1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm truyện thơ Mường Thanh Hóa

117 2,5K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 815,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là những câu chuyện tình dang dở của những cặp thanh niên tuấn tú tài ba hoặc chuyện về những nàng con côi, những nạn nhân của chế độ lang đạo đa thê, đó là những truyện như Út Lót –

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC - -

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ CHÍ QUẾ

Hà Nội, 2010

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

Chương 1: TRUYỆN THƠ MƯỜNG THANH HOÁ TRONG BỐI CẢNH TRUYỆN THƠ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM 7

1.1 Xung quanh khái niệm truỵện thơ 7

1.2 Truyện thơ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 8

1.2.1 Khái niệm 8

1.2.2.2 Nếu căn cứ vào đề tài có thể chia truyện thơ thành 3 loại 11

1.3 Vấn đề truyện thơ Mường Thanh Hoá 12

1.3.1 Một vài nét khái quát về người Mường ở Thanh Hoá 12

1.3.1.1 Địa vực cư trú dân cư, dân số 12

1.3.1.2 Tổ chức xã hội 14

1.3.1.3 Văn hoá xã hội 16

1.3.2 Truyện thơ Mường Thanh Hoá 19

1.3.2.1 Giới thiệu về truyện thơ Mường Thanh Hoá 19

1.3.2.2 Nhận xét 26

Tiểu kết 27

CHƯƠNG 2: TRUYỆN THƠ MƯỜNG THANH HOÁ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỘI DUNG 29

2.1 Bức tranh hiện thực của xã hội Mường 29

2.1.1 Xã hội Mường trước cách mạng là xã hội có nhiều mâu thuẫn 30

2.1.2 Chế độ lang đạo là chế độ xã hội đặc thù 32

2.1.3 Phong tục tập quán của xã hội Mường 37

2.1.3.1 Phong tục cưới xin 37

2.1.3.2 Phong tục ma chay 40

2.1.3.3 Những phong tục tập quán khác 42

Trang 3

2.2 Con người trong xã hội Mường 44

2.2.1 Tình yêu đôi lứa 44

2.2.1.1 Truyện thơ Mường phản ánh những mối tình không thành đạt 44 2.2.1.2 Thể hiện khát vọng về tình yêu hạnh phúc của con người, là bài ca về chủ nghĩa nhân đạo 54

2.2.2 Số phận nàng Con Côi 55

2.2.2.1 Hình tượng gì ghẻ - con chồng 55

2.2.2.2 Triết lý nhân quả - báo ứng 58

2.3 So sánh nội dung của truyện thơ Mường Thanh Hoá với nội dung của truyện thơ các dân tộc thiểu số khác 59

Tiểu kết 66

CHƯƠNG 3: TRUYỆN THƠ MƯỜNG THANH HOÁ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGHỆ THUẬT 67

3.1 Một vài đặc điểm về kết cấu 67

3.1.1 Kết cấu cốt truyện 67

3.1.1.1 Cốt truyện được xây dựng dựa trên cốt truyện dân gian có sẵn để biến đổi hoặc sử dụng một số công thức truyền thống của truyện cổ dân gian. 67

3.1.1.2 Mô hình cấu trúc cốt truyện 74

3.1.2 Một số thủ pháp kết cấu nổi bật 76

3.1.2.1 Thủ pháp kết cấu đối chiếu 76

3.1.2.2 Thủ pháp kết cấu trùng điệp 79

3.2 Nhân vật 83

3.2.1 Xây dựng nhân vật thành hai tuyến đối lập 84

3.2.2 Nhân vật xây dựng gắn với dấu ấn địa phương 87

3.3 Ngôn ngữ 89

3.3.1 Công thức mở đầu - kết thúc và chuyển đoạn 90

3.3.1.1 Công thức mở đầu 90

3.3.1.2 Công thức kết thúc 92

Trang 4

3.3.1.3 Công thức chuyển đoạn 93

3.3.2 Ngôn ngữ đậm đà bản sắc dân tộc Mường 94

3.3.3 Việc sử dụng tên riêng chỉ địa danh, địa điểm 97

3.4 Một vài nét so sánh nghệ thuật của truyện thơ Mường Thanh Hoá với nghệ thuật của truyện thơ các dân tộc thiểu số khác 98

Tiểu kết 102

KẾT LUẬN 104

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong số các dân tộc thiểu số ở Thanh Hoá, dân tộc Mường là dân tộc có số dân đông nhất, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng ở miền núi ở Thanh Hoá Địa bàn

cư trú chủ yếu của người Mường là vùng trung du và đồi núi thấp Thanh Hoá nổi tiếng với các vùng Mường như: Mường Ống (Bá Thước), Mượng Chẹ (Ngọc Lặc), Mường Phẩm (Cẩm Thuỷ), Mường Đủ (Thạch Thành)

Trong quá trình phát triển, người Mường ở Thanh Hoá đã sáng tạo nên một nền văn học dân gian phong phú và đa dạng Để tồn tại đến hôm nay nền văn học ấy đã trải bao phen chìm nổi, chứng tỏ nó có sức mạnh phi thường để

đi suốt cả chiều dài lịch sử Kho tàng văn học dân gian của người Mường phong phú, đa dạng với những sử thi, truyện thơ nổi tiếng, với những xường, mo…tất cả đượcc xem là vật thiêng của dân tộc, là hồn của đất nước, hồn của bản, của mường Đặc biệt trong kho tàng văn học dân gian ấy, truyện thơ chiếm số lượng lớn, là một trong những bộ phận văn học đặc sắc của người Mường Tìm hiểu truyện thơ Mường Thanh Hoá không những nhận thức được các giá trị văn hoá độc đáo của người Mường mà còn góp phần bảo tồn, phát huy và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

1.2 Truyện thơ Mường là một thể loại độc đáo và phức tạp nhưng vô cùng hấp dẫn Qua các công trình đã xuất bản chúng ta thấy số lượng truyện thơ Mường rất phong phú, mỗi truyện có độ dài hàng nghìn câu được diễn nôm bằng thơ theo tiếng Mường Đó là những câu chuyện tình dang dở của những cặp thanh niên tuấn tú tài ba hoặc chuyện về những nàng con côi,

những nạn nhân của chế độ lang đạo đa thê, đó là những truyện như Út Lót –

Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương, Nàng con côi Truyện thơ đó nuôi dưỡng cái thế giới tinh thần của người Mường Người

Mường tìm thấy ở đó nguồn gốc của dân tộc mình, quá khứ xa xưa cũng như

Trang 6

cuộc sống trước mắt ở giữa thiên nhiên và xã hội, những vấn đề hôm qua và hôm nay và khi họ chết đi các truyện thơ trong tiếng hát sẽ đưa họ về nơi an nghỉ cuối cùng, trở về với tổ tiên, mường nước

Tìm hiểu đặc điểm truyện thơ Mường Thanh Hoá chúng tôi muốn tìm hiểu thế giới tinh thần của người Mường và hiểu sâu hơn những giá trị nghệ thuật của nó trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam

1.3 Thanh Hoá là cái nôi lưu giữ nhiều bản sắc văn hoá dân tộc độc đáo của người Mường trong cả nước Truyện thơ Mường Thanh Hoá trong bối cảnh truyện thơ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam mang những đặc điểm chung song cũng mang những bản sắc riêng độc đáo Tìm hiểu truyện thơ Mường Thanh Hoá sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với việc nghiên cứu, giảng dạy văn học dân gian nói chung và góp phần lưu giữ bảo tồn truyện thơ của người Mường ở Thanh Hoá nói riêng

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm truyện thơ

Mường Thanh Hoá để nghiên cứu

ấn khá đậm Truyện thơ Mường Thanh Hoá thực sự có một tiếng nói riêng, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, giới khoa học trong cả nước

Từ trước đến nay truyện thơ Mường Thanh Hoá đã được các nhà nghiên cứu, giới khoa học tìm hiểu ở nhiều phương diện và góc độ khác nhau

2.1 Điểm lại vấn đề sưu tầm truyện thơ Mường Thanh Hoá (theo trình

tự thời gian):

Năm 1964 Minh Hiệu và Hoàng Anh Nhân sưu tầm, dịch và giới thiệu

bốn tác phẩm: Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng

Trang 7

Bồng Hương, Nàng con côi Bốn tác phẩm này được in trong cuốn sách Truyện thơ Mường Trong khi dịch tác giả Minh Hiệu và Hoàng Anh Nhân đã

so sánh, đối chiếu và chắp nối, chỉnh lý lại để có một văn bản tương đối hoàn chỉnh Sau đó người biên soạn đem đọc cho một số nghệ nhân và cán bộ người dân tộc Mường nghe, đa số khi dược hỏi ý kiến đều nhất trí thừa nhận bản dịch vừa giữ được nội dung thống nhất lại vừa đầy đủ các chi tiết

Năm 1976 Mai Văn Trí, Bùi Thiện sưu tầm, phiên dịch và giới thiệu

tập truyện thơ Tráng đồng Tập sách này gồm có ba truyện thơ: Tráng đồng,

Cun đủ lang đà, Vườn hoa núi cối Những truyện thơ này chủ yếu lưu truyền

ở miền núi phía Bắc Tuy nhiên điều đáng chú ý là nếu như những người biên

dịch khác cho rằng hai tác phẩm Út Lót – Hồ Liêu và Nàng Nga – Hai Mối là

hai tác phẩm riêng lẻ và lưu truyền ở Thanh Hoá thì nhóm biên dịch cuốn sách này căn cứ vào nhiều mối liên hệ trùng lặp và bằng sự kể lại của một số nghệ nhân am hiểu nhiều truyện đã xếp chúng vào một tác phẩm và lấy tên là

truyện Cun đủ lang đà

Năm 1986 trong Tuyển tập truyện thơ Mường (tập 2), Hoàng Anh

Nhân đã tuyyển lựa và giới thiệu bốn truyện thơ được lưu truyền ở Thanh

Hoá, đó là: Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng Bồng

Hương, Nàng con côi Trong cuốn sách này tác giả đã giới thiệu về hoàn cảnh

ra đời, khái quát nội dung và bản dịch đầy đủ của từng truyện thơ

Năm 1995 trong cuốn Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường, Bùi Thiện đã sưu tầm, biên soạn và dịch 12 truyện thơ trong đó có truyện Cun đủ

lang đà gồm hai truyện là Út Lót – Hồ liêu và Nàng Nga – Hai Mối

Năm 2002 Nhà xuất bản Đà Nẵng công bố bộ sách Tổng tập văn học

các dân tộc thiểu số ở Việt Nam do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên Ở đây nhóm

biên soạn đã giới thiệu các truyện thơ Mường Thanh Hóa trong tập 4 như: Út

Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương Ba

truyện thơ này đều chưa có phần tiếng dân tộc, chỉ có bản dịch tiếng Việt Theo GS Đặng Nghiêm Vạn việc xuất bản những cuốn sách bằng song ngữ là

Trang 8

việc không dễ dàng vì cần có vốn đầu tư lớn, một tổ chức điều hành rất khoa học và nhất là có những người nhiệt tình và hiểu biết

Năm 2005 nhà giáo, nhà văn hóa dân tộc Mường ở Thanh Hoá là Cao

Sơn Hải đã biên soạn cuốn sách Truyện Nàng Nga - Đạo Hai Mối Ở trong

cuốn sách này tác giả đã giới thiệu cả phần phiên âm tiếng Mường Đây là một công trình công phu và nghiêm túc

Như vậy, truyện thơ Mường Thanh Hoá được trích dịch và xuất bản từ

năm 1962 với hai tác phẩm là Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối Từ đó

đến nay có tất cả bốn truyện thơ Mường Thanh Hoá được sưu tầm và xuất bản, trong đó có một tác phẩm được xuất bản dưới hình thức song ngữ là

truyện Nàng Nga – Hai Mối, đó cũng là truyện được công bố nhiều lần nhất

(13 lần)

2.2 Vấn đề nghiên cứu về truyện thơ các dân tộc thiểu số nói chung và truyện thơ Mường Thanh Hoá nói riêng

Năm 1983 trong Giáo trình về Văn học dân gian các dân tộc ít người ở

Việt Nam, GS.TS Võ Quang Nhơn trong khi nghiên cứu truyện thơ các dân

tộc ít người nói chung có nhắc đến truyện thơ của người Mường Thanh Hoá

Năm 1997 trong luận án Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc

thiểu số tác giả Lê Trường Phát đã tìm hiểu đặc điểm thi pháp của truyện thơ

các dân tộc thiểu số trên ba phương diện, đó là: Kết cấu cốt truyện, nhân vật

và một vài phương diện về ngôn ngữ

Đặc biệt tác giả Cao Sơn Hải với cuốn sách Truyện Nàng Nga - Đạo

Hai Mối đã bước đầu tìm hiểu nội dung phản ánh, phương pháp thể hiện, thể

loại và thể thơ của tác phẩm Đây là lần đầu tiên truyện Nàng Nga – Hai Mối

được tìm hiểu một cách sâu sắc và toàn diện

Qua việc tìm hiểu lịch sử sưu tầm, nghiên cứu truyện thơ Mường Thanh Hoá, chúng tôi nhận thấy rằng tuy số lượng công trình sưu tầm, biên dịch và giới thiệu truyện thơ Mường Thanh Hoá khá nhiều nhưng việc nghiên cứu về đặc điểm của truyện thơ Mường Thanh Hoá còn rất ít Đặc biệt chưa

Trang 9

có một công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về đặc điểm của truyện thơ Mường Thanh Hoá Vì thế có thể nói rằng luận văn của chúng tôi

là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về đặc điểm của truyện thơ Mường Thanh Hoá

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

- Chỉ ra đặc điểm của truyện thơ Mường Thanh Hoá trên hai phương diện: Nội dung và nghệ thuật Qua đó so sánh truyện thơ Mường Thanh Hoá với truyện thơ các dân tộc thiểu số khác để thấy được dấu ấn địa phương, điểm riêng độc đáo của truyện thơ Mường xứ Thanh

- Góp phần vào việc bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Mường

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát, nghiên cứu là Truyện thơ Mường Thanh Hoá, tập 2,

NXB Văn hoá Thông tin Thanh Hoá (1986) do tác giả Hoàng Anh Nhân tuyển lựa và giới thiệu

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp sau đây:

5.1 Phương pháp liên ngành

Truyện thơ là cầu nối giữa văn học dân gian và văn học viết Do đó tất yếu phải sử dụng kết hợp những phương pháp phân tích, nghiên cứu một tác phẩm văn học dân gian, bản thân việc sử dụng các khái niệm công cụ như cốt truyện, kết cấu, đề tài, nhân vật…đã là sự áp dụng phương pháp nghiên cứu

Trang 10

văn học viết Ngoài ra truyện thơ mang bản chất folklore nên khi khảo sát, nghiên cứu luận văn còn áp dụng kiến thức liên ngành giữa khoa folklore học với khoa dân tộc học

5.2 Phương pháp hệ thống

Bản thân việc nghiên cứu truyện thơ vượt khỏi cấp độ từng tác phẩm riêng lẻ để đạt đến những khái quát ở cấp độ thể loại đã đòi hỏi và bao hàm phương pháp hệ thống Theo hướng đó, mỗi thành phần tạo nên tác phẩm như

đề tài, cốt truyện, nhân vật…đều đặt trong tương quan hệ thống giữa tác phẩm này với tác phẩm kia và cả trong hệ thống tương quan rộng hơn

5.3 Phương pháp so sánh

Luận văn tiến hành so sánh đặc điểm truyện thơ Mường Thanh Hoá với truyện thơ các dân tộc thiểu số khác để thấy được dấu ấn địa phương, điểm riêng độc đáo của truyện thơ Mường Thanh Hoá Luận văn sẽ sử dụng phương pháp so sánh theo cả hai hướng: So sánh loại hình và so sánh lịch sử

6 Những đóng góp của luận văn

- Lần đầu tiên truyện thơ MườngThanh Hoá được nghiên cứu một cách có hệ thống trên một số phương diện nội dung và nghệ thuật

- Luận văn làm rõ những nét độc đáo, dấu ấn địa phương của truyện thơ Mường Thanh Hoá trong sự gắn bó với đặc điểm tâm lý, những phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hoá truyền thống, góp phần khẳng định một cách sâu sắc và thuyết phục hơn giá trị của truyện thơ Mường Thanh Hoá

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành ba chương:

Chương 1: Truyện thơ Mường Thanh Hoá trong bối cảnh truyện thơ các dân tộc thiểu số ở Việt nam

Chương 2: Truyện thơ Mường Thanh Hoá nhìn từ góc độ nội dung Chương3: Truyện thơ Mường Thanh Hoá nhìn từ góc độ nghệ thuật

Trang 11

Chương 1

TRUYỆN THƠ MƯỜNG THANH HOÁ TRONG BỐI CẢNH

TRUYỆN THƠ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

1.1 Xung quanh khái niệm truỵện thơ

Theo Từ điển thuật ngữ do PGS Lê Bá Hán, GS.Trần Đình Sử, GS

Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (bản in năm 2004 của NXB Giáo dục), không có mục từ truyện thơ và chỉ có mục từ truyện Nôm với lời giải thích

như sau: “Thể loại truyện thơ dài, rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam,

nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ nôm nên được gọi là truyện Nôm” [Tr 372] Cũng theo các tác giả trên thì

ở Việt Nam các truyện thơ dài như: Truyện Kiều, Tiễn dặn người yêu…được

gọi là truyện thơ, các tác phẩm trữ tình dài được gọi là ngâm khúc

Về vấn đề truyện thơ Nôm người Việt thì các nhà nghiên cứu trước đây chia truyện thơ Nôm thành 2 loại “Truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm khuyết danh” Truyện Nôm hữu danh là loại truyện biết rõ tên tác giả, còn truyện Nôm khuyết danh là loại truyện chưa biết tác giả là ai Thực ra lối phân chia này thuần tuý có tính chất hình thức mà không nói lên một đặc điểm nào

về nội dung hay thể loại Bởi vì chỉ cần tìm ra tên tác giả của truyện Nôm khuyết danh nào đó là nghiễm nhiên ta có thể xếp các truyện Nôm vốn khuyết danh kia vào kho tàng những truyện Nôm hữu danh Cách phân chia như thế không phải là việc phân loại khoa học

Theo quan niệm truyền thống có 2 loại truyện Nôm, các tác phẩm được

gọi là truyện Nôm bác học bao gồm: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện), Sơ Kính Tân Trang (Phạm Thái); các tác phẩm Phạm Tải - Ngọc Hoa, Trống Trân - Cúc Hoa, Phương Hoa, Lý Công

được gọi là truyện Nôm bình dân thường được viết dựa theo những câu chuyện cổ tích của ta chứ không phải dựa theo những cốt truyện của Trung Quốc như truyện Nôm bác học Truyện Nôm bình dân được sáng tác ra để kể

Trang 12

là chính, chứ không phải là để xem, để đọc Nói chung cách sáng tác của truyện Nôm bình dân cũng có tính cách tập thể, ở một chừng mực nào đó giống như cách sáng tác của truyện cổ tích

Quan niệm thứ hai cho rằng, truyện Nôm bình dân thuộc phạm trù Văn học dân gian GS Kiều Thu Hoạch đã thể hiện quan niệm của mình trong công

trình Truyện nôm nguồn gốc và bản chất thể loại xuất bản năm 1993 - NXB

KHXH Trong công trình này ông đã điểm lại lịch sử nghiên cứu một cách đầy đủ, khách quan, phân tích nguồn gốc phát triển và thể loại, khảo sát thi pháp và chức năng tư tưởng – thẩm mĩ của truyện Nôm Ông khẳng định rằng truyện Nôm bình dân chính là những sáng tác dân dã nằm trong văn hoá dân

gian Viện nghiên cứu Văn hoá đồng tình với quan niệm của GS Kiều Thu

Hoạch khi Viện nghiên cứu Văn hoá phối hợp với NXB KHXH biên soạn và

công bố cuốn sách “Tổng tập văn học dân gian người Việt” Cuốn sách này

một lần nữa khẳng định truyện Nôm bình dân là một thể loại văn học dân gian

1.2 Truyện thơ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm

Theo GS.TS Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Tổng tập văn học dân

gian các dân tộc thiểu số Việt Nam” (tập 21, NXB KHXH - 2008) thì “Truyện thơ các dân tộc thiểu số là một thể loại văn học dân gian thuộc loại hình tự sự bao gồm những tác phẩm có hình thức văn vần, được kể, được hát, được ngâm, được kể cả trước và sau khi đã được ghi chép và thường có nội dung thể hiện thân phận con người và cuộc sống lứa đôi” [21; Tr 68]

Truyện thơ các dân tộc thiểu số là một loại hình tự sự có hình thức văn vần, còn về các hình thức diễn xướng, kể hát, ngâm, đọc thì không phải là truyện thơ nào cũng được thể hiện bằng tất cả các hình thức đó

Sự ra đời của hàng loạt truyện thơ các dân tộc ít người không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà chúng xuất hiện có tính chất quy luật phổ biến, theo những nhu cầu khách quan và theo những điều kiện lịch sử xã hội lúc đó

Trang 13

Những sáng tác dân gian vốn đã ra đời trước đây như các truyện thần thoại nói về sự ra đời của các dân tộc, về các kì tích chinh phục thiên nhiên, các bài dân ca phục vụ sinh hoạt của cộng đồng vẫn còn tiếp tục lưu truyền và phát huy tác dụng trong sinh hoạt tinh thần của nhân dân các dân tộc anh em nhưng giờ đây những nhân tố mới thể hiện sự tiên tiến của xã hội các dân tộc

ít người nảy sinh những sự phân biệt giàu nghèo, sự đấu tranh giai cấp… Ngoài ra, sự chi phối ảnh hưởng của môi trường văn hoá xã hội ở miền xuôi lên, sự giao lưu văn hoá với các dân tộc láng giềng ngày càng mở rộng Những đổi mới về mặt xã hội đó, những tác động về mặt văn hoá đó tất nhiên dẫn đến sự nảy sinh những nhu cầu mới trong sinh hoạt tinh thần của các dân tộc thiểu số

Đề tài truyện thơ cũng rất phong phú Chúng đề cập đến nhiều mặt trong hiện thực xã hội của các dân tộc anh em hoặc thân phận những đứa trẻ

mồ côi hoặc cuộc sống cực nhục của những người lao động nghèo khổ hoặc khát vọng lập công cứu nước trả thù nhà của các chàng trai… Đặc biệt là đề tài về cuộc đấu tranh cho tự do yêu đương, cho quyền sống của người phụ nữ trong lòng xã hội cũ là một đề tài khá phổ biến Đó là khát vọng dân chủ thiết tha và mãnh liệt của quần chúng trong lòng xã hội phong kiến mà quyền sống con người bị chà đạp, bóp nghẹt nặng nề, tất cả được phản ánh vào trong nền văn học các dân tộc thiểu số

Nếu loại hình sử thi anh hùng thuộc phạm trù văn học dân gian thực sự thì loại hình truyện thơ thể hiện bước phát triển mới của văn học dân gian các dân tộc ít người Nó phản ánh sự vận động, biến chuyển có ý nghĩa lịch sử sâu sắc của văn học dân gian các dân tộc ít người, tiến tới tiếp cận nền văn học thành văn của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, nền văn hoá Việt Nam do vậy cũng là nền văn hoá đa dân tộc, truyện thơ các dân tộc thiểu số khá phong phú

và đa dạng Dân tộc Tày - Nùng có các truyện thơ Nam Kim - Thị Đan, Trần

Châu, Quảng Tân – Ngọc Lương, Kim quế, Chim sáo, Vượt biển…; dân tộc

Trang 14

Thái có các truyện thơ: Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú - Nàng Ủa, Khăm

Panh…; dân tộc Mường có các truyện thơ: Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai mối, Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương…; dân tộc H‟Mông có các truyện thơ: Tiếng hát làm dâu, Nàng Dợ - Chà Tăng…; người Chăm có những truyện thơ

như: Hoàng Tử Um rúp, Chăm Baní, Têva - Mưnô…người Khơ Me có những truyện thơ như: Si Thạch, Tiêm Tiêu… Nhìn chung kho tàng truyện thơ của

các dân tộc thiểu số khá phong phú, có liên quan và bổ sung cho nhau tạo nên diện mạo đa dạng của loại hình truyện thơ trong nền văn học các dân tộc ít người

1.2.2 Phân loại truyện thơ các dân tộc thiểu số

Về việc phân loại truyện thơ các dân tộc thiểu số cũng có nhiều ý kiến

và cách phân loại khác nhau Trong phạm vi luận văn này chúng tôi xin phép đưa ra hai cách phân loại tiêu biểu

1.2.2.1 Căn cứ theo phương thức diễn xướng, lưu truyền và nguồn gốc kế thừa của truyện thơ các dân tộc thì chia thành bốn nhóm lớn (Ý

kiến của GS Võ Quang Nhơn)

- Nhóm truyện thơ gắn với sinh hoạt nghi lễ dân gian: Khảm hải (Tày),

Đặng Hành và Bàn Đại Hộ (Dao), Ông cha đánh giặc (Thái)…

- Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian

các dân tộc: Chim Sáo, Nàng Kim Quế (Tày)…

- Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca các dân

tộc: Tiễn dặn người yêu (Thái), Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương, Út Lót – Hồ

Liêu (Mường)…

- Nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức của

truyện thơ Nôm Kinh: Lưu Đài – Hán Xuân, Trần Châu (Tày)…

Theo PGS TS Lê Trường Phát đã đánh giá thì cách phân loại này không xuất phát từ một tiêu chí rõ ràng, lúc thì căn cứ vào phương thức và môi trường diễn xướng, lúc thì căn cứ vào dung lượng của yếu tố trữ tình hay

tự sự, lúc thì lại căn cứ vào nội dung xã hội thuần tuý nên không chặt chẽ

Trang 15

1.2.2.2 Nếu căn cứ vào đề tài có thể chia truyện thơ thành 3 loại (Ý kiến của GS Phan Đăng Nhật)

a) Truyện thơ về đề tài tình yêu

Truyện thơ thuộc nhóm này có thể kể đến: Tiễn dặn người yêu, Chàng

Lú - Nàng Ủa…của dân tộc Thái; Nam Kim - Thị Đan, Nhân Lăng… của dân

tộc Tày; Nàng Ờm - chàng Bồng Hương, Nàng Nga - Hai mối, Út Lót - Hồ

Liêu… của dân tộc Mường; Nàng Dợ - Chà Tăng… của dân tộc H‟Mông

Nhóm truyện thơ này có thể phân thành hai bộ phận: Bộ phận còn in đậm dấu vết của dân ca biểu hiện ở những điều sau: kết cấu tự sự vẫn chưa chặt chẽ, nhân vật còn phiếm chỉ, còn lưu giữ rất rõ cách sắp xếp của dân ca

giao duyên đối đáp… tiêu biểu cho bộ phận này là truyện thơ Tiễn dặn người

yêu (Thái), truyện Nam Kim - Thị Đan (Tày), Nàng Dợ - Chà Tăng

(H‟Mông)

Bộ phận thứ hai đã mang nhiều tính chất truyện kể hơn, tiêu biểu như

truyện thơ Chàng Lú - Nàng Ủa (Thái), truyện Ú Thêm (Thái)

b) Truyện thơ về sự nghèo khổ

Sử dụng “nguyên liệu nghệ thuật” của những truyện cổ tích về các kiểu loại nhân vật “người mồ côi”, “người con riêng”, người em út”, “người tài giỏi đội lốt xấu xí”… một số truyện thơ được xây dựng thành những tác phẩm thể hiện chủ đề về người lao động nghèo khổ bị áp bức, bóc lột Đó là những

tác phẩm như: Nàng con côi (Mường), Kim quế (Tày), Vượt biển (Tày) … Từ

truyện cổ tích đến truyện thơ là một bước phát triển cả về nội dung lẫn nghệ thuật để mở rộng, nâng cao mức phản ánh

c) Truyện thơ về đề tài chính nghĩa

Nhóm truyện thơ này có rất nhiều điểm tương đồng với thể loại truyện nôm trong văn học dân tộc Việt cả về nội dung (thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức) và về cách sắp xếp nhân vật thành 2 tuyến đối lập (chính nghĩa – phi nghĩa), cả về cách kết cấu cốt truyện, cách kết thúc có hậu bằng sự chiến

Trang 16

thắng của đạo đức chính nghĩa Tiêu biểu cho nhóm truyện thơ này là truyện

Trần Châu - Quyển Vương (Tày), Lưu Đài - Hán Xuân (Tày)…

Ngoài ra còn có thể phân loại truyện thơ thành nhóm mang phong cách dân gian khá rõ nét với nhóm những truyện thơ đã mang dấu ấn của sáng tác

cá nhân khá rõ, ít nhiều mang phong cách bác học, tiếp cận với văn học thành văn Đây là cách phân loại cho phép hình dung sự phát triển của thể loại trên con đường lịch sử văn học của các dân tộc thiểu số

Mỗi cách phân loại trên đều có hạt nhân hợp lý và cho phép nhận rõ một đặc điểm thi pháp nào đó của thể loại Tuy nhiên theo chúng tôi thì có thể phân truyện thơ thành hai nhóm chính: Nhóm truyện thơ viết về đề tài tình yêu đôi lứa và nhóm truyện thơ viết về đề tài xã hội

Nhóm truyện thơ viết về tình yêu đôi lứa tiêu biểu như: Nàng Nga –

Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương (Mường), Tiễn dặn người yêu

(Thái), Khun Lú – Nàng Ủa (Tày)…

Nhóm truyện thơ viết về đề tài xã hội tiêu biểu như: Lưu Đài – Hán

Xuân (Tày), Nàng con côi (Mường)…

1.3 Vấn đề truyện thơ Mường Thanh Hoá

1.3.1 Một vài nét khái quát về người Mường ở Thanh Hoá

1.3.1.1 Địa vực cư trú dân cư, dân số

Thanh Hoá (còn gọi là xứ Thanh) là một trong những tỉnh đông dân nhất Việt Nam, nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, cách thủ đô Hà Nội 150km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1560km Phía Bắc giáp với ba tỉnh: Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (Lào); phía Đông là Vịnh Bắc Bộ

Địa hình Thanh Hoá phức tạp nhưng phong phú Địa hình nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, phía Bắc có những đồi núi cao trên 1500m thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía Đông Nam Thanh Hoá vừa có núi rừng hiểm trở mà hùng vĩ, có miền thung lũng trung du tươi tốt, có đồng bằng phì nhiêu màu mỡ đồng thời lại có cả vùng biển rộng lớn bao la Đặc biệt ở Thanh Hoá

Trang 17

đồi núi chiếm phần lớn diện tích của tỉnh, riêng miền đồi trung du chiếm một diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục, không rõ nét như ở Bắc Bộ Do đó nhiều nhà nghiên cứu đã không tách miền đồi trung du của tỉnh thành một bộ phận địa hình riêng biệt mà coi các đồi núi thấp là một bộ phận không tách rời của miền núi nói chung

Miền đồi núi Thanh Hoá chia làm ba bộ phận khác nhau, bao gồm 11 huyện, đó là: Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ và Thạch Thành, chiếm 2 phần 3 diện tích của cả tỉnh

Miền đồi núi có khí hậu mát mẻ, lượng mưa lớn, có nguồn lâm sản dồi dào, tiềm năng thuỷ điện lớn… Và điều đặc biệt quan trọng hơn đây chính là địa bàn cư trú của các dân tộc ít người với nhiều đặc trưng văn hoá khác nhau, trong đó có dân tộc Mường Có thể nói miền núi Thanh Hoá là cái nôi của người Mường trong cả nước, là một vùng Mường cổ tương đương với Mường Tây Bắc (Hoà Bình)

Người Mường là một trong số 54 dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam, là dân tộc có một chiều dài lịch sử; sinh sống rải rác khắp nơi trong cả nước nhưng chủ yếu tập trung ở Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ, Hà Tây, Sơn

La

Ở Thanh Hoá người Mường phân bố tại các huyện miền núi phía Tây: Ngọc lặc, Như Xuân, Như Thanh, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Sơn, Quan Hoá, Mường Lát, Cẩm Thuỷ, Thường Xuân, Thạch Thành và rải rác ở một số

xã ở vùng thấp, miền xuôi: Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Tĩnh Gia, Hà Trung, Triệu Sơn, Yên Định và thị xã Bỉm Sơn; tập trung đông nhất ở các huyện Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Bá Thước, Ngọc Lặc; đó là tập đoàn những Mường lớn Hầu hết người Mường đến sát thung lũng sông Mã, sông Bưởi và sông Âm, sông Cầu Chày, sông Chu, sông Mực Phải nói rằng dân cư Mường thích ứng với loại địa hình gần như trung du Sống ở cao nguyên nhưng lại gần nguồn

Trang 18

nước, sống ở vùng đồi núi nhưng lại có sông rộng và có những ruộng lúa tốt tươi

Theo nhà nghiên cứu Cao Sơn Hải, ngày xưa người Mường chủ yếu sống ở các vùng Mường cổ, Mường lớn như: Mường Ống Ký, Mường Khô, Mường Ai, Mường Khôn, Mường Phấm, Mường Vong, Mường Vống, Mường Kìm, Mường Kợi, Mường Mèn, Mường Chánh, Mường Đủ, Ó, Lẹ, La Sơn… Sau này do ảnh hưởng của luồng di dân tự nhiên nên vùng cư trú trong

cơ cấu người Mường Thanh Hoá có sự thay đổi và phân xuất thành hai ngành Mường: Mường Trong và Mường Ngoài Người Mường Trong là người Mường bản địa cư trú chủ yếu ở các huyện Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc

và hữu ngạn sông Mã của huyện Cẩm Thuỷ Người Mường Ngoài là người Mường di cư từ tỉnh Hoà Bình vào (sống chủ yếu ở Thạch Thành và Như Thanh) và người Mường ở phía Bắc sông Mã của Thanh Hoá Ngoài ra phân biệt giữa hai ngành Mường này căn cứ vào y phục của phụ nữ và cách phát

âm của một số từ vựng Sự cộng hưởng này đã tạo nên nét đa dạng trong văn hoá của người Mường Thanh Hoá

Dân số người Mường ở Thanh Hoá qua các thời kỳ như sau:

Theo tài liệu thống kê trong cuốn Người Mường của Cuisiner [10]:

Người Mường ở Thanh Hoá trước năm 1945 là 50.000 người

Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê thì người Mường ở Thanh Hoá năm 1960 là 113.000 người, năm 1966 là 30 vạn người

Tính đến ngày 1/4/1999, tổng số người Mường ở Thanh Hoá là: 322.869 người

1.3.1.2 Tổ chức xã hội

Xã hội cổ truyền của người Mường Thanh Hoá có sự phân chia thành tầng lớp thống trị và bị trị, đứng đầu mỗi mường là các Lang, Cun; đứng đầu mỗi mường lớn là Cun, đứng đầu mường nhỏ là Lang; còn đứng đầu mỗi làng, chòm là Đạo, chế độ xã hội bấy giờ gọi là chế độ Lang Đạo Vì tầng lớp thống trị là cha truyền con nối, có đặc quyền, đặc trị bóc lột bằng hình thức

Trang 19

cống nạp và phục dịch, còn những người dân là tầng lớp bị trị họ không chỉ bị bóc lột về kinh tế mà còn phải chịu những áp bức về tinh thần và phải chịu những hình phạt nặng nề hà khắc Chế độ này đến sau cách mạng tháng Tám mới được xoá bỏ nhưng những ảnh hưởng văn hoá ít nhiều còn tồn tại đến tận ngày nay Sở dĩ nói như vậy là trong chế độ Lang Đạo, nhân dân đã tạo dựng

và gìn giữ được một nền văn hoá bản địa Đó là nền văn hoá Việt – Mường Đến nay ta còn thấy một hệ thống phong tục tập quán giàu tính nhân văn và

một nền văn hoá dân gian giàu bản sắc Sử thi Đẻ đất đẻ nước, các truyện thơ,

các loại dân ca xường rang, lễ hội pồn pông, xéc bùa, các loại nhạc cụ, cồng chiêng, những sản phẩm thổ cẩm của nghề dệt đến nay vẫn còn giá trị

Làng bản của người Mường xưa kia vừa là đơn vị hành chính vừa là nơi diễn ra những hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần; nhất là những dịp tết đến xuân về, những ngày lễ, ngày hội đình đám…Do tính cộng đồng làng xã bền chặt nên con người nơi đây lại càng gắn kết với nhau và có lẽ cũng từ đây

mà nhiều vốn văn hoá dân gian đã ra đời và được nuôi dưỡng và lưu truyền cho đến ngày nay

Đến với xứ Mường người ta thường được nghe câu “Cơm đồ, nhà gác,

nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tiến” Với từng ấy chữ đã khái quát nên

cảnh sinh hoạt rất đặc trưng của người Mường; nghĩa là: Cơm ăn thì đồ là chính, nấu là phụ; nhà ở nhà sàn làm theo lời chỉ dẫn của con rùa được mô tả

cụ thể trong sử thi Đẻ đất đẻ nước; nước được vác và đựng trong ống bương,

ống luồng; giết lợn phải thui qua lửa cho sạch lông chứ không dùng nước sôi

và dao để cạo lông; ngày lui là tính ngày chỉ tính từ mồng 4 đến 28 hàng tháng và tính trở lui; tháng tiến là tính từ tháng 3, không tính từ tháng giêng

Kinh tế của người Mường chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp; được phát triển dưới hai hình thức trồng trọt và chăn nuôi, song dựa vào tự nhiên là chính Người Mường trồng trọt trên nương rẫy bằng cách chọc lỗ tra hạt, hoặc tận dụng những nơi có ruộng nước thì dùng sức trâu bò để cày bừa, người ta

Trang 20

gọi là kinh tế lúa nước pha nương rẫy; chăn nuôi của người Mường chủ yếu là chăn thả

Nghề thủ công truyền thống chủ yếu là dệt vải, nhà nào cũng có khung cửu để dệt vải Sự khéo léo và cả văn hoá thẩm mĩ của các thiếu nữ Mường được thể hiện khi họ làm ra những sản phẩm; vỏ chăn, vỏ gối, vỏ đệm, đặc biệt là váy áo… để chờ ngày bước chân về nhà chồng Hoa văn trong các sản phẩm dệt của người Mường vừa mang tính truyền thống lại vừa ẩn chứa nét riêng trong tâm hồn của người dệt gửi gắm vào đó

1.3.1.3 Văn hoá xã hội

Không chỉ có chiều dài lịch sử, dân tộc Mường còn có một chiều sâu văn hoá Tuy không có chữ viết, song người Mường bằng những cách khác nhau đã lưu giữ được vốn văn hoá quý giá của dân tộc mình Văn hoá dân gian của người Mường là một phạm trù rộng lớn Do vậy luận văn không có điều kiện khai thác một cách đầy đủ mọi khía cạnh của văn hoá mà chỉ xin nêu khái quát trên một số bình diện văn hoá phi vật thể: Văn học, phong tục tín ngưỡng, lễ hội

Cũng như các dân tộc anh em khác, trong tâm thức người Mường, tín ngưỡng dân gian khá đậm nét, nó là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào Mường với nhiều hình thức: Làm vía, xéc bùa, thờ cúng tổ tiên, cúng Thành hoàng làng, thờ thần núi, thần sông… Trong đó, tục thờ cúng tổ tiên được người Mường coi trọng bởi nó thể hiện sự tiếp nối truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” từ ngàn đời nay của cha ông để lại Trong ngôi nhà của người Mường, bàn thờ tổ tiên được đặt ở voòng tôông (gian giữa) – vị trí trang trọng nhất Vào những ngày lễ tết hoặc khi gia đình có việc đại sự, cưới xin, tang ma, nhà mới… con cháu thường có mâm cỗ cúng tổ tiên Bàn thờ tổ tiên là nơi giao cảm tâm linh giữa người Mường với lực lượng siêu nhiên Cũng chính từ đây người Mường đã sáng tác

ra những bài dân ca nghi lễ cưới xin cầu mong tổ tiên phù hộ cho đôi trẻ trong ngày vui hạnh phúc

Trang 21

Bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên, đồng bào Mường còn thờ các vị thần như: thần núi, thần đất, thành hoàng làng và cả những người có công với bản làng Đó là niềm tin, là sự tôn thờ thế giới siêu nhiên bên ngoài cõi trần tục trong đời sống tâm linh của mình; họ giao cảm với thế giới này bằng “Cảo”- cách gieo quẻ rất đặc trưng của dân tộc Mường, từ xưa người Mường đã có chùa thờ Phật như: Chùa Móng, chùa Mèo, chùa Mèn, chùa Rồng, chùa Trặng… Tuy nhiên người Mường lại tu Phật giữa cuộc đời – Phật tại tâm chứ không chú ý đến những ngày sóc vọng để cầu kinh niệm phật, theo tư tưởng giáo lý nhà Phật Hiểu và thờ Phật của người Mường được bắt nguồn từ chính cuộc sống, từ cách ứng xử của họ

Lễ hội người Mường là nơi kết tinh tinh hoa văn hoá dân tộc, ở đây nét đặc sắc riêng biệt trong quan niệm phong tục, tập quán và trong nền nghệ thuật truyền thống được biểu hiện một cách rõ rệt và tinh tế dưới nhiều hình thức hết sức cụ thể, giản dị, thiêng liêng nhưng thuần khiết Tín ngưỡng và lễ hội của người Mường thường song hành cùng nhau

Nói đến lễ hội, lễ tục của người Mường người ta không thể nhắc tới lễ hội Pồn pôông, Xéc bùa… Xéc bùa thường được diễn ra vào dịp đầu xuân năm mới; “phường bùa” khoảng 20 – 25 người với một giàn cồng chiêng gồm

12 cái to nhỏ, âm lượng khác nhau đi chúc tết các gia đình trong mường bản

Lễ hội Pồn pôông (chơi hoa) cũng thường được diễn ra vào cuối xuân hoặc vào ngày rằm tháng bảy âm lịch Đây là một tục lệ của người Mường, cũng như nhiều trò dân gian khác; nó được gắn với một nghi lễ có yếu tố tâm linh Trong lễ hội Pồn pôông người ta thường làm cây bông hoa đồ sộ có nhiều nhánh, nhiều bông sặc sỡ sắc màu được cắm ở nhiều tầng trên thân cây bông Trò diễn lễ hội Pồn pôông thường do ông cậu hoặc bà máy chủ trì để thờ các

vị vua ở núi Tản Viên, Ba Vì (Pồn pôông ma vua), hay thờ các chàng trai trong các bản tình ca của người Mường như: Hai Mối, Hồ Liêu, Bông Hương (Pồn pôông ma cheenh) và họ diễn các tích của các truyện thơ trên và muốn giải oan tình cho bao người xưa Có thể nói, Pồn pôông là hình thức sân khấu

Trang 22

sơ khai của người Mường mang giá trị tinh thần lớn: “Dẫu có khoác áo tâm

linh song nó đề cập tới một vấn đề rất nhân văn: khát vọng yêu đương và hôn nhân tự do, một mối tình đẹp chung thuỷ mà ở xã hội Mường thời đó không có được” [28; tr 65] Lễ hội Pồn pôông cũng là nơi sinh thành những làn điệu

xường rang, những bài ca nghi lễ của người Mường, không chỉ vậy “Lễ Pồn

pôông còn gắn với phong tục liên quan đến việc chữa bệnh và tín ngưỡng dân gian của người Mường Từ một tục lệ mang tính tín ngưỡng, lễ hội Pồn pôông

đã tích hợp trong nó nhiều lớp văn hoá khá hấp dẫn” [32, tr 65] Có lẽ vì thế

mà nó lôi cuốn được nhiều người xem và lưu truyền tận ngày nay

Có thể nói, lễ hội của người Mường hội tụ những nét sinh động mà sâu sắc của văn hoá Mường Nó góp phần tạo nên bản sắc riêng biệt, khẳng định giá trị, vị thế văn hoá Mường trong tổng thể văn hoá Việt Nam

Trong vốn văn hoá phong phú của mình, người Mường còn có những làn điệu dân ca độc đáo như: Xường, rang, bọ mẹng, hát ru, dân ca đám cưới

… mang đậm chất trữ tình Người Mường ở Thanh Hoá đã cho rằng mụ Dạ Dần sau khi sáng tạo ra các Mường đã tiếp tục sáng tạo ra các làn điệu xường,

mo, rang… và mang gánh giống ấy để đi gieo trên khắp đất mường; đến vùng

Mường Thanh Hoá vì mải ngắm cảnh đẹp nên Dạ Dần bị vấp làm “Đứt gánh

Mường Ai, đứt quai Mường Ống” nên bao nhiêu xường gốc trút cả vào đây

Đó là một lý giải hấp dẫn, đầy sức thuyết phục cho sự phát triển phong phú đa dạng của thể loại xường Trong những đêm lễ hội, tiếng xường, tiếng rang đan xen vào nhau Những làn điệu dân ca ấy là những tiếng hát giao duyên, tâm tình của những đôi trai gái đã ăn sâu vào tâm thức, khắc sâu trong đời sống sinh hoạt của người Mường

Đã từ lâu, người Mường có một vốn văn học dân gian khá phong phú,

đa dạng và đặc sắc, nó cũng là thành tố quan trọng không thể thiếu trong vốn văn hoá của họ Tiếp cận văn học dân gian của dân tộc mình, người Mường

Thanh Hoá rất đỗi tự hào khi nhắc tới sử thi Đẻ đất đẻ nước Đây là tác phẩm

lớn, đồ sộ, có giá trị không chỉ của người Mường mà còn của cả văn hoá dân

Trang 23

tộc Việt Nam; nó đã cho chúng ta biết và hiểu được quan niệm của người Mường về nguồn gốc sự hình thành vũ trụ từ khi chưa có loài người, mọi vật đều được sinh ra từ cây si, phần tiếp theo sáng tạo ra các giá trị văn hoá của người Mường là mụ Dạ Dần (mú Dá Dấn), chính lẽ đó mà cây si luôn là biểu tượng là cây thiêng liêng; còn mụ Dạ Dần trở thành bà tổ, thành nữ thần sáng

tạo trong văn học dân gian, cũng như trong tâm thức của người Mường Đẻ

đất đẻ nước lan toả, ăn sâu vào nhiều tác phẩm văn học khác của dân tộc

Mường; nó được tồn tại và phát triển, biến hoá xâm nhập vào nhiều bài ca nghi lễ dân gian Mường và trở thành nguồn tư liệu, chất liệu quý giá cho sự

phát triển văn học Mường về sau Đẻ đất đẻ nước không chỉ có giá trị văn học

mà còn có giá trị lớn trong đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của người Mường

Các truyện thơ: Nàng Nga - Đạo Hai Mối, Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Ờm

- Chàng Bồng Hương…đều được lưu truyền rộng rãi ở các vùng mường xứ

Thanh Những truyện thơ này được kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố tự sự và trữ tình nên không chỉ sống trong lòng người bằng các bài hát ru, hát kể chuyện thơ, được phát huy trong những bài ca đám cưới Không chỉ vậy, nó còn ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hoá, tập quán ứng xử của người dân xứ Mường

Trên đây, người viết giới thiệu khái quát một số giá trị văn hoá của người Mường Thanh Hoá Văn hoá truyền thống của người Mường là mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn người dân, song hành cùng cuộc sống con người,

là niềm tự hào của dân tộc Trong đó truyện thơ là một bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần không thể thiếu của người Mường Thanh Hoá

1.3.2 Truyện thơ Mường Thanh Hoá

1.3.2.1 Giới thiệu về truyện thơ Mường Thanh Hoá

Kho tàng văn học dân gian của dân tộc Mường trên đất Thanh Hoá rất

xuất sắc và phong phú, cùng với sử thi đồ sộ Đẻ đất đẻ nước, văn học dân

gian của dân tộc Mường Thanh Hoá còn có nhiều thể loại phản ánh đủ các chuyện xảy ra trên đời Đó là những tục ngữ, thành ngữ, những câu đố, ca

Trang 24

dao, những bài hát ru con, những lối hát giao duyên… mà qua đó ta có thể hình dung đầy đủ cuộc sống của cha ông xưa Nổi lên trong kho tàng phong phú ấy có nhiều truyện thơ rất xúc động mà chủ yếu là những câu chuyện tình dang dở của những cặp thanh niên tuấn tú tài ba hoặc chuyện về những nàng con côi, những nạn nhân của chế độ lang đạo, đa thê hay bóc lột những kiếp

người ít có khả năng tự bảo vệ Đó là những truyện như Út Ló t- Hồ Liêu,

Nàng Nga - Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương, Nàng con côi

Truyện thơ Mường Thanh Hoá được trích dịch và xuất bản từ năm

1962 với hai tác phẩm Nàng Nga - Hai Mối và Út Lót - Hồ Liêu Từ đó đến

nay tất cả có 4 truyện thơ Mường Thanh Hoá được sưu tầm và xuất bản đó là:

Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai Mối, Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương, Nàng con côi Trong đó có một tác phẩm được xuất bản dưới hình thức song

ngữ là truyện Nàng Nga - Hai Mối Dưới đây xin giới thiệu về những truyện

thơ nổi tiếng đó

+ Truyện Út Lót – Hồ Liêu

Đây là một truyện thơ dân gian được người Mường nhắc đến nhiều nhất Có thể nói từ khi còn ở trong nôi, mỗi người Mường đã được nghe ru,

nghe hát về Út Lót - Hồ Liêu Đến tuổi bắt đầu biết nhận xét ít nhiều về cảnh

vật xung quanh họ lại được bà, mẹ kể lại cho nghe về sự tích đàn bướm lạc tháng ba, năm năm lại tái sinh và bay qua bay lại dập dờn đông vô kể ở các nẻo rừng và về con cầy cun nằm rũ rượi, buồn bã đáng thương như người nuối tiếc điều gì đến trọn kiếp Người già ở vùng Ngọc Lặc, Thạch Thành nói lại rằng chuyện thật xảy ra từ thời Minh Mệnh, nhưng không rõ truyện thơ ra đời khi nào và cũng không biết ai đặt ra đầu tiên Có điều không gian phổ biến của truyện rất rộng, các huyện miền núi rộng như Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc và người Mường ở tỉnh Hoà Bình cũng lưu truyền câu chuyện này Chính vì vậy mà lời các văn bản được các nhà văn sưu tầm, nghiên cứu tập hợp cũng có nhiều chỗ không giống nhau, phần tóm tắt và đánh giá dưới đây

Trang 25

là theo tác giả Minh Hiệu (Tuyển tập thơ Mường Thanh Hoá - NXB KHXH -

1986)

Truyện kể rằng: Nàng Út Lót vừa đẹp, vừa xinh lại thông minh, là con gái thứ ba của Đạo Tu Liêng và bà Cun Táo Thấy bố lo lắng buồn phiền vì nỗi không có con trai thay mặt mình đi chầu vua Kẻ chợ, nàng xin mặc giả trai để làm việc đó, dọc đường nàng gặp Hồ Liêu, con một Lang Đạo khác

cũng đi chầu vua, hai người kết làm bạn “Chung lưng, chung lộ, chung cỗ,

chung phòng” Trong những ngày ở kinh kỳ, không những vua Kẻ chợ mà cả

Hồ Liêu cũng nghi ngờ rằng nàng Út Lót giả trai Nhờ thông minh, bình tĩnh

Út Lót dã đánh lạc hướng sự theo dõi của những người đó Hết hạn chầu vua, trên đường trở về quê Út Lót mới bỏ lốt cải trang trở lại nguyên hình một cô gái dịu dàng, lộng lẫy, hai người yêu nhau, thề nguyền vàng đá, rồi tạm chia tay nhau hẹn ngày gia đình Hồ Liêu sang nhà dạm hỏi chính thức

Không ngờ ở nhà cha mẹ Hồ Liêu đã cưới vợ cho chàng Hồ Liêu tìm hết cách cưỡng lại vẫn không nổi nên đau ốm rồi thất tình rồi chết Nhiều người đến dạm hỏi Út Lót nàng đều từ chối Về sau nàng đành chiều theo ý cha mẹ nhưng chỉ nhận lời của đạo Cun Cun là người ở về hướng mồ chôn Hồ Liêu Ngày rước dâu khi đi qua mộ người yêu, nàng xin xuống thăm mộ chàng lần cuối, tới nơi nàng cất tiếng gọi Hồ Liêu mở nắp săng, đón nàng vào, rồi cửa mộ khép lại như cũ Hai họ mất cô dâu bơ vơ ngơ ngẩn biến thành đàn bướm trắng, còn chú rể tiếc Út Lót quá đỗi nên biến thành con cầy cun nằm rũ trên cây không thiết gì ăn uống

Truyện thơ Út Lót - Hồ Liêu đã thu hút được cảm tình của người nghe,

người đọc suốt từ đầu đến cuối câu chuyện, từ thế hệ này qua thế hệ khác Sức hút đã toát ra từ nội dung lành mạnh, nhân đạo, từ hình tượng Út Lót khá thành công và từ lời thơ trong sáng, đẹp đẽ Lời thơ có sức diễn tả khá sâu, rất gần dân ca mường vừa giàu hình ảnh, vừa giàu âm điệu

+ Truyện Nàng Nga – Hai Mối

Trang 26

Truyện này có thể bắt nguồn từ một truyện tình bi thảm có thực ở Án

Đỗ (Mường Đủ), huyện Thạch Thành còn có đền thờ Nàng Nga, có con cháu dòng học ông Cun Đủ Ó Gần đó là Mường Già quê mẹ Nàng Nga và con sông Ngang, Bến Đuộng, Cẩm Thuỷ, Quan Hoàng - nơi Nàng Nga và Hai Mối đã gặp nhau và yêu nhau Những tục lệ giao hiếu giữa Mường Đủ Ó với Mường Già và làng Quan Hoàng đều có liên quan đến truyện này và mãi đến sau cách mạng tháng Tám năm 1945 ít lâu tục lệ đó mới bỏ

Nhiều người quả quyết truyện Nàng Nga - Hai Mối là phần tiếp theo truyện Út Lót - Hồ Liêu vì cho rằng Nàng Nga là người vợ mà cha mẹ Hồ

Liêu đã cưới cho chàng, khi Hồ Liêu chết, Nàng Nga trở về nhà cha mẹ đẻ và sau đó mới gặp Hai Mối Nhưng có người nói, nếu vợ của Hồ Liêu có tên là

Nga chăng nữa thì đó chỉ là sự trùng tên Nàng Nga trong truyện Nàng Nga -

Hai Mối rõ ràng có một tính chất tâm hồn khác hẳn, vả lại nội dung ở mỗi

truyện cũng rất khác nhau Điều đáng mừng là có những điểm khác nhau, nhưng nét chính của truyện thơ vẫn thống nhất

Nàng Nga là con một lang cun rất giàu có, được cha cho phép mở chợ kén chồng Hai Mối là con của một lang cun khác, thường giả thành người dân đi khắp nơi để thử người kén vợ, nghe tin đồn Nàng Nga đẹp người, đẹp nết, chàng tìm đến, hai người yêu nhau trao của tin, hẹn một hai thành vợ chồng Chàng trở về đem binh mường đi khai hoang vỡ ruộng quyết tâm làm cho đất Mường giàu có, hẹn ngày đi cưới Nàng Nga Nhưng lúc ấy có một tên chúa đất khác, uy quyền lớn hơn rất nhiều đến hỏi Nàng Nga Bố nàng tham nơi quyền thế và giàu có hơn đã gả nàng về làm lẽ tên này Nàng Nga nhắn tin Hai Mối đến cứu nhưng tin bị lạc Mất một năm sau Hai Mối mới biết chàng đem quân đón đường định cướp lại nhưng không kịp, chàng đành một mình sang tận đất Lào tìm cách gặp bằng được Nàng Nga Bàn hết kế vẫn không có cách nào có thể tự do chung sống mà không bị nhà chồng và cha mẹ cấm đoán, hai người hẹn nhau cùng chết để về bên ma thành vợ thành chồng Tên chúa đất đau đớn vì mất Nàng Nga cũng chết theo

Trang 27

Truyện thơ Nàng Nga - Hai Mối sở dĩ chỉ chiếm một vị trí đặc biệt

trong văn học và đời sống văn hoá Mường trước đây, chính vì nó vừa là một bản tình ca rất đẹp về tình yêu và lòng chung thuỷ, vừa là bài ca đầy sức rung cảm về tình yêu quê hương mường bản Nó gần như một chương “thánh ca”,

ở đó kết tụ những ước mơ cơ bản nhất của người Mường trong xã hội thời đó

Là tiếng nói của lòng người dân, là bài ca đạo đức của nhân dân, nó luôn răn dạy nhắc nhở những ai có trách nhiệm với hạnh phúc mọi người, với quê hương, mường bản

+ Truyện Nàng Ờm – chàng Bồng Hương

Truyện Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương là một trong những truyện thơ

có giá trị của dân tộc Mường

Cách thành phố Thanh Hoá 150 km dọc theo bờ sông Mã về phía Bắc đến Cành Nàng (Bá Thước), giữa rừng cây trùng điệp là một ngọn núi đá nghiêng mình soi bóng xuống dòng sông Núi ấy là núi Làn Ai Nay gọi là núi

Cành Nàng - quê hương của truyện thơ Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương

Việc sưu tầm truyện thơ này gặp rất nhiều khó khăn vì dân tộc Mường không có chữ viết, tiếng nói lại mỗi nơi mỗi khác Do đó truyện thơ không nơi nào giống nơi nào Như đoạn vào đầu tự thuật cuộc đời của Nàng Ờm, người Như Xuân kể:

Rằng thuở ấy, năm đó Khi em còn nên người Tuổi em mới lên năm Răng em còn trắng Váy em mới bằng một gang Bàn chân em bằng lá phay pháy Bàn tay em băng lá me me Nhưng đại bộ phận các bản ở Bá Thước, Ngọc Lặc đồng bào lại kể rằng:

Thuở ấy em mười lăm

Trang 28

Váy em mới bằng một păng Hàm răng em còn trắng Bàn chân bằng lá phay phay Bàn tay bằng lá muồng muồng

Về cái chết của Nàng Ờm cũng vậy, mỗi nơi kể mỗi khác Đặc biệt truyện kể ở xã Minh Sơn (Ngọc Lặc) thì khác về căn bản Theo đồng bào ở đây kể lại thì Nàng Ờm bị bố mẹ đánh chết ngay trên nhà Đang cơn tức giận

bố nàng quăng xác qua cửa móng xuống sân Bồng Hương mới đem xác nàng lên núi Làn Ai chôn và thắt cổ chết theo Chuyện kể ấy hoàn toàn khác hẳn với chuyện được kể ở Bá Thước, Như Xuân, Ngọc Lặc Truyện ở các vùng này đều thống nhất là Nàng Ờm bị đánh đập nhiều quá, cô em gái động lòng thương nên:

Em gái yêu lẳng lặng Hình như nghe xót nghe thương Lấy chìa khoá trong lưng

Vội mở cửa con mau Trên trời mây quang Gió tạt sang vóng cái Chân tay em tê dại Liều quăng mình xuống sân

Để tránh roi tránh vọt Chàng Bông Hương từ lâu đứng đợi Anh bế em vào nách

Anh ôm em ngang lưng Tuy nhiên các bản dù sưu tầm dược ở bất cứ vùng nào cũng đều thống nhất về cốt truyện, chỉ khác nhau ở những chi tiết phụ hoặc trong ngôn ngữ

Chuyện được tóm tắt như sau: Hồn oan tự kể chuyện rằng tên nàng là

Ờm, quê ở đất Cành Nàng, gần Mường Ca Da, Ký Ống (thuộc Hồi Xuân - Quan Hoá ngày nay) Bố mẹ nàng giàu có, chỉ có 2 con gái, nàng là chị Ờm

Trang 29

quen anh Bồng Hương từ nhỏ, cùng chơi trò sàng gạo bằng đất vào mo nang, từng tập đan bằng tàu lá chuối, cùng đi trâu cùng nhau bên ngõ, đi bò cùng nhau trên nương… Hai người yêu nhau chỉ luôn mong ước sống chung hạnh

phúc “ăn cơm chung một gian, uống nước chung một máng, xỉa răng chung

một ống- chết hay sống cùng trọn một đôi” Bố mẹ Ờm không thích Bồng

Hương, em gái nàng nhỏ dại nhiều khi còn mách mẹ cha để đe nạt chị Ờm bị đòn vọt xỉ vả, Bồng Hương chỉ biết lén đứng gần sân bất lực đau khổ Một đêm bố mẹ đánh Ờm hết sức tàn nhẫn Cô em gái động lòng lén mở khoá cửa,

Nàng Ờm “quăng mình xuống sâm”, Bồng Hương đỡ lấy người yêu, hai

người cùng trốn vào núi Làn Ai ăn lá ngón để cùng chết về bên ma xây dựng cuộc sống lứa đôi như họ từng mơ ước

Truyện thơ Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương là một bản tình ca ngợi

những khát vọng, những ước mơ chân chính nhưng hết sức giản dị của những con người mong được tự do yêu đương, tự xây dựng hạnh phúc của mình Truyện thơ được xây dựng bằng một kiểu cấu trúc khá mới, đánh dấu một giai đoạn phát triển của truyện thơ Mường

+ Truyện nàng Con Côi

Truyện Nàng Con Côi thuộc mô típ người mồ côi trong sự phân loại

truyện dân gian vốn rất quen thuộc Đó là truyện gắn với số phận một cô gái

bị mẹ ghẻ hành hạ, hắt hủi nhưng cuối cùng vẫn được hưởng một cuộc sống

hạnh phúc giàu sang Tuy nhiên truyện thơ Nàng Con Côi tập trung vào chi

tiết trả thù, không tập trung nhiều vào những cảnh lầm than của nhân vật chính Truyện kể như sau:

Bố đi làm xa, Con Côi ở nhà với gì ghẻ, bố về, gì mách nàng lười nhác, bắt phải bỏ vào rừng sâu Con Côi khóc than mãi cũng chẳng ai nghe đành gạt nước mắt mà tự tìm cách sống Bạn bè của con Côi là con Voọc trên ngàn, con chó rừng làm đầy tớ Một lần có chàng trai lạ qua nhà Hai người quen nhau rồi ăn ở với nhau thành vợ chồng Chàng trai là người thần hoá phép biến rừng xanh vắng vẻ thành làng, thành nước, nhà mọc đằng trước, nhà mọc

Trang 30

đằng sau Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc Con Côi nhớ bố xin chồng về nhà chồng cho nàng hai hạt bầu tỉa xuống vóng sau, vóng trước, dây bầu lớn dài leo mãi về nhà bố, nhà gì Bố phải đi chặt gốc bầu nên gặp được Con Côi,

ở mấy ngày bố đòi về, Con Côi gói cơm cho bố, gói một đùm kín mít biếu gì

Gì tham lam đóng cửa buồng ngồi ăn, nhưng giở ra thì toàn rắn rết, gì căm Con Côi lắm, bèn tìm cách đến nhà Con Côi trả thù Con Côi đối xử với gì cũng xa lạ nhưng gì biết cảnh nhà nàng bèn quyết tâm hại Con Côi, cho người nhắn nàng rằng bố bị bệnh, mong Con Côi về, nhưng nàng vừa đến nhà gì đã bắt trèo cây hái quýt cho bố, Con Côi trèo cây gì chặt gốc, nàng rơi xuống hồ,

gì cho cô em thay chị nhưng anh rể chẳng thương chỉ cho làm việc vặt trong nhà Con Côi không chết vì được chó ngao và đàn vượn cứu, nàng trở về xinh đẹp hơn Cô em phải trở về nhà, đàn vượn bày cho cách tắm nước sôi cho đẹp, nước nóng làm cô ta chết, đàn khỉ đem thịt muối chua để Con Côi mang

về cho gì, gì tưởng mắm của con gái, con rể nên ăn mắm ngon lành, đến gói cuối thì thấy ngón tay, ngón chân con gái, gì tức quá lăn quay ra chết

Truyện Nàng Con Côi là một truyện thơ có vị trí rất đặc biệt trong đời

sống tình cảm của nhân dân dân tộc Mường Có thể nói bất kỳ ở một bản nào,

dù hẻo lánh đến đâu, dù ít người đến mấy thì cũng có truyện con côi, mà bà

con thường gọi là Con Côi đi đày, con Côi nuôi cá, Con Côi và người đi săn,

Gì ghẻ Con Côi Những truyện con côi này được kể mỗi nơi mỗi khác Nơi kể

bằng văn xuôi, nơi kể bằng văn vần, có nơi cả văn xuôi và văn vần xen kẽ nhau Hoàn toàn lệ thuộc vào trí nhớ, trình độ sáng tạo của nghệ sĩ dân gian

1.3.2.2 Nhận xét

Tính đến nay truyện thơ Mường Thanh Hoá được sưu tầm công bố có

tất cả 4 truyện thơ, đó là: Truyện Út Lót - Hồ Liêu, truyện Nàng Nga - Hai

Mối, truyện Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương, truyện Nàng Con Côi Trong đó

có 3 truyện xoay quanh đề tài tình yêu đôi lứa, đó là truyện Út Lót - Hồ Liêu, truyện Nàng Nga - Hai Mối, truyện Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương Riêng truyện Nàng Con Côi đề cập đến số phận nàng Con Côi – là nạn nhân của chế

Trang 31

độ đa thê trong xã hội cũ Tất cả các truyện thơ đều có một vị trí đặc biệt trong đời sống tình cảm của dân tộc Mường, ở đó kết tụ những ước mơ khát vọng giản dị và thiêng liêng nhất của con người nơi đây với quê hương, mường bản

Có thể thấy những truyện thơ của người Mường như truyện Út Lót - Hồ

Liêu, Nàng Nga - Hai Mối, Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương đều là những

truyện người thực, việc thực hoặc ít ra cũng tạo cho đối tượng tiếp nhận hiểu

đó là chuyện thực vì sự kiện, nhân vật, địa điểm đều gắn cụ thể với một vùng, một thời Tính chân thực này phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của thời bấy giờ nên tạo được hiệu quả thẩm mĩ cao ở đối tượng tiếp nhận Các truyện Nôm khuyết danh của người Kinh nở rộ ở thế kỷ XVII, XVIII cũng mang xu thế đó

Trong khi đó, truyện thơ Nàng Con Côi lại là một câu chuyện mang xu

thế phiếm chỉ hoàn toàn và nó cũng có một vị trí rất đặc biệt trong đời sống

tình cảm của dân tộc Mường Nếu so sánh Nàng Con Côi với Tấm Cám của

người Kinh ta thấy rõ thái độ và lối ứng xử quyết liệt của nhân vật chính trong truyện, phải chăng đó cũng là lối ứng xử mộc mạc chất phác và có phần giản đơn của người Mường trong thời kỳ cộng đồng sơ khai Ta biết rằng trong thần thoại, truyền thuyết những hành động trả thù quyết liệt và ác độc vẫn được thừa nhận là dũng cảm và đúng đắn

Tiểu kết

Trong nền văn học các dân tộc ít người, kho tàng truyện thơ khá phong phú và đa dạng với hàng loạt truyện thơ của người Mường, người Thái, người Tày, người H‟Mông, người Chăm…Sự ra đời của truyện thơ các dân tộc thiểu

số là một hiện tượng có tính chất quy luật phổ biến theo những nhu cầu khách quan và theo những điều kiện lịch sử xã hội lúc đó Lúc bấy giờ trong xã hội các dân tộc thiểu số đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa tình yêu chân chính với đòi hỏi khắt khe của gia đình và xã hội, mâu thuẫn giữa người nghèo khó với kẻ giàu sang, giữa chính nghĩa và phi nghĩa Lúc này vấn đề

Trang 32

thân phận con người được đặt ra và đòi hỏi phải đáp ứng thoả đáng Truyện thơ đề cập đến nhiều mặt trong hiện thực xã hội của các dân tộc anh em, thể hiện khát vọng thiết tha, mãnh liệt của quần chúng trong lòng xã hội phong

kiến

Có thể nói truyện thơ các dân tộc thiểu số thể hiện bước phát triển mới của văn học dân gian các dân tộc ít người Nó phản ánh sự vận động biến chuyển có ý nghĩa lịch sử sâu sắc của văn học dân gian các dân tộc ít người, tiến tới tiếp cận và đi vào quỹ đạo nền văn học của cả cộng đồng Việt Nam

Miền núi Thanh Hoá là địa bàn dân cư của bảy dân tộc anh em, trong

đó có dân tộc Mường Quá trình đấu tranh, lao động xây dựng xã hội đồng thời cũng là quá trình dân tộc Mường tự sáng tạo cho mình một nền văn học dân gian phong phú và đa dạng Để tồn tại đến hôm nay nền văn học ấy đã trải qua bao phen chìm nổi, chứng tỏ nó có sức mạnh phi thường để đi suốt cả chiều dài lịch sử

Nằm trong hệ thống văn học dân gian của dân tộc Mường và trong bối cảnh truyện thơ các dân tộc thiểu số, truyện thơ Mường Thanh Hoá là một bộ phận độc đáo Truyện thơ Mường Thanh Hoá được xem là một vật thiêng của dân tộc, là linh hồn của bản, của mường Tính đến nay truyện thơ Mường

Thanh Hoá được sưu tầm và công bố có tất cả 4 truyện đó là: Truyện Út Lót -

Hồ Liêu, truyện Nàng Nga - Hai Mối, Truyện Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương, truyện Nàng Con Côi Những truyện thơ này có giá trị sâu sắc về nội

dung và nghệ thuật Để thấy được giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của nó, chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở những chương sau

Trang 33

CHƯƠNG 2 TRUYỆN THƠ MƯỜNG THANH HOÁ NHÌN TỪ

GÓC ĐỘ NỘI DUNG

Cũng như nhiều dân tộc khác, người Mường xứ Thanh luôn luôn tự hào

về nền văn hoá dân gian của mình Truyện thơ là một bộ phận lớn trong nền

văn học dân gian Mường Mặc dù người Mường không có chữ viết riêng

nhưng ông cha các thế hệ người Mường với tấm lòng yêu mến văn học dân

gian của tổ tiên, cho đến nay vẫn còn lưu truyền được những trang truyện dài

bằng thơ với thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, với nội dung phản ánh hết sức

phong phú và đa dạng về lịch sử xã hội Mường Đó là các truyện thơ: Truyện

Út Lót – Hồ Liêu, truyện Nàng Nga – Hai Mối, truyện Nàng Ờm – Chàng

Bồng Hương, truyện Nàng con côi Đó là những câu truyện tình bi tráng

nhưng đã để lại không ít giá trị giáo dục, khuyên bảo người đời phải biết quý

trọng, gìn giữ, nâng niu cái chân - thiện - mĩ và xoá đi cái ác tà để con người

bớt nỗi khổ đau

2.1 Bức tranh hiện thực của xã hội Mường

Tác phẩm Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng

Bồng Hương, Nàng con côi không phải là tác phẩm anh hùng ca nhưng do

quy mô lớn của tác phẩm nên nó đã đề cập đến nhiều mặt của xã hội Mường

Đó là cảnh đồi núi, rừng sâu, cảnh những con sông, bến nước; … những ngày

tháng giêng, tháng hai, những con ó bay lượn trên tầng mây rồi những tiếng

kêu của con chim cu ho, cu trắng, chim chèo pheo gợi nhớ, gợi thương;… có

con người vỡ ruộng khai hoang, phát rẫy, trồng sắn, trồng bông, đắp phai làm

đồng cấy lúa, có tiếng cười đầy hạnh phúc, nhưng có cả những giọt nước mắt

khổ đau Tất cả tạo nên một bức tranh sinh động về xã hội Mường thuở ấy

Đáng chú ý là các truyện thơ Mường Thanh Hoá còn phản ánh những

phong tục tập quán của dân tộc Mường như: tục cưới xin, tục ma chay, tục

Trang 34

kiêng kỵ; phản ánh những mâu thuẫn nội tại nảy sinh ngay trong lòng xã hội Mường trước cách mạng

2.1.1 Xã hội Mường trước cách mạng là xã hội có nhiều mâu thuẫn

Theo GS.TSKH Phan Đăng Nhật thì “Truyện thơ ra đời theo nhu cầu

lịch sử của thời đại của nó Lúc bấy giờ trong xã hội các dân tộc thiểu số đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa tình yêu chân chính của đôi lứa với đòi hỏi khắt khe, lạnh lùng nhiều khi tàn bạo của gia đình và xã hội, mâu thuẫn giữa người nghèo khó với kẻ giàu sang, mâu thuẫn giữa chính nghĩa và phi nghĩa Lúc này vấn đề thân phận của con người được đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết thoả đáng” [Tr 40]

Theo GS.TSKH Phan Đăng Nhật thì trong xã hội chia giai cấp, có mâu thuẫn giữa người nghèo và kẻ giàu, giữa chính nghĩa và phi nghĩa, lúc đó truyện thơ ra đời và phát triển Quan điểm của GS Võ Quang Nhơn cũng tương đồng với ý kiến của GS Phan Đăng Nhật khi ông khẳng định sự phân biệt giàu nghèo và theo đó là sự xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp là một trong những tiền đề để truyện thơ ra đời Như vậy mâu thuẫn xã hội Mường trước cách mạng là khá sâu sắc, truyện thơ ra đời đã phản ánh chân thực bức tranh xã hội ấy

Các truyện thơ Mường chính là tấm gương phản ánh hiện thực của xã hội Mường lúc bấy giờ Đó là một xã hội rất nhiều mâu thuẫn, với đầy rẫy những bất công, tàn bạo và những bất hạnh khổ đau

Truyện thơ Út Lót – Hồ Liêu là một truyện phản ánh gay gắt nhất sự

xung đột giữa tài năng và hạnh phúc chân chính của cá nhân với luật lệ, tập tục phong kiến

Nàng Út Lót và chàng Hồ Liêu đều là những người thông minh, trai tài, gái sắc, họ đã gặp nhau và yêu nhau khi cùng đi chầu vua Kẻ Chợ Tình yêu của họ thật trong sáng nhưng cũng không kém phần say đắm, lãng mạn; hai người cùng thề nguyền vàng đá sống chết có nhau Nếu như họ sống trong xã

Trang 35

hội không có những bất công, ngang trái thì tình yêu của họ sẽ được đơm hoa, kết trái; sẽ đi đến một bến bờ hạnh phúc trọn vẹn Nhưng họ là những con người đang sống, đang tồn tại trong xã hội Mường lúc bấy giờ, xã hội mà con người với con người không thể tự do đến với nhau, xã hội mà tư tưởng bao

trùm là tư tưởng “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, trai gái lấy nhau theo sự sắp

đặt của bố mẹ Giáo lý phong kiến ngặt nghèo cùng với những luật lệ bất công, ngang trái là sợi dây vô hình chia rẽ, ngăn cách tình yêu đôi lứa Út Lót,

Hồ Liêu và người vợ mà cha mẹ cưới cho Hồ Liêu đều là những nạn nhân của

chế độ xã hội đó Người vợ Hồ Liêu do cưới xin theo kiểu “cha mẹ đặt đâu

con ngồi đó” thì sẵn sàng phục lòng sự sắp xếp của gia đình, còn Hồ Liêu thì

phản kháng đến cùng Nhưng giữa lúc thế lực và luật lệ phong kiến còn khống chế bao trùm như vậy, một sự chống lại của Hồ Liêu, Út Lót chưa thể mang lại thắng lợi Cái chết của hai người như vậy không thể là cái chết thoả đáng nhưng là biểu hiện của một sự không chịu khuất phục, một sự chống đối đến cùng với chế độ lang đạo đương thời

Giống như truyện Út Lót - Hồ Liêu, truyện Nàng Nga - Hai Mối, Nàng

Ờm - Chàng Bồng Hương cũng phản ánh mối gay gắt xung đột giữa tình yêu

chân chính của đôi lứa với luật lệ của xã hội phong kiến Ta bắt gặp ở đây là hình ảnh của cun Đủ, đạo Dà, của ông vua Ao ước, của quan lang, lính tráng

và cả bố mẹ của nàng Ờm- những kẻ vua nhỏ, chúa đất, ỷ quyền gia trưởng Chúng là đại diện cho quyền lực và uy thế xã hội, chúng đã dùng sức mạnh vô hình để bóp nghẹt tình yêu của Nàng Nga và Hai Mối, tình yêu của Nàng Ờm

và chàng Bồng Hương Dẫu sức mạnh vô hình ấy có ngăn cản bao nhiêu thì

họ vẫn tìm đến được với nhau, tình yêu của họ mãi mãi là bất tử

Như vậy, cùng thể hiện một chủ đề chống đối tục lệ cưỡng ép, gả bán, bóp chết hạnh phúc lứa đôi trong hôn nhân cũ; điểm thống nhất ở đây là các nhân vật trung tâm tìm cách thoát ra khỏi bế tắc của cuộc đời bằng cái chết Kết cục bi thảm ấy như một lần nữa minh chứng một điều rằng: mâu thuẫn xã

Trang 36

hội là rất sâu sắc, mối quan hệ giữa khát vọng về tình yêu hạnh phúc của con người và đòi hỏi khắt khe của xã hội là không thể dung hoà được

Khác với ba truyện thơ trên, truyện thơ Nàng con côi lại phản ánh mâu

thuẫn xã hội ở một khía cạnh khác, đó là mối xung đột gay gắt giữa chính nghĩa và phi nghĩa Dùng mô típ người mồ côi vốn rất quen thuộc, truyện thơ

Nàng Con Côi tập trung thể hiện số phận của một cô gái bị mẹ ghẻ hành hạ,

hắt hủi nhưng cuối cùng nàng vẫn vượt qua tất cả để hưởng một cuộc sống hạnh phúc và giàu sang

Theo lôgíc của tư tưởng “nhân quả - báo ứng” thì những kẻ gây điều

ác, chia rẽ vợ chồng như hình ảnh mụ gì ghẻ trong truyện, tất nhiên sẽ bị trừng phạt; còn những người lương thiện, ngay thật như nàng Con Côi trải qua bao đau khổ, sóng gió của cuộc đời rồi cũng đến được bến bờ hạnh phúc Một khi cái thiện đã chiến thắng thì cái ác sẽ không tồn tại, đó là triết lý nhân sinh đồng thời cũng là lý tưởng sống của các nhân vật chính diện trong truyện thơ các dân tộc ít người nói chung

2.1.2 Chế độ lang đạo là chế độ xã hội đặc thù

Trong xã hội phong kiến Mường chế độ lang đạo là chế độ đặc thù Bộ máy quản lý xưa kia của người Mường về bản chất nó ở dạng chế độ quân chủ, được gói khá gọn trong quy mô mường, bản Người đứng đầu cai trị được truyền theo trực hệ của dòng họ ấy Lang có các cấp: lang đạo, lang cun

và lang Tổ chức thống trị trong xã hội Mường là chế độ nhà Lang, chúng duy trì chế độ hà khắc để cai trị nhân dân

Thuở ấy, người Mường nào lại không thuộc câu cửa miệng: “Lang đến

nhà như ma đến cửa, lang đến nhà không gà cũng lợn” Giai cấp thống trị có

đặc quyền, đặc trị bóc lột nhân dân bằng hình thức cống nạp và phục dịch Còn những người dân là tầng lớp bị trị Họ không chỉ bị bóc lột về kinh tế mà còn phải chịu những áp bức về tinh thần và phải chịu những hình phạt hà khắc Giai cấp thống trị của xã hội Mường thời bấy giờ là những lang cun, lang đạo giàu có và đầy quyền lực Họ đã dùng uy quyền của mình để cai trị

Trang 37

nhân dân Soi vào bối cảnh đó mới thấy hết chiều sâu bản chất bên trong của

xã hội người Mường lúc bấy giờ

Chế độ lang đạo được phản ánh khá cụ thể và sâu sắc trong truyện thơ

Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai Mối Đó là hình ảnh của đạo Tu Liêng ở xứ

Mường Đẹ:

Đạo Tu Liêng với nàng Tu Ó Đạo Tu giàu với nàng Tu có

Ở với nhau được hai con gái cô nàng [Tập2, Tr16]

Khi tiễn Út Lót đi chầu vua Kẻ chợ, đạo Tu Liêng đã thể hiện quyền lực và uy thế của mình đối với nhân dân bản Mường Đạo Tu Liêng chỉ cần đánh một hồi trống thì binh mường đã chạy đến đầy cửa, đầy nhà

Đầu hôm ông Đạo Tu Liêng cho đánh một hồi trống ba Sáng ra cho đánh một hồi trống chín

Chức việc binh mường chạy đến đầy cửa, đầy nhà [Tập2, Tr 25]

Và lời nói của đạo Tu Liêng như lời truyền dạy:

Gạo trắng bay đâm cho đầy một trăm ống cả Gạo lống bay giã cho đầy một trăm sọt nan Ngày mai theo cô nàng trẩy sớm

Ở nhà bay gọi là “nàng”

Ra đường bay gọi là ông lang Mường Đẹ Gặp người Thái bay giữ cho kín mọi lẽ Gặp người lạ bay giữ cho kín mọi đàng Chớ ăn nhảm nói quàng mà vua xử chém [Tập2, Tr26]

Sự giàu có của đạo Tu Liêng cũng được thể hiện đầy đủ

Bố hỏi rằng:

“Con tôi cưỡi ngựa đực trắng”

Hay con đi võng giá kiệu đòn rồng Dao nắp bạc hay gươm vỏ đồng Tuỳ ý, tuỳ lòng con tôi chọn lấy

Trang 38

Ngựa đực nhà ta ăn đầy bãi Ngựa cái nhà ta ăn đầy ba quả đồi Con nào đáng ngồi để cha sai xếp đặt [Tập2, Tr 27]

Các lang đạo trong xã hội Mường thời xưa đều là những người vừa có quyền vừa giàu có; chính sự giàu có và uy quyền ấy đã khiến cho chúng cai trị nhân dân một cách dễ dàng

Ta còn bắt gặp hình ảnh ấy trong truyện Nàng Nga - Hai Mối Đó là hình ảnh ông cun Đủ, đạo Dà nhiều trâu, lắm lúa; nhà có “chín lần cổng, mười

hai lần rào”; “đàn vịt nhiều như lá đa, đàn gà nhiều như lá bái” và họ sống

trong cảnh sang trọng:

Nhà ông Cun đủ đạo Dà

Có trống khú trống rồng Gươm chầu kiếm bạc [Tập2, Tr 89]

Ngày Nàng Nga đi chơi chợ thăm hàng có cả một đoàn tuỳ tùng đông đúc, Nàng Nga ngồi kiệu đòn rồng, có cờ quạt, có bà nhủ mẫu, con hầu đi theo và có đủ cả một dàn nhạc và Nàng Nga thì:

Vòng cổ chạm hình hoa thông bông cúc Vòng đúc chạm hình phượng múa rồng leo [Tập2, Tr 92] Nhà đạo Hai Mối cũng là một cun lang giàu có, quyền lực: có chiêng vàng, niếng ba hông, cồng ba ụ, cai quản một mường rộng, chín mươi làng bên dưới, chín mươi làng bên trên, chỉ cần có tiếng chiêng động binh mường

kéo đến như kiến, như ong Ngày Hai Mối đi chơi chợ cha mẹ đã cho “chín

mươi nén bạc đi ăn đàng, chín mươi nén vàng đi ăn sá”, lại còn mang

theo“chín chục trâu đốm móng, chín chục bò mộng đốm chân”, binh mường

đi theo đông đến nỗi mỗi người “chặt một lá lau hạ nên chín mươi trại, mỗi

người cắt một lá bái dựng nên chín cái đình”…

Chế độ lang đạo trong xã hội Mường xưa qua các câu chuyện bằng thơ không chỉ hiện lên các hình ảnh về các lang đạo giàu có, uy quyền mà còn

Trang 39

hiện lên với những quan niệm, tập tục hà khắc Đó là quan niệm “trọng nam

khinh nữ”, là tập tục gả bán, cưỡng ép hôn nhân

Theo quan niệm của chế độ lang đạo: nếu gia đình nào mà không có con trai để nối dõi dòng tộc, tổ tông, duy trì nòi giống hay làm trụ cột trong

gia đình thì bị coi là nhà “thấp vế trong làng xóm” Gia đình truyền thống của

người Mường xưa là gia đình phụ quyền Đạo Tu Liêng là người cai trị giàu

có của vùng mường, là người có của, có quyền nhưng không có con trai, hai người con đầu là hai cô con gái, đến khi nàng Tu Ó sinh con thứ ba thì vẫn là con gái Đạo Tu Liêng than thân trách phận:

“Thân sao khổ thế này hỡi kiếp Thân người kiếp bạn có con gái Sớm đi hái đỗ lấy cà

Chiều về thương cha mến mẹ Thân người kiếp ban có con trai Sớm cầm nỏ lên đồi bắn chim Chiều về săn muông đuổi cá Còn ta người một tuổi một già Hoa một ngày một héo

Con nào cũng con gái Lớn nào cũng lớn nàng Khốn thân ta đường này hỡi vía Hại kiếp ta đường này hỡi trời” [Tập2, Tr18,19]

Đạo Tu Liêng hiểu rằng nếu chỉ có con gái thì kẻ làm cha “thân kiếp

chẳng ra gì”; toàn bộ cơ nghiệp và đặc quyền, đặc lợi sẽ về tay các lang đạo

khác Mặt khác, theo tục lệ của người Mường nếu không có con trai thì khi chết đi mọi của cải, ruộng đất sẽ thuộc về người lang đạo thay chân Ông Cun

Đủ trong truyện Nàng Nga - Hai Mối vì không có con trai, chỉ có một Nàng

Nga và một Nàng Út Thái nên muốn trở thành bố vợ của ông vua Ao Ước ít

ra cũng còn cái thế, cái tiếng ở đời:

Trang 40

Thương cho nàng Nga Con chẳng đẹp lòng nhưng bố cứ gả Con chẳng đẹp dạ nhưng mẹ lại ưng Cậy người thưa bố mẹ rằng đừng

Bố mẹ cậy quyền cao mắng át Bởi bà đạo ông cun

Tham vàng tham bạc

Họ hàng chú bác Tham uống tham ăn Tham cái tiếng đường xa xăm Nhà người ta lắm rừng nhiều ruộng Đất rộng rườm rà

Tham cái tiếng “con gái cun đạo mường ta

Nên vợ cả nhà vua Ao Ước” [Tập2, Tr 116]

Ở đây ta lại bắt gặp sự bất công tàn nhẫn của tục lệ gả bán, cưỡng ép hôn nhân Tục lệ hà khắc ấy là một phần không thể thiếu để cấu thành chế độ lang đạo trong xã hội Mường xưa Nàng Út Lót, Nàng Nga, đạo Hai Mối rồi Nàng Ờm, chàng Bồng Hương đều là những đứa con được phôi thai từ trong lòng của chế độ lang đạo và phải chịu những hậu quả nặng nề mà chế độ đó

đã mang lại Nàng Út Lót và chàng Hồ Liêu - một mối tình đẹp trong gian thế

đã không đến được với nhau bởi vì bố mẹ Hồ Liêu ép chàng phải lấy người khác; Nàng Nga không lấy được chàng Hai Mối bởi ông cun Đủ đạo Dà ham tiền, ham bạc của nhà vua Ao Ước; Nàng Ờm và chàng Bồng Hương phải cách xa nhau bởi một điều đơn giản là bố mẹ nàng Ờm không ưng thuận chàng Bồng Hương Tất cả họ đã tìm đến cái chết như là biểu hiện của một sự không khuất phục, một sự chống đối đến cùng đối với tục lệ cưỡng bức đầy tàn nhẫn, bất công của chế độ lang đạo

Khác với hình ảnh quen thuộc về các lang đạo giàu có và uy quyền như đạo Tu Liêng, đạo Cun Đủ lang Đà… nhân vật đạo Hai Mối lại được vẽ lên

Ngày đăng: 23/03/2015, 17:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Anh (1995), “Đặc trưng văn hoá Mường Thanh Hoá” trong cuốn Văn hoá dân tộc Mường, Sở Văn hoá Thông tin, Hội Văn hoá các dân tộc Hoà Bình xuất bản, tr 208 – 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hoá Mường Thanh Hoá” trong cuốn "Văn hoá dân tộc Mường
Tác giả: Vương Anh
Năm: 1995
2. Nguyễn Ngọc Bảo (2005), Góp phần tìm hiểu thi pháp truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xôn xao) của dân tộc Thái, Luận văn Thạc sỹ Ngữ Văn, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu thi pháp truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xôn xao) của dân tộc Thái
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 2005
3. Nguyễn Dương Bình (1974), “Tìm hiểu thành phần người Mọi Bi ở miền Tây Thanh Hoá”, Tạp chí dân tộc học, (2), tr 33- 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu thành phần người Mọi Bi ở miền Tây Thanh Hoá”
Tác giả: Nguyễn Dương Bình
Năm: 1974
4. Nguyễn Dương Bình (1976), “Một vài đặc điểm của xã hội Mường qua việc tìm hiểu gia phả một dòng họ Lang”, Tạp chí Dân tộc học, (3), tr 39- 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một vài đặc điểm của xã hội Mường qua việc tìm hiểu gia phả một dòng họ Lang”
Tác giả: Nguyễn Dương Bình
Năm: 1976
5. Phan Kế Bính (2008), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
6. Nông Quốc Chấn (chủ biên), (1979), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Tập VI), Văn học dân tộc ít người (Quyển I), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Tập VI), Văn học dân tộc ít người (Quyển I)
Tác giả: Nông Quốc Chấn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1979
7. Nguyễn Từ Chi (1995), Góp phần nghiên cứu văn hoá tộc người, Nxb văn hoá Thông tin, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hoá tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb văn hoá Thông tin
Năm: 1995
8. Nguyễn Từ Chi (1998), “Người Mường ở Hoà Bình cũ” trong sách Người Mường và văn hoá cổ truyền Mường Bi, UBND Huyện Tân Lạc, Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Hà Sơn Bình xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường ở Hoà Bình cũ” trong sách "Người Mường và văn hoá cổ truyền Mường Bi
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Năm: 1998
9. Công tác dân tộc học (1999), Ban dân tộc miền núi Thanh Hoá xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác dân tộc học
Tác giả: Công tác dân tộc học
Năm: 1999
10. Hoàng Tuấn Cư sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn (1995), Hợp tuyển Văn học dân gian Mường, Tài liệu lưu tại Hội Văn nghệ dân gian Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển Văn học dân gian Mường
Tác giả: Hoàng Tuấn Cư sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn
Năm: 1995
11. Chu Xuân Diên (1981), “Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian”, Tạp chí Văn học, (5), tr.19 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian”
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1981
12. Chu Xuân Diên (2008), Nghiên cứu văn hoá dân gian – Phương pháp, lịch sử, thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hoá dân gian – Phương pháp, lịch sử, thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
13. Trần Chí Dõi (1998), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Chí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
14. Lò Xuân Dừa (2002), Bước đầu tìm hiểu một vài đặc điểm của truyện thơ Thái “Chàng Lú – Nàng Ủa” về phương diện thi pháp, Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu một vài đặc điểm của truyện thơ Thái “Chàng Lú – Nàng Ủa” về phương diện thi pháp
Tác giả: Lò Xuân Dừa
Năm: 2002
15. Phạm Đức Dương (1978), “Về mối quan hệ Việt – Mường, Tày – Thái qua tư liệu dân tộc học, ngôn ngữ học”, Tạp chí dân tộc học, (3), tr.15- 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về mối quan hệ Việt – Mường, Tày – Thái qua tư liệu dân tộc học, ngôn ngữ học
Tác giả: Phạm Đức Dương
Năm: 1978
16. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), “Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Địa lý hành chính tỉnh Thanh Hoá (2000), Tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý hành chính tỉnh Thanh Hoá
Tác giả: Địa lý hành chính tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
18. Lê Sỹ Giáo (1991), “Đặc điểm phân bố các tộc người ở miền núi Thanh Hoá”, Tạp chí Dân tộc học, (2), tr.37 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đặc điểm phân bố các tộc người ở miền núi Thanh Hoá”
Tác giả: Lê Sỹ Giáo
Năm: 1991
19. Đình Đức Giang (2003), Hình tượng người phụ nữ trong truyện thơ Mường về đề tài tình yêu, Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng người phụ nữ trong truyện thơ Mường về đề tài tình yêu
Tác giả: Đình Đức Giang
Năm: 2003
20. Guxep.V.E (1998), Mỹ học Folklore (Hoàng Ngọc Hiến dịch), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học Folklore
Tác giả: Guxep.V.E
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w