Khảo sát tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở tỉnh Hậu Giang
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
LÊ THỊ THUỲ DUNG
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NUÔI CÁ LÓC THƯƠNG
PHẨM Ở TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ THỊ THÙY DUNG
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NUÔI CÁ LÓC THƯƠNG
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài này được thực hiện nhằm khảo sát tình hình nuôi cá lóc thương
phẩm ở tỉnh Hậu Giang để đánh giá được hiện trạng nuôi cá lóc và đề xuấtnhững giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả của các mô hình nuôi cálóc tại địa bàn nghiên cứu Sau thế mạnh cây lúa, nuôi thuỷ sản là thế mạnhthứ hai trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh, đặc biệt là nuôi
cá đã và đang phát triển với nhiều mô hình khác nhau Có 2 mô hình nuôi cá
lóc chủ yếu ở Hậu Giang được khảo sát gồm: vèo ao thu được 33 mẫu và vèo
sông thu được 37 mẫu
Qua phân tích số liệu cho thấy, về năng suất thì mô hình vèo sông cho
năng suất cá cao hơn vèo ao (vèo sông: 44,2 tấn/1000m3/vụ, vèo ao: 23,1tấn/1000m3/vụ) và khác biệt có ý nghĩa (p<0,05%) Lợi nhuận bình quân169,9tr.đ/1000m3, vèo sông cao hơn vèo ao, tương tự tỷ suất lợi nhuận và hiệu
quả chi phí của vèo sông cũng cao hơn vèo ao
Trong các mô hình nuôi cá còn tồn tại nhiều khó khăn như thiếu vốn,dịch bệnh lây lan, thiếu kiến thức về kỹ thuật nuôi, giá đầu ra không ổn định,vấn đề về thời tiết, cá mồi giảm, tốn công chăm sóc…là những vấn đề quantrọng và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất Từ đó một số giải pháp cơbản được đề xuất để khắc phục những khó khăn như mong muốn được hỗ trợvay vốn, ra trạm thú y mua thuốc, tập huấn thêm kỹ thuật nuôi, chờ giá bánhay tự tìm nguồn đầu ra khi sản phẩm thu hoạch…NTTS được xác định là thếmạnh sau cây lúa nên các ban ngành cần có những chính sách phù hợp để tiếptục đẩy mạnh phát triển, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế và
chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp-nông thôn của Tỉnh
Trang 5giúp đỡ khi tôi thực hiện đề tài tỉnh Hậu Giang.
Cuối cùng xin gởi lời cám ơn các bạn lớp Quản lí nghề cá K31 và lớpKinh tế Thủy sản K31 đã khích lệ động viên tôi trong suốt quá trình học tập vàthực hiện đề tài này
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất!
Tác giả
Trang 6MỤC LỤC
TÓM TẮT i
LỜI CẢM TẠ ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tình hình nuôi thủy sản trên thế giới 4
2.2 Tình hình nuôi thủy sản ở Việt Nam 6
2.3 Tình hình nuôi thủy sản ở ĐBSCL 7
2.4 Thông tin chung về tỉnh Hậu Giang 8
2.4.1 Điều kiện tự nhiên 8
2.4.2 Nguồn lợi và nuôi thuỷ sản tỉnh Hậu Giang 10
2.5 Nguồn gốc và một số khái niệm, sự phân bố của các loài cá lóc trên thế giới 10
2.6 Thông tin về các loại cá lóc và các mô hình nuôi cá lóc ở Việt Nam- ĐBSCL 11
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu 13
3.2 Phương pháp thu thập số liệu 13
3.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu 13
3.4 Các biến cơ bản sử dụng trong nghiên cứu 14
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 17
4.1 Thông tin chung về hộ nuôi cá lóc 17
4.1.1 Độ tuổi, trình độ học vấn và số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc 17
4.1.2 Nguồn thông tin Kinh tế - Kỹ thuật cho nuôi cá lóc 18
4.1.3 Số lao động tham gia nuôi cá lóc 18
4.2 Thông tin chung về thiết kế và kỹ thuật nuôi cá lóc thương phẩm 19
Trang 74.2.1 Mùa vụ sản xuất của nông hộ 19
4.2.2 Thông tin về con giống 21
4.2.3 Thông tin về quản lý nguồn nước khi nuôi cá lóc 23
4.2.4 Thông tin về quản lý dịch bệnh khi nuôi cá lóc 24
4.3 Thông tin về thức ăn cho cá lóc 26
4.3.1 Số lượng và hệ số thức ăn 26
4.3.2 Cơ cấu và số lượng sử dụng thức ăn trên vụ 27
4.4 Thu hoạch và tiêu thụ 27
4.4.1 Sản lượng, kích cỡ và giá bán cá lóc khi thu hoạch 27
4.4.2 Năng suất và tỷ lệ sống khi thu hoạch 28
4.4.3 Tiêu thụ sản phẩm sau khi thu hoạch 29
4.5 Chi phí nuôi cá lóc 30
4.5.1 Chi phí cố định và cơ cấu 30
4.5.2 Chi phí biến đổi và cơ cấu 30
4.5.3 Tổng chi phí và cơ cấu chi phí 32
4.6 Các chỉ tiêu tài chính 33
4.6.1 Thu nhập nuôi cá lóc từ các mô hình 33
4.6.2 Lợi nhuận và hiệu quả kinh tế của các mô hình 33
4.6.3 Mức độ lời-lỗ trong năm 34
4.7 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của các mô hình nuôi cá lóc thương phẩm tỉnh Hậu Giang 34
4.8 Nhận thức của người nuôi về việc sử dụng TS giá trị thấp làm thức ăn cho nuôi cá lóc 37
4.9 Những khó khăn và mong muốn của người đân trong nuôi cá lóc 39
4.9.1 Các khó khăn 39
4.9.2 Mong muốn/đề xuất 40
4.10 Ma trận SWOT 41
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề xuất 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 46
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của Việt Nam 2000-2006 7
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản nuôi trồng phân theo địa phương ở ĐBSCL 8
Bảng 2.3: Cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản 2003 - 2007 10
Bảng 4.1: Thông tin chung về nông hộ 17
Bảng 4.2: Nguồn thông tin kinh tế-kĩ thuật cho nuôi cá lóc 18
Bảng 4.3: Số lao động tham gia nuôi cá lóc 19
Bảng 4.4: Thời gian thực nuôi cá lóc 20
Bảng 4.5: Thông tin về cá giống 22
Bảng 4.6: Thông tin về quản lý nguồn nước khi nuôi cá lóc 24
Bảng 4.7: Thông tin về quản lý dịch bệnh 26
Bảng 4.8: Thông tin về thức ăn nuôi cá lóc 26
Bảng 4.9: Lượng thức ăn từng loại khi nuôi cá lóc 27
Bảng 4.10: Sản lượng, kích cỡ và giá bán cá lóc thương phẩm 28
Bảng 4.11: Năng suất và tỷ lệ sống của cá khi thu hoạch 29
Bảng 4.12: Chi phí biến đổi theo mô hình 31
Bảng 4.13: Cơ cấu chi phí biến đổi theo mô hình 32
Bảng 4.14: Tổng chi phí và cơ cấu chi phí 32
Bảng 4.15: Tổng thu nhập 33
Bảng 4.16: Hiệu quả kinh tế của các mô hình 34
Bảng 4.17: Phân tích mức độ lời-lỗ trong năm 34
Bảng 4.18: Nhận thức của người nuôi về việc sử dụng TS giá trị thấp làm thức ăn cho nuôi cá lóc 38
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Sản lượng thủy sản thế giới 5
Hình 2.2: Sản lượng nuôi nước ngọt thế giới 5
Hình 2.3: Sản lượng thủy sản nuôi trồng ở Việt Nam năm 1997- 2006 6
Hình 2.4: Bản đồ tỉnh Hậu Giang 9
Hình 4.1: Tháng chuẩn bị cải tạo ao 19
Hình 4.2: Tỷ lệ vụ nuôi vèo ao 20
Hình 4.3: Tỷ lệ vụ nuôi vèo sông 20
Hình 4.4: Giống loài thả nuôi 21
Hình 4.5: Nguồn gốc cá giống 21
Hình 4.6: Chất lượng cá giống 23
Hình 4.7: Phương pháp thay nước 23
Hình 4.8: Các loại bệnh thường gặp 25
Hình 4.9: Tỷ lệ tiêu thụ cá lóc ở mô hình vèo ao 29
Hình 4.10: Tỷ lệ tiêu thụ cá lóc ở mô hình vèo sông 29
Hình 4.11: Chi phí cố định của các mô hình 30
Hình 4.12: Ảnh hưởng của lượng thức ăn đến năng suất và lợi nhuận nuôi cá 35
Hình 4.13: Ảnh hưởng của mật độ thả đến năng suất và lợi nhuận nuôi cá 36
Hình 4.14: Ảnh hưởng của kích cỡ cá giống đến năng suất và lợi nhuận nuôi cá 36
Hình 4.15: Ảnh hưởng của kích cỡ cá thu hoạch đến năng suất và lợi nhuận nuôi cá 37
Trang 10BẢNG DANH MỤC TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
TS: Thủy sản
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Từ những năm đầu thập niên 90 Việt Nam đã xác định TS là ngànhkinh tế mũi nhọn của nước ta và liên tục trong thời gian qua, ngành TS đã đạttốc độ tăng trưởng rất cao, cụ thể năm 1991 sản lượng TS mới đạt 700.000 tấnvới giá trị kim ngạch đạt 11,2 triệu USD, thì đến năm 2005 sản lượng đạt 3,3triệu tấn ( tăng 4,7 lần ) và giá trị kim ngạch đạt 2.650 triệu USD ( tăng 236,5lần ) (theo Bộ thủy sản, 2006 )
Khi dân số gia tăng và nhu cầu dinh dưỡng của con người ngày càngcao thì khai thác và NTTS được nhiều người quan tâm hướng đến.Cần khẳng
định rằng nguồn lợi TS không phải là vô tận nếu khai thác không đi đôi với
bảo vệ, tái tạo và phát triển thì nguồn lợi sẽ khánh kiệt Việt Nam là một trongnhững quốc gia có tiềm năng phát triển TS trong khu vực châu Á Thái Bình
Dương Với mạng lưới sông ngòi chằng chịt kéo dài từ Lạng Sơn tới mũi Cà
Mau , Việt Nam có tiềm năng lớn cho phát triển NTTS với 1.692.878 ha diệntích mặt nước, trong đó 911.740 ha diện tích mặt nước ngọt và 761.138 hadiện tích mặt nước lợ Diện tích NTTS năm 2002 là 955.101 ha, sản lượng là976.100 tấn, trong đó NTTS nước ngọt là 42.500 ha với nhiều đối tượng nuôi
và mô hình nuôi khác nhau (Bộ thủy sản, 2003) Diện tích NTTS cũng tăng
lên qua các năm, năm 2004 cả nước có 920.100 ha diện tích mặt nước, năm
2005 tăng lên 959.900 ha dùng cho NTTS (Niên giám thống kê, 2005)
Trong khi nguồn lợi TS bị hại chế và dễ bị tổn thương thì nhu cầu của
con người về chúng lại tăng lên không ngừng Cá và những loài TS khác đang
và sẽ là thực phẩm mà ngày càng có nhu cầu cao ĐBSCL là vùng có nhiềudạng thủy vực rất thuận lợi cho NTTS, diện tích đất tự nhiên của ĐBSCL là
189.400 ha, đến năm 2003 đã là 614.600 ha và theo định hướng quy hoạch đếnnăm 2010 sẽ là 649.430 ha (Bộ Thuỷ Sản, 2005) Trong những năm qua,NTTS đã trở thành thế mạnh kinh tế rất quan trọng ở ĐBSCL Năm 2005, diện
tích NTTS toàn khu vực là 680.200 ha với sản lượng TS khoảng 983.384 tấn
Năm 2007 là 1.100.000 ha với sản lượng đạt 1.268.000 tấn, bằng khoảng 70%
sản lượng NTTS của cả nước Kim ngạch xuất khẩu TS của của cả nước đạt3,792 tỷ USD, trong đó ĐBSCL đạt trên 60,52% giá trị kim ngạch xuất khẩu
TS của cả nước (Phạm Đình Đôn, 2004) Khi nói đến sự gia tăng sản lượng
nuôi TS nước ngọt thì phải kể đến sự gia tăng sản lượng cá da trơn (cá tra, cá
Trang 12basa), cá lóc, tôm càng xanh,…Và cá lóc hiện là đối tượng nuôi quan trọngtrong cơ cấu đàn cá nuôi ở ĐBSCL (Nguyễn Văn Thường, 2004).
Tuy nhiên các mô hình nuôi cá lóc có thật sự đạt hiệu quả tối ưu!? Cácyếu tố kinh tế - kỹ thuật có tác động tới sản lượng thu hoạch và lợinhuận!?Tình hình sử dụng cá tạp làm thức ăn chính cho đối tượng nuôi này cólàm giảm đáng kể nguồn lợi thủy sản tự nhiên!?
Vì vậy đề tài : “Khảo sát tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở tỉnh
Hậu Giang” được thực hiện nhằm đánh giá vai trò cũng như hiện trạng của
mô hình, đồng thời phân tích các yếu tố kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng tới năngsuất và lợi nhuận của mô hình nuôi cá lóc thương phẩm ở tỉnh Hậu Giang Từ
đó đề xuất các giải pháp cơ bản để cải thiện hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, góp
phần nâng cao năng suất và lợi nhuận, mang lại hiệu quả kinh tế cho mô hình
và góp phần bảo vệ nguồn lợi TS tự nhiên Do điều kiện và thời gian có hạnkhông thu được đầy đủ các mô hình ở tỉnh Hậu Giang nên trong đề tài này chỉthực hiện trên hai mô hình là vèo ao và vèo sông
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích tình hình sử dụng thức ăn cá tạp và đánh giá nhận thức của
người dân trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để cải thiện hiệu quả kinh tế-kỹ thuậtgóp phần nâng cao năng suất và lợi nhuận mang lại hiệu quả kinh tế và bảo vệnguồn lợi thủy sản
1.3.Nội dung nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế trong nuôi cá lóc thương phẩm
Trang 13- Phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kỹ thuật trong nuôi cá lóc thương phẩm.
- Phân tích việc sử dụng thức ăn cá tạp trong nuôi cá lóc thương phẩm
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của các môhình nuôi cá lóc thương phẩm ở địa bàn nghiên cứu
- Nhận thức của người nuôi về các vấn đề có liên quan tới thức ăn, congiống, môi trường nuôi…
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
NTTS là một ngành sản xuất động thực vật thuỷ sinh trong điều kiệnkiểm soát hoặc bán kiểm soát, hoặc như người ta vẫn thường nói, NTTS là sảnxuất nông nghiệp trong môi trường nước Vì vậy, NTTS đề cập đến cả cáchoạt động trong môi trường nước mặn, nước ngọt và nước lợ
NTTS ở Việt Nam và trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ, trong những
năm gần đây sản lượng và diện tích nuôi liên tục tăng Tuy nhiên, đứng về góc
độ quản lý, ngành NTTS thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đang
phải đối mặt với nhiều vấn đề, trong đó việc phát triển bền vững NTTS là mộtvấn đề cần được quan tâm đúng mức Nếu những người NTTS không có đượcnhững giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và đồng nhất thì không thể phát triểnNTTS bền vững được Sự phát triển vùng nuôi thiếu quy hoạch và đầu tư lâu
dài đã trở thành một nguy cơ trước mắt đối với nhiều nước phát triển NTTS
quá nhanh, trên hết là sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường đòi hỏi các
nước sản xuất phải liên tục tăng chất lượng và hạ giá thành sản phẩm trong khi
vẫn giữ được sự phát triển bền vững, đồng thời lại phải hết sức nhanh nhạytrong công tác xúc tiến thương mại để chiếm lĩnh thị trường
2.1 Tình hình nuôi thủy sản trên thế giới
Có thể nói nghề NTTS trên thế giới phát triển rất mạnh với đội ngũ cán
bộ có trình độ khoa học kỹ thuật cao Sự phát triển của nghề NTTS đượckhẳng định trong mối quan hệ với tổng sản lượng TS trong vùng, khu vực,toàn cầu Sản lượng NTTS ở các nước Châu Á chiếm khoảng 88% tổng sản
lượng TS toàn cầu trong đó Trung Quốc là nước dẫn đầu về sản lượng NTTS
ở khu vực Châu Á với 61% tổng sản lượng toàn cầu và 54% tổng sản lượng ở
Châu Á
NTTS thế giới có tốc độ tăng trưởng rất nhanh với tốc độ tăng bình
quân 8.8%/năm (theo báo cáo của FAO) Tổng sản lượng TS thế giới năm
2007 ước tính đạt 146 triệu tấn, tổng sản lượng TS khai thác đạt 94 triệu tấn
(64,3%) và sản lượng TS nuôi đạt 52 triệu tấn (35,6%) Khai thác còn chiếm tỉtrọng cao nhưng hầu như không tăng do đã gần đạt mức năng suất tối đa
Trang 15Hình 2.1: Sản lượng thủy sản thế giới ( Nguồn: FAO,2008)
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển NTTS cả về nuôi nước mặn,
nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt Năm 2005 đã nuôi TS với 648.770 ha nước
mặn, lợ và 359.430 ha nước ngọt (Tạp chí TS, số 12/2005 ) Ngành TS ViệtNam trong những năm qua đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 18,4%/năm Đây
là một bước tiến nhảy vọt góp phần quan trọng trong việc xuất khẩu cũng nhưcung cấp nguồn thực phẩm cho cả nước Việc đa dạng hóa các mô hình nuôi
và mở rộng diện tích đã góp phần đáng kể vào việc gia tăng sản lượng cá nướcngọt ở Việt Nam
Hình 2.2: Sản lượng nuôi nước ngọt thế giới ( Nguồn: FAO,2007)
Trang 162.2 Tình hình nuôi thủy sản ở Việt Nam
Hiện nay sản lượng khai thác đã chững lại và có xu hướng giảm nhẹ,trong khi tổng sản lượng thế giới vẫn tăng là nhờ vào NTTS phát triển nhanhtrong thập kỷ vừa qua Các dự báo cho biết đến năm 2030, sản lượng nuôitrồng sẽ bằng sản lượng khai thác tự nhiên, thế giới sẽ cần thêm 37 triệu tấn
TS mỗi năm để duy trì được mức tiêu thụ như hiện nay do dân số tăng và tới
năm 2050 sản lượng nuôi trồng sẽ vượt lên và là nguồn cung cấp TS chủ yếu
cho nhân loại Các ngư trường truyền thống đã gần chạm mức khai thác tối đanên NTTS là cách duy nhất để bù đắp thiếu hụt Nhưng việc đó chỉ có thể thựchiện được nếu được xúc tiến và quản lý một cách có trách nhiệm, sự phát triểncủa nghề NTTS phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với nghề khai thác TS
Hình 2.3: Sản lượng nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam năm 1997 – 2006
(Nguồn: FAO,2007)
Nước ta có diện tích nước ngọt nội địa rất rộng lớn, bên cạnh đó là hệ
thống sông suối, kênh mương dày đặc có tiềm năng diện tích NTTS rất lớn
Trong năm 2007, diện tích có khả năng phát triển TS trong cả nước là 1,7 triệu
ha, sản lượng TS cả nước ước đạt 3,9 triệu tấn trong đó khai thác đạt 1,95 triệutấn, nuôi trồng 1,95 triệu tấn, kể từ 2006 thì Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 3
về sản lượng NTTS thế giới (năm 2005 Việt Nam chỉ đứng thứ 6) Kim ngạchxuất khẩu 3,75 tỷ USD là nguồn thu ngoại tệ lớn thứ 4 của Việt Nam (5,25%GDP Việt Nam) và đứng thứ 6 về kim ngạch xuất khẩu TS thế giới
Trang 17Bảng 2.1: Diện tích mặt nước NTTS của Việt Nam
Diện tích nước ngọt 244.8 253 241.6 254.8 277.8 291.6 293.5 305.5 Nuôi cá 225.4 228.9 232.3 245.9 267.4 281.7 283.8 295.7 Nuôi tôm 16.4 21.8 6.6 5.5 6.4 4.9 4.6 4.7 Nuôi hỗn hợp và TS khác 2.2 0.5 0.4 1 1.1 1.6 1.7 1.6
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2008.
Năm 2007 Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã
tạo thuận lợi để xuất khẩu TS đạt tốc độ tăng trưởng cao khi các doanh nghiệp
đã chủ động chuyển hướng thị trường, vừa giữ được thị trường truyền thống,
vừa mở rộng phát triển sang các thị trường mới với khoảng 130 quốc gia vàvùng lãnh thổ
2.3 Tình hình nuôi thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSCL vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm, còn là vùng
NTTS lớn nhất cả nước, sản lượng nuôi trồng chiếm 65% sản lượng cả nước
và giá trị xuất khẩu TS chiếm 51% của cả nước Năm 2003 kim ngạch xuấtkhẩu của ngành TS đạt 2.240 triệu USD (Thời báo kinh tế, 2004)
Nhiều năm qua, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản đã trở thành thếmạnh kinh tế đặc biệt ở khu vực ĐBSCL, biến nơi đây thành một vùng trọng
điểm về NTTS cho tiêu dùng và xuất khẩu của cả nước
Trang 18Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản nuôi trồng phân theo địa phương ở ĐBSCL
Đồng Tháp 34.723 35.797 35.998 42.502 66.874 115.136 158.491 226.214
An Giang 80.156 83.643 110.599 136.825 154.675 180.809 181.952 258.145 Kiên Giang 9.991 18.979 14.535 20.636 25.882 48.231 66.159 82.137 Cần Thơ 12.980 15.122 25.215 36.324 59.086 83.783 110.214 143.150
Sóc Trăng 15.422 18.680 23.695 30.750 41.201 71.708 82.080 98.000 Bạc Liêu 22.366 37.704 48.953 72 468 92.812 110.466 119.800 134.220
Cà Mau 73.139 87.688 88.314 92.317 98.186 120.086 138.323 158.883
(Nguồn: Tổng cục thống kê 2007)
Riêng vùng ĐBSCL diện tích mặt nước và sản lượng NTTS tăng nhanh
trong những năm gần đây, năm 2000 là 445.300 ha với tổng sản lượng nuôitrồng là 365.141 tấn; năm 2005 là 685.800 ha với sản lượng là 983.384 tấn, vàquy hoạch NTTS đến năm 2010 là 1.016.020 ha trong đó là nuôi nước mặn-lợ
là 649.430 ha và nuôi nước ngọt là 366.590 ha ( Phạm Đình Đôn, 2006 )
2.4 Những thông tin tổng quan về tỉnh Hậu Giang
2.4.1 Điều kiện tự nhiên
Hậu Giang là tỉnh ở trung tâm ĐBSCL, thị xã tỉnh lị Vị Thanh cáchthành phố Hồ Chí Minh 240 km về phía tây nam; phía bắc giáp thành phố Cần
Thơ; phía nam giáp tỉnh Sóc Trăng; phía đông giáp sông Hậu và tỉnh Vĩnh
Long; phía tây giáp tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu
Tọa độ địa lý: Từ 9030'35'' đến 10019'17'' vĩ độ Bắc và từ 105014'03''
đến 106017'57'' kinh độ Đông
Diện tích tự nhiên là 160.058,69 ha, chiếm khoảng 4% diện tích vùng
ĐBSCL và chiếm khoảng 0,4% tổng diện tích tự nhiên nước Việt Nam
Trang 19Năm 2006, dân số đạt 799.114 người, mật độ 497 người/km2 Mức tăng
từ 1,07 - 1,11%/năm Sự gia tăng dân chủ yếu là tăng cơ học, dân thành thị là
132.406 người, chiếm 17% Số dân sống dựa vào nông nghiệp chiếm 41,4%
Dân số sống bằng nghề phi nông nghiệp là 58,6%
Địa hình khá bằng phẳng là đặc trưng chung của ĐBSCL Trên địa bàn
tỉnh có 2 trục giao thông huyết mạch quốc gia là quốc lộ 1A, quốc lộ 61; 2 trụcgiao thông thủy quốc gia kênh Xà No, kênh Quản lộ - Phụng Hiệp
Tỉnh Hậu Giang nằm trong vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, gần
xích đạo; có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt Mùa mưa có
gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12
đến tháng 4 hàng năm
Tỉnh Hậu Giang có một hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt vớitổng chiều dài khoảng 2.300km Mật độ sông rạch khá lớn 1,5km/km, vùngven sông Hậu thuộc huyện Châu Thành lên đến 2km/km
Năm 2004, toàn tỉnh có 8.223 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt
110.7% kế hoạch Trong đó diện tích nuôi cá 8.054 ha đạt 111% kế hoạch,Diện tích tôm nuôi 169 ha, đạt 85% kế hoạch Về sản lượng, thuỷ sản ước đạt19.983 tấn, đạt 130% kế hoạch, tăng 30.16% so với năm 2003
Hình 2.4: Bản đồ tỉnh Hậu Giang
Trang 202.4.2 Nguồn lợi và nuôi thuỷ sản tỉnh Hậu Giang
Hậu Giang là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi với địa hình thấp và bằngphẳng, khí hậu ôn hoà, có nguồn nước ngọt phong phú, hệ thống sông ngòichằng chịt tạo ra nhiều dạng thuỷ vực khác nhau, thích hợp cho sự phát triểncủa nhiều loài TS Sau thế mạnh cây lúa, NTTS là thế mạnh thứ hai trongchương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Theo số liệu thống kê của tỉnh, năm 2007 Hậu Giang có diện tích ngập
nước quanh năm và theo thời vụ khoảng 125.000 ha, trong đó có tới 54.000 ha
có thể đưa vào nuôi TS Nghề NTTS trong những năm gần đây chỉ chiếm tỷtrọng nhỏ trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhưng theo số liệu thống kê chothấy đây là nghề có tiềm năng rất lớn và có khả năng phát triển nhanh Chỉtrong vòng 4 năm diện tích tăng lên rõ rệt từ 7.735 ha (năm 2004) lên 10.755
ha (năm 2007) Sản lượng TS nuôi tăng khá nhanh trong vòng 2 năm nay, năm
2006 từ 25.570 tấn đến năm 2007 đạt 28.518 ( tăng 2.948 tấn), tốc độ tăngbình quân 11,5% /năm (giai đoạn 2006 - 2007)
Bảng 2.3: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 2003 – 2007
Cơ cấu 2003 2004 2005 2006 2007
Nông nghiệp (%) 91,60 89,53 89,40 88,93 88,28 Thuỷ sản (%) 6,41 8,68 9,11 9,77 10,35 Lâm nghiệp (%) 1,99 1,80 1,50 1,30 1,37
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Hậu Giang 2007)
2.5 Nguồn gốc và một số khái niệm, sự phân bố của các loài cá lóc trên thế giới
Cá lóc trong tiếng Anh được gọi là cá “đầu rắn” (snakehead), ám chỉ
đến cái đầu thuôn và tròn trông giống như đầu rắn Họ cá lóc Channidae bao
gồm 2 chi là Channa, phân bố ở châu Á và chi Parachanna, phân bố ở châuPhi Chi Channa có 26 loài còn chi Parachanna có 3 loài Phía trên nắp mangcủa cá lóc có một cấu trúc màng gọi là mang phụ (suprabranchial organ), qua
đó ô-xy từ không khí có thể thẩm thấu trực tiếp vào mạch máu; nhờ vậy mà cá
lóc có thể tồn tại trong môi trường nghèo ô xy hoặc bò trên cạn, vượt qua ràocản để thâm nhập vào các vùng nước mới Mang phụ ở chi Parachanna có cấu
trúc đơn giản hơn ở chi Channa; chức năng của nó cũng tương tự như mê lộ
Trang 21(labyrinth) ở những loài thuộc họ Osphronemidae, chẳng hạn như cá rô đồng
nhưng không phát triển bằng
Cá lóc phân bố chủ yếu trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ở châuPhi và châu Á; tuy nhiên cá biệt có vài loài phân bố ở những vùng khí hậulạnh hơn như ở Trung Quốc, Hàn Quốc và vùng Siberia Mặc dù không phải là
loài cá nước ngọt sơ khai, cá lóc lại hoàn toàn thích nghi với nước ngọt và
chịu đựng độ mặn rất kém Chúng sống chủ yếu ở sông và kênh rạch; ngoài rachúng còn xuất hiện ở ao, hồ, ruộng lúa, hoặc đầm lầy Chúng có thể tồn tại
trong môi trường nghèo ô-xy nhờ khả năng “hít thở” trong không khí Một số
loài có khả năng chịu đựng đặc biệt; chẳng hạn loài Channa banganensis sống
ở vùng “nước đen” có độ acid cao (3-4 độ pH); rồi các loài Channa gachua,
Channa striata và Channa punctata có thể chịu đựng được tầm pH biến thiên
rất rộng, từ 4 đến 9 độ trong vòng 72 giờ; còn loài Channa argus ở sông Amur,Siberia lại có thể sống sót qua mùa đông khắc nghiệt!
2.6 Thông tin về các loại cá lóc và các mô hình nuôi cá lóc ở Việt Nam ĐBSCL
-Theo sách Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long
(1993) của các tác giả Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, cá lóc gồmbốn loài chủ yếu:
- Cá lóc đen (Channa striata)
- Cá chành dục (Channa gachua)
- Cá lóc bông (Channa micropeltes) Kích thước tối đa 150 cm.
- Cá dầy (Channa lucius) Kích thước tối đa 40 cm.
Tài liệu giảng dạy của khoa TS trường Đại học Cần Thơ còn ghi nhận
thêm loài cá lóc môi trề (Channa sp.) rất phổ biến ở các vùng lũ như An Giang
và Đồng Tháp Ở miền Nam, cá lóc đen, cá lóc môi trề và cá lóc bông được
nuôi lấy thịt cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu; phương thứcnuôi chủ yếu là nuôi trong ao hay trong các lồng, bè thả trên sông
Từ những năm 1990 trở về trước, một số người dân ĐBSCL có xâydựng ao hầm nuôi cá lóc trong khu vườn của mình theo hệ sinh thái VAC,nguồn cá giống được vớt tự nhiên ở ao, hồ, sông, suối Trong các năm 1995 –
1996, Trung tâm Nghiên cứu TS ĐBSCL đã nghiên cứu thành công đề tài sinhsản nhân tạo cá lóc từ nuôi vỗ cá bố mẹ, cho đẻ nhân tạo, ương nuôi cá giống
Sự thành công của đề tài đã triển khai sản xuất nhân rộng cá lóc và đến nay
Trang 22chúng ta đã chủ động giống mà không phải đi vớt ở ngoài tự nhiên Các loại
mô hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL cũng phát triển rất đa dạng, có khá nhiều môhình đã đươc áp dụng nuôi đạt hiệu quả cao như: nuôi trong vèo lưới, nuôi bè,nuôi trong ao đất, nuôi trong mùng, hay nuôi cả trong bồn nylon
Trang 23CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 12/2008 đến tháng 05/2009
Công tác thu số liệu được thực hiện ở tỉnh Hậu Giang Công tác nhập, xử
lý, phân tích số liệu và viết báo cáo được thực hiện tại khoa Thủy Sản trường
Đại Học Cần Thơ
3.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Thông tin thu thập gồm hai loại:
+ Thông tin thứ cấp: các nghiên cứu trước đây, các báo cáo của tỉnh cùngvới các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
+ Thông tin sơ cấp: được thu trực tiếp từ các hộ nuôi trồng thủy sản ở địa
bàn nghiên cứu thông qua phiếu điều tra nông hộ
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Đối với thông tin thứ cấp: liên hệ với cơ quan, ban ngành, cán bộ ở địa
bàn nghiên cứu để thu thập thông tin thứ cấp hoặc thư viện, các trang web, báo
chí…
+ Đối với thông tin sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp hộ NTTS tại địa bàn
nghiên cứu
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được kiểm tra, bổ sung, điều chỉnh và mã hóa trước khi nhập vàomáy tính
lí như người thuộc diện lao động mà lại có độ tuổi quá nhỏ, quá già…
Trang 24+ Thống kê theo hàng cột (Crosstabs, tables): Trình bày các tham sốthống kê tổng hợp trên các nhóm quan sát theo các hàng, theo cột mỗi quan sát
được trình bày trên một háng, cột Đồng thời có thể liệt kê các quan sát một
cách riêng biệt hoặc đi kèm với các tham số thống kê
+ Phân tích tương quan (đơn, đa biến) Để xác định sơ bộ xem giữa cácđại lượng cần nghiên cứu có một mối quan hệ ràng buộc nào đó không, hoặc
có thể dùng phân tích tương quan chéo để xem xét các mối quan hệ giữanhững biến định tính và xét khuynh hướng biến động của các biến phụ thuộc
như: năng suất, chi phí, lợi nhuận Sử dụng các hàm như hàm sản xuất, hàm
cobb doulag… Thông thường trong sản xuất kinh doanh người ta dùng hàm
sản xuất để khảo sát mối tương quan giữa các yếu tố tác động tới năng suất sảnphẩm hay lợi nhuận góp phần tìm ra giải pháp nhằm gia tăng lợi nhuận của các
3.4 Các biến cơ bản sử dụng trong nghiên cứu
a Thông tin chung
Trang 25+ Kích thước của mô hình nuôi: chiều dài, rộng, độ sâu
+ Chi phí ban đầu
+ Lao động tham gia
+ Nhu cầu vốn ban đầu
+Tác động của việc sử dụng thức ăn
d Hiệu quả kinh tế-kỹ thuật
Trang 26+ Tác động của nuôi cá lóc với người nuôi, môi trường, cộng đồng.v.v.
+ Thuận lợi khó khăn của người nuôi
+ Đề xuất góp phần cải thiện hiệu quả kinh tế
Trang 27CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thông tin chung về hộ nuôi cá lóc
4.1.1 Độ tuổi, trình độ học vấn và số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc
Qua kết quả điều tra cho thấy tuổi trung bình của các hộ nuôi là 43 tuổi
Trong đó người nuôi ở mô hình vèo ao có độ tuổi cao nhất là 65 tuổi và thấp
nhất là 17 tuổi, mô hình vèo trên sông có độ tuổi cao nhất là 69 tuổi và thấpnhất là 19 tuổi
Qua Bảng 4.3 cho thấy trình độ học vấn của các hộ nuôi không đồng
đều Các chủ hộ có trình độ văn hoá ở cấp 3 là rất ít, chiếm tỉ lệ nhỏ (4,3%), số
chủ yếu là từ cấp 2 trở xuống Ở mô hình vèo ao các chủ hộ có trình độ vănhoá cấp 1 và cấp 2 chiếm chủ yếu (45,5%) Trong khi đó ở mô hình vèo sôngthì tỉ lệ cấp 2 lại chiếm số lượng lớn (54,1%), trình độ văn hoá cấp 3 chỉ chiếm5,4%
Kết quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi có trình độ học vấn không cao,
do đó còn thiếu nhiều hiểu biết về hoạt động nuôi cá cũng như việc tiếp cận
thông tin khoa học kỹ thuật, điều này có thể gây bất lợi cho công tác khuyến
ngư đến các hộ nuôi
Bảng 4.1: Thông tin chung về hộ nuôi cá lóc
Trang 28Nhìn chung kinh nghiệm NTTS của hộ chưa cao (3,9±2,4 năm), môhình vèo ao và vèo sông đều có kinh nghiệm nuôi cao nhất là 10 năm và thấpnhất là 1 năm Những hộ nuôi với kinh nghiệm lâu năm phần lớn là nuôi theotruyền thống gia đình, mặc khác thu nhập của nghề nuôi cá tương đối ổn định,
có thể tận dụng nguồn thức ăn khai thác tạo điều kiện cho các hộ nuôi pháttriển nghề
4.1.2 Nguồn thông tin Kinh tế - Kỹ thuật cho nuôi cá lóc
Đa số người dân nuôi theo kinh nghiệm là chính, trong đó cao nhất là
mô hình vèo sông có số hộ nuôi theo kinh nghiệm chiếm 91,9%, kế đến lànguồn thông tin từ những người nuôi khác cũng được người dân quan tâm Ởnguồn thông tin này thì mô hình vèo ao chiếm cao nhất (36,4%), đặc biệt ở môhình vèo ao số hộ được tập huấn hội thảo cũng chiếm tỉ lệ cao hơn mô hìnhvèo sông (27,3% so với 16,2%) (Bảng 4.2)
Tóm lại người dân nuôi cá phần lớn dựa vào kinh nghiệm là chính
Điều này cho thấy các lớp tập huấn dành cho người nuôi còn nhiều hạn chế,
lĩnh vực này ít được quan tâm, những kiến thức, kỹ thuật nuôi mới chưa đến
được với người dân do đó đời sống của họ vẫn ở mức đủ sống, chưa thể vươn
lên làm giàu
Bảng 4.2: Nguồn thông tin kinh tế - kỹ thuật cho nuôi cá lóc
4.1.3 Số lao động tham gia nuôi cá lóc
Qua khảo sát (Bảng 4.3) cho thấy các hộ tham gia nuôi cá lóc có số lao
động gia đình chiếm rất cao 93,3% đối với cả 2 mô hình Cao nhất là mô hình
vèo sông với số lao động gia đình chiếm 97,9% Số lao động trung bình sửdụng cho mỗi mô hình nuôi sẽ khác nhau và tùy thuộc vào từng đối tượngnuôi, hình thức nuôi và quy mô nuôi của từng hộ Trong cả 2 mô hình nuôi thì
Trang 29lao động gia đình là chủ lực, lao động thường xuyên và lao động thời vụ chỉ
chiếm tỷ lệ nhỏ được các hộ nuôi thuê mướn để chăm sóc, quản lý, cải tạo aonuôi và thu hoạch Thông thường thì số thành viên trong gia đình sẽ ảnh
hưởng đến quy mô nuôi cá và thường thì những hộ đông người hơn sẽ tham
gia vào hoạt động nuôi cá hơn
Bảng 4.3: Số lao động tham gia nuôi cá lóc
4.2 Thông tin chung về thiết kế và kỹ thuật nuôi cá lóc thương phẩm
4.2.1 Mùa vụ sản xuất của nông hộ
Có 22,4% số hộ được phỏng vấn thường thả cá nuôi vào tháng 1 âmlịch do vừa thu hoạch vụ cá bán trong Tết và 15,5% số hộ thả giống vào tháng
7 âm lịch do đây là mùa sinh sản của các loài cá nên sẽ đủ lượng cá giốngcung cấp cho các hộ nuôi, mặc khác do nhận thức của người dân khi thả giốngvào thời điểm này sẽ kịp bán vào dịp Tết nên lợi nhuận thu về sẽ cao hơn
22.4
8.6 12.1 6.9 1.7 8.6 15.5
5.2 8.6 3.4 5.2
1.7 0
5 10 15 20 25 30
Trang 30Qua Bảng 4.4 cho thấy thời gian thực nuôi giữa các mô hình tương đối
đồng đều, trung bình vụ 1 có số ngày thực nuôi là 113,0 ngày( ± 19,4 ngày),dài hơn trung bình vụ 2 có số ngày thực nuôi là 108,1 ngày (± 23,4 ngày),
Đa số các hộ nuôi bình quân 1 năm 2 vụ, phần còn lại nuôi 1 vụ, rất ít
hộ nuôi 3 vụ Do ít vốn nên các hộ nuôi 1 vụ phần lớn tận dụng nguồn cá tạp
tự khai thác để nuôi cá lóc, không phải tốn chi phí mua cá mồi, chính vì vậy
đời sống của các hộ này thường bấp bênh, không ổn định so với hộ nuôi 2 vụ /năm
Trang 314.2.2 Thông tin về con giống
Qua kết quả khảo sát (Hình 4.4) cho thấy số hộ chọn mua cá giống
lai/đầu nhím chiếm 50,9% và 49,1% số hộ chọn mua giống cá đầu vuông Tỷ
lệ số hộ nuôi chọn mua giống cá lai/đầu nhím ở cả 2 mô hình không chênhlệch nhiều (53,1% và 48,2%), tương tự cho giống cá đầu vuông (46,9% và51,9%)
Lai/đầu nhím 50.9%
Đầu vuông
49.1%
Hình 4.4: Giống loài thả nuôi
Đa số người nuôi ở cả 2 mô hình khi được khảo sát đều cho rằng nguồn
gốc cá giống thả nuôi chủ yếu từ nuôi thịt (chiếm 98,3%), tỷ lệ này chiếm rấtcao ở mô hình vèo ao (100,0%) và 96,3% ở mô hình vèo sông
Tự nhiên 1.2%
Nuôi thịt
98.8%
Hình 4.5: Nguồn gốc cá giống
Bảng 4.5 cho thấy số lượng cá giống thả vụ 2 cao hơn vụ 1, trung bình
vụ 1 là 5.418,8 con (± 9.474,6 con), ở vụ 2 là 7.097,6con (± 11.798,9 con),
nhưng do số mẫu thu có hộ thả đến 70.000 con nên mức độ dao động lớn Ở
mô hình vèo ao số lượng cá giống thả cao nhất là 70.000 con cao hơn ở mô
Trang 32hình vèo sông là 35.000 con Số lượng cá giống thả nhiều hay ít còn tuỳ thuộcvào diện tích và số vèo thực nuôi của từng hộ.
Qua khảo sát cho thấy mật độ thả nuôi trung bình là 151,6 con/m3 (±188,6 con/m3) ở vụ 1 và 173,9 con/m3 (± 205,1 con/ m3) ở vụ 2
Kết quả điều tra cho thấy kích cỡ cá giống mua chưa cao, cao nhất là
mô hình vèo ao với kích cỡ cá giống là 1,7 ± 0,5 g/con ở vụ 1 và 1,5 ± 0,4g/con ở vụ 2
Mặc dù với kích cỡ giống nhỏ sẽ kéo dài thời gian nuôi nhưng ngườidân sẽ ít gặp trở ngại trong khâu vận chuyển giống vì với kích cỡ nhỏ thì số
lượng giống vận chuyển sẽ nhiều hơn trong cùng một thể tích nước đồng thời
khả năng cá bị xây xát sẽ ít đi Kích cỡ cá giống ảnh hưởng nhiều đến năngsuất khi thu hoạch nên người dân khi nuôi cần quan tâm nhiều về vấn đề này
Các hộ nuôi chủ yếu mua cá giống tù địa phương nên giá tương đốithấp (392,4 ± 86,6 đ ở vụ 1 và 367,7 ± 78,7 đ ở vụ 2) Mô hình vèo ao số hộnuôi mua cá giống với giá cao nhất là 550 đ/con ở vụ 1 và 500 đ/con ở vụ 2,
mô hình vèo trên sông mua cá giống với giá cao nhất là 500 đ/con ở cả 2 vụ.Bảng 4.5: Thông tin về cá giống
Vèo ao (n = 33)
Vèo sông (n = 37)
Tổng cộng (n = 70)
1.Số lượng cá giống
-Trung bình con 5.297,0 8.469,2 5.527,0 6.482,8 5.418,6 7.097,6 -Độ lệch chuẩn con 11.965,0 18.642,8 6.691,6 7.323,5 9.474,6 11.798,9
2.Mật độ thả nuôi
-Trung bình con/m3 151,7 178,9 151,4 171,7 151,6 173,9 -Độ lệch chuẩn con/m3 248,3 241,0 115,7 191,6 188,6 205,1
3.Kích cỡ cá giống mua
-Trung bình g/con 1,7 1,5 1,5 1,3 1,6 1,4 -Độ lệch chuẩn g/con 0,5 0,4 0,4 0,9 0,5 0,4
4.Giá mua cá giống
-Trung bình đ/con 415,8 401,5 371,6 365,5 392,4 376,7 -Độ lệch chuẩn đ/con 99,1 107,0 68,6 61,2 86,6 78,7
Trang 33Chất lượng cá giống khi được khảo sát được đánh giá tốt chiếm tỷ lệ
khá cao 69,5%, trong khi đó ở mô hình vèo ao tỷ lệ này chiếm 59,4%, thấphơn mô hình vèo sông khi chất lượng cá giống tốt được đánh giá đến 81,5%
Rất tốt
25.4%
Tốt 69.5%
Bình thường 5.1%
Hình 4.6: Chất lượng cá giống
4.2.3 Thông tin về quản lý nguồn nước khi nuôi cá lóc
Kết quả khảo sát (Hình 4.7) cho thấy có 48,5% hộ nuôi cá ở mô hình
vèo ao thay nước dựa vào thuỷ triều, 45,5% bơm nước vào ao bằng máy bơm
và 6,1% áp dụng cả 2 cách: xen kẻ vừa bơm vừa dựa vào thuỷ triều Trong khi
đó ở mô hình vèo sông tỷ lệ không cấp nước, để nước chảy tự nhiên chiếm tỷ
lệ cao 83,78%, dựa vào thuỷ triều chiếm 10,8%
44.3
28.6
22.8
4.3 0
Trang 34Thay nước trong nuôi cá là yếu tố hết sức cần thiết để tạo môi trườngnước mới, sạch để cá phát triển tốt Việc định kỳ thay nước hầu như khôngđược thực hiện ở các hộ nuôi, thời gian thay nước tuỳ thuộc vào mật độ thả cá
và kinh nghiệm quan sát màu nước của người nuôi, khi nước chuyển sang màu
đậm hơn thì tiến hành thay nước Theo kết quả khảo sát thì thời gian thay nước
trung bình của các hộ vèo ao là 7,9 ± 8,5 ngày, nhưng do số mẫu thu có hộ sau
30 ngày mới thay nước 1 lần, dẫn đến mức độ dao động lớn Trong khi đó các
hộ vèo sông thì thay nước theo thuỷ triều
Đối với mô hình vèo ao tỉ lệ thay nước trung bình của vụ 1 là 43,2 ±11,6% lượng nước trong ao, cao hơn vụ 2 là 38,2 ± 21,8% lượng nước.(Bảng
4.6)
Theo Dự án WES (1996-1997) thì bất lợi của việc thay nước cho các
mô hình nuôi cá là việc nông dân thường xuyên sử dụng thuốc nông dược cho
lúa nhưng không có biện pháp xử lý trước khi tháo nước ra kênh mương, điều
này sẽ làm ô nhiễm nguồn nước cung cấp cho các mô hình nuôi cá, gây khó
khăn cho việc quản lý nguồn nước trong quá trình thả cá nuôi
Bảng 4.6: Thông tin về quản lý nguồn nước khi nuôi cá lóc
2.Tỷ lệ thay nước
-Trung bình % 43,2 38,2 0,0 0,0 43,2 12,4 -Độ lệch chuẩn % 11,6 21,8 0,0 0,0 11,6 21,8
4.2.4 Thông tin về quản lý dịch bệnh khi nuôi cá lóc
Qua Hình 4.8 cho thấy cá bệnh do ký sinh trùng chiếm tỷ lệ cao nhất55,9%, kế đến là xuất huyết 27,9% và đỏ họng là 7,4% Ở mô hình vèo aobệnh ký sinh trùng chiếm tỷ lệ cao nhất 63,6% và ở mô hình vèo sông là48,6% Vì vậy chi phí phòng trị bệnh ở các mô hình khá cao do khi nuôi cádịch bênh xảy ra nhiều, cần phải sử dụng thuốc để phòng ngừa và điều trị
Điều này cho thấy trong quá trình nuôi thì vấn đề dịch bệnh cần được quan
tâm nhiều hơn, từ đó đề ra biện pháp phòng trị bệnh kịp thời nhằm đảm bảo
Trang 35Nhìn chung mức độ thiệt hại khi cá bị bệnh trung bình là 18,5% Ở cả 2
mô hình mức độ thiệt hại không chênh lệch nhiều, mức độ thiệt hại ở mô hìnhvèo ao là 17,7%, có hộ thiệt hại lên đến 80,0% Trung bình thiệt hại do cá chết
ở mô hình vèo sông là 19,3% Qua đó cho thấy cần phải quan tâm nhiều đến
nguồn giống và nước trong khi nuôi, ngoài ra cần chú trọng vấn đề quản lýdịch bệnh, cần có biện pháp phòng ngừa dịch bệnh lây lan nhằm giảm mức độthiệt hại do cá bệnh (Bảng 4.7)
Khi phát hiện cá bệnh thì ra trạm thú y mua thuốc về tạt được nhiều hộnuôi lựa chọn (88,2%), ở mô hình vèo sông thì cách phòng trị này chiếm tỷ lệrất cao (100,0%) và ở mô hình vèo ao chiếm 75,8%, kế đến là sử dụng thuốctây và thuốc nam (7,4% và 4,4%)
Qua kết quả khảo sát cho thấy phòng trị khi cá bệnh mang lại hiệu quảtốt chiếm tỷ lệ khá cao (65,7%), tỷ lệ này ở mô hình vèo ao chiếm 72,7%, cao
hơn so với mô hình vèo sông chiếm 65,7%
Bông gòn
Hình 4.8: Các loại bệnh thường gặp
Trang 36Bảng 4.7: Thông tin về quản lý dịch bệnh
Số lượng thức ăn sử dụng khác nhau đối với từng mô hình, nuôi vèo sông
có số lượng thức ăn sử dụng là cao nhất 7,8 tấn/1000m3. tương ứng với hệ số thức
ăn 4,1, lượng thức ăn tiêu tốn trong nuôi vèo ao thấp hơn (4,5 tấn/1000m3) tươngứng với hệ số thức ăn 4,0 (Bảng 4.8)
Bảng 4.8: Thông tin về thức ăn nuôi cá lóc
Trang 37Số lượng thức ăn sử dụng tùy thuộc vào thời gian nuôi của mô hình, cáchthức nuôi và khâu quản lý của từng hộ nuôi Nuôi vèo ao dễ quản lý nguồn thức
ăn hơn do có thể thả ghép một số loài nuôi thích hợp để tận dụng nguồn thức ăn
dư thừa
4.3.2 Cơ cấu và số lượng sử dụng thức ăn trên vụ
Qua khảo sát cho thấy, cá tạp nước ngọt và cá tạp biển là nguồn thức ăn
chính trong nuôi cá lóc thương phẩm Cá tạp nước ngọt được hộ nuôi lựa chọntrước hết Số lượng cá tạp nước ngọt chiếm từ 65,6- 69,5% trên tổng lượng
thức ăn sử dụng, vèo ao chiếm tỉ lệ cao nhất (69,5%), kế đến là vèo sông
lượng cá nước ngọt chiếm 65,6% Loại thức ăn chủ yếu thứ hai là cá tạp biển
Mô hình nuôi vèo sông sử dụng nhiều nhất (chiếm 32,6%) và vèo ao chiếm
22,7% Lượng ốc bươu vàng ở 2 mô hình chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ nhằm bổ sung
khẩu phần ăn hằng ngày khi lượng cá tạp nước ngọt hoặc cá biển bị thiếu,hoặc nuôi với quy mô nhỏ ít vốn và để tận dụng sản phẩm khai thác ( Bảng4.9)
Bảng 4.9: Lượng thức ăn từng loại khi nuôi cá lóc
4.4 Thu hoạch và tiêu thụ
4.4.1 Sản lượng, kích cỡ và giá bán cá lóc khi thu hoạch
Nhìn chung sản lượng thu hoạch ở vụ 2 cao hơn vụ 1 do thả giống với
số lượng nhiều hơn Sản lượng trung bình ở vụ 1 là 1.651,8 kg± 2.791,0 kg và
vụ 2 là 2.007,0 kg ± 2.875,9 kg Ở mô hình vèo ao sản lượng đạt cao nhất là16.000 kg ở cả 2 vụ, thấp nhất là 80 kg ở vụ 1 và 140 kg ở vụ 2 Mô hình vèo
sông đạt sản lượng cao hơn, vụ 1 cao nhất là 14.000 kg và thấp nhất là 110 kg,
vụ 2 cao nhất là 9.300 kg ở vụ 1 và thấp nhất là 140 kg ở vụ 2