trong cảnh "đi bước nữa" thường còn

trẻ, con còn nhỏ dại, vì vậy trẻ con chưa thể "triết lý" được như vậy

Ví dụ khác:

Em có ch ồng rồi, trả lại yếm cho anh

Trang 22

Bài 1 là lời chàng trai? Nếu thế thì người con trai này quá tầm thường trong "văn hóa chia tay" và rất đáng phải "chia tay" sớm chút nào hay chút ấy Trong tương quan

ấy, bài 2 là lời cô gái Cô gái cũng "đáo để" ; Đấy "vỏ quýt dày", đây "móng tay

nhọn" Nói "huỵch toét" với nhau như thế là hết Bát nước đã đổ đi

Nhưng hiểu bài 1 là lời cô gái thì sự tình khác hẳn "Bông cúc vàng nở ra bông cúc tím", ngang trái quá Duyên em với anh cũng vậy Em có chồng rồi, đã là người khác, của người khác Chiếc yếm, kỷ vật này, em không có quyền, không xứng để giữ

mặc, xin trả lại cho anh

Chàng trai đáp lại rất ân tình : "Bông cúc tím nở ra bông cúc xanh", hoa nở rồi

có ngang trái, nhưng vẫn đẹp, nở rồi nhưng nó vẫn giữ cái màu xanh của buổi ban đầu Yếm anh tặng em đã là của em Em cứ mặc, đâu phải là của anh nữa Có hờn đỗi nhưng vẫn rất ân tình Đặc biệt lời đáp ấy rất sâu sắc về tình ý Giữ lại yếm cho em cũng là giữ lại kỷ niệm tình yêu của mình nơi "Người ấy"

Nhiều trường hợp, xác định bài ca là lời của ai nói với ai không khó Tín hiệu giúp ta xác định hiện ra ngay trong lời ca, qua nội dụng trò chuyện, tâm sự, qua tiếng

gọi, lời nhắn :

Đây là câu hát ru con của mẹ :

Ru hơi, ru hỡi, ru hời Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển đông

Cù lao chín ch ữ ghi lòng con ơi!

Đây là lời người vợ thương chồng thủy chung :

Trang 23

Lại có những trường hợp một bài ca gồm nhiều dị bản Trong các dị bản, nhân

vật trữ tình không phải lúc nào cũng là một mà có thể là người khác Do đó các dị bản

có sự khác nhau Chính vì vậy phải căn cứ vào từng bài ca (từng dị bản) thì mới có thể xác định được nhân vật trữ tình trong đó là ai và lời nói ấy là lời nói của ai nói với ai Thí dụ trong câu ca dao sau đây :

Thân em như lá đài bi

Dựa vào đại từ và lời trò chuyện ta hiểu ngay rằng chủ thể của lời ca này là một

cô gái Đây là lời than thân trách phận của một người có số phận khổ ải, nhọc nhằn Nhưng bài ca dao này còn có một dị bản khác :

Thương em như lá đài bi

Thì chủ đề của lời ca này là một chàng trai Và chàng trai này bày tỏ sự xót thương, thông cảm đối với người con gái có số phận dầu dãi như vậy

Do đó phải căn cứ vào từng dị bản với cách biểu hiện của nó để tìm ra được vai trò và ý nghĩa của các đại từ nhân xưng và các tình huống kèm theo hoặc các tình

Chi xe chưa đặng, cá lần ra khơi

Dựa vào truyền thống ca dao, ta xác định được ngay đây là lời của nhân vật

"chàng trai" Nhân vật trữ tình của bài ca này buồn, nuối tiếc vì "bị mất" người mình yêu dấu Khẳng định được như vậy vì trong truyền thống biểu tượng của ca dao, chàng trai là "người câu cá", cô gái là "cá" :

Trang 24

- Nước trong cá lội thấy vì

- Ti ếc công anh chẻ nứa đan lờ

Để cho con cá vượt bờ nó đù

K ẻ chài, người lưới, biết vào tay ai

Nhưng cũng có những trường hợp rất khó xác định nhân vật trữ tình là ai, mặc

dù chủ đề của bài ca thì có thể hiểu được Ví dụ :

Thương nhau phải tính thương thầm khó thương

- Nh ớ ai bồi hổi, bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than

Đây là những bài ca chủ đề tình yêu lứa đôi, nhưng đó là lời của ai? Của chàng trai hay cô gái? Chàng trai hoặc cô gái đều có thể sử dụng lời hát đó Đặt vào các hoàn

cảnh diễn xướng cụ thể, ta xác định được ngay Trong trường hợp chi có văn bản lời

ca, vấn đề xác định đây là lời của ai, chàng trai hay cô gái, quả thật rất khó

Mặc dù vậy, việc đặt bài ca vào các hệ thống của nó là vấn đề phương pháp luận

rất quan trọng để xác định nhân vật trữ tình, những cảm nghĩ của nhân vật và cách thể

hiện nhữiig cảm nghĩ ấy Tính truyền thống là đặc tntìig của văn học dân gian Một bài ca dao có bao nhiêu yếu tố truyền thống thì có bấy nhiêu hệ thống Đó là hệ thống

chủ đề, hệ thống nhân vật, hệ thống các yếu tố phong cách và hình thức nghệ thuật " Đặt bài ca dao vào hệ thống của nó ta không những dựa vào cái chung để hiểu (nghĩa) cái riêng mà còn có thể nhận ra được đặc sắc của nó trong cái chung Thêm nữa đặt bài ca dao vào trong các hệ thống của nó, ta cũng có điều kiện để tưởng tượng, liên

Trang 25

tưởng, để hít thở trong một bầu không khí ca dao, để kích thích cho cái hồn của bài ca dao bỗng xao động lên mà hè mở cho ta những bí ẩn nó chứa đựng " [ 105 ]

Trở lại với bài ca :

M ẹ đi lấy chồng, con ở với ai

Như đã nói ở trên, có thể xác định đây là lời con nói với mẹ nhưng cũng có thể xác định đây là lời mẹ nói với con Nhưng nếu đặt bài ca này vào hệ thống của nó thì

phải khẳng định rằng : không thể coi đây là lời con nói với mẹ được Chi có thể coi đây là lời của người mẹ nói với con, vì theo hệ thống triết lý tình cảm của người Việt Nam cổ truyền thì "cá chuối đắm đuối vì con" Kho tàng ca dao Việt Nam chưa có bài nào là lời đứa con trách mẹ đi lấy chồng Chính vì lý do đó mà bài ca dao trên vừa có

ý nghĩa như lời người mẹ chia xẻ nỗi niềm với con, vừa cố ý nghĩa như lời " độc thoại

nội tâm" của người mẹ

5 Cũng cần phân biệt nhấn vật trữ tình với nhân vật trong ca dao trữ tình Nhân

vật trong ca dao trữ tình là đối tượng để tác giả dân gian (cũng tức là nhân vật trữ tình, như đã xác định ở phần trên) gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi dậy tình

cảm, tâm sự của tác giả Có trường hợp, nhân vật trữ tình và nhân vật trong bài ca là

một Ví dụ :

- Thân em như trái bần trôi, Gió d ập sóng dồi biết tấp vào đâu

H ạt vào đài cát, hạt ra ruộng cày

Đúng hơn có lẽ nên xác định: đây là trường hợp bài ca chi có nhân vật trữ tình Nhưng nhân vật trong ca dao trữ tình không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhân vật

trữ tình

Con cò l ặn lội bờ ao

Trang 26

H ỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?

Chú tôi hay t ửu hay tăm, Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa

Ngày thì ước những ngày mưa, Đêm thì ước những đêm thừa trống canh

Trong bài ca này, trước hết, chúng ta thấy có hai nhân vật "cô yếm đào" và "chú tôi" "Cô yếm đào" tượng trưng cho người con gái đẹp, xứng đáng có người chồng tốt, chân chất, chăm chi, hiền lành Còn "chú tôi" thì đủ tật xấu : nghiện ngập đủ thứ và lười biếng Đây là hai nhân vật trong bài ca Còn một nhân vật nữa, nhân vật xưng

"tôi", đây mới chính là nhân vật trữ tình của bài ca Nhân vật này "giới thiệu" kể về

"chú tôi" để phê phán, chế giễu "chú tôi" và những hạng người như thế, còn nhân vật

trữ tình là hiện thân của tác giả (ở đây tất nhiên là tác giả dân gian) Một ví dụ khác :

C ậu cai nón dấu đuôi gà Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai

Ba năm được một chuyến sai

Nhân vật trong bài ca dao này hiển nhiên là "cậu cai" Cậu cai hiện lên với chân dung rất hài hước Cả bốn dòng thơ của bài ca đều tập trung "vẽ" hoặc "kể" về cậu cai Nhưng đọc bài ca dao, chúng ta còn thấy một nhân vật nữa nổi rõ với những cảm xúc trào lộng, chế giễu cậu cai Đó là tác giả dân gian Và đây mới là chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình của bài ca dao châm biếm trên Bằng con mắt, suy nghĩ, đánh giá của

tập thể quần chúng nhân dân, tác giả đã đặc tả nhân vật cậu cai như vậy

Luận văn của chúng tôi có tựa đề "Đặc điểm nhân vật trữ tình trong ca dao cổ truyền Việt Nam", điều đó có nghĩa rằng đối tượng tìm hiểu của luận văn bao gồm cả nhân vật trữ tình và cả nhân vật trong ca dao trữ tình, với những quan niệm xác định như chúng tôi đã trình bày ở trên

Trang 28

CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG BÀI CA VỀ

TÌNH YÊU L ỨA ĐÔI

* Thứ nhất, vì ca dao - dân ca chủ yếu được sáng tác trong hoàn cảnh đối ca nam

nữ Một số công trình nghiên cứu đã khẳng định rõ điều này; Ví dụ: Hát đối ca của nam nữ thanh niên ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên (1934), Tim hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam của Cao Huy Đinh (1974) Nhà thơ Xuân Diệu cũng đã

nhận xét: " Có lẽ cái tục lệ hát đối đáp giao hoan giữa nam và nữ, hát ví, phường vải,

hò giã gạo, chèo đò, đã có một tác dụng quan trọng trong việc làm cho người phụ

nữ bình dân tích cực đặt ra ca dao" [ 22 - Tr 189]

* Thứ hai, vì tình yêu lứa đôi là vấn đề rất tiêu biểu trong đời sống tình cảm của con người Tình yêu lứa đôi, như C.Mác nhận xét, là cái trục cho thơ ca bao đời xoay quanh

* Thứ ba, ca dao - dân ca cổ truyền phát triển, nở rộ vào giai đoạn chế độ phong

kiến đè nén, áp bức con người Trong xã hội đó, "Nam nữ thụ thụ bất thân" tình yêu

lứa đôi tự do của các chàng trai, cô gái bị cấm đoán Song, đã thành qui luật, càng bị

gò ép, cấm đoán, nam nữ thanh niên càng mạnh bạo "tháo cũi sổ lồng" Ca dao tình yêu là hình thức để họ thoát ra khỏi vòng lễ giáo phong kiến, thực sự sống trọn vẹn

với con người mình

Bài ca về tình yêu lứa đôi có nội dung rất đa dạng Nhưng nội dung chính là ước

mơ gặp gỡ, yêu thương, kết duyên và những phiền muộn, đau khổ do phải xa cách, chia lìa, hoặc do những tục lệ khắc nghiệt, hủ lậu trong gia đình và xã hội, v.v

Trang 29

"Nhân vật chính của các bài ca tình yêu là cô gái và chàng trai Chung quanh họ là các nhân vật thứ yếu như cha mẹ, bè bạn Các bài ca được xây dựng NHÂN DANH (chúng tôi nhấn mạnh TTV) cô gái và chàng trai [2 - Tr.l 15] Nhưng cần chú ý rằng trong bài giao duyên, những tình cảm của cô gái được miêu tả phong phú hơn và sâu

sắc hơn Bởi vì những người sáng tác, diễn xướng ca dao - dân ca chủ yếu là phụ nữ

"Không ở đâu bằng trong văn học dân gian, trong ca dao, người phụ nữ tha hồ nói

rằng mình yêu, họ đã ngang nhiên và dĩ nhiên thi hành cái quyền tự do diễn đạt tâm tình của mình Tôi chưa nói về chất lượng tác phẩm, tôi hãy nói trong phạm vi đang bàn ở đây, văn học chính qui đã lạc hậu hơn văn học bình dân; văn học bình dân, không biết từ xưa bao lâu, đã là một nền văn học dân chủ, bình đẳng giữa nam và nữ

Số ca dao "em" không nhường số ca dao "anh"" [ 22 - Tr.189] Trong bài báo người

"Người phụ nữ trong sinh hoạt dân ca" [ 49 - Tr 125-128 ], Nguyễn Thị Huế cũng đã chi rõ vai trò của người phụ nữ trong sáng tác, trình diễn và lưu truyền các bài ca Phụ

nữ là lực lượng sáng tác, lưu truyền chủ yếu các bài ca giao duyên cho nên hình ảnh

họ xuất hiện phong phú và sâu sắc trong loại bài ca này cũng là điều tất yếu, dễ hiểu Như đã nói, nhân vật chính trong bài ca về tình yêu lứa đôi là các "chàng trai" và

"cô gái", hai nhân vật này luôn gắn bó với nhau Thêm nữa, những quan hệ của

"chàng trai" và "cô gái" cùng những rung động, suy nghĩ, tình cảm của họ tạo thành

nội dung cơ bản của loại bài ca này Do đó dưới đây chúng tôi sẽ tành bày hai nhân

vật chính này của bài ca giao duyên trong quan hệ song song

2.2 TÊN GỌI VÀ CHÂN DUNG CỦA NHÂN VẬT CHÀNG TRAI VÀ CÔ GÁI

Trong ca dao, cô gái thường được gọi là "cô Hai", "chị Ba", "cô Tư", "cô Mơ",

"cô Mận", "cô Đào", "Quan họ liền chị" và thường tự xưng là "em", "tôi", "qua" Còn nhân vật chàng trai thường được gọi là "anh Hai", "anh Ba", "Quan họ liền anh" và thường tự xứng là "tối", "anh", "qua" Đó là những tên gọi quen thuộc, phổ biến trong dân gian, được nhân dân quen dùng, ưa thích Trong ca dao những tên gọi đó mang tính chất ước lệ chứ không phải là những tên gọi chính xác cụ thể cho con người cụ

thể

Trang 30

Nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật chưa phát triển trong một số thể loại văn

học dân gian, đặc biệt là trong truyện cổ tích Đôi khi truyện cổ tích có phác qua đôi nét rất sơ lược về chân dung nhân vật và trang phục, y phục của nó nhưng nhìn chung, như V.Ia.Prốp đã khẳng định, "nghệ thuật miêu tả chân dung chưa xuất hiện trong truyện cổ tích" [ 113 ] Trong ca dao - dân ca vấn đề có khác Ca dao - dân ca trữ tình

là thể loại diễn tả tâm trạng, thế giới nội tâm của con người Đối với thế giới ấy, vẻ đẹp hình thức và liên quan đến vẻ đẹp hình thức là tâm hồn, tính cách con người, có ý nghĩa rất quan trọng, tạo nên những rung động, ấn tượng tình cảm sâu sắc cho người trong cuộc và cho người khác

Chân dung lý tưởng về "cô gái" được thể hiện tập trung, tiêu biểu trong hệ thống các bài "Mười thương", "Mười yêu", ở đây, ta gặp những vẻ đẹp của các thôn nữ trong quan niệm mĩ học và đạo đức truyền thống : "mắt lá răm, lông mày lá liễu", "răng đen rưng rức", "miệng cười như thể hoa ngấu", "cổ tay trắng như ngà" Trang phục của họ

là "nón thúng quai thao", "yếm đào", "cổ yếm đeo bùa", v.v

- M ột thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền

Năm thương cổ yếm đeo bùa Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng

Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh Chín thương cô ở một mình Mười thương con mắt có tình với ai

- M ột yêu cô ả lắm thay

Trang 31

Ba yêu c ửa gió lọt vào

Năm yêu má lúm đồng tiền Sáu yêu cô ả tốt duyên chăng là

Tám yêu cô ả nết na hiền tài Chín yêu cô ch ửa có ai Mười yêu anh kết làm hai vợ chồng

Một vẻ đẹp vừa duyên dáng, đầy nữ tính, vừa giản dị, chân chất, mang đậm hồn quê, dáng quê

Bài ca dao sau tuy không thuộc hệ thống bài "Mười thương", "Mười yêu" nhưng

đã phác họa khá đầy đủ những vẻ đẹp của nhân vật "cô gái" trong ca dao:

Cái khăn đội đầu như thể hoa sen

Ca dao thường mượn hình ảnh thiên nhiên để vẽ " chân dung " các cô gái:

Yêu người lắm lắm người ơi

- Trúc xinh trúc m ọc bên đình

Em xin em đứng một mình cũng xinh

Vẻ đẹp hình thức của cô gái luôn gắn bó với vẻ đẹp tâm hồn Vẻ đẹp của các cô gái còn là vẻ đẹp của sự trẻ trung, khỏe mạnh, sức sống, khả năng lao động, trái ngược

Trang 32

với vẻ đẹp "trướng rủ màn che", "liễu yếu đào tơ", "yểu điệu thục nữ" của các cô gái trong văn học viết trung đại Đây là sự khác biệt về chất trong bản thân hình tượng cũng như trong quan niệm về vẻ đẹp của các cô gái giữa văn học dân gian với văn học

viết trung đại

Ngược lại với nhân vật cô gái, chân dung nhân vật chàng trai gần như không được diễn tả trong ca đao Thực tế, cũng cố một số bài nhắc đến sự "chải chuốt" hoặc

y phục, trang phục của chàng trai (áo trắng, ô đen) nhưng là để hài hước, châm biếm

những người đàng điếm hoặc lười nhác Ví dụ như:

Hay là buôn bán ngoài đàng Mượn đầu heo nấu cháo nổi màng màng dễ coi

Còn nhìn chung ca dao không miếu tả chân dung nhân vật chàng trai Phải chăng, nhân dân quan niệm đối với người con trai, hình thức không phải là điều quan

Trang 33

- Bao gi ờ cho đến tháng Hai, Con gái làm c ỏ, con trai be bờ

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

Đan sàng thiếp cũng xin vâng

Trong ca dao ta thường gặp những cảnh vật quen thuộc, những bức tranh sinh

hoạt hàng ngày của đời sống nhân dân, bối cảnh cho những buổi giao duyên và cho

những biểu hiện của tình yêu hạnh phúc cũng như tình yêu đau khổ Tên của nhiều điệu hò lý Bắc, Trung, Nam thể hiện rõ điều đó : Hò đò dọc, Hò đò ngang, Lý đi cấy (Bắc Bộ), Lý dệt vải, Lý qua đèo, Lý con tằm (Trung Bộ), Lý kéo chài, Lý đất giống,

Lý con cua (Nam Bộ) Ví dụ bài Lý con tằm của Trung bộ :

Đã mang lấy cái thân tằm Không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ Đêm nằm tơ tưởng, tưởng tơ

Nói đến bối cảnh gặp gỡ, giao duyên của các chàng trai, cô gái cũng tức là đề

cập đến không gian nghệ thuật trong loại bài ca này Ở đây ta gặp những hình ảnh ẩn

dụ, những biểu tượng nghệ thuật của ca dao : đường (đường vắng, giữa đường, đường cái quan), đình (bên đình, đầu đình, sân đình), cổng làng, bờ ao, bến sông, bến đò,

chợ, trên sông, đèo, núi, giồng, truồng, Những không gian đều có bối cảnh văn hóa, mang ngữ nghĩa nghệ thuật nhất định và có sức gợi cảm lớn trong tâm thức con người

Chẳng hạn không gian với hình ảnh cây đa, bến nước Trước hết đây là những cảnh có

thực "Bến đò thường có cây đa, vừa làm vật chuẩn, vừa để khách và đò nghi đợi, tránh

nắng mưa; nhưng trong thơ ca dân gian, hình ảnh này có ý nghĩa tượng trưng : đó là điểm cuối của cuộc tiễn biệt và điểm đầu của lần gặp lại, là nơi hò hẹn, đợi chờ là hình ảnh thân thương của quê hương vùng sông nước" [ 104 -Tr.145] Những hình ảnh đó

Trang 34

còn tượng trưng cho nhữtig cái không thể thiếu nhau, khi chúng bến nhau, sóng đôi thì hài hòa; tách xa là có nghịch cảnh, nỗi niềm:

- Cây đa cũ, bến đò xưa

Cây đa bến cũ, con đò khác đưa

Không gian đình làng cũng thường được nhắc đến trong ca dao trữ tình Làng quê nào chẳng có đình Đấy là nơi tụ họp của cộng đồng làng trong các dịp lễ hội,

những ngày làng có việc lổn Làng cũng là điểm hẹn quen thuộc của lứa đôi

Chuy ện trò to nhỏ có mình có ta

Tay bưng đôi chén rượu quỳnh ra chơi

Đình bao nhiêu ngói dạ thương mình bấy nhiêu

Không gian thể hiện tình cảm còn là những đèo, những núi với ngổn ngang tâm

sự, nỗi niềm :

- Trèo đèo hai mái chân vân

Lòng ta thương bạn, nước mắt và lộn cơm

Một nhà nghiên cứu đã nói (đại ý) rằng: Hãy nói cho tôi biết nhân vật trữ tình

của bài ca đang ở thời điểm nào, đang sống ở đâu, tôi sẽ có thể nói điều gì đang diễn

ra với nó Quả thật như vậy, bối cảnh gặp gỡ, thể hiện tình cảm của nhân vật trữ tình tuy đều là cảnh có thực nhưng thường có tính ước lệ Khi chàng trai, cô gái "ra ngõ mà

Trang 35

trông", "ra đứng bến sông", "ra đứng cổng làng", ta thấy ở họ sự cô đơn, nỗi ngóng trông bồn chồn

Khi nhân vật "ra đứng bờ ao" chính là lúc trong lòng đang dậy lên nỗi buồn và

nỗi nhớ khôn xiết:

Đêm qua ra đứng bờ ao

Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ

Nói đến bối cảnh gặp gỡ, bối cảnh thể hiện tình cảm, tâm trạng của nhân vật cô gái và chàng trai trong ca dao cũng là nói đến thời gian tiêu biểu, điển hình, tức thời gian nghệ thuật [ 72 ] Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại của buổi

gặp gỡ, giao duyên hoặc hiện tại của tâm trạng lúc người trong cuộc cất lên tiếng hát

Mỗi thời điểm đều mang một tâm sự, nỗi niềm, "kể" cho người nghe về tâm trạng nhân vật

Thời gian "sáng ngày" nói về sự gặp gỡ làm quen buổi đầu:

Sáng ngày tôi đi hái dâu

Thời gian "chiều chiều" thường gắn liền với nỗi nhớ, nỗi buồn:

-Chi ều chiều lại nhớ chiều chiều

Gió th ổi từng luồng đứt ruột em ơi

Trang 36

"Đêm trăng thanh" gắn liền với sự giao duyên ban đầu và với những tình cảm

mới chớm nở :

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng

"Đêm đêm", "Đêm qua", "Đêm khuya" thể hiện nỗi buồn, sự cô đơn :

- Đêm qua nguyệt lặn về tây

S ự tình kẻ đấy, người đây còn dài Trúc v ới mai, mai về trúc nhớ

K ể sao cho xiết tấm lòng tương tư

Thời điểm "Hôm qua" xác định giữa chàng trai và cô gái đã có chung một kỷ

niệm; "câu chuyện" đã có đầu và bây giờ cần phải có cuối [ 72 - Tr 30-35]:

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà

Trang 37

Th ấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường

Tóm lại bối cảnh gặp gỡ, giao duyên, thể hiện tâm sự của cô gái và chàng trai là

những bối cảnh có trong thực tế, gắn với đời sống lao động, với sinh hoạt hằng ngày

của nhân dân Những bối cảnh đó đã được thơ mộng hóa để thể hiện tình yêu hạnh phúc hoặc tình yêu đau khổ, nỗi vui sướng hoặc buồn thương của cấc nhân vật trữ tình Nhiều bối cảnh gắn liền với không gian và thời gian nghệ thuật, với cách phô

diễn ý tình truyền thống của các bài ca Hiện thực được phản ánh trong ca dao trong

đó có bối cảnh gặp gỡ, giao duyên của các chàng trai - cô gái tuy gắn với cái có thật nhưng không phải là hiện thực trực tiếp mà là hiện thực đã đi vào truyền thống thể

loại, được truyền thống chọn lọc, khái quát hóa và điển hình hóa Qua đây ta hiểu thêm tâm trạng thế giới tâm hồn của các nhân vật trữ tình

2.4 CÁC HÌNH TH ỨC CA HÁT THỂ HIỆN THẾ GIỚI TÌNH CẢM CỦA CÁC CHÀNG TRAI, CÔ GÁI

Như đã nói, ngày trước, trai gái ở nông thôn thường gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ

lộ tình cảm với nhau trong khi cùng lao động, trong những ngày hội hè, vui xuân Một trong những hình thức thể hiện của sự giao duyên đó là những hình thức hát, cuộc hát đối đáp nam nữ Những hình thức hát, những cuộc hát này rất tiêu biểu cho sinh hoạt

ca hát của ca dao dân ca

Có rất nhiều hình thức hát, như hát đơn, hát đối đáp vặt và hát đối đáp cuộc (hay

gọi là hát lề lối)

Hát đơn là hát một mình, "một mình mình hát, một mình mình nghe" Thời điểm

và địa điểm hát không cố định Người hát có thể hát vào bất cứ lúc nào và ở đâu, như:

hò Mái Nhì, Mái Đẩy, hò Đò đưa, hát Ví trên đồng, hát Ru, hát Lý, Những điệu hát này phần lớn là hò hát tâm tình trên sông nước, lúc thuyền đi ngược về xuôi, giữa

cảnh êm đềm của dòng sông, các cô gái cất tiếng hò ngân vang, trong suốt, bay bổng

Nhìn lên tr ời trời trong mây trắng

Trang 38

Nhìn xu ống nước, nước trắng lại trong

Hay khi một mình ru con ngủ, nhìn con, người mẹ muốn hát về nỗi lòng mình:

- À ơi Chim trời ai dễ đếm lông

Hát vặt là hát giữa hai người hay hai tốp người Người ta hát đối đáp vặt khi lao động hay lúc vui chơi, giải trí, nội dung các bài hát rất đa dạng Thành phần tham gia vào cuộc hát bao giờ cũng có một bên nữ và một bên nam Bất chợt gặp nhau giữa đường hay lúc cày cấy, gặt hái, người con gái hát đối đáp với người con trai dăm ba câu, hoặc nhiều hơn thế nữa

Ví dụ như khi gặp nhau giữa đường, chàng trai nắm tay chặn hỏi cô gái:

Ai n ặn nên trắng ai day nên tròn

Ai là m ận, ai là đào

Ai mà k ết nghĩa tương giao ở đời ?

Lúc ấy, muốn để chàng trai buông tay mình ra, cô gái sẽ hát lại:

Trang 39

- Chàng là m ận, thiếp là đào

Có khi bên nam hỏi với giọng trách móc sỗ sàng:

- Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở Anh đến tìm đò đò đã sang sông Anh đến tìm em em đã có chồng

Thì bên nữ lại khá là đáo để:

Đò đã đầy đò phải sang sông Đến duyên phải lấy chồng

Hát đối đáp cuộc thường được tổ chức trong các ngày hội hay trong sinh hoạt lao động, có sự quy định về thời gian, địa điểm, lề lối và nội dung hát Những cuộc hát này ở mỗi địa phương mang những tên gọi khác nhau như: hát Quan họ Bắc Ninh, hát

Ghẹo Vĩnh Phú, hát phường vải Nghệ Tình, hát Đùm Hải Phòng, hát Trống quân Hải Hưng, Thanh Hóa, hò đối đáp Mái nhì, Mái đẩy, hò Giã gạo,

Nhưng có hai loại hát cuộc tiếu biểu nhất là: Quan họ Bắc Ninh và hát phường

vải Nghệ Tĩnh Hình thức hát này gồm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn có nhiều chặng với

rất nhiều tên gọi dân gian khác nhau Thứ tự các chặng hát cũng là các bước phát

tri ển của một cuộc tình duyên ước lệ

Giai đoan 1: Là hát chào, hát mời, hát thăm, hát giao hẹn Gặp nhau, hai bên chào nhau, thăm hỏi nhau về quế quán, tên tuổi, vui mừng vì được gặp nhau Lời hát trong những chặng mở đầu này thường lịch sự, trân trọng, ân cần Trong các câu hát chào đã chứa biết bao tình ý Tất cả những điều cần thiết đó là cơ sở để đảm bảo cho

cuộc vui trọn vẹn nghĩa tình Cũng có khi, do đôi bến đã quen biết nhau, cho nên

những câu hát mở đầu này lại mang âm điệu vui nhộn, chọc ghẹo, cởi mở hồn nhiên

Trang 40

Giai đoan 2 : Là hát đố, hát họa, hát xe kết Hát đố, hát họa là một trong những

dấu vết biểu hiện phong tục hôn nhân năm xưa, một phong tục đẹp, vượt ra ngoài khuôn khổ vật chất và những luật lệ phong kiến : để đến với nhau, để kết đôi, nam -

nữ phải thử tài nhau Qua hát đố, hát họa, các chàng trai và cô gái có thể nhận ra sự

hiểu biết, kiến thức, tình nghĩa của người đang đối ca với mình Họ đố và họa với nhau về hoa trái, sự vật, sông núi, mưa nắng, văn chương Đằng sau lời đố, lời họa bao giờ cũng là cái tình của người trong cuộc :

Cái gì m ột cánh bay đi khắp trời

- Tương tri nhắn với với tương phàng

Chả lẽ lời đố và lời đáp chi hướng tới con thuyền - sự vật? Không, đằng sau con thuyền sự vật ấy là chiếc thuyền tình "đi cùng nước non" để đến với tình yêu

Đố em kể được một câu năm người

Câu thơ đặc biệt ấy trong Truyện Kiều là "Này chồng, này mẹ, này cha; Này là

em ruột này là em dâu" Đấy cũng chính là cái đích của tình yêu Tình yêu đẹp cuối cùng phải đi đến cái tổ ấm nhỏ nhoi mà thiêng liêng ấy Ý tứ của câu hát vô cùng sâu

sắc Tuy vậy không phải lúc nào hát đố cũng nặng màu sắc trữ tình

Sau khi hát đố, hát họa, biết tài, biết tình cảm của nhau rồi thì nam nữ chuyển sang hát xe kết Họ giãi bày tình yêu, mong ước, thương nhớ của mình Họ sống hết mình, bộc lộ hết trong câu hát Trong chặng hát này, người con gái thường chủ động

xe kết Ba chủ đề : tình yêu - gia đình - xã hội xoắn xít lẫn nhau, toát lên từ lời ca Hát

xe kết là những lời hát "như xe vào lòng", rất giàu âm điệu trữ tình :

Làm mướn là vợ, làm thuê là chồng

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w