Khảo sát mô hình nuôi cá điêu hồng ( bè) tại xã Thới Sơn - Huyện Châu Thành - Tỉnh Tiền Giang
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
KHẢO SÁT MÔ HÌNH NUÔI CÁ ĐIÊU HỒNG (BÈ) TẠI XÃ THỚI SƠN – HUYỆN CHÂU
THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG
NGÀNH: THUỶ SẢN
KHOÁ: 2001-2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN QUANG TRÍ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 06/2005
Trang 2KHẢO SÁT MÔ HÌNH NUÔI CÁ ĐIÊU HỒNG (BÈ) TẠI XÃ THỚI SƠN – HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG
Thực hiện bởi
Nguyễn Quang Trí
Luận văn được đệ trình để cấp bằng Kỷ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn: Ths Trần Trọng Chơn
Thành Phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2005
Trang 3TÓM TẮT
Nghề nuôi cá bè đang phát triển mạnh tại xã Thới Sơn - huyện Châu Thành - tỉnh Tiền Giang Nhầm tìm hiểu thêm những khía cạnh của nghề nuôi cá bè, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Điều tra tình hình kinh tế xã hội ở huyện Thới Sơn - huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang” Đề tài nhầm tìm hiểu các hoạt động nuôi cá bè trên sông Tiền thuộc xã Thới Sơn, đánh giá kinh nghiệm và kỹ thuật nuôi cá của các chủ bè
Qua điều tra trực tiếp 58 ngư hộ nuôi cá bè bằng phiếu điều tra soạn sẵn và thu số liệu thứ cấp.Kết quả điều tra cho thấy:
Mô hình nuôi cá bè đang phát triển mạnh
Về mặt kinh tế: lợi nhuận từ nghề nuôi cá bè góp phần tăng thu nhập cho người dân
Về mặt xã hội: giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống nông dân trong xã
Thuận lợi: mức đầu tư của ngư dân ngày càng cao, làm tăng năng suất cá nuôi Khó khăn: nguồn nước và chất lượng giống khó kiểm soát
Hiệu quả kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào giá thị trường và hiệu quả không chênh lệch nhiều giữa các chủ bè
Trang 4ABSTRACT
The trade of raising fish under raft already developed well at Thoi Sơn village, Châu Thành district, Tiền Giang provines In order to undertand more on espects of this profession of raising fish at the raft We’re carry out the studying “Investigation of economic, social status at Thới Sơn village, Châu Thanh district, Tien Giang province” We’re investigation fitty-three of household by the quesionaires The result so that:
The form of raising fish under raft already developed well
Economically: profit fromt raising fish at raft contribute to increase income for people
Socially: solving jobs for labour, increasing standard of living people in the wards Advantage: Inesment to production of fisherment is higher, thus increasing production capacity
Difficult: water inveroment arount the area of raising fish is polulluted
Advantage: water source and quanlity feg can’t manage
Economic efficien was depended market price and was not different among owner
Fish production quanlity: 69,96 kg/m3
Profit: 421,65 đ/m3
Income: 425,2 đ/m3
With the result fromt fish cages culture, we set up the production equation in order to guest the productivity based on imput facter to get the best result
Trang 5Chúng tôi chân thành cám ơn:
Các anh chị Trung tâmkhuyến ngư thuộc Sở Thuỷ Sản Tiền Giang
Các chú và các anh trong trạm Khuyến Nông thuộc phòng Nông Nghiệp
Cảøm ơn ban lãnh đạo UBND xã Thới Sơn – huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang
Cảm ơn gia đình đã luôn khuyến khích và giúp đỡ tôi trong quá trình hoc tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng là cảm ơn các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp của thầy cô vá các bạn
Trang 6MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
TÊN ĐỀ TÀI i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
CẢM TẠ v
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANG SÁCH CÁC HÌNH ẢNH ix
BẢN ĐỒ x
I GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
1.2 Tiêu Đề Tài 2
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Vị trí địa lý 3
2.2 Điều Kiện Tự Nhiên 4
2.2.1 Đất liền 4
2.2.2 Biển 6
2.3.1 Nguồn Lợi Hải Sản 8
2.3.2 Nguồn lợi thuỷ sản nội địa 2.3.3 Nuôi trồng thủy sản 10
2.4 Hiện Trang Khai Thác Thuỷ Sản 12
2.4.1 Khai thác hải sản 12
2.4.2 Khai thác thuỷ sản nội địa 14
2.5 Hiện Trạng và Dịch Vụ Hậu Cần Nghề Cá 15
2.5.1 Thức ăn và thuốc phòng trị bệnh cho nuôi thuỷ sản 15
2.5.2 Cơ sở đan vá lưới 15
2.6 Tình Hình Lao Động Năm 2004 16
2.7 Kinh Tế Xã Hội Nghề Ca 17
2.7.1 Đặc điểm kinh tế xã hội nghề cá 17
2.7.2 Đặc Điểm Sản Xuất Và Cơ Cấu Kinh Kế 18
2.8 Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Xã Thới Sơn – Huyện Châu Thành Tỉnh Tiền Giang 20
2.9 Đặc Điểm Sinh Học Cá Rô Phi Đỏ 20
Trang 72.9.1 Phân loại 21
2.9.2 Phân bố địa lý 21
2.9.3 Điều kiện sống 21
2.9.4 Đặc điểm ding dưỡng 22
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
1.2 Thời Gian Nghiên Cứu 23
1.3 Địa Điểm Nghiên Cứu 23
1.4 Phương Pháp Điều Tra Và Thu Thập Số Liệu 23
1.5 Xử lý số liệu 23
1.6 Nội Dung Nghiên Cứu 24
IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Một Vài Đặc Trưng Về Kinh Tế Xã Hội Các Hộ Nuôi Cá Bè Ở Xã Thới Sơn -
Huyện Châu Thành – Tỉnh Tiền Giang 25
4.1.1 Độ tuổi và thời gian nuôi bè của các chủ hộ
4.1.2 Trình độ học vấn 26
4.1.3 Số lao động trong ngư hộ 27
4.1.4 Kinh nghiệm nuôi cá bè ø28 4.1.5 Các nguồn học hỏi kinh nghiệm nuôi cá 28
4.1.6 Mức đầu tư cho nghề nuôi cá bè 4.1.7 Tiềm năng phát triển nghề nuôi cá bè 29
4.1.8 Tập huấn và khuyến ngư 30
4.2 Các Đặc Trưng Về Kỹ Thuật Nuôi Cá Lồng Bè Tại Xã Thới Sơn - Huyện Châu Thành - Tỉnh Tiền Giang 32
4.2.1 Bè nuôi cá 32
4.2.2 Kỹ thuật nuôi
4.3 Những Khó Khăn Người Nuôi Thường Gặp Phải 42
4.4 Hiệu Quả Kinh Tế 43
4.4.1 Mức đầu tư ban đầu cho 1 m3 bè nuôi cá 44
4.4.2 Hiệu quả kinh tế trên 1m3 bè nuôi cá 44
4.5 Các Yếu Tố Aûnh Hưởng Đến Năng Suất Nuôi Cá Bè 45
4.6 Giải Pháp Nhầm Nâng Cao Hiệu Quả Nghề Nuôi Cá Bè 48
4.6.1 Vấn đề con giống và quản lý nguồn giống 49
4.6.2 Vấn Đề Kỹ Thuật Và Kinh Nghiệm Nuôi 49
4.6.3 Vấn đề chất lượng và thị trường tiêu thụ cá 50 4.7 Thuận Lợi và Khó Khăn Trong Nghề Nuôi Cá Bè ø51
Trang 84.7.1 Thuận lợi 51
4.7.2 Khó khăn 52
V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1 Kết Luận 53
5.2 Đề Nghị 54
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát chất lượng nước trên sông Tiền 5
Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng nuôi thủy sản năm 1999-2000 của
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất các thành phần và các nghề thủy sản 14
Bảng 2.4 Thống kê số hộ nuôi thủy sản của tỉnh Tền Giang 15
Bảng 4.5 Các nguồn học hỏi kinh nghiệm nuôi cá 26
Bảng 4.7 Các khó khăn trong nghề nuôi cá bè 38
Bảng 4.9 Chi phí sản xuất cho 1 m3 bè nuôi cá 40
Bảng 4.10 Kết quả và hiệu quả kinh tế cho 1m3 bè nuôi cá 41
Bảng 4.11 Kết quả ước lượng mối tương quan giữa yếu tố trình độ
Bảng 4.12 Kết quả ước lượng mối tương quan giữa năng suất
Bảng 4.13 Kết quả ước lượng giữa lượng thuốc trị bệnh và năng suất 42
Bảng 4.14 Kết quả ước lượng giữa lượng thuốc trị bệnh và năng suất 42
Bảng 4.15 Kết quả ước lượng tương quan nhiều yếu tố 43
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
HÌNH NỘI DUNG TRANG
Hình 4.1 Một bè nuôi cá bằng vật liệu composite 27
Hình 4.4 Thức ăn được trộn với vitamin C trước khi cho ăn 33
Trang 11I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
Tiền Giang là tỉnh thuộc miền tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) có khí hậu nhiệt đới gió mùa Tiền Giang có hệ thống sông ngòi chằng chịt và giáp biển Đông 32 km Chiều dài sông Tiền (dòng chính chảy ra cửa Đại) chảy qua Tỉnh khoảng 114 km nên Tiền Giang có nguồn lợi sinh vật phong phú từ nước mặn đến nước ngọt, cả về thành phần lẫn sản lượng
Là tỉnh thuộc vùng đồng bằng ven biển và có hai sông lớn (sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây) chảy qua Có hệ thống sông nhỏ chằng chịt chảy trong nội đồng.Tổng diện tích chiếm 7,73% diện tích tự nhiên của tỉnh nên Tiền Giang có nhiều tiềm năng về nuôi trồng thuỷ sản củng như khai thác thuỷ sản ở nội địa và biển Đông
Nuôi cá bè ở Tiền Giang là nghề còn non trẻ chỉ mới xuất hiện cách đây khoảng 10 năm với qui mô nhỏû Tập trung ở vài huyện như: huyện Châu Thành, h.Cai Lậy và Tp Mỹ Tho Đối tượng nuôi chủ yếu là tra, basa, rô phi dòng Gift và điêu hồng Hình thức và qui mô khai thác tuỳ khu vực và điều kiện kinh tế của ngư hộ
Nghề nuôi cá bè phát triển mạnh trong thời gian gần đây (khoảng một năm) nhưng đến nay đang có xu hướng giảm do đầu ra của sản phẩm không đảm bảo Vì vậy phải công nghiệp hoá nghề nuôi cá bè và cần có những hoạch định cũng như chiến lược phát triển lâu dài Do đo việc khảo sát , điều tra hiện trạng và tiềm năng nghề nuôi cá là việc làm cần thiết Từ mục đích trên và được sự đồng ý của khoa Thuỷ Sản Trường Đại học Nông Lâm
Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
”Khảo sát mô hình nuôi cá bè taị xã Thới Sơn, huyện châu Thành, tỉnh tiền Giang”
Trang 121.2 Mục Tiêu Đề Tài
Khảo sát mô hình nuôi cá bè tại xã Thới Sơn và các yếu tố kỹ thuật của mô hình này để từ đó:
- Xác định hiệu quả kinh tế
- Đánh giá tiềm năng phát triển nghề nuôi cá bè
- Tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi của nghề nuôi cá bè
- Đưa ra những đề xuất hợp lý trong phát triển nghề nuôi
- Thiết lập phương trình hàm sản xuất, giúp dự đoán năng suất của nghề nuôi cá bè
khi có các yếu tố đầu vào trong sản xuất
Trang 13II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vị Trí Địa lý
Tiền Giang giới hạn bởi 10012’20” đến 10035’26” vĩ độ bắc và 105049’07” đến
105048’06” kinh độ Đông
Có ranh giới phía Bắc giáp biển Đông, phía Tây giáp Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre, Bắc giáp Long An Nằm ở tả ngạn sông Tiền và giáp biển Đông 32 km
Diện tích 2, 3663 km2
Dân số1.618.412 người
Mật độ dân số 684 người/km2
2.3 Điều Kiện Tự Nhiên
2.3.1 Đất liền
Tiền giang là tỉnh thuộc đồng bằng thuộc đồng bằng sông Cửu Long Có một phần diện tích nằm trong vùng “Đồng Tháp Mười”
2.3.1.1 Chế độ nhiệt
Nhiệt độ khá ổn định, ít biến động giữa các tháng trong mùa Nhiệt độ trung bình năm là 280C
Trang 142.2.1.4 Mưa
Mỗi năm có hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5-11, lượng mưa trung bình 1.345,8-1.894,7 mm phân bố không điều theo hướng không gian và thời gian Mùa mưa tập trung vào các tháng 8-10 Lượng mưa trong các tháng này chiếm tới 80% lượng mưa trong năm Tháng có lượng mưa nhiều nhất 427,5 mm (năm 2000) Mùa mưa thường kéo dài, trong mùa mưa thường có đợt nắng kéo dài 2-3 tuần gọi là hạn “Bà Chằn” gây hại cho cây trồng và thủy sản nuôi
2.2.1.7 Đặc điểm địa hình
Tiền Giang thuộc vùng đồng bằng ven biển năm trong đồng bằng sông Cửu Long Nhìn chung có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp, nằm ở cuối sông Tiền Độ cao trung bình so với mặt biển từ 0,6-3 m; có hướng thấp dần từ Đồng Tháp Mười ra biển Đông
2.2.1.8 Sông rạch và đặc điểm thuỷ văn
Hai sông lớn (sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây) chảy qua tỉnh Tiền Giang Có hệ thống sông rạch nhỏ chằng chịt trong nội đồng, tổng diện tích chiếm 7,73% diện tích tự nhiên của tỉnh
Trang 152.2.1.9 Kết quả khảo sát chất lượng nước trên sông Tiền (có thể làm tham khảo cho
các vùng tương tự) được trình bày qua bảng sau:
Bảng 2.1: Kết quả khảo sát chất lượng nước trên sông Tiền
Mùa mưa
Mùa khô
Mùa mưa
Mùa khô
Mùa mưa Độ sâu
5.2-7.04
3.42-4.8-9.6
4.48-7.04
6.32
30.4-6.4
24.2-(Nguồn: Tham luận “ Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trên các sông thuộc hệ thống sông Mekong”, 2000)
2.2.2 Biển
2.2.2.1 Khái quát
Tỉnh Tiền Giang có chiều dài bờ biển 32 km (chiếm 0.98 % chiều dài bờ biển Việt Nam) Trên bờ thuộc tỉnh, có 3 cửa chính chảy ra biển Đông đó là các cửa Soài Rạp (khu vực Vàm Láng-Gò Công Đông), cửa Tiểu, cửa Đại (sông Tiền – Gò Công Đông) Nhờ các cửa sông này mà bờ biển có nhiều phù sa, chất mùn tạo ra một dãi bờ biển có điều kiện cho các loài sinh vật phát triển …Những cửa sông thông với tỉnh Tiền Giang là đường giao lưu đi lại của tàu thuyền và phương tiện giao thông thủy giữa biển và trong nội địa Phần lớn bờ biển là bùn lầy và nhiều thực vật phát triển nhất là mắm, đước, vẹt, bần …
2.2.2.2 Địa hình và chất đáy
Trang 16Có độ sâu và độ dốc đáy biển không lớn Độ dốc đáy biển chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Đường đẳng sâu 100m chạy rất xa bờ, phía Tây địa hình ít lồi lõm hơn và đảo phân bố rải rác Vùng biển Đông Nam Bộ có độ sâu thấp, đáy hình lòng chảo, nơi sâu nhất ở giữa vịnh Thái Lan không sâu quá 80 m Tóm lại địa hình Nam bộ khá bằng phẳng, độ sâu biến đổi chậm, ít chướng ngại vật
2.2.2.5 Chế độ gió
Chế độ gió chỉ thể hiện ở hai hướng chính theo hai mùa thời tiết trong năm là Đông Bắc và Tây Nam Tốc độ gió tương đối yếu và đều hơn so với các vùng biển miền Trung và Bắc
2.2.2.8 Độ mặn
Độ mặên tương đối cao và ổn định trong thời gian từ tháng 12 – 4 (đối với vùng gần bờ), còn ngoài khơi cho đến tháng 5, sau đó giảm dần dần đến tháng 11 Biến thiên độ mặn vùng sát bờ lớn hơn so với ngoài khơi, độ măn biến thiên dần từ bờ ra khơi Độ mặn nhỏ hơn 32 ppt nằm sát cửa sông Vũng Tàu, còn lại toàn bộ vùng biển kể cả 2 mùa đông, mùa hè độ mạên lớn hơn 32 ppt (đối với vùng có độ sâu lớn hơn 50 m)
Trang 172.2.3 Nguồn lợi hải sản
Ở vùng cửa sông Cửu Long, mật độ động vật nổi thay đổi từ 4,1x104 đến 7,7x105 con/m3 Trong vùng nước “lông chim” ở vùng sát bờ sinh vật lượng động vật nổi đạt cao nhất (trung bình 50,28 cc/m3) càng xa bờ chỉ số càng giảm dần (39,56 cc/m3), sinh vật lượng tầng giữa cao hơn tầng mặt (54,57 cc/m3 so với 20 cc/m3)
Khu hệ cá và qui luật phân bố của cá vùng cửa sông: cá của khu hệ sông riêng biệt không thật đa dạng so với vùng biển kế cận của chúng Số lượng loài của các cửa sông dao động từ 70 – 80 đến hơn 230 loài Khu hệ cá thuộc các vùng cửa sông chính ở nước ta gồm
580 loài, có 52 loài chưa xác định còn ở dạng sp, 26 loài cá sụn (thuộc 3 bộ và 7 họ)
Tiền Giang có khoảng 3000 ha bãi có khả năng nuôi nghêu Trong đó có 500 ha nghêu giống thuộc khu vực cồn ông Mão và một phần cồn Ngang Sản lượng nghêu của tỉnh Tiền Giang năm cao nhất đạt 31000 tấn, tập trung chủ yếu ở Gò Công Đông và diện tích nuôi 1,765 ha (1999) (Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2000 Sở Nông Nghiệp Tiền Giang) Năng suất nghêu bình quân 18 tấn /ha/năm
2.2.4 Nguồn lợi thuỷ sản nội địa
Mặt nước có vai trò quan trọng để duy trì phát triển nguồn lợi và nuôi trồng thuỷ sản nội địa Để phuc vụ phát triển kinh tế xã hội, Tiền Giang đã và đang tiến hành mở rộng hệ thống kênh rạch Tổng diện tích kênh rạch của tỉnh năm 1998-2000 là18.228,1 ha, đất có diện tích mặt nước chưa sử dụng là 112 ha
Tổng sản phẩm thủy sản nội địa tối đa khai thác hàng năm 2.831 tấn Song khuyến cáo khai thác ở mức 2.500 tấn /năm (trong đó có khoảng 80 – 100 tấn tôm các loại) sẽ góp phần bảo vệ nguồn lợi phục vụ cho sản xuất theo hướng bền vững
2.2.5 Nuôi trồng thủy sản
2.2.5.1 Diện tích nuôi trồng thủy sản
Tổng diện tích nuôi thuỷ sản năm 2004 là 8,411 ha, bằng 3,57% diện tích tự nhiên của tỉnh Tốc độ tăng trưởng bình quân 23,6%/năm của giai đoạn 1996 – 2000; giai đoạn
2000 – 2004 có sự giảm tăng không đều; năm 2004 diện tích nuôi cao nhất 9.754 ha, năm
2000 diện tích nhỏ nhất 8.411 ha, do đó tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này giảm 2,4 %/ năm
Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt 4.070 ha bằng 48,39%, trong đó nuôi cá 4.027
ha (nuôi ao, mương vườn là chủ yếu) Ngoài ra còn có 37 bè nuôi cá nước ngọt (nuôi cá
Trang 18chình có 12 bè, nuôi cá bống tượng 12 bè, cá basa có 10 bè và các loài cá khác 16 bè) Nuôi tôm càng xanh có diện tích 43 ha ở huyện Cái Bè, Cai Lậy và Chợ Gạo
Diện tích nuôi tôm biển nước lợ, mặn kết hợp với một số thuỷ sản khác (cua, nghêu, cá) 4.341 ha bằng 51,6 % trong đó nuôi tôm 2.498 ha, nuôi nghêu 1.710 ha , nuôi thuỷ sản khác (cua, cá) là 133 ha
Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng nuôi thủy sản năm 1999 – 2000 của các huyện và thị xã thuộc tỉnh Tiền Giang
TT Danh
mục
Toàn tỉnh
Cái Bè
Cai Lậy
Tân Phước
Châu Thành
Chợ Gạo
Gò Công Tây
Gò Công Đông
TX Gò Công
Tp Mỹ Tho Tổng
2000 – 2004 tốc độ giảm bình quân 8%/năm
Sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt 15.418 tấn bằng 53,51%, chủ yếu là sản lượng của nuôi cá ao, hồ, mương vườn và nuôi cá xen lúa Tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 1996 – 2000 là 45,9% nhưng đến giai đoạn 2000 – 2004 tốc độ tăng trưởng bình quân giảm 2,6%/năm
Sản lượng nuôi tôm biển 1.156 tấn bằng 42,25% Tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 1996 – 2000 là 90,1%/năm nhưng đến giai đoạn 2000 – 2004 tốc độ giảm bình quân 14,2%/năm
Trang 19Sản lượng thủy sản khác (trong đó có cá, cua…) là 106 tấn Tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 1996 – 2000 là 21,6%/ năm nhưng đến giai đoạn
2000 – 2004 tốc độ tăng nhanh bình quân 394,4%
2.2.5.2 Các mô hình nuôi thủy sản tỉnh Tiền Giang
Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt gồm 5 mô hình gồm có: nuôi cá ao, mô hình vườn-ao-chuồng, nuôi cá-lúa, nuôi tôm càng xanh-lúa, nuôi cá bè Nuôi cá đạt năng suất cao, đã đạt bình quân 4,2 tấn/năm, nuôi cá bè đạt 5 tấn /năm còn các hình thức nuôi khác có năng suất thấp
Đối với nghề nuôi thủy sản nước mặn gồm có 6 mô hình gồm có : nuôi tôm biển nước lợ, mặn quảng canh truyền thống, nuôi tôm biển ao, mương, vườn quãng canh cải tiến , nuôi tôm biển bán thâm canh (BTC), thâm canh (TC), nuôi nghêu Năng suất tôm sú nuôi bình quân 0,65 tấn/năm; cá biệt tại khu vực Rạch Xẻo (Bắc Gò Công) có hộ đạt năng suất 4-7 tấn/ha/năm Nuôi tôm sú tập trung ở Gò Công, năng suất của các dạng nuôi như sau: nuôi QCCT : 0,3-0,5 tấn /ha; nuôi BTC:1,5-2,5 tấn /ha; nuôi TC : 4,5-5 tấn /ha
2.2.5.3 Tình hình sản xuất giống thủy sản
Trên địa bàn tỉnh có Trung tâm nghiên cứu Đồng bằng Sông Cửu Long thuộc viện nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II (ở huyện Cái Bè) Diện tích 19 ha với 40 ao và 200 m3bể đẻ; một năm sản xuất 200 triệu cá bột và 20-30 triệu cá giống đáp ứng một phần giống trong tỉnh
Giống tôm sú đã nhập vào tỉnh 100 triệu, cóù 65% được kiểm tra trước khi nhập tỉnh
Các cơ sở sản xuất giống trong dân có nhiều ở các huyện Châu Thành, Cai Lậy,Tp Mỹ Tho, Cái Bè,đặc biệt cơ sở ông Tám Tiếu tại Mỹ Tho sản xuất được giống cá bống tượng bán ra nước ngoài, qui mô 1,6 ha (02 cơn sở) công suất 3-4 triệu tấn /năm
Toàn tỉnh có 73 cơ sở sản xuất và kinh doanh giống nuôi thủy sản, tập trung nhiều nhất ở Cái Bè (23 cơ sở) số còn lại phân bố rãi rác khắp các huyện tronh tỉnh Có bãi nghêu giống đủ cung cấp nghêu giống nuôi trong tỉnh
2.2.5.4 Hoạt động sản xuất thuỷ sản trên địa bàn Tiền Giang
Trang 20Có 5 huyện thị khai thác thuỷ sản trên biển (Châu Thành, Gò Công Đông và Tây, thị xã Gò Công và Tp Mỹ Tho) Năng lực khai thác tập trung nhất ở Tp Mỹ Tho, nhì Gò Công Đông, ba Gò Công Tây
Nuôi trồng phân bố khắp các huyện trong tỉnh, nuôi măn lợ tập trung chủ yếu ở Gò Công Đông, một ít diện tích ở Gò Công Tây Nuôi nước ngọt phân bố khắp các huyện thị
2.2.5.5 Vị thế thủy sản Tiền Giang trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và Việt Nam
Tổng sản phẩm GDP thực tế của thủy sản (nuôi, khai thác, dịch vụ) có tỷ trọng bình quân 7,21% trong giai đoạn 2000-2004 Nếu tính cả chế biến vào tỷ trọng sẽ cao hơn Sản lượng và giá trị sản lượng khai thác luôn cao hơn nuôi trồng So với nuôi trồng khai thác thủy sản 2004 có sản lượng gấp 2,43 lần, giá trị sản lượng gấp 3,02 lần (492 tỷ đồng theo giá cố định 2000)
Tốc độ tăng trưởng bình quân /năm chung của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2000-2004 là 8,14% cao hơn khối nông – lâm - ngư (3,62%) Năm 2002 TS có tốc độ tăng trưởng nhanh 21,47%/năm đến năm 2004 còn 4,56% Nếu được đầu tư hợp lý sẽ có tốc độ tăng nhanh trong nuôi và khai thác thủy sản xa bờ
2.3 Hiện Trạng Khai Thác Thủy Sản
Khai thác thủy sản Tiền Giang chủ lực theo hộ gia đình (doanh nghiệp tư nhân ), tổ hợp sản xuất, cả tỉnh không có đội tàu quốc doanh nào, do ngư trường của Tỉnh hẹp nên phải di chuyển khai thác ở vùng biển thuộc các tỉnh Bà Rịa,Vũng Tàu , Cà Mau ,Kiên Giang (biển Việt Nam thuộc vịnh Thái Lan )
Có sự liên kết từng nhóm tàu trong quá trình khai thác trên biển, đặc biệt là những vùng biển khơi (các ngư trường giáp ranh với Malaixia, Indonexia) để hộ trợ nhau về những thông tin ngư trường; dịch vụ tiêu thụ, trao đổi sản phẩm khai thác, vật tư, thiết bị, nhiên liệu, an toàn hàng hải và an ninh trên biển
Tiền giang là tỉnh có hệ thống sông rạch chằng chịt, tổng diện tích lưu vực các sông rạch tự nhiên trong tỉnh 23.394 ha Toàn tỉnh có khoảng 3000 ha đất trũng ngập nước quanh năm Vùng ngập nước theo mùa lũ rộng gần 12.000 ha thuộc huyện Cái Bè, Tân Phứơc, Cai Lậy và một phần huyện Châu Thành (chủ yếu vùng Tây Bắc quốc lộ I) Sản lượng thủy sản nội địa có thể khai thác hàng năm từ 2.500 – 4000 tấn
Ở qui mô nhỏ với những ngư cụ thủ công, thô sơ có kích cỡ nhỏ chủ yếu là sử dụng những nhóm công cụ thụ động như nhóm ngư cụ cố định – bẩy đăng, nò, đáy, đó … nhóm ngư cụ đóng: lưới Rê các loại và nhóm câu Ở các sông lớn còn thấy các nhóm ngư cụ khác
Trang 21có tính chủ động và có sản lượng tương đối như lưới rùng, lưới kéo đáy loại nhỏ có sử dụng các tàu kéo có công suất thấp (25 cv) Khai thác thuỷ sản trong nội địa 1999 – 2000 có khoảng 1.446 – 1500 phương tiện Trong đó có khoảng 584 phương tiện gắn máy công suất nhỏ, từ 5-20 cv hoạt động trong các ngành lưới kéo, rê …
2.4 Hiện Trạng và Dịch Vụ Hậu Cần Nghề Cá
2.4.1 Thức ăn và thuốc phòng trị bệnh cho nuôi thuỷ sản
Tỉnh Tiền Giang hiện nay chưa có xưởng sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ cho nhu cầu nuôi thủy sản trong tỉnh, nên phải mua thức ăn ở các tỉnh khác, nhập ngoài và thức ăn nhân tạo (ruốc, cá tạp, cám … )
Nhu cầu thức ăn nuôi tôm năm 2000: 2612 tấn đều phải nhập ngoài tỉnh
Về thuốc thủy sản cũng chưa phục vụ nhu cầu người dân Trên địa bàn tỉnh chỉ có Công ty thuốc thủy sản Cai Lậy Đã có sự chuyên hoá thuốc thủy sản và thuốc thú y
2.4.2 Cơ sở đan vá lưới
Sản xuất lắp ráp đan vá lưới được thực hiện ở qui mô gia đình Chưa có một cơ sở đang vá lưới nào chuyên nghiệp Có sự thuê mướn nhân công đan vá lưới vào mùa thu hoạch nhưng các lao động mang tính thời vụ Ước khoảng 450 hộ thực hiện lắp ráp đan vá lưới và khoảng 1.500 lao động cho công việc này
2.4.3 Chợ cá
Toàn tỉnh có chợ cá Mỹ Tho (tại cảng cá Mỹ Tho) Đây là chợ cá của tỉnh và của khu vực Ngoài ra tại những vùng nuôi tập trung còn có những chợ nhỏ, là nơi thu mua cá trong khu nực này và vận chuyển đến nơi tiêu thụ hay chở về chợ cá Mỹ Tho
2.4.4 Chế biến và tiêu thụ
Chế biến phục vụ tiêu dùng nội địa mà tiêu biểu là chế biến nước mắm có từ lâu đời nhưng không nổi tiếng) và chế biến khô theo công nghệ truyền thống là đáng kể về mặt số lượng Các loại hình thức khác như chế biến thực phẩm ăn liền trong dân gian như: luộc, hấp, muối, mắm đặc, chả cá … thì khá phân tán và không nhiều, còn sản xuất bột cá và thức ăn gia súc thì chỉ có 3 cơ sở với qui mô nhỏ không có gì đặc biệt
Thị trường tiêu thụ cá nước ngọt ở Tiền Giang chủ yếu là các chợ trong tỉnh, một phần được vận chuyển đến Thành Phố Hồ Chí Minh tiêu thụ
Trang 22Giá bán các loại thủy sản tươi sống trong những năm gần đây không biến động nhiều, chỉ có giá bán các loại cá nước ngọt có sự biến động theo mùa Giá bán thấp nhất vào khoảng tháng 2 đến tháng 6 Vào thời gian này đa số các ao đều tháo cạn nước, người dân tập trung thu hoạch nên sản phẩm nhiều Điều này làm cho giá bán không cao Hiện nay giá bán các loại cá có xu hướng giảm so với các năm trước, đặc biệt là các loại cá nuôi bè
Kênh phân phối sản phẩm ở Tiền Giang chủ yếu là qua thương lái rồi vận chuyển về các chợ đầu mối tiêu thụ hoặc vận chuyển sang các tỉnh khác
2.5 Tình Hình Lao Động Năm 2004
Giải quyết 45.351 lao động trong đó có khoảng gần 31.349 lao động thường xuyên
Số gia đình có thu nhập chính từ thủy sản khoảng 22.000 gia đình
Trong 31.349 lao động chuyên nghiệp có 13.668 lao động khai thác, cơ khí, hậu cần, dịch vụ (43,61 %); 80 lao động quản lý sự nghiệp cấp tỉnh, huyện (1,26
%), 14.651 lao động nuôi trồng thuỷ sản (46,74 %), 2.950 lao động chế biến (9,415%)
Số lao động được đào tạo tập huấn khoảng 15%
2.6 Kinh Tế Xã Hội Nghề Cá
2.6.1 Đặc điểm kinh tế xã hội nghề cá
Đa số hoạt động trong nghề chủ yếu là dân tộc kinh Lao động nghề cá có nguồn gốc địa phương lá chính, ít qua đào tạo từ trường lớp chủ yếu trưởng thành bằng cách “cha truyền con nối “thông qua thử việc, lao động và học tập trên biển, trên những ruộng nuôi …
2.6.2 Đặc điểm sản xuất và cơ cấu kinh tế
2.6.2.1 Đặc điểm sản xuất và cơ cấu kinh tế của nội bộ ngành thuỷ sản Tỉnh năm 2000
Tổng sản lượng thuỷ sản đạt 97.578 tấn, tăng 8,24 % so với 1999
Tổng giá trị sản phẩm đạt 383 tỷ đồng (số liệu làm tròn đến tỷ theo giá cố định năm ‘98’) tăng 48 tỷ đồng so với năm 1998
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản 20,224 triệu USD, trong đó chủ yếu quốc doanh
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất của các thành phần và các nghề thuỷ sản (Đơn vị: triệu đ) theo giá cố định năm 1994
Trang 23A Tổng giá trị sản
xuất
512896 500164 574950 720906 739976
Phân theo thành
phần kinh tế
(Nguồn: Quy hoạch tổng thể thủy sản Tiền Giang đến năm 2010, 2002)
Tổng giá trị sản xuất thủy sản tỉnh Tiền Giang đã đạt con số 574,95 tỷ (1998) và 570,2 tỷ (năm 1999) Trong đó kinh tế tư nhân và cá thể chiếm tỷ trọng chủ yếu (99.87%) Điều này cho thấy nghề cá đang phát triển rộng rãi trong dân theo hướng “hộ nghề cá nhân dân” hoặc “trang trại vừa và nhỏ” Sự đóng góp kinh tế của hai thành phần này còn chiếm tỷ trọng lớn đến năm 2010
2.6.2.2 Lực lượng sản xuất thuỷ sản
Trong hoạt động sản xuất thủy sản nông nghiệp việc kết hợp nuôi trồng thủy sản là hoàn toàn có thể được nhằm tận dụng tiềm năng mặt nước, phụ phẩm nông nghiệp và sức lao động nhàn rỗi để tăng thu nhập Vì thế trong tương lai, tiềm năng về nuôi trồng thuỷ sản vẫn còn rất lớn bằng sự kết hợp này nếu có sự chỉ đạo và hỗ trợ của các cấp, ban ngành có liên quan
Bảng 2.4: Thống kê số hộ nuôi thủy sản của tỉnh Tiền Giang
Mục đích nuôi Danh mục Số hộ nuôi Sử dụng và
kinh doanh
Chuyên sử dụng
Chuyên kinh doanh
Trang 242.6.2.3 Các cơ quan thủy sản đóng trên địa bàn tỉnh không thuộâc tỉnh quản lý
Trung tâm nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản ĐBSCL thuộc Viện nghiên cứu NTTS II, thuộc Bộ thủy sản
Một số liên doanh nước ngoài đóng trên địa bàn huyện Chợ Gạo (Công ty nuôi trồng thuỷ sản 100% vốn Đài Loan), huyện Châu Thành (xí nghiệp chả cá Badavina của Hàn Quốc ở khu công nghiệp Mỹ Tho) Tuy số lượng không đông và vốn không nhiều nhưng đã góp phần thúc đẩy nghề cá Tiền Giang phát triển theo hướng tích cực hơn
2.6.2.4 Công tác bảo vệ môi trường
Việc thực hiện bảo vệ môi trường và tài nguyên chưa tốt
Chưa chấp hành tốt các qui định về xử lý chất thải trước khi xả ra môi trường xung quanh và trong nguồn nước của các tàu thuyền khai thác trên biển, trên sông rạch và neo đậu tại các bến, cảng Việc xả nước bẩn chưa xử lý ra môi trường xung quanh đặc biệt là của xí nghiệp chế biến đông lạnh
Do chưa làm tốt khâu thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản nên còn sự biến động nước ít thông thoáng Hiện tượng ô nhiễm và phú dưỡng nhẹ đã thấy xuất hiện trong các ao nuôi tôm, cá
Trang 25Do đó chúng ta cần phải có các biện pháp, chính sách giúp bảo vệ môi trường như:
Mọi hoạt động từ nghề cá (từ khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí dịch vụ, tiêu dùng …) đều phải thực hiện tốt luật bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, luật sử dụng tài nguyên nước đã ban hành
Bảo vệ quản lý nguồn lợi thủy sản bao gồm điều chỉnh mối quan hệ giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản thiên nhiên, bảo đảm việc sản xuất của đối tượng khai thác, bảo vệ trong lành của môi sinh Tăng cường nuôi trồng thủy sản ở các vùng nước để bổ sung, tái tạo làm giàu thêm nguồn lợi thủy sản
Phòng trừ dịch bệnh cho đối tượng thủy sản và đảm bảo chất lượng thức ăn sử dụng trong nuôi thủy sản
Thực hiện nghiêm túc công tác lấy và xử lý nước trong nuôi trồng thủy sản, ngoài ra nghiêm cấm việc phá rừng phòng hộ phục vụ mục đích nuôi trồng thủy sản
Các nhà máy chế biến phải áp dụng quy trình sử lý nước tiên tiến được quy hoạch thành một khu riêng biệt, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng ô nhiễm môi trường
2.6.2.5 Tác động của hoạt động thủy sản đến môi trường
a Tích cực
Đảm bảo các hoạt động thủy sản đồng bộ dưới sự theo dõi có kiểm soát của các cấp chính quyền và cộng đồng dân cư Vì nghề cá Việt Nam chủ yếu là do dân thực hiện nên khi dân hiểu, dân thông sẽ thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường Quy hoạch phát triển theo hướng “bền vững” và hiệu quả nên tăng thu nhập chung cho nền kinh tế và cộng đồng nghề cá ngày càng được cải thiện tốt hơn
b Tiêu cực
Vì hoạt động thủy sản hoạt động trên phạm vi rộng, đan xen cùng với các hoạt động nông – lâm – ngư - nghiệp nên sẽ khó kiểm soát, có thể xảy ra những vi phạm về xả chất thải “dầu” trong khai thác và tàu neo đậu tại bến, nước thải chưa được xử lý của các khu vực nuôi cá tôm, khu vực chế biến thủy sản ra môi trường xung quanh ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước
Trang 262.6.2.6 Công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
Nhìn chung đã thực hiện tốt song hiệu lực của Pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi trên một số khu vực khai thác ven bờ, trong sông rạch chưa cao
Việc theo dõi và hướng dẫn ngư trường khai thác xa bờ còn hạn chế, cường độ tàu thuyền khai thác gần bờ còn quá lớn gây tổn hai nhiều các loài cá nhỏ chưa thành thục
2.7 Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Xã Thới Sơn – Huyện Châu Thành – Tỉnh Tiền Giang
Do địa hình xã Thới Sơn là cồn trên sông Tiền nên mật độ dân số thấp và trình độ phát triển kinh tế xã hội chậm và có nhiều hạn chế Theo số liệu điều tra của UBND xã Thới Sơn có 1015 hộ gia đình với 3517 hộ nhân khẩu phân bố không đồng đều Mật độ dân số 385 người/km2 Diện tích 92,5 km2
Do cơ sở hạ tầng còn yếu kém nên kinh tế xã hội xã Thới Sơn còn gặp nhiều khó khăn Cơ cấu lao động chủ yếu là nông dân, chỉ một phần nhỏ kinh doanh, dịch vụ (chủ yếu buôn bán nhỏ), cây trồng chủ yếu là cây ăn quả và chăn nuôi hộ gia đình (heo, gà, vịt…)
2.8 Đặc Điểm Sinh Học Cá Rô Phi Đỏ (Oreochromis sp)
Trang 27
Hình 4.1 Cá rô phi đỏ
Cá rô phi đỏ lần đầu tiên được phân lập ở Đài Loan (1980) từ thế hệ lai giữa các
con màu đỏ O mossambicus với con đực rô phi hoang dại từ sông Nile – O Niloticus Có nhiều dòng rô phi đỏ ngoài dòng rô phi Đài Loan ở trên ở rô phi đỏ Floria (O urolepis
hornborum x O mossambicus), rô phi đỏ dòng Philipines, rô phi đỏ từ Mỹ là con lai của
O aureus x O niloticus
Cá rô phi đỏ hay còn gọi là cá điêu hồng (Oreochromis sp) không phải là một loài mà chỉ là một dòng trong giống Oreochromis Rô phi đỏ thường có cha là dạng đột biến lặn màu đỏ của loài O mossambicus và mẹ cùng giống ấy nhưng có thể thuộc nhiều loài
khác Tất cả điều có tên tiếng Anh là Red Tilapia
Rô phi đỏ có sức sinh sản và sức sống kém hơn rô phi có màu bình thường, chúng
lớn nhanh hơn các loại rô phi đã được chọn giống như rô phi sông Nile (O niloticus), rô phi
dòng Gift Đặc điểm nổi bật của cá rô phi đỏ là màu sắc hợp thị hiếu và bụng bên trong không có sắc tố đen như cá rô phi thuần chủng Chính nhờ đặc điểm này mà cá rô phi đỏ được chấp nhận rộng rãi trên thị trường xuất khẩu và ngày càng được nuôi phổ biến trên thế giới
2.8.1 Phân loại
Trang 28Bộ Perciformes
Họ Cichlidae
Loài Oreorromis mossambicus (Peter)
Oreorromis niloticus (Linnaeus)
Tên tiếng Anh: Red Tilapia
2.8.2 Phân bố địa lý
Cá rô phi đỏ phân bố chủ yếu ở châu Phi, không hiện diện ở Đông Nam châu Phi Khoảng 1924 , cá rô phi đỏ lần đầu tiên được nuôi ở Kenya, sau đó lan rộng khắp nơi ở châu Phi Ngày nay với mục đích thương mại hay thí nghiệm đã làm cho việc giới thiệu và
du nhập cá diêu hồng lan rộng khắp nơi trên thế giới
2.8.3 Điều kiện sống
a Nhiệt độ
Cá rô phi đỏ có khoảng nhiệt độ thích hợp dao động từ 20 – 300C
Cá có thể chịu đựng được khoảng nhiệt độ 7-80C trong khoảng thời gian ngắn
Ở nhiệt độ dưới 200C thì tăng trọng giảm, ở nhiệt độ dưới 150C thì cá ngừng ăn
b Hàm lượng oxy hoà tan
Cá rô phi có khả năng hấp thụ hàm lượng oxy hoà tan tốt, hàm lượng oxygen thấp nhất mà cá có thể tồn tại là 0,1 mg/l
c Độ pH
- Cá rô phi đỏ chịu đươc khoảng pH rộng 4-11
- pH nhỏ hơn 5 ảnh hưởng xấu đến sự kết hợp của máu với oxygen
- Ở pH cao có thể kích thích sự ăn của cá
2.8.4 Đặc điểm ding dưỡng
Cá rô phi thích hợp với nhiều loại thức ăn, thức ăn của chúng là tảo, phiêu sinh động vật, mùn bã hữu cơ Ngoài ra cá có thể thích hợp với thức ăn tổng hợp
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 293.1 Thời Gian Nghiên Cứu
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 04 năm 2005 đến tháng 07 năm 2005
3.2 Địa Điểm Nghiên Cứu
Xã Thới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
3.3 Phương Pháp Điều Tra Và Thu Thập Số Liệu
Các số liệu thứ cấp chủ yếu thu thập từ phòng Khuyến Ngư, phòng Nông Nghiệp,
UBNN xã Thới Sơn, Sở Thuỷ Sản Tiền Giang, trung tâm khí tượng thuỷ văn –
Tp Mỹ Tho
Số liệu sơ cấp thu bằng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp 56 ngư hộ nuôi cá bè ở
xã Thới Sơn Phiếu điều tra được chuẩn bị trước
3.4 Xử lý số liệu
Số liệu điều tra được xử lý bằng phần mềm để tính đến các thông số nhỏ nhất (Min), lớn nhất (Max), số trung bình (Mean)… của các chỉ tiêu về lợi nhuận, sản lượng, năng suất để dự đoán năng suất khi có các yếu tố đầu vào (tuổi chủ hộ, trình độ văn hoá, thể tích bè, lượng con giống, lượng thức ăn …) bằng hàm hồi qui đa tuyến tính
Y = B 0 + B 1 X 1 + B 2 X 2 + … + B n Xn
Trong đó Y là năng suất cá nuôi bè
Xn yếu tố đầu vào (thể tích bè, lượng thức ăn, lượng con giống …) Thiết lập mối tương quan giữa năng suất với các yếu tố đầu vào trong sản xuất
3.5 Nội Dung Nghiên Cứu
Tình hình kinh tế xã hội xã Thới Sơn - huyện Châu Thành – Tỉnh Tiền Giang
Kỹ thuật nuôi cá bè được áp dụng trên sông Tiền thuộc xã Thới Sơn
Đánh giá tác động của các biện pháp kỹ thuật tới sự phát triển của nghề nuôi cá bè
tại xã Thới Sơn
Trang 30 Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá bè
Tính các yếu tố ảnh hưởng đến các năng suất cá bè bằng hàm hôi qui đa tuyến tính
Những khó khăn và thuận lợi trong vùng điều tra
IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trang 314.1 Đặc trưng về Kinh Tế Xã Hội Các Hộ Nuôi Cá Bè Ở Xã Thới Sơn - Huyện Châu Thành – Tỉnh Tiền Giang
4.1.1 Độ tuổi và thời gian nuôi bè của các chủ hộ
Độ tuổi phản ánh tiềm năng lao động và kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh của ngư hộ Thời gian tham gia nuôi cá bè biểu hiện kinh nghiệm thực tế trong sản xuất Trong 58 hộ mà chúng tôi điều tra được có:
Bảng 4.1 Độ tuối chủ hộ
Thời gian tham gia nuôi cá bè phản ánh kinh nghiệm thực tế trong sản xuất, qua đó chúng ta cũng thấy được thời gian khấu hao đối với hoạt động nuôi cá bè
4.1.2 Trình độ học vấn
Trình độ học vấn là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của công việc nói chung và nuôi cá bè nói riêng Nó phản ánh khả năng nhận thức, tiếp thu kiến thức và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Mặt khác nó cũng làm tăng hiệu quả quản lý và tổ chức sản xuất, đem lại lợi nhuận cao cho người nuôi Đồng thời cũng giúp cho người dân hiểu được tầm quan trọng của môi trường nước đối với hoạt động sản xuất của chính họ cũng như của những ngư hộ khác Từ đó đời sống của ngư hộ được cải thiện và nghề nuôi có khả năng phát triển bền vững
Bảng 4.2: Trình độ học vấn chủ hộ
Trang 32ra
4.1.3 Số lao động trong ngư hộ
Trong 58 ngư hộ điều tra, hầu hết ngư hộ tham gia nuôi cá bè đều là lao động thuê, chỉ có 5 hộ hoàn toàn do lao động gia đình làm Hầu hết chủ hộ xuất thân từ những lĩnh vực khác, bước sang lĩnh vực sản xuất cá bè nên họ không có thời gian để trực tiếp tham gia sản xuất mà chủ yếu họ thuê người chăm sóc và họ chỉ đóng vai trò quản lý Đa số ngư hộ có hai người trực tiếp tham gia nuôi cá bè, số hộ có số người tham gia lao động nhiều hơn chiếm tỷ lệ ít
Nguồn lao động gia đình ở đây rất hạn chế hầu hết là thuê 2, 3 người Điều đó cũng là một hạn chế cho hiệu quả sản xuất do họ không có nhiều tâm huyết cho nghề nuôi cá
4.1.4 Kinh nghiệm nuôi cá bè
Hầu hết các ngư hộ có thời gian hoạt động dưới 1 năm do khu vực này mới hình thành (trước đây chỉ có 11 ngư hộ hoạt động trong những lĩnh vực này) Do đó họ có ít kinh nghiệm thực tế từ bản thân mà chủ yếu học hỏi từ những người nuôi trước và theo sự hướng dẩn của cán bộ thuỷ sản địa phương Tuy nhiên, do họ nhận thức được tầm quan trọng của kinh nghiệm và kỹ thuật đối với hiệu quả nuôi nên họ tích cực tham gia các lớp tập huấn, các cuộc hội thảo Vì vậy hiệu quả nuôi nơi đây là khá cao
Bảng Các nguồn học hỏi kỹ thuật nuôi cá
Trang 33Kinh nghiệm nuôi Số hộ Tỷ lệ (%)
4.1.5 Các nguồn học hỏi kinh nghiệm nuôi cá
Nguồn học hỏi kinh nghiệm nuôi cá rất phong phú Trong đó nguồn học hỏi chủ yếu là từ cán bộ khuyến ngư (chiếm tới 88,46%) và từ người nuôi khác (100%) Nguồn học hỏi kinh nghiệm từ các buổi thảo luận chiếm tỷ lệ cũng khá cao nhưng đa số các chủ hộ chưa hài lòng do nội dung trình bày còn chưa đi sâu vào thực tế Ngoài ra còn có những nguồn học hỏi kinh nghiệm khác như: sách báo, đài, tivi, người bán giống, người bán thức ăn nhưng chiếm tỷ lệ rất thấp
Bảng 4.5 Các nguồn học hỏi kinh nghiệm nuôi cá
Nguồn học hỏi kinh nghiệm nuôi cá Số lượng
4.1.6 Mức đầu tư cho nghề nuôi cá bè
Mức đầu tư của nghề nuôi cá bè phần nào phản ánh vốn đầu tư của ngư hộ cũng như nguồn vốn tự có của ngư hộ Mức đầu tư cho nghề nuôi cá bè ở đây khá cao Đó là điều tất
Trang 34nhiên do hầu hết chủ hộ điều là những người kinh doanh ở những lĩnh vực khác, có nhiều vốn Đây cũng là một thuận lợi cho nghề nuôi, điều này cho thấy tiềm năng phát triển nghề nuôi ở khu vực này rất lớn Nếu đầu ra của sản phẩm được bảo đảm thì ngư dân sẽ yên tâm đầu tư và mở rộng, góp phần làm cho nghề nuôi cá bè ở xã Thới Sơn cũng như tỉnh Tiền Giang phát triển mạnh
Hình 4.1 Một bè cá bằng vật liệu composite
Hình 4.2 Bè hỗn hợp từ sắt và composite
4.1.7 Tiềm năng phát triển nghề nuôi cá bè
Qua những hộ điều tra được, chúng tôi nhận thấy trước khi nuôi cá bè người dân sống bằng nhiều nghề khác nhau như kinh doanh, dịch vụ, … Do nhận thấy nghề nuôi cá bè có lợi nhuận khá nên họ bước sang lĩnh vực này nhưng thời gian gần đây do giá cả không
Trang 35ổn định (giảm) nên người dân không an tâm sản xuất và mở rộng qui mô sản xuất Mặc dù vậy nghề nuôi cá bè là một nghề có tiềm năng phát triển với quy mô rộng lớn hơn khi được đầu tư đúng mức về các yếu tố đầu vào trong sản xuất: vốn, vật tư, con giống … và có đầu
ra ổn định
4.1.8 Tập huấn và khuyến ngư
Tập huấn và khuyến ngư là công tác nhằm phổ biến nhửng vấn đề cần được chuẩn bị trước khi nuôi, trong quá trình nuôi và cả sau khi thu hoạch cũng như giúp cho người dân nắm rõ những kỹ thuật sản xuất, phòng trị bệnh và bảo vệ mội trường nước nuôi góp phần mang lại hiệu quả cao trong sản xuất
Theo kết quả điều tra có tới 96% ngư hộ tham gia tập huấn Do họ có trình độ học vấn khá cao (đa số cấp III) nên họ nhận thức được tầm quan trọng trong kỹ thuật nuôi đối với sản xuất Mặt khác do khu vực này mới hình thành, họ chưa có kinh nghiệm nên họ xem công tác tập huấn và khuyến nông như là nguồn học hỏi kinh nghiệm chính
Theo đánh giá của ngư dân các lớp tập huấn có nội dung chung chung không nói đến những vấn đề cụ thể, thực tế nên không mang lại hiệu quả cao Mặt khác chủ hộ phải quản lý nhiều lĩnh vực khác nên họ không thể tập trung cho công việc nuôi cá bè (chủ yếu giao cho người làm thuê) Vả lại họ cũng không trực tiếp chăm sóc cá mà phải thuê người và truyền đạt kỹ thuật lại cho họ nên đây cũng là một hạn chế cho nghề nuôi
4.3 Các Đặc Trưng Về Kỹ Thuật Nuôi Cá Lồng Bè Tại Xã Thới Sơn - Huyện
Châu Thành - Tỉnh Tiền Giang
4.3.1 Bè nuôi cá
Qua kết quả điều tra được, chúng tôi nhận thấy kích thước bè ở đây chủ yếu là bè đơn, tất cả đầu có hình chữ nhật Bè ở đây không có thể tích lớn (nhỏ hơn 130 m3) do cục thuỷ sản qui định Những bè có kích thước lớn là những bè được đóng trước đây
4.3.1.1 Thể tích bè nuôi cá
Nghề nuôi cá bè ở đây xuất hiện cách đây khoảng 10 năm Tuy nhiên nghề này mới phát triển mạnh trong vòng một năm nay với khoảng 10 bè nuôi thì nay đã lên tới hơn
80 bè nuôi Thể tích lồng bè của các ngư hộ ở đây là khá đồng đều, chỉ có một số bè được đóng trước đây (bè cũ) có thể tích lớn Do có sự nghiên cứu điều tra của Sở Thuỷ Sản và
Trang 36đưa ra thể tích hạn tối ưu mà người dân phải tuân theo là nhỏ hơn 130 m3 Với thể tích này người dân có điều kiện chăm sóc quản lý bè tốt nhất, bè ở đây tập trung khoảng 54 –112
m3
Bảng 4.6: Qui mô thể tích bè nuôi cá
Những hộ có thể tích lớn hơn 175 m3 chiếm tỷ lệ rất ít thường là những hộ có vốn đầu tư nhiều và là những hộ đã tham gia sản xuất lâu đời lâu đời, bè được đóng từ nhiều năm trước đây Họ chủ yếu là thuê lao động chứ không trực tiếp sản xuất
Vật liệu ở đây chủ yếu là bè hỗn hợp giữa sắt và composite hay hỗn hợp giữa gỗ và composite Các thanh gỗ hoặc sắt được phủ lên lớp composite sẽ làm độ bền của vật liệu sẽ tăng lên Mặt khác trong khu vực này có nhiều hàu bám vào nên nếu chỉ đóng bằng gỗ thì bè sẽ dễ bị hư hỏng theo thời gian
Hiện nay bè có xu hướng được đóng bằng sắt đựơc phủ composite để tăng tuổi thọ của bè đồng thời cũng làm giảm ô nhiễm môi trường nước do sự mục nát của vật liệu Giá thành đóng một bè bằng gỗ hay sắt so với gỗ composite và sắt composite không chênh lệch nhiều nhưng tuổi thọ tăng lên rất nhiều cũng góp phần làm giảm giá thành sản xuất
4.3.1.2 Nhà trên bè
Nhà ởø trên bè đươc làm chủ yếu bằng tôn hoặc sắt Trong 58 hộ điều tra, có 53 hộ vách và mái đựơc đóng bằng tôn và sườn bằng sắt, chỉ có 2 hộ vách được đóng bằng gỗ Phần nhà trên bè là nơi trú ngụ, theo dõi và chăm sóc của người nuôi Ngoài ra nó con là nơi cất giữ nguyên liệu, nhiên vật liệu và là nơi sinh hoạt của người nuôi cá Nhà trên bè
Trang 37được đầu tư khá cao từ 15 –25 triệu, tạo ra cảnh quang khá đẹp cho làng bè
Do làng bè khu vực này mới hình thành nên mật độ còn thưa hơn nhiều so với các vùng khác Chính vì vậy các ngư hộ ở các khu vực khác về đây neo bè ngày càng nhiều
Hình 4.4 Làng bè xãThới Sơn
4.3.1.3 Hệ thống phao của bè
Hệ thống phao có chức năng làm cho bè nổi, một số bè đựoc đóng từ lâu đời thì người dân sử dụng thùng phi bằng sắt làm phao Những bè được đóng trong vài năm trở lại đây thì người ta chỉ sử dụng thùng nhựa Theo ý kiến của ngư dân thì sử dụng thùng nhựa tuy giá đắt hơn nhưng tuổi thọ lâu hơn do ít bị oxy hoá bởi môi trường nước và ít bị ảnh hưởng bới sự xâm nhập của độ mặn
4.3.1.4 Phương tiện phục vụ sản xuất trên bè cá
Do khu vực này chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp để nuôi cá nên phương tiện phục vụ sản xuất ở đây rất đơn giản như vợt vớt cá để kiểm tra, vợt vớt cá bện, lưới kéo cá, dụng cụ quạt nước …
Vợt vớt cá: là một mảnh lưới được viền vào một đoạn sắt (được uốn hình tròn) được cột vào một thanh nhỏ dài … Vợt này được sử dụng khi cần bắt cá lên kiểm tra trọng lượng, sức khoẻ hay dùng để vờt cá bệnh ra cách ly với cá khoẻ
Lưới cá chỉ sử dụng khi thu hoạch cá, thường thì mổi bè có lưới riêng phù hợp kích thước bè của mình
Trang 38 Dụng cụ quạt nước: sử dụng khi cá bị ngạt do môi trường bị ô nhiễm hay nước đứng lâu Người ta có thể sử dụng ghe máy có chân vịt quạt nước vào bè, dụng cụ sục khí hoặc được chế tạo từ máy bơm nước (loại bỏ dưới nước) gắn thêm chân vịt để quạt nước từ ngoài vào để làm tăng lưu lượng nước qua bè, từ đó làm giảm nồng độ chất độc và tăng hàm lượng oxy hoà tan
Phương tiện vận chuyển: dùng để vận chuyển thức ăn, sản phẩm và đi lại, thông thường một hộ có một ghe máy (dùng cho việc vận chuyển thức ăn và đi xa) và một xuồng ba lá để đi gần Mổi phương tiện đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng: ghe máy thì đi nhanh vận chuyển được nhiều nhưng bị hao mòn máy móc và tốn nhiên liệu nhất là trong tình trạng xăng, dầu lên giá như hiện nay và ảnh hưởng đến bè nuôi, còn xuồng ba lá thì di chuyển nhẹ nhàng, ít ảnh hưởng đến bè và không tốn nhiên liệu, tiết kiệm được chi phí sản xuất nhưng nhược điểm là tốc độ chậm
4.3.2 Kỹ thuật nuôi
Đối với những bè cũ thì trước đây có nuôi cá tra, basa nhưng từ khi phong trào nuôi cá bè ở đây phát triển mạnh thì người dân đã hoàn toàn chuyển sang nuôi cá điêu hồng (cá rô phi đỏ) Điều này cũng phù hợp theo hướng chung của nghề nuôi cá bè trong cả nước cũng như về nhu cầu tiêu thụ của loại cá này như hiện nay
4.2.2.1 Nguồn cá giống
Ngư dân khu vực này chủ yếu mua cá giống huyện Cai Lậy và tỉnh Long An Chỉ có hai hộ cho biết họ mua giống trong cồn Thới Sơn (xã Thới Sơn) và một hộ mua giống trôi nổi bán trên sông Họ thường mua giống ở những nơi quen biết mà họ tin tưởng Họ chỉ gọi điện thoại đến đặt cá, rồi các trại giống sẽ dùng ghe máy vận chuyển giống đến bè nuôi Một số hộ thì trực tiếp đến các trại giống theo dõi cả quá trình cho đẻ và ương giống, sau đó đưa về bè nuôi
4.2.2.2 Mật độ thả giống và cỡ cá giống
Mật độ thả giống khoảng 150 – 200 con/m3 đước áp dụng cho hầu hết các hộ ở khu vực này
Cỡ cá giống lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào mật độ nuôi dày hay mỏng và thời gian nuôi Cỡ cá giống thường từ 40 – 80 con/kg
Trang 394.2.2.3 Thức ăn nuôi cá bè
Tỉnh Tiền Giang vừa mới hình thành khu công nghiệp Mỹ Tho nhưng không có xưởng sản xuất thức ăn nào phục vụ cho nuôi thuỷ sản nên phải mua thức ăn từ nơi khác hay nhập ngoại
Theo điều tra 56 ngư hộ, thức ăn nuôi cá điêu hồng ở đây chủ yếu là các nhãn hiệu như: Cargil, UP Ở đây nuôi theo hình thức nuôi công nghiệp nên chỉ cho ăn thức ăn dạng viên, không cho ăn thức ăn tự chế
4.2.2.4 Khẩu thức phần thức
Vì nuôi bằng thức ăn công nghiệp nên việc cho ăn cũng đơn giản theo những qui tắc chung như : cá nhỏ cho ăn thức ăn cỡ nhỏ, cho ăn khoảng 5% trọng lượng thân, lớn khoảng 3% trọng lượng thân Tuy nhiên điều này cũng phải linh hoạt, chú ý quan sát tốc độ ăn của cá Nếu tốc độ ăn chậm, thức ăn còn dư thì hôm sau giảm bớt lượng thức ăn, còn nếu ngược lại thì hôm sau tăng thêm lượng thức ăn
Ngoài ra khẩu phần thức ăn của cá còn tuỳ thuộc vào giá thành cá Những lúc giá cá rẻ thì người ta cho ăn hạn chế để chờ giá cá lên Điều này gây ảnh hưởng đến sự tăng trong của cá
Liều lượng thức ăn:
Cá nhỏ được cho ăn ngày 3 lần:
+ Lần I : 7-8 giờ sáng + Lần II : 10-11 giờ trưa
+ Lần III : 4-5 giờ chiều
Cá lớn được cho ăn ngày 2 lần:
+ Lần I : 8-9 giờ sáng + Lần II : 3-4 giờ chiều
Trang 40
Hình 4.5 Thức ăn được trộn với vitamin C trước khi cho ăn
4.2.2.5 Chăm sóc và quản lý bè nuôi cá
Vì bè được làm bằng sắt hay gỗ (được phủ bằng composite) và thùng phuy bằng nhựa nên công tác bảo vệ, sửa và quản lý bè nuôi cá khá đơn giản Vì vậy sau mỗi vụ nuôi họ chỉ cần dùng “bàn đẩy” đẩy hàu, rong bám trên lưới để nước ra vào thông thoáng là có thể nuôi tiếp vụ sau
Phần bè nổi trên mặt nước thì sau mỗi vụ nuôi được cạo phần sét và sơn lại, như vậy sẽ làm tăng tuổi thọ của bè Còn các hệ thống như phao, neo, dây neo được kiểm tra thường xuyên để kịp thời sửa
4.2.2.6 Bệnh cá và các phương pháp phòng trị bệnh
Một trong những nguyên nhân gây bệnh cho cá bè là bệnh cá, nó có thể lây lan từ bè này sang bè khác
Do làng cá bè này mới hình thành nên kinh nghiệm trong ngư hộ còn chưa nhiều, họ chủ yếu phòng bệnh theo cảm tính và khi cá bị bệnh thì bắt cá lên Chi cục Thuỷ Sản để xin toa thuốc Mặc dù chưa có kinh nghiệm nhưng việc làm này cũng có được ưu điểm của nó là giúp chẩn đoán bệnh tương đối chính xác và điều trị bệnh đạt hiệu quả cao
Qua quá trình điều tra, tìm hiểu và tham khảo những công trình nghiên cứu bệnh cá của Trường Đại học Nông Lâm Tp HCM chúng tôi đã xác định được một số bệnh cá thường gặp sau: