Đề tài : Khảo sát ca dao dân ca Bến Tre
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
_
Đặng Thị Thùy Dương
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn cô Nguyễn Thị Ngọc Điệp, người đã
tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cám ơn các nghệ nhân đã hỗ trợ tích cực cung cấp tư liệu cho tôi trong quá trình điền dã, sưu tầm
Xin gởi lời cám ơn đến thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè thân hữu đã giúp đỡ, tạo điều kiện thật tốt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
Đặng Thị Thùy Dương
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Để hạn chế sự lặp lại, chúng tôi xin được phép viết tắt một số từ:
- CD-DC : ca dao- dân ca
- VHDG : văn học dân gian
- ĐVTP : đơn vị tác phẩm
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu
Bến Tre là một trong những mảnh đất được khai sinh trong hành trình lịch sử Nam tiến của dân tộc Là một tỉnh nhỏ thuộc Nam bộ nhưng nơi đây thường được gọi là vùng đất "?địa linh nhân kiệt" với những danh nhân trung - kiên - ái quốc đã góp phần không nhỏ vào sự hưng vong của quốc gia Và trong tiến trình lịch sử, mảnh đất này cũng đã để lại những dấu ấn văn hóa riêng Những dấu ấn văn hóa ấy được thể hiện rõ qua bộ phận văn học dân gian vùng đất này
Văn học dân gian Bến Tre rất phong phú về thể loại gồm: truyện cổ, truyện cười, truyện trạng, CD-DC, vè, tục ngữ, câu đố… Đáng chú ý trong văn học dân gian Bến Tre là CD-DC bởi
nó được xem là thể loại ổn định, phản ánh rõ nét đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc con người nơi đây Vì vậy, chúng tôi chọn CD-DC Bến Tre là đối tượng nghiên cứu cho
đề tài này
Hơn nữa, hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông yêu cầu giảng dạy phần văn học địa phương Là giáo viên trung học phổ thông, tôi thiết nghĩ nghiên cứu về CD-DC Bến Tre cũng là điều cần thiết và bổ ích trong quá trình giảng dạy của mình
Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của CD-DC Bến Tre dựa trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm Chúng tôi lấy tên đề tài là: "Khảo sát ca dao - dân ca Bến Tre" Tìm hiểu đề tài này là tìm hiểu nét tương đồng cũng như khác biệt của CD-DC Bến Tre về nội dung, nghệ thuật so với CD-DC các vùng miền khác trên đất nước
Là người con của đất Bến Tre, tôi muốn góp thêm tiếng nói của mình vào công việc nghiên cứu, sưu tầm VHDG mà cụ thể là thể loại CD-DC ở quê hương Đồng Khởi
2 Lịch sử vấn đề
Theo Nguyễn Phương Thảo, một nhà nghiên cứu văn học dân gian, thì một trong những người sớm nhất sưu tầm VHDG Bến Tre thời Pháp thuộc là Trương Vĩnh Ký Trong phần sưu tầm của ông có công trình: Hát, lý, hò An Nam (1886), nhưng "khó có thể xác định được rạch ròi đâu
là văn học dân gian Bến Tre, đâu là văn học dân gian của vùng khác" [87,tr.24]
Công trình Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến năm 1945) (1971) của Nguyễn Duy Oanh do Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản Công trình này có chương Văn chương bình dân để giới thiệu VHDG Bến Tre Tác giả có 35 trang giới thiệu 11 truyện dân gian, gần 100 bài tục ngữ, ca dao, câu đố
Công trình Dân ca Bến Tre (1981) của Lư Nhất Vũ - Lê Giang, do Ty Văn hóa và Thông tin Bến Tre xuất bản Đây là công trình giới thiệu bao quát các thể loại của dân ca Bến Tre như hò, lý, hát ru, hát sắc bùa, nói thơ, chú trọng nghiên cứu phần âm nhạc Đồng thời, hai tác giả công bố những làn điệu sưu tầm được
Công trình Ca dao dân ca Nam Bộ (1984) của nhóm tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Công trình này có những bài nghiên cứu chung về CD-DC Nam Bộ Phần sưu tầm CD-DC có một số câu về địa danh, con người Bến Tre nhưng nhóm tác giả không ghi nơi sưu tầm
Trang 5Công trình Văn học dân gian Bến Tre (1988) của Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bạch Liên, NXB Hà Nội Phần đầu của công trình là tiểu luận với những nội dung như: hoàn cảnh tự nhiên và xã hội, tình hình sưu tầm nghiên cứu, một vùng văn học dân gian, đặc điểm về nội dung
và nghệ thuật của VHDG Bến Tre Trong công trình này, tác giả đã tách ca dao và dân ca thành hai tiểu loại riêng Riêng ở đặc điểm nghệ thuật ca dao, tác giả chú ý nét riêng và nhấn mạnh "một hiện tượng phải lưu ý khi xem xét ca dao Bến Tre về mặt hình thức là hiện tượng là những bài ca
có ba dòng lời" [87,tr.60] Tác giả có nêu số liệu khảo sát nhưng không lý giải Về ngôn ngữ ca dao, tác giả khái quát "mang đặc điểm của phương ngữ, nhất là phương ngữ Nam bộ", " ngôn ngữ đầy sức sống, tươi rói, tác động mạnh vào cách nhìn, cách nghe của con người" [87,tr.61] Đối với vấn đề này, tác giả chỉ dừng lại bằng việc nêu ví dụ Tuy nhiên, đây là những gợi ý quý báu mà trong luận văn này chúng tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn Phần sau là công bố những tư liệu đã sưu tầm về các thể loại Trong đó ca dao là 88 trang (với 900 bài) Phần dân ca gồm 38 trang với các tiểu loại như: hò (89 bài), lý (9 bài), đồng dao (9 bài), hát sắc bùa Phú Lễ (8 bài), hát đưa linh (3 đoạn hát), hát huê tình (17 bài) Ở phần này, ngoài một số bài dân ca sưu tầm, một số bài tác giả dẫn lại ở sách "Dân ca Bến Tre" của Lư Nhất Vũ- Lê Giang
Công trình Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long (1999) của Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Cần Thơ, NXB Giáo Dục Công trình này chủ yếu công bố những tư liệu đã sưu tầm được về các thể loại văn xuôi dân gian và các thể loại văn vần dân gian ở đồng bằng sông Cửu Long Ở thể loại CD-DC, căn cứ phần ghi xuất xứ, nhóm tác giả có sưu tầm 54 bài CD-DC ở Bến Tre
Công trình Địa chí Bến Tre (2001) của Thạch Phương- Đoàn Tứ chủ biên, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Ở chương I của phần 4 về Văn hóa giới thiệu về 8 thể loại của VHDG Bến Tre, trong
đó có thể loại ca dao Ca dao được giới thiệu gồm hai mảng cũ và mới với hai nội dung là công cuộc chinh phục thiên nhiên và công cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả lao động Tiếp theo là phần phân tích một cách khái quát hai nội dung Có lưu ý thêm mảng ca dao về đề tài tình yêu lứa đôi, tình vợ chồng, hạnh phúc gia đình Trong phần phụ lục về Văn hóa có 18 trang nêu 192 bài ca dao Bến Tre Phần lớn những bài ca dao này trùng với những bài ca dao trong "Văn học dân gian Bến Tre" của Nguyễn Phương Thảo- Hoàng Thị Bạch Liên
Công trình Các hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre (2005) của Lư Văn Hội, Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre xuất bản Công trình này viết về 6 hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre là: hát ru, hò, hát lý, hát sắc bùa Phú Lễ, nói vè, nói thơ vân Tiên Đồng thời, tác giả cũng công
bố một số tư liệu sưu tầm Tuy nhiên, phần sưu tầm này cũng có một số bài trùng với các tài liệu trước
Như vậy, qua những công trình giới thiệu trên đây chúng tôi không thấy công trình nghiên cứu riêng về CD-DC Bến Tre mà chỉ có công trình nghiên cứu về dân ca (2 công trình) Phần lớn những nghiên cứu về CD-DC Bến Tre được viết chung trong phần VHDG Bến Tre hoặc trong CD-DC Nam Bộ, CD-DC đồng bằng sông Cửu Long Công trình Văn học dân gian Bến Tre của Nguyễn Phương Thảo- Hoàng Thị Bạch Liên có một số gợi ý để luận văn tìm hiểu sâu hơn Các công trình còn lại có giá trị tham khảo, nhất là về tài liệu sưu tầm Việc khảo sát nội dung và nghệ thuật của CD-DC Bến Tre vẫn chưa trở thành đề tài nghiên cứu trọn vẹn Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi cố gắng khảo sát nội dung và nghệ thuật CD-DC Bến Tre một cách có hệ thống
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 6Về khái niệm, ca dao được định nghĩa: "Ca dao là lời các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại là những câu thơ có thể "bẻ" thành những làn điệu dân ca" [46, tr.436] Còn dân ca là: "những bài thơ dân gian hàm chứa tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy, phần nhiều có tính địa phương và tính nghề nghiệp, được diễn xướng theo nhiều làn điệu và môi trường khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống vật chất và tinh thần" [13, tr.18] Các nhà nghiên cứu đã dùng khái niệm ca dao hoặc ca dao- dân ca để gọi phần lời của bài hát dân gian Trong luận văn này, thuật ngữ CD-DC cũng được hiểu là phần lời của bài hát dân gian Như vậy, chúng tôi chỉ khảo sát CD-DC Bến Tre về nội dung, nghệ thuật ngôn từ, không khảo sát diễn xướng, âm nhạc
Theo định hướng đã đề ra như trên, đối tượng mà người viết khảo sát là những bài CD-DC trữ tình của dân tộc Việt ở đất Bến Tre, không khảo sát CD-DC lao động và nghi lễ
Việc gọi câu hát dân gian, bài hát dân gian, bài ca, lời thơ dân gian, đơn vị tác phẩm trong luận văn này đều là một, chỉ bài ca dao- dân ca
Khi khảo sát, chúng tôi thường chọn chủ đề tình yêu lứa đôi vì đây là chủ đề tiêu biểu của CD-DC
Về tài liệu khảo sát, chúng tôi chọn:
- Văn học dân gian Bến Tre của Nguyễn Phương Thảo- Hoàng Thị Bạch Liên, NXB Hà Nội,
1988 Đây là tài liệu tập hợp được số lượng bài hát dân gian ở đất Bến Tre tương đối nhiều so với các tài liệu khác hiện có về CD-DC Bến Tre, gồm 1006 ĐVTP
- Tài liệu sưu tầm qua quá trình điền dã của chúng tôi, gồm 353 ĐVTP
Một số tài liệu để đối chiếu so sánh:
- Dân ca quan họ Bắc Ninh của Văn Phú- Lưu Hữu Phước- Nguyễn Viêm, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1962 Chọn tài liệu này là đại diện cho CD-DC miền Bắc vì trong số tư liệu về CD-DC ở miền Bắc, chúng tôi chỉ tìm được Ca dao ngạn ngữ Hà Nội [ 20] và Tục ngữ ca dao dân ca Vĩnh Phú [119] , Dân ca quan họ Bắc Ninh [113], song tài liệu [20] và tài liệu [119] có số lượng bài CD-DC tương đối ít hơn tài liệu [113], chưa đủ số lượng để khảo sát
- Ca dao- dân ca đất Quảng của Hoàng Hương Việt, Bùi Văn Tiếng
(chủ biên), NXB Đà Nẳng, 2006 Chọn tài liệu này là đại diện cho CD-DC miền Trung vì đây
là tài liệu chúng tôi có được Hơn nữa, đất Quảng (cụ thể hơn là Quảng Nam- Đà Nẳng) về phương diện địa lí là thuộc trọn vẹn miền Trung từ trước đến nay Số lượng CD-DC đất Quảng rất phong phú, khi có đối chiếu so sánh chúng tôi chọn ngẫu nhiên từ vần A đến hết vần C, gồm 549 bài về chủ đề tình yêu lứa đôi
- Ca dao- dân ca Nam bộ của Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát…, NXB TP.HCM, 1984 Khi đối chiếu, chúng tôi chọn ngẫu nhiên từ vần A đến hết vần B, gồm 330 bài CD-DC thuộc chủ
đề tình yêu lứa đôi
- Ca dao Đồng Tháp Mười của Đỗ Văn Tân chủ biên, Sở VH-TT Đồng Tháp xuất bản, 1984 Khi đối chiếu, chúng tôi chọn chủ đề tình yêu lứa đôi gồm 635 bài CD-DC
- Văn học dân gian Bạc Liêu, Chu Xuân Diên chủ biên, NXB Văn nghệ TP HCM, 2005 Khi đối chiếu, chúng tôi chọn chủ đề tình yêu lứa đôi gồm 354 bài CD-DC
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
" Phương pháp sưu tầm:
Văn học dân gian ra đời sớm và được lưu lại trong trí nhớ của nhân dân bằng con đường truyền miệng Trước đây, việc sưu tầm CD-DC đã được tiến hành nhưng chưa thể nào tập hợp hết những bài CD-DC tồn tại trong trí nhớ của nhân dân Để có thêm tư liệu trong quá trình khảo sát, cũng như góp phần nhỏ trong công tác sưu tầm tập hợp, chúng tôi sử dụng phương pháp sưu tầm Thời điểm mà chúng tôi sưu tầm là vào các tháng đầu năm 2008 Chúng tôi tiến hành sưu tầm theo 2 cách Cách 1 là hỏi thăm những người bạn cùng làm việc ở cơ quan, công ty ở thị xã Bến Tre (nơi chúng tôi công tác) về những người lớn tuổi mà thuộc nhiều CD-DC ở quê họ (phần lớn
có quê ở các huyện) Những người bạn này sẽ giới thiệu cho chúng tôi một vài tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở quê mà họ biết để chúng tôi liên hệ Sau khi gặp trực tiếp trao đổi, gợi ý, chúng tôi ghi chép lại những bài CD-DC mà họ còn nhớ Đồng thời, chúng tôi cũng đặt vấn đề nhờ các cụ tìm gặp lại những người bạn xưa (vốn là những người hò hát giỏi, thuộc nhiều CD-DC) để nói về yêu cầu của chúng tôi Hẹn thời gian khoảng vài tuần, chúng tôi trở lại và cùng các cụ đến nhà những người bạn cũ mà các cụ đã giới thiệu Chúng tôi lại tiếp tục ghi chép, trao đổi Trao đổi trực tiếp đã giúp chúng tôi giải tỏa những điều thắc mắc về câu chữ (nhưng cũng không hoàn toàn tất cả) hay có thêm kiến thức về sinh hoạt ca hát của người dân lao động ngày trước Cũng có điều đáng tiếc, chúng tôi đã tìm gặp được các cụ vốn trước đây là một trong những vạn cấy nổi tiếng hò hát nhưng nay do tuổi cao, sức yếu họ không còn nhớ nữa Cách 2 là thông qua dự án "Sưu tầm, truyền dạy dân ca tại Mỏ Cày, Bến Tre" của anh Phạm Văn Luân - giảng viên trường Cao Đẳng Bến Tre, chúng tôi tiến hành sưu tầm CD-DC Dự án này có tổ chức 3 lớp truyền dạy dân ca tại 3 xã, mỗi lớp khoảng 15 thành viên là những người dân sinh sống tại địa phương Kết hợp với ban tổ chức lớp, chúng tôi nhờ những người học này sưu tầm ghi ra giấy về những bài CD-DC lưu truyền tại Bến Tre Sau đó họ gởi lại cho ban tổ chức lớp Cách sưu tầm này tập hợp được số lượng bài CD-
DC khá lớn nhưng chúng lại trùng nhau nhiều Vì chúng tôi không gặp trực tiếp người cung cấp nên việc ghi nhận thông tin người cung cấp cũng không đầy đủ như thiếu họ, tuổi tác, hình ảnh… Chúng tôi đã sưu tầm chủ yếu ở các huyện Giồng Trôm, Bình Đại, Mỏ Cày Đây là những nơi
mà trước 1975 sinh hoạt hò hát phát triển mạnh như hò cấy, hò chèo ghe…do địa hình là những cánh đồng rộng và sông rạch chằng chịt Tổng số chúng tôi sưu tầm được 353 ĐVTP
Phương pháp hệ thống là cách đặt những bài CD-DC Bến Tre trong cùng một hệ thống như
hệ thống CD-DC Nam bộ hoặc CD-DC cả nước để thấy được nét chung cũng như nét riêng của
nó
" Phương pháp phân tích, so sánh:
Trang 8Tìm ra những điểm giống và điểm khác của CD-DC Bến Tre với CD-DC của vùng miền khác, người viết phải phân tích, đối chiếu những bài CD-DC Bến Tre với những bài CD-DC vùng khác
" Phương pháp nghiên cứu liên ngành:
Phương pháp này dùng để lý giải cho những đặc điểm CD-DC Bến Tre Kiến thức của nhiều ngành khác nhau như: lịch sử, địa lí,dân tộc học, văn hóa học… sẽ rất hữu ích trong việc nghiên cứu
4 Đóng góp của luận văn
- Phác họa diện mạo chung của CD-DC Bến Tre
- Làm rõ đặc điểm nội dung, nghệ thuật của CD-DC Bến Tre và qua đó hiểu thêm đời sống văn hoá tinh thần của con người Bến Tre
- Góp phần bảo tồn bộ phận VHDG ở Bến Tre nói riêng và VHDG cả nước nói chung
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương I: Vài nét về vùng đất Bến Tre Đây là chương nền của luận văn giới thiệu về tên gọi,
vị trí địa lý, những nét nổi bật về lịch sử, văn hóa, văn học… của vùng đất
Chương II: Đặc điểm nội dung CD-DC Bến Tre Chương này đi vào khảo sát những nội dung
mà CD-DC Bến Tre phản ánh như cảnh quan thiên nhiên, con người, những sự kiện trong đời sống thường ngày, trong lịch sử
Chương III: Đặc điểm nghệ thuật CD-DC Bến Tre Chương này khảo sát các khía cạnh như thể thơ, ngôn từ, kết cấu mà CD-DC Bến Tre thể hiện
Ngoài ra, luận văn còn có thêm phần Phụ lục, phần này giới thiệu 353 đơn vị tác phẩm mà chúng tôi sưu tầm được, những bài CD-DC có hình thức gồm 3 dòng, có đề cập đến hình ảnh cây bần, cây dừa hay sinh hoạt hò hát của người dân nơi đây Cuối cùng của phần Phụ lục là một số hình ảnh minh họa về quê hương Bến Tre
Trang 9Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẾN TRE VÀ CA DAO -
cá Giả thuyết khác thì cho rằng: Sóc Tre là vùng có nhiều tre Vùng này có nhiều giồng đất cao
mà trên đó tre mọc um tùm, xanh tốt Và vì Sóc Tre có nhiều tre nên ghe thuyền gần xa ghé bến này chở tre mà thành ra danh từ Bến Tre
Cũng có cách giải thích khác: Năm 1727, vùng đất Bến Tre bắt đầu có tên trên bản đồ hành chính nước Nam, được sáp nhập vào dinh Long Hồ, phủ Gia Định Bấy giờ, ở hữu ngạn rạch Bến Tre, còn gọi là Bến Lở, quan địa phương có cất cái trạm để kiểm soát và thâu thuế các ghe thuyền buôn bán qua lại trên sông Vì thế, danh từ Bến Tre là cách nói rút ngắn của những chữ "Bến thuế của Sóc Tre"
Giới hạn vùng đất Bến Tre ngày nay khác với giới hạn vùng đất Bến Tre trước đây Bến Tre trước đây chỉ gồm 2 cù lao: Bảo và Minh Cù lao An Hóa thuộc tỉnh Tiền Giang Năm 1948, cù lao An Hóa mới nhập vào Bến Tre Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), cù lao An Hóa lại tách về Tiền Giang Năm 1956 cho đến nay, Bến Tre gồm cả 3 cù lao: Bảo, Minh và An Hóa
Danh từ hành chính Bến Tre cũng có nhiều thay đổi Trước năm 1757, vùng đất Bến Tre và Trà Vinh còn gọi là đất Trà Vang thuộc Thủy Chân Lạp Khi được sáp nhập vào bản đồ Việt Nam, tên gọi vùng đất này cũng qua nhiều lần thay đổi Cụ thể là tổng Tân An (năm 1779) thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định; huyện Tân An (năm 1808) thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, Gia Định thành; phủ Hoằng An (năm 1823) thuộc trấn Vĩnh Thanh; phủ Hoằng An (năm 1823) thuộc tỉnh Vĩnh Long; phủ Hoằng An và phủ Hoằng Đạo (năm 1837) thuộc tỉnh Vĩnh Long; phủ Hoằng Trị và phủ Hoằng An (năm 1844) thuộc tỉnh Vĩnh Long; phủ Hoằng Trị (năm 1851) thuộc tỉnh Vĩnh Long; sở tham biện Bến Tre và sở tham biện Mỏ Cày (năm 1867) trong số
24 sở tham biện ở Nam kỳ; sở tham biện Mỏ Cày (năm 1871) trong số 18 sở tham biện ở Nam kỳ; hạt Bến Tre (năm 1876) thuộc hạt III (tức Vĩnh Long); quận Bến Tre (năm 1886) thuộc tham biện Vĩnh Long; tỉnh Bến Tre (năm 1900) thuộc Nam kỳ; tỉnh Đồ Chiểu (tháng 9 năm 1945) thuộc Nam bộ; tỉnh Bến Tre (năm 1948) thuộc Nam bộ; tỉnh Kiến Hòa (năm 1956) thuộc Nam phần (chính quyền Sài Gòn) đồng thời phía cách mạng gọi là tỉnh Bến Tre thuộc Nam bộ Năm 1975 cho đến nay được gọi là tỉnh Bến Tre trong số hơn 60 tỉnh thành cả nước
Về hành chính, Bến Tre có 8 đơn vị cấp huyện gồm: thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) và các huyện Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Trang 10Là một trong 13 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, Bến Tre được hợp thành bởi 3 cù lao: Bảo, Minh và An Hóa do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long là sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên bồi tụ qua nhiều thế kỷ
Nhìn trên bản đồ, Bến Tre có hình rẽ quạt Đầu nhọn nằm hướng Tây Bắc, phần đuôi xòe rộng ở hướng Đông Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp Biển Đông Diện tích tự nhiên của tỉnh khoảng 2315 km2
Bến Tre có địa hình t??ng ?ơ?i bằng phẳng, có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn Ngược về quá khứ trên 2000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần thì toàn bộ đồng bằng tiến nhanh
ra khơi Trên những chặng đường rút lui của biển, những dãy giồng cát bắt đầu hình thành Bến Tre có nhiều giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông Một số giồng như: Giồng Chuối, Giồng Chàm, Giồng Quéo, Giồng Dứa, Giồng Bà Tang… (Ba Tri); Giồng Võ, Giồng Văn, Giồng Keo… (Mỏ Cày); Giồng Chùa, Giồng Miễu, Giồng Bồn Bồn, Guồng Chanh, Giồng Ớt… (Thạnh Phú); Giồng Giếng, Giồng Cây Me, Giồng Tre, Giồng Kiến… (Bình Đại) Với chiều cao từ 3 đến 5 mét, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông ngày nay Giữa các dãy giồng cát là những trũng giữa giồng hay phẳng giữa giồng và chiều rộng chênh lệch khá nhiều
Đất Bến Tre chủ yếu là dạng đất phù sa, chia thành ba tiểu loại phù sa theo thứ tự lắng tụ Dạng đất cao và ổn định, không chịu ảnh hưởng của nước mặn, thích hợp với cây ăn trái (như huyện Chợ Lách, phía tây huyện Châu Thành) Dạng đất chịu ảnh hưởng của nước mặn, theo hiện tượng thẩm thấu, thích hợp cho cây dừa (huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại, phía đông Châu Thành, thị xã Bến Tre) Dạng đất mới hơn hai loại trên, còn nhiều màu mỡ thích hợp cho trồng lúa (huyện Ba Tri, Thạnh Phú) Ngoài ra, do cấu tạo địa hình gồm nhiều con giồng chạy song song nên giữa những giồng là vùng trũng hình thành khu vực đất phèn Nhưng do công tác thủy lợi được chú trọng trong việc đào kênh, đê bao cũng như do việc lập vườn, lên liếp, đào mương nên ngày nay tầng sinh phèn ít nhiều bị rửa trôi
Bến Tre có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một chế độ nhiệt độ cao quanh năm ít biến động Có hai mùa: mùa mưa và mùa nắng Sự phân hóa các mùa khí hậu thể hiện sự tương phản của hai mùa gió Mùa mưa trùng với gió mùa Tây Nam, mùa khô trùng với gió mùa Đông Bắc Thời tiết Bến Tre nói chung rất thuận lợi cho việc sản xuất, ít có diễn biến đột ngột thất thường
Các sông lớn và hệ thống sông rạch chằng chịt tạo cho tỉnh có một nguồn nước dồi dào quanh năm phục vụ sản xuất nông nghiệp Nó cung cấp cho Bến Tre một nguồn thủy sản phong phú Nằm kề bên Biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ
đổ về mà hằng ngày sông ở đây còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào Vì thế chế
độ dòng chảy ở các con sông Bến Tre là chế độ bán nhật triều không đều Với hệ thống sông dày đặc, Bến Tre thuận lợi trong việc phát triển giao thông đường thủy nhất là khi hệ thống giao thông đường bộ chưa được mở mang
Thảm thực vật ở Bến Tre rất phong phú và đa dạng, gồm có quần thể thực vật trên các bãi lầy ven biển (với các cây mắm trắng, bần đắng, vẹt, đước, sú, cóc kèn, ô rô…); quần thể thực vật trên các giồng cát (với các loài cây như tra, mù u, cui, rau muống biển, cỏ chông…); quần thể thực vật ven sông rạch (với các loài cây như dừa nước, bần chua, mướp xác, quao nước, trâm bầu, cà na, lau, sậy, dây lùn…); quần thể thực vật vùng bưng trũng (với các loài cây như tràm, bần chua, gừa, bòng bong, mây nước, lác hến, lúa ma, sen, súng…) Thảm thực vật ngoài việc che phủ và bảo vệ
Trang 11đất, chống lở bờ, rửa trôi, điều hòa khí hậu, tạo nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dại… còn là nguồn cung cấp tài nguyên rất quý phục vụ đời sống nhân dân và phát triển kinh tế
Nguồn động vật ở Bến Tre cũng khá phong phú Nhưng so với thời trước, những loài động vật ở Bến Tre trải qua những biến đổi lớn Các loài thú lớn như cọp, voi, cá sấu hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại trong các câu chuyện kể, một số di tích và các huyền thoại Hiện nay, chúng ta chỉ gặp những loài thú nhỏ như chuột, dơi, rái cá Ở vùng đất giồng có các loại như chồn, cáo, các loại bò sát không chân như: trăn, rắn, hay có chân như: kỳ đà, kỳ nhông, rắn mối, tắc kè, tắc ké Loài động vật sống trên không như chim thì khá phong phú về chủng loại Bến Tre có sân chim Vàm Hồ, Cồn Đất, Cồn Nhàn (Ba Tri) - nơi các loài chim gần như có mặt đầy đủ nhưng không loài chim nào có số lượng lớn Trong các sinh vật trên cạn, nhóm đa dạng, phong phú là côn trùng như: sâu, kiến, ong (đặc biệt là ong vò vẽ từng là vũ khí lợi hại của nhân dân Bến Tre trong cuộc kháng chiến chống Mỹ) Nhóm động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú do sự chi phối của sông và biển Đáng chú ý nhất là các loài cá Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm như: nhóm cá nước lợ (cá kèo, cá bống…), nhóm cá biển, nhóm cá nước ngọt (cá mè, cá
rô, cá trê…), nhóm cá sống trên đồng ruộng (cá lóc, cá sặc…), các loại tôm (tôm thẻ, tôm sú, ôm càng xanh…) Ngoài ra còn có nghêu, sò Đây là nguồn lợi lớn cho tỉnh nhà và giúp Bến Tre có điều kiện phát triển nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
Điều kiện tự nhiên như trên tạo điều kiện thuận lợi cho người dân Bến Tre làm ăn sinh sống Tuy nhiên, chúng cũng tạo ra những bất lợi, nhất là sự hạn chế trong giao thông đường bộ do sự ngăn cách sông nước Chính sự bất tiện này mà Bến Tre hạn chế trong giao lưu phát triển kinh tế dẫn đến mặt bằng kinh tế của tỉnh còn thấp Còn đối với CD-DC, những hình ảnh thiên nhiên là chất liệu, là cội nguồn cảm xúc tạo nên bài ca, góp phần diễn đạt tâm tình của người bình dân
1.1.3 Lịch sử
Cũng như các tỉnh Nam bộ khác, Bến Tre là một vùng đất mới Theo các tài liệu lịch sử cho đến thế kỷ XIII, XV, vùng đất Nam bộ trong đó có Bến Tre về cơ bản là vùng đất hoang vu, chưa được khai phá Châu Đạt Quan, một sứ thần nhà Nguyên (Trung Quốc) trong chuyến đi sứ bằng đường thủy sang kinh đô Angkor của nước Chân Lạp vào năm 1296 qua ngõ sông Cửu Long đã miêu tả lại quang cảnh của vùng này:
"… Những cửa rộng của dòng sông lớn chạy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú sum suê Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu Vào nửa đường trong cửa sông, người ta mới thấy những cánh đồng hoang không có một gốc cây nào Xa nửa tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy Hàng trăm, hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm" Dẫn theo 76, tr.24-25 Năm 1757 (năm Đinh Sửu), vua Chân Lạp là Nặc Nguyên chết Chú là Nặc Nhuận xin hiến đất Trà Vang (gồm Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắc (gồm Sóc Trăng, Bạc Liêu) để được Võ vương Nguyễn Phúc Khoát phong làm vua Bắt đầu từ đây, Bến Tre có tên trên bản đồ Việt Nam, sáp nhập vào dinh Long Hồ, phủ Gia Định
Có thể chia lịch sử vùng đất Bến Tre từ đầu thế kỷ XVII đến nay thành các thời kì sau: thời
kỳ khai phá (từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX), thời kỳ chống giặc ngoại xâm Pháp, Mỹ (từ năm 1858 đến năm 1975), thời kỳ cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ năm 1975 đến nay) Thời kỳ khai phá (từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX):
Trang 12Vùng đất Bến Tre được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII Nhưng trước
đó người Việt đã đến vùng đất này cư trú, sinh sống Nguồn gốc người Việt ở Bến Tre là từ miền Trung Họ đến Bến Tre vì nhiều lý do khác nhau: để kiếm sống (như những người nông dân nghèo khổ phải chịu nạn chiến tranh phong kiến kéo dài), để trốn tránh (như những người trốn lính, lính trốn và những tù nhân bị lưu đày), để làm giàu (như những người có tiềm lực kinh tế, có kinh nghiệm sản xuất mà Lê Quý Đôn gọi là: "dân có vật lực" - theo lời kêu gọi của chúa Nguyễn vào đây khai phá làm kinh tế) Những lưu dân này đến Bến Tre bằng đường thủy hoặc đường bộ, theo cách thức đi lẻ tẻ từng cá nhân, từng gia đình hoặc theo nhóm gia đình Khi đến vùng đất mới, họ thường chọn nơi định cư là những vùng đất cao dọc theo các con sông lớn hoặc các khu đất giồng cao
Bên cạnh lưu dân người Việt, trên đất Bến Tre thời ấy còn có lưu dân người Hoa Cuối thế kỷ XVII, một bộ phận quân nhà Minh (Trung Quốc) do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đứng đầu, bất mãn triều đình Mãn Thanh sang Việt Nam xin tị nạn Chúa Nguyễn đã cho họ vào vùng đất Đồng Nai - Gia Định Nhóm Trần Thượng Xuyên đến định cư ở Biên Hòa, nhóm Dương Ngạn Địch định cư ở Mỹ Tho Theo lịch sử xã Phước Thạnh (thuộc huyện Châu Thành) thì trong nhóm lưu dân người Hoa cư trú ở Mỹ Tho chắc chắn có một bộ phận sang cù lao An Hóa vì nơi đây chỉ cách Mỹ Tho một con sông Họ cư trú cùng với người Việt ở các ấp ven sông Ba Lai, về sau trở thành người Minh Hương, rồi trải qua nhiều đời thành dân bản địa
Với nhiều đợt chuyển cư liên tục diễn ra trong suốt thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII, Bến Tre đã có đông người đến ở Sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam năm 1757, đến năm 1759 chính quyền nhà Nguyễn có lệnh lập làng Người dân nơi này ban đầu khai phá, trồng trọt trên diện tích nhỏ, chủ yếu khai thác những nguồn lợi thiên nhiên sẵn có Cùng với sự hợp tác của những người dân có "vật lực" thì vùng đất khai hoang ngày càng mở rộng, sản xuất ngày càng phát triển Thời này Bến Tre nổi tiếng với những sản phẩm: lụa Ba Tri, cau Xẻo Sâu, bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, mắm còng Châu Bình …
Từ vùng đất hoang vu đầy thú dữ, những lưu dân nơi đây đã biến chúng thành một vùng ruộng vườn tươi tốt Thế nhưng họ không được hưởng những thành quả lao động mà họ tạo ra vì bọn điền chủ được sự hậu thuẫn của nhà Nguyễn ra sức bóc lột người dân Nhiều người dân bị bần cùng hóa, bị phá sản Mâu thuẫn giữa tập đoàn thống trị phong kiến, bọn điền chủ và nông dân nghèo trở thành mâu thuẫn cơ bản Năm 1776, phong trào Tây Sơn phát triển mạnh ở Trung bộ và lan rộng đến Nam bộ Nhân dân Bến Tre cũng hưởng ứng mạnh mẽ phong trào này vì đã từ lâu họ mất niềm tin vào chính quyền phong kiến nhà Nguyễn Nhân dân nơi đây còn tham gia chống quân Xiêm, làm thất bại âm mưu xâm lược nước ta mà chúng núp dưới chiêu bài giúp Nguyễn Ánh Có thể nói, trong buổi đầu khai phá và xây dựng, người dân nơi đây chịu nhiều gian khổ vì vừa chống
áp bức bóc lột, chống ngoại xâm vừa khai phá đất đai sản xuất
Thời kỳ chống ngoại xâm Pháp và Mỹ (từ năm 1858 đến năm 1975):
Tinh thần chống ngoại xâm của người dân xứ dừa rất mạnh mẽ Khi Pháp xâm chiếm đến Bến Tre, nhiều cuộc kháng cự của nhân dân địa phương diễn ra khắp nơi Tiêu biểu là khởi nghĩa hương giáo Phan Công Tòng, khởi nghĩa Phan Tôn, Phan Liêm (con của Phan Thanh Giản), khởi nghĩa Tán Kế… Bên cạnh đó còn có những trận đánh với quy mô nhỏ diễn ra khắp nơi trong tỉnh
Do lực lượng nghĩa quân ban đầu hình thành còn quá yếu, không được huấn luyện và tổ chức, trang bị vũ khí thô sơ nên họ đã thất bại Dù thế ý chí, tinh thần yêu nước của người dân nơi đây như ngọn đuốc vẫn âm ỉ cháy không bao giờ tắt, chỉ chờ cơ hội là bùng lên Trải qua nhiều khó
Trang 13khăn, sự khổ luyện cộng với sự dũng cảm, mưu trí, người dân Bến Tre đã dành được chính quyền vào tháng 8 năm 1945 trong không khí thắng lợi chung của cả nước
Sau thắng lợi, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập nhưng phải đối đầu với nạn thù trong giặc ngoài Pháp lại nổ súng xâm lược nước ta lần nữa Trong cuộc kháng chiến chống Pháp lần 2, nhân dân Bến Tre đã thể hiện tinh thần xung kích với trận đánh tiêu diệt căn cứ Vàm Nước Trong ở Định Thủy, huyện Mỏ Cày (năm 1947), với chiến thắng Thạnh Phú (năm 1953) … Chiến thắng ở Bến Tre và các tỉnh Nam bộ khác có tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố Sài Gòn buộc Pháp phải ngồi vào bàn kí hiệp định Giơ-ne-vơ vào năm
1954
Hết chống Pháp, nhân dân Bến Tre tiếp tục chống Mỹ Bến Tre đã mở đầu cho cao trào đấu tranh vũ trang trong toàn miền Nam chống chế độ Ngô Đình Diệm với phong trào Đồng Khởi ngày 17 tháng 01 năm 1960 mà người lãnh đạo là nữ tướng Nguyễn Thị Định Với lòng căm thù giặc sâu sắc, chấp nhận hi sinh, gian khổ, nhân dân xứ dừa tiếp tục cùng với nhân dân cả nước đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bằng cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975
Thời kỳ cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ năm 1975 đến nay):
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Bến Tre bắt tay vào công cuộc xây dựng quê hương, hàn gắn vết thương chiến tranh và không ngừng phát triển Đời sống nhân dân cơ bản đã ổn định, mặt bằng văn hóa được nâng cao, kinh tế phát triển theo chiều hướng đi lên Đạt được những thành tựu nhất định, Bến Tre không ngừng chủ động hội nhập với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh thành Việt Nam và quốc tế Điều
đó thể hiện qua công trình cầu Rạch Miễu bắc qua sông Tiền Đây là công trình thế kỷ được nhiều người dân mơ ước, nó sẽ xóa bỏ vị thế cô lập của vùng đất cù lao với các tỉnh khác Hay công trình cầu Hàm Luông nối liền cù lao Bảo và cù lao Minh, xóa bỏ sự chia cắt giữa các vùng trong tỉnh
Có thể nói, mang trong mình tinh thần "đồng khởi" của năm xưa, Đảng bộ, nhân dân Bến Tre quyết tâm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa quê hương mình đến ấm no, hạnh phúc Tìm trong CD-DC, dấu ấn những về sự kiện lịch sử phản ánh đậm nét, nhất là lịch sử chống ngoại xâm Nó là tiếng nói góp vào truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam trên một vùng đất mới
1.1.4 Con người
Do chịu tác động của điều kiện tự nhiên và môi trường sống nên con người nơi đây rất chân chất, bộc trực, cởi mở và hào hiệp Họ là những con người tự lực, tự cường, thông minh vượt khó, chinh phục miền đất hoang vu từ buổi đầu khai thiên lập địa Trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, báo chí, vùng đất "địa linh nhân kiệt" đã sinh ra những con người mà tên tuổi của họ đã góp phần làm rạng danh nền văn hóa nước nhà Lịch sử báo chí Việt Nam đã được khởi đầu bởi những con người có trình độ uyên thâm như: học giả Phan Thanh Giản - vị tiến sĩ đầu tiên của Nam kỳ; nhà văn hóa Trương Vĩnh Ký - người làm báo đầu tiên ở Việt Nam, thông thạo 27 thứ tiếng nước ngoài; nữ sĩ Sương Nguyệt Anh - người con gái tài ba của nhà thơ, nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, chủ bút tờ "Nữ giới chung"… Mảnh đất này còn đóng góp những nghệ sĩ tài năng cho đất nước như: nghệ sĩ nhân dân Lê Long Vân (Ba Vân) - người đã toàn tâm toàn ý dâng trọn cuộc đời cho sân khấu cải lương; nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Phi Hoành; họa sĩ Lê Văn Đệ; nhà điêu khắc Diệp Minh Châu - một gương mặt lớn của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam và tên tuổi của ông đã được giới thiệu trong Bách khoa toàn thư của châu Âu … Trong kháng chiến, Bến Tre nổi tiếng với tên tuổi của thiếu tướng Dương Văn Dương- thiếu tướng đầu tiên của Nam bộ; trung
Trang 14tướng Đồng Văn Cống; thiếu tướng Nguyễn Thị Định - nữ tướng chiến trường duy nhất trong kháng chiến chống Mỹ; đại tướng Lê Văn Dũng- đại tướng đầu tiên của Nam bộ trong thời kỳ bảo
vệ tổ quốc; liệt sĩ Trần Văn Ơn, liệt sĩ Nguyễn Ngọc Nhật… Không chỉ là những con người có tên
cụ thể như kể trên, còn biết bao những con người không tên khác đã cống hiến vào sự nghiệp đánh đuổi thực dân đế quốc, góp sức giành độc lập tự do cho Tổ quốc Cụ thể Bến Tre có 2141 Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng (số lượng đông nhất ở Nam bộ), trên 35000 liệt sĩ, gần 19000 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh Những tài năng kể trên là cơ sở để CD-DC Bến Tre khắc họa phẩm cách nổi bật con người Bến Tre trong lao động, trong chiến đấu, trong sinh hoạt đời thường
1.1.5 Tín ngưỡng
Thờ phụng tổ tiên:
Người Việt Nam ta có phong tục thờ phụng tổ tiên, ông bà Đây là một bổn phận và đã trở thành một lẽ tự nhiên theo quan niệm "cây có cội, nước có nguồn" Thờ cúng tổ tiên vừa để tưởng nhớ những người đã sinh ra mình vừa là dịp để ông bà, anh em, con cháu trong gia đình sum họp với nhau Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên hầu như diễn ra khắp nơi từ thị trấn đến nông thôn, từ miệt vườn cho đến miệt đồng, miệt biển Thờ phụng tổ tiên hay còn gọi là đạo thờ ông bà của người Việt vốn đã tồn tại hàng chục thế kỷ Vì thế cách thờ cúng ông bà, tổ tiên vùng này không có gì khác biệt so với cả nước Thường thì mỗi gia đình có bàn thờ gia tiên, tùy theo giàu nghèo, tùy theo kiểu nhà bố trí nơi thờ tự mà sự bày biện các đồ thờ trên bàn thờ có sự khác nhau Trước ngày cúng giỗ chính, nhiều nhà còn làm lễ cúng tiên với nhưng lễ vật đơn sơ từ chiều hôm trước Ngày giỗ chính người dân có tập quán dành những món ngon nhất từ vật nuôi đến trái cây theo mùa vụ như nếp, đậu (để nấu xôi, gói bánh) cho đám giỗ người thân Ngoài ông bà, anh em, con cháu có mặt trong ngày giỗ thì bà con láng giềng, bạn bè cũng được mời dự
Thờ Thành hoàng:
Nếu như việc thờ phụng tổ tiên tượng trưng cho gia đình, là sự nối dõi tổ tông, nơi thờ cúng
là nhà thì thờ phụng Thành hoàng tượng trưng cho làng xã, là sự trường tồn của thôn ấp và nơi thờ
tự là đình Theo quan niệm dân gian, Thành hoàng là một vị thần linh cai quản toàn thể thôn xã, che chở, phù hộ dân làng được bình yên, thịnh vượng Người dân rất tôn kính và tin tưởng vào sự phù hộ của Thành hoàng Đình làng Bến Tre ra đời gắn với quá trình khai phá đất đai, mở làng lập
ấp Bến Tre có nhiều đình nổi tiếng như đình Bình Hòa (huyện Giồng Trôm), đình Phú Lễ (huyện
Ba Tri), đình Tân Thạch (huyện Châu Thành), đình An Hội (thị xã)… Đình thường gắn với lễ hội
Kỳ yên, được tổ chức đúng lệ kỳ, đa phần tổ chức 1 năm 2 lần: lễ hạ điền vào trung tuần tháng 3, tháng 4 và tháng 5 âm lịch, lễ thượng điền vào trung tuần tháng 11 và tháng 12 âm lịch Lễ Kỳ yên
là dịp người dân bày tỏ lòng biết ơn đối với thần linh đã phò trợ và tiếp tục cầu mong thần linh phò trợ để họ có sự an lành, hạnh phúc Đây cũng là dịp để mọi người gặp nhau bàn công việc làm ăn, trao đổi kinh nghiệm, bày tỏ tình cảm…
Thờ cúng cá voi (cá Ông):
Đây là tín ngưỡng của cư dân làm nghề biển Việc thờ cúng cá Ông là cách đền đáp, trả nghĩa thần hộ mạng giữ biển khơi đầy sóng gió Trên địa bàn tỉnh Bến Tre có tất cả 9 lăng thờ cá Ông dọc theo chiều dài ven biển của 3 huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú Tục thờ cúng cá Ông gắn với lễ hội nghinh Ông được tổ chức hằng năm vào khoảng các ngày giữa tháng 6 âm lịch Trong ngày này, tất cả các tàu thuyền đánh cá đều về tập trung neo đậu để tế lễ, vui chơi và ăn uống
Trang 15để giải thích cho sự vật, sự việc hay địa danh vùng đất này Ở thể loại này, yếu tố thần kỳ không đậm nét như truyện cổ vùng đồng bằng sông Hồng vì ngoài những truyện người dân khai phá mang theo trong ký ức thì truyện cổ xuất hiện ở Bến Tre khi tư duy người Việt đã ở mức cao.Thể loại truyện cười, truyện trạng (như truyện Ông Ó, truyện Ông Me, truyện Ông Bảy Lẹ) phát triển mạnh do tiến trình khai phá của người Bến Tre nằm trong giai đoạn cuối của thời kì phong kiến suy tàn với nhiều thói hư, tật xấu CD-DC cũng là một thể loại phổ biến Hình thức diễn xướng của nó như hò, lý, ru… được người dân xứ dừa ưa chuộng Và đặc biệt nơi đây, người ta còn tìm thấy thể loại hát sắc bùa, một loại dân ca nghi lễ mà các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long ít thấy bóng dáng của chúng Câu đố, vè phát triển mạnh và mang dấu ấn địa phương
Văn học viết Bến Tre gắn với các tên tuổi như Lê Văn Đức, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…(văn học Hán Nôm); Trương Vĩnh Ký (người đi đầu trong văn học chữ quốc ngữ); Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Trương Gia Mô…( văn học yêu nước chống Pháp);
Lê Anh Xuân, Chim Trắng, Đoàn Tứ, Trang Thế Hy, Thanh Vũ, Kim Ba…(văn học hiện đại) Có thể nói, văn học viết Bến Tre phát triển theo tiến trình của văn học viết Việt Nam Và khi nhắc đến văn học viết Việt Nam, người ta vẫn không quên nhắc đến một số tên tuổi nổi tiếng của văn học viết Bến Tre
Như vậy, vùng đất Bến Tre là vùng đất trẻ so với vùng Bắc bộ nước ta Điều đó thể hiện qua lịch sử, điều kiện tự nhiên Đặc biệt, nó còn là vùng đất văn hóa với những nét riêng về văn học, tín ngưỡng cũng như những con người tài năng làm nên lịch sử vùng đất
1.2 Giới thiệu chung về ca dao - dân ca Bến Tre
1.2.1 Các hình thức diễn xướng của CD-DC
CD-DC Bến Tre được sưu tầm bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XX CD-DC Bến Tre có các hình thức diễn xướng là hò, lý, hát ru, hát huê tình
Hò:
Hò là một hình thức diễn xướng của CD-DC, có vai trò quan trọng trong đời sống lao động
và tâm hồn của người dân Phát sinh từ môi trường lao động và đặc biệt khung cảnh thiên nhiên bốn bề sông nước nên hò Bến Tre cũng như hò Nam bộ nói chung đều mang dáng dấp ung dung với nhịp điệu khoan thai hơn so với một số điệu hò ở miền Trung và miền Bắc dù cùng cội nguồn, gốc gác
Tổng số lượng bài hò sưu tầm ở Bến Tre là 205 bài trong các tài liệu [110], tài liệu [87], tài liệu [37]
Đề tài mà hò Bến Tre đề cập vô cùng phong phú phản ánh đời sống tinh thần của người lao động Đó là các cung bậc nhớ, thương, hờn trách trong tình yêu lứa đôi, tình cảm gia đình và xã hội
Trang 16Về hình thức và nghệ thuật rất đa dạng như hò có hò chèo ghe, hò mái đoản, hò mái trường ,
hò cấy, hò lờ, hò đối đáp… (theo môi trường diễn xướng), hò truyện, hò thơ, hò quốc sự…(theo nội dung)
Nổi bật hơn hết ở Bến Tre là hò cấy (hò trong lúc cấy) Hò cấy là hình thức giúp vui, khiến người thợ cấy cấy chậm, đều tay, mạ mau bén rễ, đẻ nhánh nhanh… có lợi cho chủ ruộng Đồng thời, hò cũng thỏa mãn nhu cầu văn nghệ của đội ngũ thợ cấy Cứ đến vụ cấy, ngoài các vạn cấy ở ruộng thì trên bờ ruộng dập dìu những đàn ông, thanh niên Những người này vì ham vui, vì thích
hò nên bỏ cả công việc đến hò giúp vui, thể hiện khả năng ứng tác của mình và cũng có thể tìm một người bạn đời Trong những cuộc hò như vậy, đã có nhiều cặp trở thành vợ chồng, sống với nhau đến "răng long đầu bạc" Hò cấy Bến Tre có nét riêng biệt, theo chúng tôi là nét riêng về mặt
âm nhạc:
"Hò cấy Bến Tre vì vậy không thể coi là một trong những dị bản của hò cấy Sông Bé, hò cấy Tân Uyên hoàn toàn khác với hò cấy Bến Cát Ở Bến Tre, giọng hò cấy tại năm huyện: Bình Đại, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày và Thạnh Phú, có những nét riêng biệt và chẳng có quan hệ gì đến
hò cấy bên Tiền Giang hoặc bên Cửu Long." 112, tr 22-25)
Đề tài của lý rất phong phú, liên quan đến sinh vật, sự việc, lao động, thiên nhiên và sinh hoạt
xã hội Một số điệu lý quen thuộc ở Bến Tre như lý con cua, lý con cúm núm, lý con nhái, lý con mèo, lý cây ổi, lý dừa tơ, lý bánh ít, lý bánh canh, lý đương đệm, lý ba xa kéo chỉ, lý cảnh chùa, lý nàng dâu, lý ông hương, lý ăn giỗ…Không chỉ phản ánh sự vật, sự việc, con người, lý còn là tiếng nói của tình cảm Nó là tiếng nói của tình yêu lứa đôi hồn nhiên, mộc mạc; là ước mơ trong sáng, lạc quan; là sự ngợi ca lao động và cả sự bất bình trước những điều bất công trong cuộc sống
Lý có mặt khắp nơi trên đất Bến Tre vì lý là những khúc hát dân gian ngắn gọn, rất dễ thuộc,
dễ nhớ Lư Nhất Vũ đã nhận xét về mức độ đặc sắc của lý ở Bến Tre:
"Các điệu lý mà chúng ta tã từng nghe ở các nơi như lý chim chuyền, lý đươn đệm, lý lu là, lý con cua, lý con sáo, lý con quạ, lý ngựa ô, lý cảnh chùa… Khi chúng đã xâm nhập vào đất Bến Tre thì chúng đã biến hóa ít nhiều qua sức sáng tạo của nhân dân và lần hồi đã trở thành "cư dân" của đất Bến Tre Số bài lý còn lại gồm một đội ngũ đông đảo vô cùng, làn điệu của loại này thấm
vị ngọt của dừa, phả cái hơi thở của nước, của nắng, của gió, của phù sa từ các con sông Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên Chúng có thể là đặc sản của Bến Tre nếu sau này ta chưa phát hiện được thêm các điệu lý có chất lượng nghệ thuật tương tự ở các nơi khác" 110, tr.45
Trang 17Hát ru (hát đưa em):
Hát ru là hình thức diễn xướng của CD-DC trữ tình, được hình thành và phát triển trên cơ sở những sinh hoạt gia đình và xã hội mang tính chất phong tục tập quán Hát ru là cách để đưa trẻ vào giấc ngủ Người ru có thể là mẹ, bà, chị nhưng chủ yếu nhất là mẹ Mẹ rát ru để con đi vào giấc ngủ đồng thời hát ru cũng là cách người mẹ giãi bày tâm sự, ru cảnh ngộ của mình
Tùy theo từng địa phương có thể có những điệu ru khác nhau, song hát ru ở Bến Tre về giai điệu tương đối thuần nhất Một câu hát ru thường được chia thành 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết thúc Phần mở đầu thường là: "Ươm ớ ơ ơ ườm, ua ừa ua ươm, ứa ưa ưa ườm, ươm…ườm" khác với phần kết thúc: "Ươm ớ ơ ờ ườm" Phần nội dung chủ yếu là lời thơ dân gian với các thể lục bát, lục bát biến thể Khi diễn xướng lời thơ được phân ra thành hai hoặc ba đoạn với đầy đủ ý tứ Và người hát có thể thêm từ bớt chữ để câu hát nhẹ nhàng êm ái hơn Nếu hát nhiều câu, phần kết thúc của câu hát trước đồng thời cũng là sự chuẩn bị cho câu ru sau
Ngày trước, hát ru có mặt khắp nơi trên đất Bến Tre Chúng ta có thể nghe những câu hát ru của những người bà, người mẹ, người chị vào tất cả thời điểm trong ngày miễn khi nào người lớn cần trẻ ngủ Ngày nay với nhịp sống hiện đại, loại hình diễn xướng này dần dần mai một vì để trẻ ngủ thì chỉ cần ru bằng băng, bằng đĩa hát….Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng ta vẫn bắt gặp những câu hát ru từ người mẹ, người bà nhất là ở vùng nông thôn
Hát huê tình:
Hát huê tình cũng là một hình thức diễn xướng, là hát đối đáp của nam nữ thanh niên được diễn ra vào mùa cấy, mùa gặt, ngày xay lúa, đêm giã gạo….Thủ tục và lề lối của hát huê tình cũng trải qua các chặng như ướm hỏi, xe kết, từ giã nhưng thường hát huê tình khai thác ở chặng thứ hai, tức là chặng hát trao gởi duyên tình Do vậy, các bài hát huê tình thường nghiêng vào khía cạnh của tình yêu lứa đôi, vấn đề hôn nhân trong xã hội cũ Với thể loại này, Nguyễn Phương Thảo trong tài liệu [87] sưu tầm được 17 bài Ngày nay, do quá trình đô thị hóa, hình thức diễn xướng này không thấy xuất hiện ở đất Bến Tre
Như vậy, hò, lý, hát ru, hát huê tình là những hình thức diễn xướng phổ biến của CD-DC Bến Tre ngày trước Xét về nội dung thể hiện, vừa có sự dung nạp giữa các thể loại với nhau, vừa có sự khu biệt và sáng tạo trong quá trình diễn xướng Về hình thức diễn xướng, mỗi loại có một cách riêng trong một hoàn cảnh nhất định Các hình thức diễn xướng đa dạng góp phần tạo ra số lượng bài hát dân gian nhiều hơn, đề tài, nội dung cũng phong phú hơn Cụ thể ở CD-DC người đọc tìm thấy nhiều đề tài như thiên nhiên, tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình….Sự đa dạng về hình thức diễn xướng làm yếu tố nghệ thuật bài ca ít nhiều được chú ý trau chuốt
CD-DC Bến Tre có hình thức diễn xướng đa dạng Điều đó góp phần cho CD-DC Bến Tre trở nên phổ biến sâu rộng, được mọi người yêu thích, đáp ứng nhu cầu sáng tác và thưởng thức nghệ thuật của người dân mọi lúc mọi nơi Từ lời hát dân gian đó, người đọc, người nghe cảm nhận được tâm hồn, tư tưởng hay những ước mong, khát khao của người bình dân
Trang 183 Văn học dân gian Bến Tre [87]: 1006 ĐVTP
4 Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long [47]: 54 ĐVTP (căn cứ phần ghi xuất xứ)
5 Địa chí Bến Tre [76]: 192 ĐVTP
6 Các hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre [37]: 195 ĐVTP
7 Tài liệu chúng tôi sưu tầm : 362 ĐVTP
Tất nhiên, các đơn vị tác phẩm ở các tài liệu này có sự trùng nhau Theo chúng tôi ước lượng nếu bỏ đi các ĐVTP trùng nhau, CD-DC Bến Tre có khoảng 1600 ĐVTP Đây không phải là con
số lớn Chúng tôi nghĩ rằng, vốn CD-DC vẫn còn lưu giữ nhiều trong trí nhớ của người dân lao động Bến Tre, chỉ có điều chúng ta chưa có điều kiện tập hợp, sưu tầm Ngày trước, CD-DC có vai trò quan trọng trong đời sống người lao động Bởi những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỉ XIX, trên đồng ruộng Bến Tre vẫn âm vang rộn rã tiếng hò cấy lúa Trong mỗi căn nhà, những buổi trưa
hè oi bức, những chiều mưa bong bóng ngập sân, trong tiếng võng ầu ơ…những điệu lý, bài ca được cất lên Những bài hát đó luôn lắng đọng trong tâm hồn người Bến Tre từ tuổi ấu thơ cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay Ngày nay, do nhu cầu cuộc sống, các loại hình giải trí mới ra đời nhiều khiến loại hình CD-DC bị bỏ quên Tuy nhiên, đó chỉ là so sánh bề nổi, thực sự CD-DC vẫn sống trong lòng người dân lao động Bởi đôi lúc gặp hoàn cảnh trớ trêu, khó khăn, chúng ta lại nghe những lời than thân, trách phận (vốn là CD-DC) cất lên mà đơn giản chỉ là một sự giãi bày, bộc lộ
để vơi đi nỗi niềm Có một điều, chúng tôi cũng thấy rằng, thế hệ trẻ hôm nay đa số thích nghe nhạc trẻ hay nhảy hip hop nhưng họ vẫn không hề quay lưng với những gì là truyền thống Những giờ giảng dạy CD-DC trên lớp luôn được học sinh đón nhận rất hào hứng, nhiệt tình Phải chăng, chúng ta cần có hình thức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi loại hình VHDG này Đặc biệt hơn, cần góp nhặt, tập hợp vốn CD-DC lớn từ người dân lao động
CD-DC Bến Tre nằm trong hệ thống CD-DC cả nước, chịu sự chi phối về cách xây dựng hình ảnh, quy tắc thể thơ Mặt khác, CD-DC Bến Tre cũng có những nét riêng được quy định bởi điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa, con người….ở vùng đất mới này Là một bộ phận máu thịt của CD-
DC cả nước, CD-DC Bến Tre góp phần làm phong phú kho tàng CD-DC Việt Nam
Trang 19
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CA DAO - DÂN CA
2.1 CD-DC phản ánh sinh động cảnh quan thiên nhiên
2.1.1 Địa hình
CD-DC là tấm gương phản ánh chân thật, sinh động nhất về vùng đất và con người nơi đây Đặc điểm địa hình đặc biệt của Bến Tre được CD-DC Bến Tre nhắc đến trong hai lần:
- Quê em ba dãy cù lao
Có dừa ăn trái, có cau ăn trầu
- Bến Tre ba đảo dừa xanh
Quê hương Đồng Khởi mát lành phù sa
Là vùng đất được tạo nên từ ba cù lao nên nói một cách khác, Bến Tre cũng giống như ba hòn đảo giữa bốn bề sông nước Chính vì thế, "sông" được CD-DC Bến Tre nhắc khá nhiều (37/577 bài, tỉ lệ 6%) Tuy nhiên, khi so sánh với CD-DC đất Quảng và Dân ca Quan họ Bắc Ninh thì CD-
DC Bến Tre nhắc về "sông" ít hơn Cụ thể Dân ca Quan họ Bắc Ninh có 44/281 bài, tỉ lệ 15,6%, CD-DC đất Quảng là 45/546 bài, tỉ lệ 8,2% Có lẽ vì miền Bắc và Trung xuất hiện trước trên bản
đồ Việt Nam, con sông đã gắn với tâm thức của người dân nơi đây từ buổi đầu tiên bởi nó là nguồn sống cho con người Đặc biệt là trên mảnh đất miền Bắc, quá trình lịch sử diễn ra dài hơn nên dấu ấn về "sông" cũng đậm hơn
"Sông" ở CD-DC Bến Tre hiện lên với các dạng như "con sông", "vùng sông", "khúc sông",
"bãi sông"… và gắn với các tính chất: "sông dài", "sông sâu", "sông rộng", "sông đầy", "sông bên
lở bên bồi"… Hơn ai hết, người dân Bến Tre phải thường xuyên tiếp xúc với sông nên họ có sự hiểu biết sâu sắc và tường tận "Sông" được nhắc tới là những con sông cụ thể ở vùng đất này như sông Tiền (2 lần), sông Cửa Đại (1 lần), sông Ba Lai (3 lần), sông Hàm Luông (3 lần), sông Bến Tre (6 lần) Ở Bến Tre, sông thường là ranh giới giữa các vùng và là ranh giới giữa tỉnh này với tỉnh khác Mỗi con sông được nhắc trong CD-DC với đặc điểm riêng Sông Tiền có lượng nước dồi dào, có sóng mạnh:
- Bước xuống "bắc" Mỹ Tho thấy sóng xô nước đẩy
Bước lên bờ Rạch Miễu thấy nước chảy cây xanh…
Sông Tiền là ranh giới giữa Tiền Giang và Bến Tre Sự qua lại giữa hai tỉnh ngày trước được
hỗ trợ bằng "bắc" (còn gọi phà)
Trang 20Còn sông Cửa Đại là dòng chảy hai chiều: "Sông Cửa Đại hai chiều nước chảy…" Sỡ dĩ có dòng chảy như thế vì sông Bến Tre theo chế độ bán nhật triều
Sông Ba Lai với đặc điểm sóng ngược, nhiều nước:
"Sông Ba Lai sóng ngược
Chẳng bao nhiêu nước cho vừa
Sông Ba Lai sóng đánh tối ngày…"
Sông này là ranh giới giữa cù lao Bảo và cù lao An Hóa Thời trước, con sông này từng gắn với hiện tượng sóng thần dữ dội và được người dân thêu dệt thành huyền thoại
Đặc tính sâu rộng và bất biến là đặc điểm sông Hàm Luông: "….Sông Hàm Luông lấp cạn mới quên lời thề" Đây là ranh giới giữa cù lao Bảo và cù lao Minh, con sông này trong chiến tranh từng là mồ chôn kẻ thù xâm lược
Sông Bến Tre gắn với đặc sản là cá ngát: "Sông Bến Tre nhiều hang cá ngát…" Con sông này nằm giữa thị xã, nối sông Hàm Luông và sông Ba Lai
Nhắc đến sông, ở CD-DC Bến Tre cũng không quên nói về biển Biển được miêu tả thật cụ thể: "biển sâu", "biển rộng", "biển cạn"… Cũng có khi nhắc về biển là người dân lao động nghĩ ngay đến "biển bạc", "biển cá"… Bởi biển là nguồn lợi tự nhiên khổng lồ cho con người Ấn tượng chung của người lao động Bến Tre cũng như người lao động ở các vùng miền khác về biển vẫn là "Biển Đông" Bởi vị trí địa lý nước Việt Nam giáp biển Đông Trong tâm thức người dân Việt Nam, "Biển Đông" thật rộng lớn, mênh mông, nơi con người luôn khao khát khám phá, chinh phục Vì vậy, khi muốn diễn tả không gian rộng lớn, người lao động thường nghĩ đến Biển Đông:
- Cắn lưỡi nhào xuống Biển Đông
Thấy trời, thấy nước nhưng không thấy mình
Gắn với sông, biển là hình ảnh của những con sóng CD-DC các vùng miêu tả những con sóng khác nhau DC quan họ Bắc Ninh nhắc tới "sóng" với chỉ với nghĩa chung như "sóng gió",
"sóng cả" (3/281 bài, tỉ lệ 1,06%) CD-DC đất Quảng miêu tả cụ thể hơn như "sóng bão", "sóng vỗ", "sóng lớn", "sóng ngả nghiêng"… (6/546 bài, tỉ lệ 1,09%) Đó là "sóng" của biển dữ dội và đe dọa tính mạng con người CD-DC Bến Tre miêu tả những con sóng phóng khoáng, mạnh mẽ với
số lượng nhiều hơn hai vùng đã kể (18/577 bài, tỉ lệ 3,11%) như "sóng bủa ba đào", "sóng bủa lao xao", "sóng dậy cát đùa", "sóng bủa ào ào", "sóng dậy cát nhào", "sóng dồn cuồn cuộn", "sóng đánh tối ngày"…
- … Ai chớ nghe ai sóng bủa ba đào
Em đây giữ niềm tiết hạnh chớ lãng xao em buồn
- Ở dưới sông sóng dậy cát đùa
Em gá dơn không đặng em vô chùa em tu
Sóng nước phóng khoáng, mạnh mẽ như thế đôi khi cũng là sự nguy hiển cho con người Nhưng qua đó, chúng ta thấy được sự sôi nổi nhưng không kém phần yên bình của vùng đất mới Bến Tre
Trang 21Còn với hình ảnh "núi" thì tần số xuất hiện ở CD-DC Bến Tre rất thấp (2/577 bài, tỉ lệ 0,34%) Do địa hình các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long phần lớn là đồng bằng bằng phẳng,
ít đồi núi Có lẽ, vì thế mà hình ảnh "núi" hiếm xuất hiện trong CD-DC Bến Tre
Nhưng bù lại, CD-DC Bến Tre đã nhắc đến những yếu tố đặc trưng khác của địa hình đồng bằng sông Cửu Long như: rạch (4 lần), kinh (1 lần), mương ( 3 lần), bưng ( 3 lần), bàu ( 1 lần), rẫy ( 2 lần), giồng (7 lần)
- Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng…
- Bậu chê nước sông bậu uống nước bàu…
- Đèn treo trong quán, tỏ rạng bờ kinh…
Trong số những yếu tố đặc trưng của địa hình Bến Tre, có lẽ "giồng" được nhắc đến nhiều nhất Không chỉ là những từ "giồng" chung chung như đất giồng mà là tên những con giồng cụ thể như: Giồng Trôm, Giồng Keo, Giồng Giá, Giồng Giếng, Giồng Miễu, Giồng Chanh…
- Em về Giồng Giếng em coi…
- Ai về Giồng Miễu qua sông
- Tiếng đồn con gái Giồng Chanh
Giồng là dãy đất cao ven các cửa con sông, có nhiều phù sa lắng đọng từ trước Thuở ban đầu khai phá, người dân nơi đây chọn giồng để cư trú vì giồng có nước ngọt, cao ráo, tránh được muỗi mòng, rắn rết, có đất cát thích hợp trồng hoa màu ngắn ngày Sau đó dần dần họ mới tiến xuống chinh phục những vùng còn đang ngập nước, còn bãi dọc theo giồng
Khi nhắc đến "giồng" là cách chỉ vùng chuyên canh hoa màu khác với vùng ruộng:
- Mẹ mong gả thiếp về giồng
Ăn bông bí luộc, dưa hồng nấu canh
- Thương con mẹ cũng chiều lòng
Sợ gả về giồng gánh nước chai vai
Như vậy, CD-DC Bến Tre đã phản ánh thật cụ thể về địa hình vùng đất Bến Tre Đây là vùng đất cù lao, có nhiều sông, rạch, giáp biển, đặc biệt là những con giồng mang nét đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long
2.1.2 Cây cối
CD-DC Bến Tre có cả một thế giới loài cây quen thuộc, gần gũi với cuộc sống lao động người dân Nam bộ như dừa, chuối, chanh, cam sành, khổ qua, mù u, bần… Thống kê các bài CD-
DC cùng chủ đề tình yêu lứa đôi ở các vùng miền, chúng tôi có số liệu sau:
quan họ Bắc Ninh (281 bài)
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
Trang 22Có 25 bài có liên quan đến hình ảnh cây dừa Ở Bến Tre, dừa chiếm vị trí hàng đầu trong các loại cây trồng, phát triển liên tục mạnh mẽ và dẫn đầu về diện tích dừa trong cả nước (năm 2007, tổng diện tích trồng dừa là 43.083 ha) Dừa gắn chặt với đời sống vật chất như làm thức ăn, làm nhà ở, hàng thủ công mỹ nghệ, làm hàng công nghiệp và đời sống tinh thần của người dân Bến Tre Trong những năm chiến đấu chống ngoại xâm, thân dừa được sử dụng trong việc xây hầm tránh đạn bom, ngọn dừa lão (cao) làm trạm gác giặc, làm cột treo cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Ở CD-DC Bến Tre, "dừa' được xem là biểu tượng của quê hương:
- Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười
- Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang
"Dừa" được nhắc đến như là sự giới thiệu về đặc sản của vùng đất:
- Quê anh ba dải cù lao
Có dừa ăn trái có cau ăn trầu
- Ai về xứ bến quê tôi
Núi đồi không có nhiều xôi lắm dừa
"Dừa" còn là nơi hò hẹn, là khung nền để những người yêu nhau bộc lộ tình cảm thương nhớ của mình:
- Giả ơn ai có cây dừa
Cho tôi nghỉ mát đợi chờ người thương
- D??a xanh trn b?n hai ha?ng
D??a bao nhiu tra?i th??ng cha?ng b?y nhiu
"Dầu dừa" được nhắc đến như một phương pháp cổ truyền dùng để làm đẹp tóc Ngày trước, người ta dùng dầu dừa thoa lên tóc cho tóc bóng mượt và giữ nếp:
- Mài dừa đạp bã cho nhanh
Nấu dầu mà chải tóc anh tóc nàng
- Mài dừa dưới ánh trăng vàng
Ép dầu mà chải tóc nàng tóc anh
Trang 23Và như vậy, "dừa" không chỉ là niềm tự hào của người dân mà nó luôn chiếm vị trí quan trọng trong tâm thức các thế hệ người Bến Tre
Bên cạnh cây dừa, CD-DC nhắc đến cây bần (còn gọi là thủy liễu) Tên gọi này gắn với giai thoại Nguyễn Ánh trong những năm lẫn trốn Tây Sơn đã đến Bến Tre được những người dân ở đây cho ăn bữa cơm đạm bạc là "mắm sống" với "vài trái bần mới vừa chín cây" Cảm thấy món
ăn rất ngon miệng nhưng thấy tên của loài cây này quá nôm na nên Nguyễn Ánh đặt tên lại :
"- Cây này xanh xanh giống như cây liễu, trong thi phú đời Đường, đời Tống Cây liễu bên Trung Hoa mọc trên đất cao ráo Cây liễu xứ ta mọc trên bãi bùn, dầm chân dưới nước mặn cũng không héo lá Ta gọi cây bần là thủy liễu, loại liễu mọc dưới nước!"[52, tr.55]
Bần có lá màu xanh, bông màu trắng, không có hương thơm và nó có tác dụng chống xói, lở đất Bần thường giòn, dễ gãy, có hai dạng Dạng thấp, um tùm, có nhánh gie ra ngoài sông (gọi bằng hình ảnh "bần gie") do môi trường nó sống ven bờ sông nhưng rễ thường bị ngập nước Dạng cao, to cũng sống ven bờ sông nhưng rễ không bị ngập nước Có nhiều loại bần như bần đắng, bần
ổi, bần chua, bần chát… So với CD-DC các tỉnh ở miền Tây thì CD-DC Bến Tre nhắc nhiều về
"cây bần":
(%)
Điều này có thể lý giải từ đặc điểm địa lý của vùng đất Bần là loài cây sống ở vùng nước lợ, ven các cửa sông Bến Tre có nhiều cửa sông lớn đổ ra biển (chiếm 4/9 cửa của sông Cửu Long), nên vùng nước lợ nhiều, là điều kiện để cây bần phát triển Cây bần gắn đời sống người dân vùng sông nước:
- Mồ cha ai đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm
- Cây bần soi bóng ghe nghèo
Qua sông gặp gió em chèo dùm anh
Trang 24Nếu như hình ảnh "dừa" xuất hiện ở CD-DC Bến Tre theo nghĩa đen thì hình ảnh "bần" ngoài nghĩa đen còn xuất hiện với nghĩa bóng "Bần" còn dùng để so sánh trực tiếp hoặc gián tiếp để thể hiện phẩm chất, tính cách con người:
- Mỹ An bần chát mà chua
Chẳng hay người ấy có chua như bần
- Cây bần ơi hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm
Hoặc dựa vào thực tế, bần sống ven sông, trái rụng trôi theo dòng nước khiến ta có thể liên tưởng thân phận bấp bênh của con người, đặc biệt là người phụ nữ:
- Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?
"Bần" còn là hình ảnh gợi hứng, đưa đẩy, bắt vần:
- Cây bần gie con đóm đậu một mình…
- Bướm vàng đậu ngọn cây bần…
- Các thứ hoa anh chỉ chuộng hoa bần…
- Bần gie đóm đậu chòm nhom…
- Bần gie đóm đậu sáng trời…
- Trèo lên chót vót ngọn bần…
CD-DC đất Quảng và DC quan họ Bắc Ninh có nhắc đến hình ảnh cây chanh với nhiều dạng như "hoa chanh", "trồng chanh", "vườn chanh", "chanh chua"… Nói đến "chanh", người đọc nghĩ đến tính chất của nó là "chua" Ở CD-DC Bến Tre cũng nhắc đến hình ảnh của "chanh" nhưng
"chanh" thường đi chung với hình ảnh "khế":
- Chợ chiều nhiều khế ế chanh…
- Giả đò mua khế bán chanh…
- Chanh chua thì khế cũng chua…
- Vỗ vai cô bán khế, rồi anh vỗ vế cô bán chanh…
Có lẽ khi nhắc đến hai hình ảnh này, dân gian đã dựa trên sự gần nhau về tính chất chua của hai loại quả Có khi hình ảnh "chanh" đi kèm với hình ảnh "cam sành":
- Đắng khổ qua, chua đà chanh giấy
Dù ngọt mấy cũng tiếng cam sành…
"Cam sành" có vỏ hơi xù xì, nhưng rất ngọt Ở Bến Tre, cam sành được trồng nhiều vì "cam sành" thích hợp đất cù lao Người lao động so sánh trực tiếp tính chất hai loại quả này để chỉ phẩm chất, tính cách con người:
- …Vợ anh ở nhà có chua như chanh cũng tiền với của
Em có ngọt như cam sành cũng kẻ bần y
Trang 25Bài ca trên có thể hiểu là lời của người trong cuộc: chàng trai đã có vợ hoặc cô gái Họ gặp nhau trong hoàn cảnh trớ trêu Cụm từ "chua như chanh" chỉ sự đanh đá, dữ …, "ngọt như cam sành" chỉ sự dịu dàng, hiền lành Vậy, ý cả bài là vợ anh có đanh đá, dữ tợn cũng là người giàu có, còn em có dịu dàng, hiền lành cũng là kẻ nghèo hèn Sự so sánh này làm nổi bật ý chủ đạo của bài
ca, đôi khi giá trị vật chất được coi trọng hơn phẩm chất, tính cách con người
Có một điều thú vị là ở CD-DC đất Quảng, chúng tôi bắt gặp bài hát sau:
- Chanh chua quệt ngọn bòng the
Những loài cây khác như chuối, khổ qua, mù u… đến những loài cây hoang dại như ô rô, cóc kèn, cỏ chỉ, bìm bìm… cũng ùa vào CD-DC Bến Tre làm những câu hát dân gian trở nên phong phú, hấp dẫn hơn và chí ít góp phần bày tỏ tâm tình của người lao động
Người nông dân thường xuyên tiếp xúc thiên nhiên, đặc biệt là thế giới cây cỏ Chúng hiện hữu trong từng bữa ăn hằng ngày cũng như trong sinh hoạt, công việc lao động của họ Vì thế mà
ở CD-DC Bến Tre luôn có mặt những loài cây thân thuộc và đặc trưng của vùng đất này, đặc biệt
là hình ảnh cây dừa Đây loài cây không chỉ đi vào thơ ca dân gian mà còn cả thơ ca hiện đại, trở thành biểu tượng cho vùng đất và con người Bến Tre Qua đó, người đọc cảm nhận tình yêu thiên nhiên và cả niềm tự hào về vùng đất với bốn mùa cây xanh
2.1.3 Loài vật
Là vùng đất mới nên dấu ấn thời kì khai phá vẫn còn lưu truyền qua CD-DC Bến Tre Ở những câu hát này, người đọc thấy cả hình ảnh của những loài vật vốn là nỗi kinh hoàng cho người
đi khai phá như cọp, sấu, đỉa…
- Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma
- Đứa nào được Tấn quên Tần
Xuống sông sấu ních, lên rừng cọp tha
Có những bài ca, người lao động lấy đặc điểm "rất dữ" của cọp (còn gọi là hùm) để so sánh tính cách con người, ở đây là "má chồng":
- Gió đưa bụi chuối tùm lum
Má dữ như hùm, ai dám làm dâu
Hoặc lấy sự việc loài sấu hay ngủ thành nhóm để diễn tả sự có nhau của con người:
Trang 26- Hai đứa mình như con sấu tắm ao sâu
Ban ngày xa cách nhưng tối đâu đâu cũng về
Cả một thế giới loài vật hoang dại như rùa, khỉ, chim chóc… xuất hiện thật đông, thật nhiều tạo cảm giác rợn ngợp cho người đi khai phá:
- Chiều chiều én liệng trên trời
Rùa bò dưới nước khỉ ngồi trên cây
- Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ con cá vùng tôi cũng ghê
Đặc biệt, với vùng sông nước như Bến Tre phải kể các loài như tôm, cá Bởi môi trường sông nước nơi đây là điều kiện lý tưởng để chúng sinh sống Hình ảnh "tôm, cá" khi vào CD-DC như sự giàu có, trù phú của quê hương:
- Ai đi đâu xin nhớ Bình Châu (thuộc huyện Bình Đại)
Vùng sông không sâu nhưng nhiều tôm cá
- Chiều chiều quạ nói với diều
Ngã ba sông Cái có nhiều cá tôm
"Cá" ,"tép"là hình ảnh gần gũi với cuộc đời lao động của người nông dân "Cá", "tép" được ví như người lao động chất phác mà cụ thể là người phụ nữ hiền lành thủy chung nhưng số phận bất hạnh:
- Thân em như cá rô thia
Ra sông mắc lưới vào đìa mắc câu
- Anh về cưới vợ cho xong
Em như con tép lộn rong khó tìm
Có khi "cá" là biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi dù chỉ là ngắn ngủi:
- Hai đứa mình như cặp cá ở đìa
Ngày ngao du giỡn bóng, tối lại lìa, hỡi ôi!
CD-DC đất Quảng nhắc về "cá" với số lượng nhiều (46/546 bài, tỉ lệ 8,42%) Trong 46/546
về hình ảnh "cá" có 18 lần nhắc đến tên loài cá cụ thể với 5 loài cá nước ngọt: bống, lóc, trê, lia thia, bã trầu; 7 loài cá nước mặn: thu, chuồn, chim, hồng, giếc, nục, rồng Miền Trung giáp biển nên các loài cá biển xuất hiện nhiều trong CD-DC cũng là điều dễ hiểu Riêng ở CD-DC Bến Tre,
số bài nhắc về "cá" với số lượng ít hơn (34/577 bài, tỉ lệ 5,89%) Nhưng trong đó có đến 22 lần nhắc đến tên loài cá cụ thể với 11 loài cá nước ngọt (lia thia, bống, rô, lóc, kìm, he, trê) và cá nước
lợ (thác lác, ngát, đối, kèo, chạch), chỉ có 4 loài cá nước mặn (hồng, nược, he, buôi)
Như vậy, ấn tượng của người Bến Tre về "cá" vẫn là những loài gắn với môi trường nước ngọt và nước lợ, nơi mà con người dễ tiếp xúc trong cuộc sống như kinh, rạch, mương, sông, cửa sông hơn là biển cả mênh mông (dù Bến Tre vẫn có nghề khai thác cá nước mặn) Sự phong phú trong các chủng loại loài vật sông, biển trong CD-DC góp phần thể hiện sự trù phú vùng đất xứ dừa cũng như sự đa dạng về nội dung phản ánh của CD-DC Bến Tre
Trang 272.1.4 Đặc sản
Mỗi vùng quê đều có đặc sản riêng nổi bật Hay có thể nói sản vật được xem là hương vị riêng biệt của mỗi địa phương Sản vật địa phương bao giờ cũng gắn với những vùng, những huyện cụ thể không thể lầm lẫn vào đâu được
CD-DC Bến Tre nhắc đến nhiều đặc sản của quê hương Đáng chú ý nhất là các sản phẩm cây trái CD-DC Bến Tre đã phản ánh khá nhiều chủng loại như cây nông nghiệp (dừa, lúa, cau, thuốc, mía…), cây ăn quả (sầu riêng, măng cụt, xoài, cam…), cây hoa màu (bắp, dưa, khoai…) Khảo sát 68 bài CD-DC về chủ đề Cảnh vật và con người có 13/68 bài nhắc đến dừa là đặc sản:
- Hòa Quý với tổng Hòa Thinh
Dừa khô thổ sản nổi danh Nam kì
(Tổng Hòa Thinh nay là huyện Châu Thành và Bình Đại)
Dừa là loài cây trồng chủ yếu của Bến Tre và Bến Tre được nhắc đến trong CD-DC là xứ sở của dừa Cụm từ "lắm dừa" cho thấy rõ điều đó:
- … Bến Tre nước ngọt lắm dừa
- … Núi đồi không có nhiều xôi lắm dừa
Dừa Bến Tre nổi tiếng với vị ngọt thanh của nước:
- Bến Tre dừa ngọt sông dài…
- … Dừa Bến Tre ngọt nước, lúa Cần Thơ trĩu vàng
Tính chất này càng đúng với loại dừa Xiêm, quả nhỏ có nước rất ngọt, dùng làm nước giải khát rất bổ dưỡng
CD-DC còn kể tính chất bổ dưỡng từ nước cốt dừa (còn gọi là mỡ dừa, được lấy từ cơm dừa)
Mỡ dừa có màu trắng, có vị béo thơm tho:
- Nước dừa ngọt tựa lòng dân
Mỡ dừa như sữa mẹ trắng ngần thơm tho
Đây là phần có giá trị nhất của trái dừa, là nguồn dinh dưỡng cao
Là một vựa lúa của đồng bằng sông Cửu Long nên Bến Tre là một vùng đất "giàu lúa", "lúa" cũng được xem là một đặc sản:
- … Nơi đây giàu lúa lại nhiều dừa khô
Những thảm lúa mênh mông ở Giồng Trôm, Thạnh Phú được CD-DC miêu tả với sắc vàng óng ánh, rực rỡ:
- … Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng
- … Lúa vàng Thạnh Phú, khoai mì Thạnh Phong
Riêng cây mía và cây thuốc được nhắc đến trong CD-DC Bến Tre gắn với vùng đất Mỏ Cày Cây mía đã trở thành biểu tượng của vùng đất Mỏ Cày:
- Bến Tre giàu mía Mỏ Cày
Trang 28- … Thấy bông mía trắng nhớ quê Mỏ Cày
Mía Bến Tre nổi tiếng với hàm lượng đường nhiều "Bến Tre lắm mía nhiều đường" Từ chất ngọt của mía người ta làm ra đường, vốn là một gia vị quen thuộc trong ẩm thực của tất cả mọi người
Bên cạnh cây mía, cây thuốc cũng là đặc sản của vùng đất này CD-DC đã khẳng định:
- Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày
Tính chất thơm, say của thuốc được miêu tả:
- Thuốc rê chồng hút vợ say
Thằng nhỏ mồi thuốc lăn quay chín vòng
Để diễn tả độ thơm, nồng, say của thuốc, tác giả dân gian đã phác họa cảnh một người hút mà đến ba người say Đáng chú ý là thằng nhỏ (có thể là con của hai vợ chồng) không miêu tả bằng từ
"say" mà là "lăn quay chín vòng", thế cũng là "rất say" hay "quá say" vì hương thơm của thuốc Các loại cây ăn quả là đặc sản của Bến Tre cũng xuất hiện trong CD-DC Bến Tre Các loại trái cây này gắn với tên vùng đất cụ thể như: sầu riêng (Cái Mơn, Ba Vát), măng cụt (Cái Mơn, Hàm Luông), xoài, cam (Ba Lai)… Giới thiệu các loại trái cây, bài hát dân gian đã nêu lên đặc điểm hình thức của loài trái cây như măng cụt là: "Vỏ ngoài nâu, trong trắng như bông gòn" hoặc tính chất của từng loại như: xoài chua, cam ngọt, quýt đường…
Thêm vào đó, còn có các loại cây hoa màu nổi tiếng với bắp (Chợ Giữa), khoai lang (Mỹ Hòa), khoai mì (Thạnh Phong), dưa (Phong Nẫm - Giồng Trôm) mà các bài hát dân gian ở Bến Tre đề cập đến Việc trồng tỉa ở vùng đất này rất phát triển là do Bến Tre có thổ nhưỡng phù hợp Đất Bến Tre có phù sa màu mỡ do sự bồi tụ của các nhánh sông lớn Nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Oanh dựa vào bảng số liệu, phân tích, so sánh về độ cứng, hàm lượng chất hữu cơ trong một lít nước của rạch ở Bến Tre, rạch ở Mỹ Tho, rạch ở Cần Thơ của tác giả Lapeyrève vào năm 1882 đã rút ra kết luận sau:
"Nếu so sánh nước ở rạch Bến Tre với nước rạch Mỹ Tho hay rạch ở Cần Thơ thì nước rạch Bến Tre có nhiều chất hữu cơ hơn Do đó, ta có thể kết luận rằng đất ở Bến Tre tốt hơn đất hai tỉnh kia về phương diện trồng tỉa" [73, tr 25]
Bởi vậy, cây trái ở Bến Tre tươi tốt, phong phú cũng là phù hợp
Các sản phẩm là nguồn lợi của thiên nhiên từ sông, biển cũng là loại đặc sản khá quan trọng Khảo sát 68 bài CD-DC chủ đề Cảnh vật và con người có 12/68 bài nhắc về "cá", 7/68 bài nhắc về
"tôm" với tư cách là đặc sản của vùng đất:
- …Ruộng vườn màu mỡ biển thừa cá tôm
- …Bà Hiền Tân Thủy hằng hà cá tôm
Ngoài ra còn có nghêu, sò với nghêu, sò vùng Thạnh Phú, hay sản phẩm khai thác từ nước biển là muối với muối ở vùng Ba Tri Muối Ba Tri khô và đạt độ mặn cần thiết, tính chất này được CD-DC miêu tả:
- Muối khô ở Gảnh mặn nồng…
- Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng…
Trang 29Các sản phẩm thủ công như bánh tráng, bánh phồng, kẹo dừa, lụa cũng là những đặc sản nổi tiếng ở Bến Tre Các loại này được phản ánh trong CD-DC Bến Tre với số lượng ít, có loại chỉ có một lần như: bánh tráng, bánh phồng, kẹo dừa nhưng đó là bài CD-DC tiêu biểu mà ai ở vùng đất này cũng thuộc Và ai đến vùng đất này tham quan, cũng chí ít một lần mua chúng để làm quà:
- Bánh tráng Mỹ Lồng
Bánh phồng Sơn Đốc…
- Bến Tre dừa ngọt sông dài
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh…
Với kẹo dừa, CD-DC nhắc đến đặc tính của nó là vị thơm và béo:
- Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo…
Đặc biệt, CD-DC Bến Tre còn nhắc đến sản phẩm thủ công là lụa Ba Tri:
- Ai về xứ lụa Ba Tri
Ngắm cô thôn nữ đương thì sắc hương…
Ngày trước, lụa Ba Tri nổi tiếng trên thương trường Vào năm 1894 là một trong những sản phẩm xuất khẩu đứng hàng thứ ba sau lúa và cơm dừa khô [73, tr.117] Có thuyết còn giải thích rằng địa danh Ba Tri bắt nguồn từ chữ: "Ba": sóng lụa, "Tri": đen nhánh, điều này cho thấy lụa là sản phẩm đặc biệt của vùng đất, tên của sản phẩm trở thành tên của vùng đất Ngày nay, sản phẩm lụa không còn phổ biến nữa nhưng dấu ấn về một loại hàng thủ công nổi tiếng vẫn in bóng trong CD-DC Bến Tre
Như vậy, CD-DC Bến Tre đã phản ánh thật phong phú về những đặc sản ở quê hương Các loại đặc sản ấy một phần là do thiên nhiên ban tặng, một phần là do con người biết khai thác, tận dụng điều kiện thiên nhiên để sản xuất, sáng tạo phục vụ cho cuộc sống chính bản thân người lao động Dần dà, do tính chất độc đáo và số lượng phong phú, chúng đã trở thành những đặc sản nổi tiếng của quê hương Bến Tre
Tìm đến CD-DC Bến Tre, người đọc thấy rõ những nét nổi bật về điều kiện địa hình, loài động vật, thực vật tiêu biểu cũng như những đặc sản độc đáo của vùng đất phương Nam xa xôi Có thể nói, CD-DC đã góp thêm tiếng nói của mình trong việc miêu tả cụ thể, phản ánh sinh động về cảnh quan thiên nhiên của một vùng đất
2.2 CD-DC phản ánh đậm nét chân dung con người Bến Tre
2.2.1 Trong lao động sản xuất
Bến Tre là vùng đất mới, có nhiều "của chìm của nổi" do thiên nhiên ban tặng nhưng bù lại những khó khăn, hiểm trở của trở lực thiên nhiên không phải là nhỏ Từ buổi đầu khai phá, mảnh đất này còn hoang vu, sình lầy, hiểm trở Để trở thành vùng đất trù phú, ruộng đồng thẳng tắp, xóm ấp liền kề, con người nơi đây phải đổ không biết bao nhiêu mồ hôi và xương máu Và CD-DC
đã ghi lại chân thật chân dung con người nơi đây trong quá trình lao động sản xuất, cải biến thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho đời sống của mình Con người Bến Tre trong CD-DC được phác họa với vẻ đẹp hình thức như "trai lịch gái thanh", "gái xinh trai tài"… với vẻ đẹp ăn nói "nói
Trang 30năng duyên dáng", "nói năng thuần hậu"… Những con người ấy còn nổi bật với sự cần cù, chăm chỉ trong lao động Những bài ca đã ngợi ca những chàng trai, cô gái, vốn là lực lượng lao động chủ yếu, họ thật giỏi, đảm đang:
- Bến Tre trai lịch gái thanh
Nói năng duyên dáng làm ăn cũng cừ
- … Quý thay những tấm lòng vàng
Làm ăn chất phác đảm đang mọi điều
Sự chăm chỉ trong công việc lao động hằng ngày được CD-DC khắc họa rõ nét Hình ảnh cô gái xứ lụa Ba Tri, cô gái Bình Đại không quản ngại khó khăn, vất vả:
- … Ngày thời dãi nắng dầm sương
Nhọc nhằn chẳng quản vì thương quê nhà
- Sông Cửa Đại hai chiều nước chảy
Gái Bình Đại chẳng ngại gian nan
Không chỉ thể hiện trực tiếp bằng những cụm từ cụ thể, sự cần cù, chịu khó của người lao động còn được thể hiện qua cách miêu tả như "suốt đêm lặn hụp" trên sông nước để mò tôm, bắt tép hay cấy đến "đỏ đèn", đến "chẳng thấy đường đi":
- Mênh mông sông rộng cồn dài
Suốt đêm lặn hụp nghèo hoài anh ơi
- Bánh tét đậu đen, đỏ đèn còn cấy
Bước lên bờ chẳng thấy đường đi
Ngoài cần cù chăm chỉ, người xứ dừa cũng rất dũng cảm, lạc quan trong lao động Sự dũng cảm thể hiện trong nghề đi biển:
- Em là con gái Bình Châu
Một thân vượt biển cho tàu ra khơi…
Bình Châu thuộc huyện Bình Đại, vùng này giáp biển nên người dân nơi đây hoạt động đánh bắt khá phát triển Nghề biển là nghề khá nguy hiểm vì phải đối diện với sóng to gió lớn Đây thường là nỗi lo sợ cho người làm nghề biển vì có khi bỏ mạng ở biển khơi: "Anh đi ghe cá cao cờ / Ai nuôi cha mẹ ai thờ tổ tiên ?" Thế nhưng cô gái Bình Châu này không hề ái ngại, vẫn gan dạ
"một thân", "cho tàu ra khơi" đánh cá Để rồi, sự dũng cảm đó được đền đáp Niềm hân hoan của
cô gái khi vượt qua trở lực thiên nhiên, thu được nguồn lợi lớn từ biển:
- … Bao ngày sóng nước chơi vơi
Thuyền em nhiều cá mọi nơi không bằng
Sự lạc quan của người lao động được CD-DC phản ánh qua hình thức sinh hoạt hò hát trong lao động Hò hát là cách để người lao động xua tan những mệt nhọc, quên đi những chặng đường dài:
- Ghe bầu dọn dẹp kéo neo
Mấy chú bạn chèo bắt cái hò khoan
Trang 31- … Trước tui hò chơi đôi câu giải muộn
Vậy chị em mình hòa cùng tui hò nghen
Bến Tre trước năm 1975 chủ yếu là hoạt động nông nghiệp, trong đó trồng lúa là hoạt động chủ yếu Vì thế hò trên đồng ruộng vào vụ cấy có điều kiện phát triển Có hò để giải trí giúp vui, người thợ cấy sẽ cấy chậm, đều tay, mạ mau bén rễ, đẻ nhánh nhanh… Sự phong phú trong hình thức hò mà CD-DC phản ánh như hò khoan, hò môi, hò truyện, hò thơ,… cũng đã cho thấy người Bến Tre yêu ca hát, thật lạc quan trong lao động Họ biết tự tìm cho mình hình thức giải trí để công việc lao động được tiến hành thuận lợi trong không khí vui tươi, sinh động nhất
Một đặc điểm khác nữa của người Bến Tre trong lao động sản xuất là khéo léo, tài hoa Sự khéo léo, tài hoa được biểu hiện qua công việc của những làng nghề truyền thống như nghề làm bánh tráng, bánh phồng, kẹo dừa… CD-DC nói về cô gái Mỏ Cày như sau:
- … Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo
Gái Mỏ Cày vừa khéo vừa ngoan
Không "khéo" sao được khi nhìn những viên kẹo nhỏ nhắn, được gói vuông cạnh góc hay những chiếc bánh tráng, bánh phồng đều có độ dày mỏng như nhau và vị cũng rất vừa ăn, vừa thơm, vừa béo
Bến Tre có nhiều làng nghề tồn tại nhưng không được nhắc trong CD-DC Bến Tre như nghề đóng ghe ở Bình Đại; nghề dệt chiếu ở Thuận Điền (Giồng Trôm), Nhơn Thạnh (Thị xã); nghề nấu rượu, nghề đan đát ở Ba Tri nghề trồng cây hoa kiểng, chiết cây ở Chợ Lách Nhưng qua sản phẩm mà người lao động làm ra chúng ta thấy sự khéo kéo, tài hoa của họ, cả tư duy thẫm mỹ và
sự sáng tạo
Như vậy, trong lao động sản xuất, người Bến Tre hiện lên trong CD-DC với đầy đủ những phẩm chất truyền thống của người Việt Nam: vừa cần cù, chăm chỉ vừa khéo léo, tài hoa, cũng như rất dũng cảm, lạc quan CD-DC đã giúp người đọc cảm nhận những phẩm chất ấy một cách chân thật, rõ ràng nhất
2.2.2 Trong đời sống tình cảm
Sự phong phú và sâu sắc của CD-DC là ở chỗ thể hiện đầy đủ nhất những cung bậc tình cảm trong đời sống tình cảm của con người như hạnh phúc, sung sướng; đau buồn, sầu muộn; oán trách, thở than… Qua những rung cảm tinh tế đó, người đọc có thể hình dung được tính cách của con người
DC Bến Tre cũng thế ! Tính cách của con người xứ dừa được cảm nhận qua mảng
CD-DC về chủ đề tình yêu lứa đôi và tình cảm gia đình
Kế thừa phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam, điểm nổi bật của người Bến Tre trong tình cảm là đức tính thủy chung Ở chủ đề tình yêu lứa đôi có khá nhiều bài đề cập đến vấn đề này Dù chưa trở thành vợ chồng nhưng trong ý thức tình cảm họ vẫn một lòng một dạ chờ đợi nhau, đặc biệt là người con gái:
- … Lỡ thì chịu lỡ cũng chờ đợi anh
- … Thương anh em vẫn đợi chơ
- … Ngàn năm xa cách em vẫn chơ
Trang 32Sự bày tỏ tình cảm với nhau nghe như lời thề hẹn sẽ bên nhau suốt đời:
- Trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng…
- … Thương em cho trọn bốn mùa còn thương
Ở chủ đề tình cảm gia đình, sự thủy chung càng bộc lộ rõ nét hơn Những cụm từ nghĩa phu thê, chữ phu thê, đạo vợ chồng, nghĩa can trường… đều là sự bày tỏ tình cảm hoặc nhắc nhở nhau hãy sống có trước có sau:
- … Cái nghĩa phu thê phải giữ từng ngày
Dẫu có nên danh phận hay đi ăn mày cũng theo nhau
- … Đạo nào thương bằng đạo vợ chồng
Đêm năm canh hoài vọng, nước mắt hồng nhỏ tuôn
Sự thủy chung còn thể hiện qua việc nhắc nhiều về từ "nghĩa" Nằm trong nét chung của
CD-DC Nam bộ, CD-CD-DC Bến Tre cũng nhắc nhiều về từ này Từ "nghĩa" (còn được gọi là "ngãi",
"ngỡi") được thể hiện dưới nhiều loại như "nhân nghĩa", "ngỡi nhân", "bạc nghĩa", "bất nghĩa", "gá nghĩa", "kết nghĩa", "có nghĩa", "ngãi trăm năm", "đạo vợ nghĩa chồng"… Thống kê ở chủ đề tình yêu lứa đôi ở các sách, chúng tôi có số liệu sau:
Tỷ lệ (%)
Văn học dân gian Bến Tre Nguyễn Phương Thảo - Hoàng Thị Bạch Liên
Với số liệu thống kê trên, chúng tôi thấy CD-DC Bến Tre đề cập đến từ "nghĩa" có phần đậm hơn (6,41%) Điều này phải chăng do Bến Tre là vùng đất cù lao xa xôi, hẻo lánh Ở một khía cạnh nào đó, có thể coi con người Bến Tre là người đất cù lao Vị trí địa lý điều kiện tự nhiên sẽ tạo ra cho con người tâm thế phải luôn luôn tự vượt lên mình, tự giải quyết những khó khăn gay gắt, cấp thiết mà cuộc đời đặt ra Đó là nghị lực đặc biệt của người Bến Tre, như nhà văn Trần Hiếu Minh khi nói về người dân Nam bộ đã khẳng định:
Trang 33"Đây là sơn cùng thủy tận rồi Đến đây chỉ có hai con đường, một là không đủ nghị lực sống nữa thì đâm đầu xuống biển mà chết, hai là cố bám lại đấu tranh để mà sống Con người đến đây là con người liều, con người ngang tàng, nghĩa khí" [3, tr.20]
Như vậy, con người đến được nơi đây đã khó, muốn tồn tại lại càng khó hơn Để tồn tại, họ cần phải tương trợ với nhau nhiều hơn Chính vì vậy, họ thường đề cao lối sống tình nghĩa Chỉ có cái nghĩa mới giúp người ta gắn kết với nhau, cùng nhau tồn tại Lối sống có nghĩa cũng là một biểu hiện của tính cách thủy chung
Một điểm không thể không nhắc tới là người Bến Tre rất bộc trực, thẳng thắn trong tình cảm CD-DC Bến Tre cũng phản ánh được tính cách này nhất là các bài CD-DC về chủ đề tình yêu lứa đôi Sự bộc trực, thẳng thắn biểu hiện qua cách nói vào thẳng vấn đề Trong chặng tình cảm đầu tiên là gặp gỡ, ướm hỏi, CD-DC Bắc bộ bóng gió xa xôi bằng hình ảnh "mận", "đào", "vườn hồng":
- Đến đây mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?
Với người xứ dừa là những câu hỏi trực tiếp buộc người đối diện phải trả lời:
- … Nghe người ta bảo em chưa chồng phải hôn ?
- …Thương em hỏi thiệt có chồng hay chưa?
Cũng như CD-DC các vùng miền khác, CD-DC Bến Tre phản ánh thật rõ ràng, tường tận nỗi nhớ nhung, sầu khổ của con người nhất là trong chặng xe kết Với CD-DC Bến Tre là nhớ đến "ăn cơm cũng nghẹn, uống nước cũng nghẹn", "đêm về nằm ngủ anh mớ, má anh rầy", là thương đến
"lở núi tan rừng cũng thương"
Yêu thương là vậy nên khi bị phụ bạc, người trong cuộc cũng buồn giận ra mặt, bày tỏ sự đau khổ, tức giận thẳng thừng Đó là sự bộc trực, thẳng thắn của tính cách con người:
- … Từ khi trải chiếu bạn nằm
Gá dơn chẳng đặng nát bầm lá gan
- Bậu nói với anh nhiều tiếng thăng trầm
Bây giờ bậu bỏ đi nơi khác anh giận bầm lá gan
Dùng hình ảnh gan, ruột với các dạng thức cụ thể để diễn đạt tường tận, tận cùng tâm trạng của mình là nét chung của CD-DC các miền Bởi gan, ruột vốn là hình ảnh khá cụ thể mà mọi sự biến đổi của chúng, mọi người đều có thể cảm nhận được
Thêm nữa, ở CD-DC Bến Tre có nhiều bài nhân vật trữ tình nhắc đến từ "tiếc công" (6 bài),
"uổng công" (6 bài) khi những chuyện tình không đi đến kết quả Không phải nhân vật trữ tình ở đây tính toán, ích kỉ, kể lể tình cảm, mà lời trách "tiếc công, uổng công" là biểu hiện của tính cách bộc trực, một khi tình cảm chân thật không đủ sức xây dựng tình yêu thì họ phải nói ra cho hết bực bội trong lòng:
- Tiếc công anh lao nhạu chùi bình…
- … Tiếc công anh lận đận với nàng bấy lâu
- … Uổng công lên xuống dứng ngồi bấy lâu
Trang 34Sự bộc trực, thẳng thắn còn biểu hiện qua quan niệm về tình yêu, hạnh phúc Trong CD-DC Bến Tre, tình yêu hạnh phúc được bày tỏ rõ ràng, nhất quán theo triết lý của người lao động:
- Gái xứ này biết cày biết cấy
Biết chèo ghe gánh lúa giữa đồng
Anh nào chữ nghĩa không thông
Cuốc cày không giỏi, đừng hòng sánh duyên
- Em với anh gá nghĩa chung tình
Đi ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng
Đó là thái độ yêu quý lao động, đồng cam cộng khổ, trọng tình nghĩa hơn tiền tài danh vọng Điều đó đã giúp những con người nơi đây chiến thắng những trở lực thiên nhiên để trụ lại ở mảnh đất cù lao này
CD-DC Bến Tre còn phản ánh tính cách mãnh liệt, táo bạo của con người nơi đây Họ quyết liệt trong việc bảo vệ hạnh phúc, tình yêu của mình Một số bài CD-DC Bến Tre thường kết thúc ở câu cuối bằng quyết tâm không lìa nhau dù phải đổi cả tính mạng:
- …Chết thời anh chịu chớ buông bạn hiền anh không buông
- …Chết thì chịu chết chứ buông nàng anh không buông
- …Chết anh anh chịu buông nàng anh không buông
Đối với người lao động, một khi đã yêu thương nhau thì dù trong hoàn cảnh "dao phay kề cổ", "cổ đóng trăn, cẳng lại đeo xiềng", hay "song song hai ngọn gươm trường" họ đều không sợ, không màng
Ngay cả ba mẹ cũng không thể làm họ thay đổi, họ cam tâm sống chết có nhau:
- Ví dầu cha đánh mẹ treo
Đứt dây té xuống, em theo đến cùng
Ở người miền Nam, do cá tính nên việc thể hiện cảm xúc có phần táo bạo Người lao động Bến Tre có khi bộc lộ sự nhớ thương mà không cần đến sự ý tứ Với người con trai, khi sự thương nhớ quá mức khiến họ bộc lộ thành hành động hơi "bất nhã":
- Ôm mình dẫu có la làng
Tui đây la xóm hai làng phạt chung
Ôm mình dẫu có nằm hung
Nhơn cùng tắc biến tui chun xuống sàn
Còn với người con gái, tình cảm yêu thương bộc lộ khá mãnh liệt, bất chấp nét duyên của người con gái:
- Anh về em nắm vạt áo em la làng
Bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng lại cho em
Cả hai đối tượng ở hai bài trên đều vượt quá khuôn phép lễ giáo phong kiến nhưng suy cho cùng cũng là bắt nguồn từ tình cảm chân thành, sự yêu thương sâu nặng
Trang 35Càng táo bạo hơn khi tìm thấy ở CD-DC Bến Tre một số bài nhắc đến động từ "hôn" (hun):
- … Cô kia mặt trắng mặt tròn dễ hun
- … Cho hun một chút em hai đừng phiền
- … Thương em bất tử muốn hun bây giờ
CD-DC Bắc bộ khó tìm ra những bài nhắc đến động từ này Các nhà nghiên cứu giải thích nguyên nhân mà người Việt ở Nam bộ có sự táo bạo, quyết liệt trong tình yêu là do làng Nam bộ không có "tổ chức tương đối ẩn tàng" (theo cách nói của Nguyễn Phương Thảo, có thể hiểu là lệ làng) để trói buộc con người từ suy nghĩ đến hành động như ở Bắc bộ Thêm vào đó, thiên nhiên Nam bộ lại phong phú và dồi dào Vì thế, tính ngang tàng, phóng khoáng của họ lại được dịp trỗi dậy Và trong tình cảm, họ sẵn sàng bộc lộ ra tất cả tình cảm của mình, dù có khi là hơi sỗ sàng Như vậy, trong đời sống tình cảm, với một nội dung phong phú, đa dạng, CD- DC đã chuyển tải được tất cả nỗi lòng của con người Trong muôn vàn tình cảm yêu thương, nhớ nhung, oán trách đó, CD-DC Bến Tre cho thấy được những tính cách tình cảm nổi bật của con người nơi đây: thủy chung, bộc trực, thẳng thắn, táo bạo, mãnh liệt
2.2.3 Trong chiến đấu
Nổi tiếng với phong trào Đồng Khởi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bến Tre đã góp phần không nhỏ trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc Những chủ nhân của vùng đất anh hùng này không chỉ tỏa sáng ngoài cuộc sống mà còn đi cả vào thơ văn, trong đó có CD-DC CD-DC đã khắc họa tinh thần yêu nước sâu sắc của người dân Bến Tre Lòng yêu nước trước hết thể hiện ở lòng căm thù giặc Trong tổng số 55 bài về chủ đề chống ngoại xâm (kể cả sưu tầm),
có 3/55 bài nhắc đến lòng căm thù Khi là lòng căm thù chung đối với bọn giặc xâm lược "Căm thù quân giặc bất nhân…", khi là căm thù kẻ cướp nước cụ thể "Căm thù giặc Mỹ bất nhân…" Có khi lòng căm thù là vấn đề được thế hệ trước nhắc thế hệ sau phải ghi nhớ "…Căm thù ghi nhớ từng giờ cháu ơi"
Càng căm thù giặc, họ ý thức được nhiệm vụ của mình, phải ra đi chiến đấu qua những cụm
từ như tòng quân, chiến đấu, đấu tranh…
- … Tòng quân nhập ngũ diệt phường hôi tanh
- … Tòng quân là nhiệm vụ vinh quang của mình
Yêu nước còn biểu hiện ở tinh thần đoàn kết, chung lòng, chung sức chống xâm lược
CD-DC diễn tả rất sôi động, lúc thì "…Trai Minh gái Bảo đua tài đấu tranh", khi thì "Trẻ già nam nữ hai mình / Thanh niên trai gái đồng tình ra đi", hay "…Theo lời Bác gọi lập công diệt thù"… Những bài ca đó giúp người đọc hình dung không khí nhộn nhịp, vui vẻ của những con người hăng hái đấu tranh, ra đi vì nghĩa lớn
Yêu nước còn được bộc lộ qua hành động cụ thể là ngăn cản bước tiến kẻ thù:
- Phá cho bứt lộ thành mương
Phá cho cầu sập hết đường Tây đi
Trong tình cảm là thái độ dứt khoát, không vương vấn:
- Giặc Tây đánh đến Cần Giờ
Trang 36Biểu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công
Đất chung đã mất, mọi thứ riêng tư phải gác lại để thực hiện nhiệm vụ cao cả Tình yêu thời
kì này (nếu có) cũng được xây dựng bằng tiêu chí chiến đấu chống xâm lược:
- Yêu em anh phải nhớ ghi
Đánh Tây giữ nước mới bì trượng phu
- Bây giờ cô nhớ cô thương
Cô không tranh đấu đừng hòng kiếm tui
Có thể nói, CD-DC Bến Tre đã phản ánh lòng yêu nước của người Bến Tre thật sinh động, với nhiều góc độ khác nhau
Qua CD-DC Bến Tre, con người nơi đây còn nổi bật với sự dũng cảm Từ những người nông dân chỉ biết cày bừa, biết cỏ lúa, họ trở thành những anh bộ đội hoặc anh lính cụ Hồ, anh giải phóng quân:
- Hoan hô bộ đội Ba Đào…
- … Đi lính cụ Hồ hạnh phúc muôn năm…
- … Nhớ anh giải phóng lập nhiều chiến công
Trong chiến đấu, họ xuất hiện với tài đánh giặc giỏi như "đánh trận nào cũng thắng", "diệt trận nào cũng hay", "đánh Mỹ tan thây" Không chỉ là thanh niên nam nữ mà cả người già cũng tham gia đánh giặc:
- Già xưa đi chợ mua trầu
Già nay đi chợ nắm đầu Mỹ Ngô
Có lẽ tình yêu nước mãnh liệt khiến những người lớn tuổi bất chấp sức khỏe, gan dạ đối đầu, tiêu diệt kẻ thù
So với CD-DC các tỉnh khác ở Nam bộ, CD-DC Bến Tre không có hệ thống những bài ca về lãnh tụ nghĩa quân nhưng lại có nhiều bài ngợi ca người phụ nữ trong chiến đấu (13/55 bài) Trong CD-DC họ xuất hiện với áo bà ba đen, chiếc khăn rằn Đặc biệt, chiếc khăn rằn còn là vật dụng biểu trưng cho người phụ nữ Bến Tre:
- Thấy bóng khăn rằn anh biết rằng em tới
Màu khăn Đồng Khởi của phụ nữ Bến Tre…
Người phụ nữ nơi đây được ca ngợi không những với tài đấu tranh chính trị "vừa hăng vừa tài" như rải truyền đơn, làm giao liên… mà còn nổi tiếng với đấu tranh vũ trang Các chiến công của họ được miêu tả:
- … Con sông Hàm Luông tàu Mỹ chạy ra
Cầu Ba Lai đó giặc lật xe chết hoài…
Họ đã từng phá tan tàu Mỹ cũng như đặt mìn khiến xe kẻ thù tổn thất nặng
Thời chiến tranh, lòng chung thủy sâu sắc của họ được nhắc đến cụ thể "…Gái Mỏ Cày một lòng chung thủy" hay qua hình ảnh "…Đầu sông Tương em đợi/ Cuối sông Tương em chờ…" Họ
Trang 37còn được ca ngợi với tinh thần san sẻ, chấp nhận hy sinh Những câu bắt đầu bằng cụm từ "phải chi" diễn tả mong ước sẻ chia trách nhiệm với chồng:
- Phải chi em hóa đặng hai hình
Em đi đánh giặc thế cho mình ba năm…
- Phải chi em vác nổi cây súng đồng
Em đi bộ đội cùng chồng diệt ngoại xâm
Họ đảm đang trong công việc gia đình một cách tự nguyện, thay chồng gánh vác trách nhiệm, cốt để chồng yên tâm chiến đấu:
- … Anh đi kháng chiến việc nhà em lo…
- … Em ở nhà gìn giữ gia đình…
- … Anh đi kháng chiến em nuôi dưỡng mẹ già thay anh…
Sở dĩ, người phụ nữ Bến Tre được nhắc đến nhiều trong chiến đấu vì đây là vùng đất đã từng rạng danh với "vị tướng gái" Nguyễn Thị Định - người lãnh đạo thành công phong trào Đồng Khởi ngày 17/01/1960, với ý tưởng thành lập "đội quân tóc dài" Noi gương cô Ba Định, hàng ngàn phụ
nữ Bến Tre đã anh dũng đi đầu trong tất cả phong trào đấu tranh chống kẻ thù Vì thế, hình ảnh của người phụ nữ đã đi vào CD-DC như là một sự tất yếu
Với một số lượng không nhiều nhưng CD-DC Bến Tre về kháng chiến có sự phong phú về nội dung, sâu sắc về ý nghĩa, sinh động trong hình thức diễn tả CD-DC đã khắc họa những tính cách con người Bến Tre trong chiến đấu và góp thêm tiếng nói vào truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam trên một vùng đất mới
2.3 CD-DC Bến Tre phản ánh chân thật những sự kiện lịch sử, sự kiện trong đời sống hằng ngày
CD-DC không chỉ phản ánh về cảnh quan, về con người mà còn phản ánh về các sự kiện lịch
sử, sự kiện trong đời sống thường ngày Các sự kiện được phản ánh trong CD-DC Bến Tre là những sự kiện nổi bật trong quá trình phát triển của vùng đất này Sự kiện trong đời sống thường ngày nổi bật là trận bão năm Giáp Thìn Nạn ngoại xâm và việc chống giặc dốt là sự kiện lịch sử tiêu biểu
Với trận bão năm Giáp Thìn, CD-DC miêu tả sự xuất hiện bất ngờ của nó "Năm Thìn trời bão thình lình…" và thời gian xảy ra là tháng 3 "Năm Thìn trời bão tháng ba…" Đây là cơn bão lớn xảy ra vào năm 1904, cách đây hơn trăm năm Bão đã gây chết chóc, ly tán và làm thiệt hại nặng
nề về kinh tế cho người dân các tỉnh Nam kỳ, trong đó đặc biệt là Bến Tre Sự ly tán còn in dấu trong các bài ca:
- Gặp nhau đây mới biết em còn
Hồi năm Thìn bão lụt anh khóc mòn con ngươi
- Năm Thìn trời bão thình lình
Kẻ trôi người nổi hai đứa mình còn đây…
Trang 38Đến ngày nay, ở Nam bộ chưa có cơn bão nào lớn như vậy Vì thế, trận bão này đã đi vào bài hát dân gian như là một chứng tích về sự tàn phá nặng nề từ thiên nhiên của vùng đất Bến Tre nói riêng và vùng đất Nam bộ nói chung
Với nạn ngoại xâm, Bến Tre cũng không thoát khỏi dù có muộn hơn các tỉnh Nam kì khác CD-DC Bến Tre đã gọi hoàn cảnh của quê hương, đất nước trong thời kì này là thời kì "quốc biến", "nước nhà trong lúc ngửa nghiêng", "nước mất nhà tan", "cơn nguy khốn"…
Những kẻ thù xâm lược cụ thể được đề cập đến như Pháp, Mỹ, Nhật Bổn và kẻ bán nước Ngô Đình Diệm Bản chất của chúng được CD-DC khái quát là "bất nhân", "cuồng dâm", "bạo tàn" Có
lẽ, CD-DC đã không phóng đại khi xác định như thế vì trong thực tế những di tích thảm sát để lại
ở Bến Tre là bằng chứng sinh động nhất cho sự hung hăng, tàn bạo của kẻ thù Có 10/55 bài
CD-DC nhắc đến hai kẻ thù Mỹ, Diệm Thái độ khinh thường của nhân dân bộc lộ rất rõ qua những bài hát này:
- Ai đưa Mỹ Diệm về đây
Nhân dân "ủng hộ" bằng cây súng trường
- Ai đưa Mỹ Diệm về đây
Nhân dân "ủng hộ" bằng cây chổi chà
Có khi, các bài ca đề cập đến sự thất bại thảm hại của chúng:
- Thấy quân Mỹ Diệm như gà bị thua
- Già nay đi chợ nắm đầu Mỹ Ngô
Những sự kiện đáng chú ý được phản ánh trong CD-DC như Pháp đi bố (càn quét, khủng bố) người, Pháp bắt thanh niên Việt Nam sang Pháp tham gia thế chiến Tất cả đều được nhắc đến cụ thể, đích danh kèm theo thái độ mỉa mai, lên án… của người dân
- Máy bay giặc Pháp bố dồn
Bố người không bố, bố dồn con trâu
- Bước xuống tàu gan bào ruột thắt
Trời hỡi trời vợ Bắc chồng Nam
Cả sự kiện chính sự Nhật Bản hất cẳng Pháp nhảy vào Đông Dương, sự việc Ngô Đình Diệm cõng Mỹ về hại dân hại nước được nêu rõ ràng với thái độ phê phán:
- Diệm ham bơ sữa đô la
Đưa lưng cõng Mỹ về nhà giết dân
Việc sử dụng chiến thuật dồn dân vào ấp chiến lược của Mỹ, Diệm khiến không ít người dân bất bình, đau khổ:
- Trời chiều chiều chuyển mưa vần vũ
Tôi nhìn về quê cũ ruột thắt gan đau
Nhớ hồi nào cày cấy cùng nhau
Bây giờ Mỹ Diệm nhốt vào trong khu
Trang 39Đối phó với kẻ thù là kế sách thông minh của quân ta đánh giặc bằng "ong vò vẽ" kết hợp
"hầm chông":
- Ai xui thằng Mỹ đi càn
Vô sâu ong đốt, ra đàng gặp chông
Đây là kế sách độc đáo của người anh hùng Nguyễn Văn Tư Kế sách đã khai thác và tận dụng có hiệu quả cả loài côn trùng tham gia vào chiến tranh
Phong trào Đồng Khởi được nhắc đến trong các bài hát dân gian như là đỉnh cao của các cuộc khởi nghĩa ở Bến Tre:
- Ta là con cháu Bác Hồ
Nghe tin Đồng Khởi reo hò đi ngay
Chính vì vậy, Bến Tre còn được nơi khác biết đến vì tinh thần cách mạng này:
- Quê hương Đồ Chiểu rạng ngời
Tinh thần cách mạng đỏ trời vàng sao
Sự kiện xóa mù chữ (còn gọi phong trào "Bình dân học vụ") cũng là sự kiện nổi bật trong CD-DC Bến Tre) (14 bài) Sau năm 1945 nước ta phải đối phó với ba thứ giặc: giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt Chống giặc ngoại xâm là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu Giặc đói và giặc dốt đều xếp ưu tiên hai Thời điểm đó tỉ lệ mù chữ ở nước ta là 90% Trước đó, nhân dân Việt Nam sống dưới ách thực dân, người dân phải làm lụng vất vả vì các loại thuế mà kẻ thù đặt ra, không có thời gian học hành Cho nên, thời kỳ này CD-DC các vùng miền trong cả nước đều đề cập đến nội dung này Lý do là CD-DC dễ đi vào lòng người nên được xem là một phương tiện đắc lực để tuyên truyền, vận động Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan có đề cập phong trào
"Bình dân học vụ" như sau:
- Rủ nhau đi học i tờ
Xem tin, đọc báo, làm thơ dễ dàng
- Lấy chồng biết chữ là tiên
Lấy chồng mù chữ là duyên nợ nần
CD-DC Bến Tre cũng không ngoại lệ Tầm quan trọng của việc chống dốt được xác định
"…Giặc dốt nếu còn chiến dịch chưa xong" Phương pháp xóa mù hữu hiệu được vạch ra cụ thể: …I tờ sắp ngửa ngày ngày em chuyên
…Sớm tối chuyên cần em thoát vòng ngu
Trong đó, sự đồng lòng, quyết tâm là phương pháp hữu hiệu nhất:
- Kẻ giúp của người giúp công
Thuận vợ thuận chồng giặc dốt phải tan
Để thuyết phục mọi người, các bài hát nêu lên hậu quả của việc mù chữ như bị "chồng chê",
"ai thèm cưới", "cười chê"…
- …Bởi chưng mù chữ nên chồng chị chê
Trang 40- …I tờ không biết má hồng cười chê
Việc vận động học chữ của nhà nước ta là cần thiết và đúng đắn vì biết chữ là cách tốt nhất
để nâng cao nhận thức, phát triển tư duy, đặc biệt trong hoàn cảnh miền Bắc mới vừa độc lập còn bộn bề khó khăn
Tóm lại, sự phát triển của mỗi vùng đất bao giờ cũng gắn với những sự kiện lịch sử Người lao động nơi đây rất quan tâm với tất cả những gì đã xảy ra trên quê hương mình Họ tái hiện các
sự kiện đó trong CD-DC và đó cũng là cách họ thể hiện tình cảm, tâm trạng mình CD-DC đã làm tròn chức năng của nó là phản ánh chân thật những gì diễn ra và liên quan đến đời sống con người