Điều tra tình hình dịch bệnh và khảo sát đáp ứng miễn dịch của cá rô phi đỏ đối với Streptococcus sp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
RÔ PHI ĐỎ ĐỐI VỚI Streptococcus sp
NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHÓA: 2001 - 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM QUỐC ĐẠT
CAO THANH TUYỀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 8/2005
Trang 2ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH VÀ KHẢO SÁT ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA CÁ
RÔ PHI ĐỎ ĐỐI VỚI Streptococcus sp
Thực hiện bởi
Phạm Quốc Đạt Cao Thanh Tuyền
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng kỹ sư nuôi trồng thủy sản
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Hữu Thịnh
Lê Thanh Hùng
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 8/2005
Trang 3TÓM TẮT
Nội dung đề tài “Điều Tra Tình Hình Dịch Bệnh Và Khảo Sát Đáp Ứng
Miễn Dịch Của Cá Rô Phi Đỏ Đối Với Streptococcus sp.” gồm các phần:
Điều tra, phỏng vấn trực tiếp 40 hộ nuôi cá rô phi đỏ bè và ao tại Q.9 và Củ Chi để thu thập các số liệu về thông tin nông hộ, kỹ thuật nuôi và tình hình dịch bệnh đối với nghề nuôi
Thu mẫu bệnh phẩm, ghi nhận bệnh tích Phân lập, giữ giống vi khuẩn và tạo FKC
Khảo sát ảnh hưởng của mật độ nuôi lên đáp ứng miễn dịch và tỉ lệ cảm nhiễm ngược ở cá
Khảo sát đáp ứng miễn dịch ở cá
Qua điều tra và nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được kết quả:
Về kết quả điều tra:
Thâm niên kinh nghiệm của các hộ nuôi bè là rất thấp so với các hộ nuôi ao Mật độ cá thả nuôi ở các bè còn tương đối cao
Bệnh của cá rô phi đỏ chỉ xảy ra trên cá nuôi bè và tập trung nhiều vào tháng 3-5 và tháng 9-11
Streptococcus sp là tác nhân chính gây bệnh trên cá rô phi đỏ nuôi bè trong
đợt dịch bệnh tháng 3-4
Các loại kháng sinh được sử dụng chủ yếu để trị bệnh do Streptococcus sp
gây ra như Enro-Colistin, Enrofloxacine, Kaneoquine
Về kết quả nghiên cứu thí nghiệm:
Cá có trọng lượng trung bình từ 25 – 45 g/con khi được tiêm FKC thì đáp ứng miễn dịch yếu
Cá có trọng lượng trung bình 80 – 90 g/con khi được tiêm FKC thì cho đáp ứng miễn dịch tốt
Huyết thanh cá đã được tiêm FKC cho phản ứng ngưng kết trên phiến kính với
Streptococcus sp phân lập từ cá nhiễm bệnh
Trang 4ABSTRACT
Contents of study was “Investigation Disease For Outbreak And Immune
Response Of Red Tilapia To Streptococcus sp.” include:
Interview 40 households culturing red tilapia in cage and pond to collect data about information households, technical culture and disease outbreaks of fish
Collecting diseased fish to observe symptoms, isolate bacterial agents and make FKC from isolates
Affects of density to immune respone and rate of streptococcal infection
of fish
Investigation immune response of fish
Through investigation and research, we obtained results:
Investigation results:
Experiences in aquaculture of cage cultured households was lower than pond cultured households
Density of cage cultured fish was relatively high
Disease of red tilapia offen occurred on cage cultured fish in March – May and September – November
Streptococcus sp was major pathogenic agents of cage cultured red tilapia in
Sera of FKC infected fish gave strong positive slide agglutination with
Streptococcus sp isolated from infected fish
Trang 5CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu, quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm Khoa và quý thầy cô trong Khoa Thủy Sản đã tận tâm truyền đạt những kiến thức quý báo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Lòng biết ơn sâu sắc đến:
Thầy Nguyễn Hữu Thịnh, thầy Lê Thanh Hùng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này
Gia đình, người thân đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập
Xin gởi lời cám ơn đến Thầy Phạm Văn Nhỏ - trại thực nghiệm khoa Thủy Sản, cô Hạnh, cô Bình - phòng thí nghiệm vi sinh khoa Thủy
sản trường Đại Học Nông Lâm
Đặc biệt xin gởi lời cảm ơn đến anh Minh, chị Trúc, chị Thảo, anh Tâm – nhân viên dự án SUSPER - đã hỗ trợ chúng tôi trong suốt thời gian tiến hành điều tra Gia đình các hộ dân tại địa bàn Quận 9, huyện Củ Chi TP Hồ Chí Minh đã nhiệt tình cung cấp các thông tin giúp chúng tôi thực hiện tốt đề tài
Lời cảm ơn triều mến xin gởi đến các bạn trong và ngoài lớp đã động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập cũng như làm luận văn
Do thời gian thực hiện đề tài tương đối ngắn và sự hạn chế về mặt kiến thức nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Trang 6MỤC LỤC
2.1 Hiện Trạng Nuôi Trồng Thủy Sản tại Tp Hồ Chí Minh 3
2.1.2 Tình hình nuôi cá nước ngọt tại các quận huyện ven đô Tp Hồ Chí Minh 3
2.7 Một Số Tác Nhân Vi Khuẩn Gây Bệnh Thường Gặp trên Cá Rô Phi 9
Trang 72.7.3 Bệnh do vi khuẩn Staphylococcus 12
III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
4.1 Kết Quả Điều Tra Tình Hình Nuôi và Dịch Bệnh trên Cá Rô Phi Đỏ 31
4.1.3 Bệnh và những loại thuốc được dùng trong phòng trị 39
4.3 Kết Quả Thí Nghiệm Khảo Sát Ảnh Hưởng của Mật Độ Nuôi lên
Đáp Ứng Miễn Dịch và Tỉ Lệ Cảm Nhiễm Ngược ở Cá 43 4.4 Kết Quả Thí Nghiệm Khảo Sát Đáp Ứng Miễn Dịch Cá 44
PHỤ LỤC
Trang 8PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Biểu mẫu điều tra
Phụ lục 2 Thông tin cơ bản về nông hộ nuôi cá rô phi đỏ lồng bè
Phụ lục 3 Thông tin một số yếu tố về kỹ thuật nuôi cá rô phi đỏ lồng bè
Phụ lục 4 Thông tin tình hình dịch bệnh và cách phòng trị bệnh cá rô phi nuôi bè Phụ lục 5 Thông tin cơ bản về nông hộ nuôi cá rô phi đỏ ao
Phụ lục 6 Thông tin một số yếu tố về kỹ thuật nuôi cá rô phi đỏ ao
Phụ lục 7 Thông tin tình hình dịch bệnh và cách phòng trị bệnh cá rô phi đỏ nuôi ao
Phụ lục 8 Trọng lượng cá ở các lô thí nghiệm
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sản lượng và giá thành của một số nước sản xuất
Bảng 4.3 Thâm niên kinh nghiệm nuôi cá ở các hộ dân 33 Bảng 4.4 Tình hình tham dự các lớp tập huấn khuyến ngư 34
Bảng 4.8 Biểu hiện bệnh của cá ở cá bè và ao nuôi 39 Bảng 4.9 Thuốc dùng trong điều trị bệnh cá ở các hộ nuôi 40 Bảng 4.10 Thuốc dùng trong phòng bệnh cá ở các hộ nuôi 41
Bảng 4.12 Kết quả phân lập sau khi gây nhiễm với vi khuẩn
Bảng 4.13 Kết quả thử phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính
Bảng 4.14 Kết quả gây kích thích miễn dịch ở các nồng độ gây nhiễm
Bảng 4.15 Kết quả phân lập sau khi gây nhiễm với vi khuẩn
Trang 10DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.2 Tỉ lệ trình độ học vấn của các chủ hộ 32 Đồ thị 4.3 Tỉ lệ thâm niên kinh nghiệm nuôi cá ở các hộ dân 34 Đồ thị 4.4 Tình hình tham dự các lớp tập huấn khuyến ngư ở các hộ nuôi 35
Trang 11DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Hình 3.4 Kết quả ly tâm xác vi khuẩn Streptococus sp 27
Hình 4.2 Ao nuôi cá rô phi đỏ kết hợp chăn nuôi gà tại
Hình 4.4 Khuẩn lạc vi khuẩn mọc trên môi trường NA
Trang 12I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
Những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản đã không ngừng phát triển và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong ngành thủy sản nói riêng và kinh tế đất nước nói chung, với kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2002 là 2,023 tỷ USD, năm 2003 là 2,20 tỷ USD và năm 2004 là 2,40 tỷ USD Trong đó, nghề nuôi thủy sản nước ngọt mà đặt biệt là đối tượng cá rô phi đã được Bộ Thủy sản xác định là một trong những đối tượng nuôi chủ yếu trong chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn
1999 – 2010
Nghề nuôi cá rô phi ao, bè được phổ biến nhanh chóng mang nhiều lợi ích kinh tế Tuy nhiên do phát triển ao, bè nuôi nhiều trong cùng diện tích cũng như nuôi với mật độ cao làm cho nghề nuôi bị thiệt hại nhiều do dịch bệnh xảy ra Tác nhân gây bệnh quan trọng trên cá rô phi nói chung và rô phi đỏ nói riêng thường là vi khuẩn, virus hoặc protozoa trong đó đáng chú ý nhất là bệnh do vi khuẩn mà đặc biệt
là Streptococcus sp
Có rất nhiều báo cáo khoa học đề cập đến bệnh do Streptococcus iniae trên cá
rô phi nuôi công nghiệp tại nhiều quốc gia trên thế giới Vi khuẩn này gây rất nhiều
dịch bệnh và tỷ lệ cá chết cao Gần đây cũng đã có thông tin S iniae được phân lập từ cá rô phi nuôi (Oreochromis spp) ở Việt Nam (Tan và Enright, 2003)
Việc định danh loài vi khuẩn gây bệnh đòi hỏi rất nhiều kinh nghiệm cũng như các phương pháp phân tích sinh lý – sinh hóa phức tạp Do vậy, trong các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Tri Cơ (2004), Võ Văn Tuấn (2005), Nguyễn Thị Ngọc
Bích (2005), Dương Phượng Uyên (2005) chỉ xác định được đến loài Streptococcus
sp khi phân lập liên cầu khuẩn từ cá bệnh Tuy nhiên, việc tìm hiểu ảnh hưởng của
bệnh do Streptococcus sp trên cá rô phi nuôi và tiến hành các nghiên cứu nhằm
phòng bệnh hiệu quả là yêu cầu cấp thiết
Trước nhu cầu thực tiễn đó, được sự phân công của Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH VÀ KHẢO SÁT ĐÁP ỨNG MIỄN
DỊCH CỦA CÁ RÔ PHI ĐỎ ĐỐI VỚI Streptococcus sp.”
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
- Điều tra diễn biến tình hình dịch bệnh đối với nghề nuôi cá rô phi đỏ tại Tp.HCM
Trang 13- Điều tra đánh giá sự hiểu biết của nông dân về việc sử dụng thuốc phòng và trị bệnh cho cá rô phi đỏ
- Khảo sát một số đặc điểm tạo đáp ứng miễn dịch của Streptococcus sp gây bệnh
trên cá rô phi đỏ và đưa ra một số biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả
Trang 14II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Hiện Trạng Nuôi Trồng Thủy Sản tại Tp Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích mặt nước có khả năng đưa vào nuôi trồng thủy sản (NTTS) là 31.500 ha, trong đó (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tp.HCM, 2000):
- Khu vực ao, hồ nước ngọt: 3.000 ha
- Khu vực ruộng trũng: 21.000 ha
- Khu vực ao, hồ nước lợ mặn: 3.500 ha
Tình hình NTTS thành phố trong giai đoạn 1990 – 1999 có xu hướng tăng, tuy nhiên mức độ tăng không nhiều Các mô hình nuôi có sự chuyển hóa từ hình thức thô
sơ lên hình thức nuôi có đầu tư cao (nuôi lồng bè, nuôi kết hợp V-A-C, mô hình nuôi cá ruộng lúa,…)
(Báo cáo Hiện trạng nuôi trồng thủy sản ven đô Tp.HCM, 2002)
2.1.1 Hiện trạng nghề nuôi cá oa1
Làng nuôi cá bè tại Quận 9 tập trung có chiều dài khoảng 1,5km, rộng gần 100m trên sông Tắc (một nhánh sông của sông Đồng Nai) thuộc hai phường Long Phước và Trường Thạnh Đối tượng nuôi chủ yếu là cá rô phi đỏ (điêu hồng) với tổng cộng 51 hộ nuôi Tổng số bè và vèo nuôi là 83 bè và 444 vèo chiếm 10.955m2 diện tích mặt nước (Chi cục bảo vệ môi trường - Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tp.HCM, 2004)
2.1.2 Tình hình nuôi cá nước ngọt tại các quận huyện ven đô Tp Hồ Chí Minh
Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt thành phố dao động không nhiều, thường ổn định ở mức 1.000 – 1.200 ha Trong đó, diện tích nuôi cá là chiếm chủ yếu
Huyện Bình Chánh: diện tích nuôi khoảng 714 ha, tập trung ở các xã như Bình Hưng, Phong Phú, Đa Phước, Tân Kiên, Tân Nhựt Đối tượng được nuôi chủ
yếu là các loài cá như rô phi (Oreochromis sp.), cá chép (Cyprinus carpio), mùi (Helostoma temmincki), cá trê (Clarias sp.)… Đây là vùng có tiềm năng
phát triển nghề nuôi thủy sản nước ngọt trong tương lai
Huyện Củ Chi: là huyện có diện tích mặt nước khá lớn, nhưng diện tích nuôi thủy sản chỉ khoảng 81 ha Đối tượng nuôi chủ yếu là các loài cá như cá mùi
Trang 15(Helostoma temmincki), cá rô phi (Oreochromis sp.), cá tra (Pagasius
hypophthalmus)…
Huyện Hóc Môn và Quận 12: là nơi phát triển nghề nuôi thủy sản, nhất là sản xuất cá giống và cá cảnh Diện tích nuôi khoảng 25 ha, tập trung ở phường Thạnh Lộc, Tân Thới Hiệp, An Phú Đông Các loài được nuôi chủ yếu là cá
tai tượng (Osphronemus goramy), cá rô phi (Oreochromis sp.), cá chép (Cyprinus carpio)…đặc biệt hiện nay loài cá rô phi đỏ (điêu hồng) được nuôi
Quận Thủ Đức và Quận 9: với diện tích nuôi khoảng 69 ha, tập trung ở các phường Long Thạnh Mỹ, Tăng Nhơn Phú, Phú Hữu,… Các loài cá được nuôi chủ yếu là tai tượng, rô phi đỏ, trê lai,…
(Báo cáo Hiện trạng nuôi trồng thủy sản ven đô Tp.HCM, 2002)
2.2 Một Số Đặc Điểm Sinh Học của Cá Rô Phi
2.2.1 Nguồn gốc
Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi Năm 1924, cá rô phi được nuôi đầu tiên ở Kenya và sau đó nuôi rộng rãi nhiều nước ở Châu Phi và trên thế giới, nhiều nhất là những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Chỉ vài chục năm gần đây, việc nuôi cá rô phi mới thực sự phát triển mạnh và trở thành một ngành nuôi có qui mô công nghiệp, cho sản lượng thương phẩm lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao
Rô phi đen (Oreochromis mossambicus) là loài cá rô phi đầu tiên được nhập vào nước ta vào năm 1951 Kế đến là cá rô phi vằn (O niloticus) được nhập từ Đài
Loan vào năm 1973, sau đó cá rô phi được cải thiện chất lượng về di truyền (dòng GIFT) đã được giới thiệu vào Việt Nam vào năm 1994 từ Thái Lan Cá rô phi đỏ
được nhập vào nước ta đầu tiên từ AIT (Thái Lan) vào năm 1991, là con lai giữa O
niloticus x O mossambicus (Phạm Thị Kiều Oanh, 2005)
Giống : Tilapia, Sarotherodon, Oreochromis
Loài : Tilapia sp., Sarotherodon sp., Oreochromis sp
Trang 16Có khoảng 80 loài cá rô phi thuộc ba giống Tilapia, Sarotherodon,
Oreochromis nhưng trong đó có khoảng 8 – 9 loài là có ý nghĩa quan trọng trong nuôi
trồng thủy sản Tất cả chúng đều có tên tiếng Anh chung là Tilapia
Hình 2.1 Cá rô phi đỏ (điêu hồng) Oreochromis sp
2.2.3 Môi trường sống
Các loài cá rô phi phát triển bình thường ở nhiệt độ 20 - 310C, tối hảo là 29
- 310C, ngưỡng nhiệt độ thấp gây chết cá là 10 - 110C, chết nóng ở 420C Rô phi là loài rộng muối, cá sống được ở cả môi trường nước ngọt lẫn nước mặn với độ muối
lên đến 32‰ và trong môi trường có oxy hòa tan thấp khoảng 0,1 mg/l Cá rô phi có
thể chịu đựng một giới hạn rộng của pH, từ 4 - 11, thích hợp nhất từ 6,5 - 8,5
2.2.4 Đặc điểm sống và tập tính dinh dưỡng
Trứng cá rô phi ở nhiệt độ 280C sau 4 ngày thì nở, 4 - 6 ngày sau tiêu hết noãn hoàng chuyển thành cá bột Cá bột đầu tiên ăn phù du động vật như Moina, Daphnia, Cyclops và tảo (Nguyễn Văn Tư, 2003)
Cá 20 ngày tuổi trở lên chọn thức ăn như cá trưởng thành Cá trưởng thành ăn thực vật hoặc ăn tạp mà thành phần thức ăn gồm thực vật thủy sinh và mùn bã hữu
cơ Ngoài ra, cá rô phi cũng có khả năng thích ứng với thức ăn tổng hợp (Balarin và Haller, 1982; trích bởi Trần Ái Quốc, 1996)
Trang 172.2.5 Tốc độ tăng trưởng
Cá rô phi có tốc độ tăng trưởng tùy theo loài, các loài khác nhau thì sinh trưởng và phát triển khác nhau Sự tăng trưởng còn phụ thuộc vào các yếu tố như nhiệt độ nước, giới tính, thức ăn và mật độ nuôi
Thông thường thì cá cái tăng trưởng chậm và có kích thước nhỏ hơn cá đực do chúng không ăn trong một vài tuần ở vào thời điểm sinh trứng và hầu hết năng lượng của chúng dùng để phát triển trứng Trong cùng điều kiện nuôi dưỡng, môi trường như nhau, cỡ cá thả ban đầu là 12,6 g/con, sau 36 ngày nuôi, trọng lượng trung bình của con đực là 61,4 g/con và con cái là 43,6 g/con (Liu Jiazhao, 1991; trích bởi Trần Thị Minh Tâm, 2004)
2.2.6 Đặc điểm sinh sản
Cá rô phi đẻ quanh năm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 Cá có khả năng cho ra 10-12 lứa trứng hàng năm tùy loài, mỗi lứa đẻ từ 300 đến 3.500 trứng Tuổi thành thục rất sớm từ 3 đến 4 tháng tuổi, thời gian tái thành thục khoảng 1 đến 2 tháng (Nguyễn Văn Tư, 2003) Sự hình thành và phát triển tuyến sinh dục của cá rô phi chịu sự tác động của nhiều yếu tố như tuổi cá, kích cỡ cá, chế độ dinh dưỡng, nhiệt độ nước, ánh sáng, độ mặn,…
Do có sức sinh sản rất lớn nên việc nuôi cá rô phi thương phẩm ít nhiều gặp trở ngại, làm mật độ nuôi dày đặc trong thời gian ngắn, dẫn đến thiếu thức ăn, thiếu oxy nên cá tăng trưởng chậm, kích thước nhỏ,…
2.3 Tình Hình Nuôi Cá Rô Phi
2.3.1 Trên thế giới
Hiện nay cá rô phi được nuôi ở trên 100 quốc gia Sản lượng cá rô phi đã tăng rất nhanh trong những năm qua: năm 1986 đạt 253 nghìn tấn, năm 1990 đạt 410 nghìn tấn, năm 1995 đạt 659 nghìn tấn, đến năm 2001 đạt trên 787 nghìn tấn Theo FAO, năm 2001 Châu Á là nơi nuôi nhiều cá rô phi nhất trên thế giới, cung ứng 62% sản lượng thế giới Dẫn đầu là Trung Quốc với sản lượng đạt 526 nghìn tấn, tiếp theo là Thái Lan với 102 nghìn tấn, Philippines khoảng 70 nghìn tấn, Indonesia khoảng 70 nghìn tấn, (Nguyễn Văn Tư, 2003) Ngoài ra, nghề nuôi cá rô phi đang được phát triển nhanh ở các nước Tây bán cầu như Mỹ, Equador, Colombia, Brazil, Cuba,… (Trần Thị Minh Tâm, 2004) Điển hình, do dịch bệnh đốm trắng trên tôm, Equador đã chuyển từ nuôi tôm sang nuôi cá rô phi để nâng sản lượng từ 18 tấn năm 1990 lên 15.000 tấn năm 2000 (Báo khoa học phổ thông, 12/9/2002)
Trang 18
Các loài rô phi được nuôi phổ biến trên thế giới hiện nay là rô phi vằn
(Oreochromis niloticus) đạt 739 nghìn tấn vào năm 2001, rô phi đen (O
mossambicus) đạt trên 48 nghìn tấn (Nguyễn Văn Tư, 2003) và đặc biệt cá rô phi
xanh (O aureus) là loài được nuôi nhiều nhất ở châu Á chiếm 70% tổng số cá rô phi
nuôi trong vùng (Dey & Eknath, 1997; trích bởi Trần Thị Minh Tâm, 2004)
Bảng 2.1 Sản lượng và giá thành của một số nước sản xuất cá rô phi trên thế giới năm
2.3.2 Tại Việt Nam
Cá rô phi được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (1951) nhưng do nuôi không năng suất vì sức sinh sản và sự lai tạo không kiểm soát của loài rô phi vằn với rô phi đen làm cho nghề nuôi cá rô phi trở nên khó khăn Đến năm 1994, nhờ tiếp nhận một số dòng cá rô phi vằn có phẩm chất tốt và áp dụng nhiều công nghệ tiến bộ đã làm thức tỉnh nghề nuôi cá rô phi ở nước ta Hiện nay cá rô phi đang là đối tượng được chú trọng phát triển trong nghề nuôi thủy sản nước ngọt với diện tích và sản lượng ngày càng gia tăng Diện tích nuôi cá rô phi ở Đồng bằng Sông Cửu Long vào khoảng 13 – 15 ngàn ha, sản lượng thu hoạch hàng năm khoảng 5.000 – 7.000 tấn tiêu thụ trong nội địa Dự định đến năm 2010 sản lượng cá rô phi sẽ tăng lên đến 120.000 – 150.000 tấn trong đó 50% cho xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ là 100 – 120 triệu USD (Asia Pulse, 23/9/2002; The Saigon Times Magazine, 5/9/2003; trích bởi Trần Thị Minh Tâm, 2003)
2.4 Thị Trường Cá Rô Phi
Trước đây cá rô phi chỉ tiêu thụ nội địa Từ khoảng thập niên 90 ngoại thương cá rô phi tăng nhanh Năm 2001 thị trường nhập khẩu cá rô phi trên thế giới là 56.337 tấn với giá trị 127.796.540 USD (Nguyễn Văn Tư, 2003)
Trang 19Thị trường cá rô phi trên thế giới rất lớn, dưới dạng còn sống, nguyên con tươi, đông lạnh hoặc xong khói Buôn bán chủ yếu giữa các nước Trung Mỹ (Costa Rica, Equador và Colombia) với Mỹ, giữa các nước Châu Á (Đài Loan, Indonesia, Thái Lan,…) với Mỹ và Nhật Bản Ngoài ra còn giữa Jamaica và Anh Đài Loan xuất khẩu cá rô phi phi lê cao cấp sang Nhật làm món sashimi và xuất sang Mỹ phi lê đông lạnh
Những nước nhập khẩu cá rô phi với số lượng lớn gồm Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Hàn Quốc, Ả Rập Xê Út, Cô Oét,… Trong đó, Mỹ là thị trường cá rô phi lớn nhất thế giới (chiếm 88%), kế tiếp là Nhật và Châu Âu Sản lượng cá rô phi nhập vào Mỹ gia tăng nhanh chóng, thông qua các năm như năm
1999 nhập 37.574 tấn, năm 2000 nhập 40.469 tấn, năm 2001 nhập 37.736 tấn và năm
2002 nhập 46.472 tấn Dẫn đầu về xuất khẩu cá rô phi vào Mỹ là Đài Loan và Trung Quốc với giá trị đạt khoảng 34,5 và 19,91 triệu USD vào năm 2001 (Nguyễn Văn Tư, 2003)
2.5 Tình Hình Dịch Bệnh ở Cá Rô Phi
Tuy có sức đề kháng cao hơn các loài cá nuôi khác, nhưng khi nuôi thâm canh cá rô phi không thể tránh khỏi bệnh tật Bệnh cá rô phi bao gồm bệnh do virus, vi khuẩn, nấm và kí sinh trùng Bệnh trên cá rô phi xảy ra khắp nơi, trong đó một số đã phát triển thành những trận dịch Đài Loan là nước đã từng hứng chịu rất nhiều dịch bệnh trên cá rô phi nuôi Chien (1991; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004) đã mô tả bệnh
trong một hệ thống nuôi cá rô phi vằn do Saprolegnia sp gây ra Trận dịch năm 1992
đã làm chết rất nhiều cá rô phi trong ao nuôi mà không xác định được nguyên nhân, bệnh bắt đầu xảy ra trong những ao nuôi nước ngọt ở miền Đông và Nam Đài Loan sau đó lan rộng ra các đảo trong khu vực ở cả ao nước lợ và mặn (Huang và ctv., 1998; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
Tại Philppines, Cichlidogyrus sclerosus đã từng gây hư hại mang cá rất nặng (Kabata, 1984) Bệnh cũng đã xảy ra tại một nơi khác ở Philippines do Aeromonas
hydrophila (Yambot, 1997) Tại Israel, một tác nhân gây bệnh rất giống với nấm Brachiomyces đã làm chết 85% cá rô phi đỏ và cá rô phi lai Từ năm 1992 đã xảy ra
liên tiếp những trận dịch trên cá rô phi lai ở Texas, Mỹ do Streptocoocus iniae và gây
chết rất nhiều cá nuôi (Perera và ctv., 1994; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
Vào khoảng cuối năm 1996 đầu năm 1997, tại một đầm nuôi cá rô phi nước lợ
ở Hưng Yên tỉnh Quảng Ninh-Việt Nam đã xảy ra trận dịch do đĩa Piscicola sp gây
ra và làm chết khoảng 20 - 25 tấn cá (Bùi Quang Tề, 2001)
Trang 202.6 Tình Hình Nghiên Cứu Bệnh trên Cá Rô Phi
2.6.1 Trên thế giới
Hiện nay trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về bệnh trên cá rô phi do các tác nhân vi khuẩn như: Miyazaki và ctv (1984) nghiên cứu mô học cá bị
nhiễm Pseudomonas fluorescens và Streptococcus sp., Chang và Plumb (1996) nghiên cứu mô học cá rô phi vằn nhiễm Streptococcus sp và ảnh hưởng của độ mặn lên quá trình nhiễm Streptococcus sp của cá rô phi vằn, Bunch và Bejerano (1997) nghiên
cứu ảnh hưởng của những yếu tố môi trường lên sự nhạy cảm của cá rô phi lai đối với
bệnh do Streptococcus sp., Huang và ctv (1996) nghiên cứu dịch tể học và khả năng sinh bệnh của Staphylococcus epidermidis trên cá rô phi nuôi ở Đài Loan và các tác giả này kết luận rằng S epidermidis là một tác nhân gây bệnh ở cá rô phi, (trích bởi
Nguyễn Tri Cơ, 2004)
2.6.2 Tại Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam thì các công trình nghiên cứu về bệnh cá rô phi chưa nhiều, chỉ có vài công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào kí sinh trùng và hầu như chưa có hoặc có rất ít công trình có tầm cở nghiên cứu về tác nhân virus hay vi khuẩn gây bệnh trên cá rô phi Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam như nghiên cứu về kí sinh trùng trên một số dòng cá rô phi vằn ở Bắc Ninh và Quảng Ninh (Bùi Quang Tề và ctv., 1999) Kí sinh trùng ở những giai đoạn khác nhau trên ba dòng cá
rô phi nuôi (O niloticus) như dòng Thái, dòng Việt và dòng GIFT tại miền Bắc Việt
Nam (Bùi Quang Tề và Đặng Thị Lụa, 1999, trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
2.7 Một Số Tác Nhân Vi Khuẩn Gây Bệnh Thường Gặp trên Cá Rô Phi
2.7.1 Bệnh do vi khuẩn Streptococcus
Streptococcus iniae lần đầu tiên được phân lập từ ổ viêm mủ dưới da của cá
heo nước ngọt sông Amazon (Inia geoffrensis) nuôi tại San Francisco, Hoa Kỳ vào
năm 1976 (Pier và Madin, 1976) Từ đó đến nay, vi khuẩn này được báo cáo gây rất nhiều dịch bệnh với tỷ lệ cá chết cao và thiệt hại kinh tế cho công nghiệp nuôi cá nước ngọt lẫn biển tại nhiều quốc gia trên thế giới như Nhật Bản (Kitao và ctv., 1981), Do Thái (Eldar và ctv., 1995), Hoa kỳ (Perea và ctv., 1998), Úc (Bromage và ctv., 1999), Bahrain (Yuasa và ctv., 1999, trích bởi Nguyễn Hữu Thịnh, 2004) Gần
đây nhất đã có thông tin S iniae được phân lập từ cá rô phi nuôi (Oreochromis spp) ở
Việt Nam (Tan và Enright, 2003)
Trang 212.7.1.1 Đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa
S iniae có hình dạng cầu, có thể đứng riêng lẻ, thành cặp hay tạo thành chuỗi
dài Vi khuẩn bắt màu gram dương
Vi khuẩn phát triển tốt trên các môi trường thạch Tryptic Soy, Brain Heart Infusion, Muller-Hilton và thạch máu cừu Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp 25-28oC Sau 48h giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo khuẩn lạc nhỏ (0,5-0,7mm) màu trắng đục Một số chủng vi khuẩn tạo khuẩn lạc trong suốt có tính nhầy sau 24h giờ nuôi cấy Trên môi trường thạch máu, khuẩn lạc tạo vòng dung huyết beta nhỏ, trong suốt, rìa không rõ
Vi khuẩn không phát triển ở điều kiện pH 9,6, NaCl 6,5%, nhiệt độ 10 và 45oC (Nguyen và Kanai, 1999)
Hình 2.2 Hình thái vi khuẩn Streptococcus sp
S iniae thủy phân esculin và tinh bột, không thủy phân gelatin Vi khuẩn lên
men đường glucose, maltose, mannitol, sucrose, không lên men arabinose, lactose,
raffinose và xylose Về các đặc điểm sinh hóa khác, S iniae cho phản ứng catalase
oxidase, VP, indol và H2S âm tính, MR và DNase dương tính (Nguyen and Kanai,
1999, trích bởi Nguyễn Hữu Thịnh, 2004)
2.7.1.2 Triệu chứng và bệnh tích
Bệnh thường xảy ra với tỷ lệ cá chết rất cao vào các tháng cuối mùa hè và đầu thu Đây là khoảng thời gian nhiệt độ nước cao nhất trong năm Tại các thời điểm khác trong năm cá chết rải rác, ngoại trừ những tháng mùa đông lúc nhiệt độ nước
Trang 22xuống thấp nhất ở các nước ôn đới không thấy bệnh xuất hiện Về độ tuổi cá thường có bệnh, hầu hết báo cáo đề cập bệnh xảy ra trong giai đoạn nuôi thương phẩm
Cá bệnh có triệu chứng chung khá điển hình trên nhiều loài Cá bơi lờ đờ hay mất định hướng gần mặt nước Bên ngoài, cá bị trướng bụng do tích tụ dịch viêm xoang bụng, xuất huyết điểm, đốm vùng da quanh miệng và hậu môn, xuất huyết nặng ở vây lưng và ngực, xuất huyết, viêm có mủ, lồi một hoặc cả hai mắt Bên trong, gan, lách, thận nhạt màu và sưng to
Perera và ctv (1998) nghiên cứu có hệ thống bệnh tích vi thể của cá rô phi lai
(O nilotica O aurea) nhiễm S iniae Kết quả cho thấy sự xâm nhập của vi khuẩn
vào tế bào ở mắt, màng não gây viêm hạt màng não Các ổ viêm với rất nhiều vi khuẩn trong nhu mô thận là bệnh tích thường quan sát được Vi khuẩn phát triển quanh mao tĩnh mạch và tạo bệnh tích viêm hạt ở nhu mô gan Nhu mô lách nhiễm khuẩn rất nặng Một số trường hợp có thể quan sát được viêm bao tim và cơ tim Trong máu, vi khuẩn phát triển tự do trong huyết tương hoặc bị thực bào bởi đại thực bào
2.7.1.3 Huyết thanh học
Pier và ctv (1978, trích bởi Nguyễn Hữu Thịnh, 2004) điều chế kháng huyết
thanh thỏ kháng S iniae Kháng huyết thanh thỏ này không cho phản ứng ngưng kết với bất kỳ loài vi khuẩn thuộc giống Streptococcus nào khác
Các chủng S inae phân lập tại Nhật Bản có thể tạo hai dạng khuẩn lạc khác
nhau sau 24h ủ trên các môi trường thạch thích hợp Một dạng khuẩn lạc có tính nhầy, trong và một dạng không nhầy, đục Khuẩn lạc nhầy có thể chuyển dần thành khuẩn lạc không nhầy khi kéo dài thời gian ủ nhưng không xảy ra trường hợp ngược lại Kháng huyết thanh thỏ điều chế từ tế bào vi khuẩn của khuẩn lạc nhầy sẽ cho phản ứng ngưng kết với cả hai khuẩn lạc nhầy và không nhầy Kháng huyết thanh thỏ điều chế từ tế bào vi khuẩn của khuẩn lạc không nhầy sẽ chỉ cho phản ứng ngưng kết với dạng khuẩn lạc đó Vi khuẩn tạo khuẩn lạc nhầy có độc lực mạnh hơn vi khuẩn
tạo khuẩn lạc không nhầy
2.7.1.4 Đường lây nhiễm
Cá có thể được gây nhiễm bằng cách tiêm, ngâm, cho ăn thụ động bằng thức ăn chứa vi khuẩn (Nguyen và ctv., 2000), nuôi chung cá khỏe và cá bệnh (Perera và ctv., 1997) hay bằng cách khá đặc biệt qua niêm mạc mũi (Evans và ctv., 2000) Zlotkin và ctv (1998, trích bởi Nguyễn Hữu Thịnh, 2004) báo cáo khả năng lây
truyền S iniae từ cá mang khuẩn trong tự nhiên vào cá nuôi
2.7.1.5 Phòng trị bệnh
Trang 23Phòng bệnh
Các biện pháp như giảm mật độ nuôi, tránh cho ăn dư thừa, vệ sinh bể nuôi cần được thực hiện thường xuyên Tránh đến mức tối đa chuyển đàn, chia đàn, phân cỡ cá trong thời gian dịch bệnh thường xảy ra
Trị bệnh
Kháng sinh diệt khuẩn phổ rộng hay diệt khuẩn gram dương với tác dụng toàn thân có hiệu quả điều trị tốt Erythromycin và một số kháng sinh khác như doxycycline, kitasamycin, alkyl-trimethyl-ammonium-calcium-oxytetracycline, josamycin, oleandomycin và lincomycin cũng thường được sử dụng trị bệnh do liên cầu khuẩn ở Nhật Bản (Kitao và Aoki, 1979, trích bởi Nguyễn Hữu Thịnh, 2004)
2.7.2 Bệnh do vi khuẩn Aeromonas
Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường tập trung vào mùa xuân và mùa thu
ở miền Bắc, ở miền Nam bệnh phát triển nhiều vào mùa mưa (Bùi Quang Tề, 1998)
Tác nhân gây bệnh: Aeromonas hydrophila Đây là loại trực khuẩn Gram âm,
hình que, hai đầu tròn có một tiêm mao, kích thước 0,5 x 1,0-1,5µm Vi khuẩn này có thể gây nhiễm cá rô phi từ cá giống tới cá trưởng thành (Yambot, 1997; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
Dấu hiệu bệnh lý: cá bỏ ăn, lờ đờ, bơi gần mặt nước, da xuất huyết, lỡ loét,
mất vẩy, mắt lồi, thối rửa đuôi và vây (Yambot, 1997; trích bởi Võ Văn Tuấn, 2005), hậu môn biến đỏ, mang và nội tạng xuất huyết, dịch xoang bụng có máu, lách và gan sưng phồng
Phòng trị bệnh: tắm cá bằng NaCl 1 - 3% lúc đánh bắt, KMnO4 2 - 4 ppm để rửa vết thương bên ngoài (Woo và ctv., 2002; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004) Trị bệnh bằng cách cho cá ăn thức ăn có trộn 2 - 4 g Oxytetracycline/kg thức ăn hoặc 50
- 100 mg Oxytetracycline/kg cá trong vòng 14 ngày (Plumb, 1994; trích bởi Võ Văn Tuấn, 2005)
2.7.3 Bệnh do vi khuẩn Staphylococcus
Tác nhân gây bệnh: Staphylococcus epidermidis Đây là tụ cầu khuẩn Gram
dương, chỉ gây bệnh trên cá rô phi, không gây bệnh với các loài cá được nuôi ghép với cá rô phi (Huang và ctv., 1998; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
Trang 24Dấu hiệu bệnh lý: đa số cá bệnh không có dấu hiệu bên ngoài rõ ràng, vài
trường hợp thấy mắt lồi, những thương tổn ở da và vây, bụng căng chứa nhiều dịch, cá sắp chết lờ đờ và bơi lội quay vòng trên mặt nước hoặc đáy ao, lách sưng to, thận trước và lách xuất hiện những khối u trắng hay vàng Ngoài ra cá nhiễm nặng còn thấy những vết thương hình tròn ở gan, thận giữa, tuyến sinh dục, dạ dày và ruột, không có thương tổn ở tim và não Nhiều trường hợp thấy có những khối u ở mang (Nguyễn Tri Cơ, 2004)
Phòng trị bệnh: áp dụng biện pháp phòng chung Theo Huang và ctv (1998;
trích bởi Võ Văn Tuấn, 2005) thì có thể sử dụng các loại kháng sinh như Ampicilline (10 mg), Bacitracine (10 mg), Cephalosporine (30 mg), Erythromycine (15 mg), Gentamycine (10 mg), Kanamycine (30 mg), Lincomycine (2 mg), Oxytetracycline (30 mg), Streptomycine (10 mg) cho 1 kg thể trọng trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn trên cá
2.7.4 Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas
Tác nhân gây bệnh: Pseudomonas fluorescens, đây là một loại vi khuẩn Gram
âm, hình que với 1 – 3 tiêm mao P fluorescens là một tác nhân cơ hội thường xuyên
có mặt trong môi trường nước Loài này có thể tồn tại trong môi trường nước ngọt tới
150 ngày (Duremdes và Lio-Po, 1984; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
Dấu hiệu bệnh lý: giống với cá bị nhiễm Aeromonas sp với các triệu chứng
như mắt lồi, lỡ loét Quan sát mô học thấy những chổ hoại tử tập trung và những u hạt trong mắt, mang, gan, bóng hơi, thận, lách (Miyashitavà ctv., 1984; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
Phòng trị: tránh gây stress cá do một số yếu tố như hàm lượng oxy hoà tan
thấp, mật độ cá thả cao, dinh dưỡng kém và những yếu tố khác gây thương tổn cá Tắm cá trong giai đoạn đầu của bệnh bằng Benzalkonium Chloride 1-2 ppm trong 1 giờ, Furanace 0,5 - 1 ppm trong 5 - 10 phút hoặc Malachite Green 1 - 5 ppm trong 1 giờ (Austin, 1987; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
2.7.5 Bệnh do vi khuẩn Columnaris
Tác nhân gây bệnh: Flavobacterium columnaris, vi khuẩn hình que, không
tiêm mao, Gram âm Phần lớn F columnaris gây nhiễm kết hợp với các tác nhân vi khuẩn khác ở trên cá như Edwardsiella ictaluri, Aeromonas hydrophila, Henneguya
spp, Ichthyobodo spp (Hawke và Thune, 1992; Duarte và ctv., 1993; Plumb, 1994;
trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
Dấu hiệu bệnh lý: những mao quản ở mang, da và cơ bị xung huyết và thoái
hóa (Plumb, 1994; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
Trang 25Phòng trị: phòng bằng cách duy trì điều kiện môi trường nuôi tốt, đánh bắt cá
hợp lý, quản lý sức khỏe cá tốt (Plumb, 1994; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004) Cho KMnO4 5ppm xuống ao kết hợp với việc cho cá bệnh ăn thức ăn có chứa Oxytetracycline với liều lượng 50mg thuốc/kg cá/ngày trong vòng 10 ngày
2.8 Một Số Thông Tin về Miễn Dịch Học
2.8.1 Khái niệm về đáp ứng miễn dịch
Miễn dịch là khả năng đề kháng của sinh vật chống lại một sinh vật khác và các chất mang trên bản thân chúng những dấu hiệu thông tin di truyền ngoại lai Tính miễn dịch được hình thành trong quá trình tiến hoá của sinh vật (R.V.Petrov, 1978)
Hệ thống miễn dịch trong cơ thể sinh vật được chia thành 2 nhóm là miễn dịch tự nhiên (miễn dịch không đặc hiệu) và miễn dịch thu được (miễn dịch đặc hiệu)
a Miễn dịch tự nhiên (miễn dịch không đặc hiệu)
Miễn dịch tự nhiên được quy định bởi đặc tính của giống, loài sinh vật Loại miễn dịch này đã có sẵn khi cơ thể được sinh ra và nó được di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Những yếu tố cấu thành miễn dịch tự nhiên gồm: các yếu tố cơ học ở biểu mô, surfactans, lactoferrin, lysozyme, tallow, acid được tiết ra trong dạ dày, transferrin, bổ thể, C reactive protein, interferon, các tế bào thực bào,…
b Miễn dịch thu được (miễn dịch đặc hiệu)
Miễn dịch thu được hay còn gọi là miễn dịch đặc hiệu là loại miễn dịch mà cơ thể tiếp thu được trong quá trình sống Miễn dịch thu được chia ra làm 2 loại là miễn dịch chủ động và miễn dịch thụ động
- Miễn dịch chủ động:
Là loại miễn dịch mà tự bản thân cơ thể sinh vật tạo ra khi tiếp xúc với kháng nguyên Nếu miễn dịch chủ động mà trong đó có sự tham gia của con người như trường hợp chủng ngừa vaccine để phòng bệnh, được gọi là miễn dịch chủ động nhân tạo Miễn dịch chủ động do cơ thể tiếp thu tự nhiên trong môi trường sống được gọi là miễn dịch chủ động tự nhiên Trường hợp này xảy ra khi sinh vật qua khỏi sau đợt dịch bệnh, có khả năng không mắc lại bệnh đó khi bị tái nhiễm
Trang 26- Miễn dịch thụ động:
Miễn dịch thụ động là loại miễn dịch mà cơ thể tiếp thu từ bên ngoài Còn miễn dịch thụ động có được do con người tạo ra như trường hợp tiêm huyết thanh để phòng và trị bệnh, được gọi là miễn dịch thụ động nhân tạo
Trong hệ thống miễn dịch tự nhiên cũng như miễn dịch thu được đều có cả miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào
2.8.2 Khái niệm về kháng nguyên, kháng thể
Kháng nguyên là những chất có tính sinh miễn dịch và tính đặc hiệu Tính sinh miễn dịch là khả năng kích thích cơ thể có một đáp ứng miễn dịch Tính đặc hiệu là khả năng kết hợp đặc hiệu với kháng thể trong miễn dịch dịch thể Còn trong miễn dịch qua trung gian tế bào kháng nguyên có khả năng kết hợp đặc hiệu với các thụ thể trên bề mặt lympho T mẫn cảm
Kháng thể được gọi là globulin miễn dịch (Ig=Immunoglobulin) Ở người có năm lớp Ig là IgG, IgA, IgM, IgD, IgE Ở sinh vật tùy theo từng loài, cá chép chỉ có IgG Các Ig đều là protein hình cầu, nghĩa là đường kính/đường kính nhỏ hơn 10 lần Mỗi phân tử Ig đều có hai chuỗi polypeptide nặng, kí hiệu là chuỗi H (heavy chain) và hai chuỗi nhẹ kí hiệu là L (light chain) Sự khác biệt chủ yếu giữa hai lớp Ig với nhau là ở chuỗi nặng Các chuỗi H và L trên cùng một phân tử kháng thể bao giờ cũng giống nhau từng đôi một
2.8.3 Phản ứng ngưng kết
2.8.3.1 Nguyên lý
Đối với các kháng nguyên hữu hình (như xác vi khuẩn) khi gặp kháng thể đặc hiệu, các vi khuẩn sẽ kết lại với nhau thành đám lớn, mắt thường có thể quan sát được Đó là hiện tượng ngưng kết trực tiếp
Khi cơ thể được miễn dịch, trong huyết thanh có chứa nhiều kháng thể đặc hiệu Khi cho kháng nguyên hữu hình (tế bào vi khuẩn đã chết) trộn với kháng thể đặc hiệu tương ứng, các vi khuẩn phân tán rời xa nhau trong hỗn dịch sẽ kết lại với nhau qua cầu nối kháng thể đặc hiệu Do mỗi cầu nối với các kháng nguyên dưới hình thức mạng lưới nhiều chiều, tạo nên những đám ngưng kết biểu hiện bằng những đám lấm tấm như những hạt cát hoặc những cụm bông lơ lững
Trang 272.8.3.2 Phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính
Là phản ứng có tính chất định tính, thường sử dụng kháng nguyên đã biết và được nhuộm màu để phát hiện kháng thể tương ứng trong huyết thanh, dùng trong chuẩn đoán bệnh truyền nhiễm
Dùng một phiến kính, nhỏ một giọt huyết thanh cần chẩn đoán, sau đó nhỏ vào một giọt kháng nguyên đã biết, trộn đều, vài phút sau đọc kết quả, nếu trong huyết thanh có kháng thể tương ứng thì sự kết hợp kháng nguyên kháng thể sẽ tạo thành đám ngưng kết phản ứng dương tính Nếu kháng nguyên được nhuộm màu thì đám ngưng kết có màu co cụm lại, xung quanh nhạt màu hơn
Một vaccine được gọi là đặc hiệu phải có những yêu cầu sau: tính sinh miễn
dịch, tính kháng nguyên, tính hiệu lực, tính vô hại
2.8.4.2 Phân loại vaccine
Dựa theo tính chất của vaccine mà người ta chia vaccine thành hai loại vaccine sống và vaccine chết
Kháng nguyên
Kháng thể
Trang 28a Vaccine sống
Loại vaccine này được sử dụng từ năm 1798 và đến năm 1881 Pasteur đưa ra thành nguyên tắc điều chế Vaccine sống có hai loại vaccine cường độc và vaccine nhược độc
Các vaccine sống có thể sử dụng bằng phương pháp tiêm dưới da, bắp thịt, hay cho uống… Các vaccine sống kích thích hệ thống miễn dịch có thể tạo ra đồng thời miễn dịch dịch thể, miễn dịch tế bào cũng như miễn dịch tại chỗ, do vậy thường tạo được khả năng phòng bệnh mạnh mẽ và vững chắc, nhưng có thể gây ra một số phản ứng phụ Đặc biệt nguy hiểm là các vi sinh vật nhược độc có thể trở thành cường độc, do vậy cần phải hết sức cẩn thận trong quá trình bảo quản và sử dụng vaccine sống
+ Vaccine cường độc
Đây là loại vaccine được lấy từ những chủng vi sinh vật gây bệnh có độc lực cao Tuy nhiên, các nhà miễn dịch học đã dùng số lượng rất nhỏ để vi sinh vật không đủ sức gây bệnh nhưng lại gây được đáp ứng miễn dịch
+ Vaccine nhược độc
Là loại vaccine được chế từ chủng vi sinh vật có độc lực thấp, hoặc từ chủng gây bệnh có độc lực cao được làm yếu đi để chúng không có khả năng gây bệnh nhưng vẫn giữ được tính kháng nguyên và vẫn sống, có khả năng tăng sinh trong cơ thể vật chủ
b Vaccine chết
Vaccine chết hoặc vô hoạt được chế từ vi khuẩn hoặc virut gây bệnh được giết chết bằng các phương pháp vật lý (nhiệt độ cao, bức xạ đồng vị, tia cực tím) hay hóa học Các chất hoá học thường dùng để vô hoạt vi sinh vật trong sản xuất vaccine như formaldehyde, ethylene imine, glutaraldehyde
So với vaccine sống, các vaccine vô hoạt an toàn hơn nhưng có hiệu lực miễn dịch yếu hơn và không tạo miễn dịch tại chỗ Để tạo được miễn dịch phòng bệnh đủ mạnh cần phải tiêm vaccine với liều lớn hơn và thường phải sử dụng 2 – 3 lần
Để nâng cao hiệu lực của các loài vaccine vô hoạt, người ta phải trộn thêm các chất bổ trợ miễn dịch như adjuvant hoặc lybosome Các chất bổ trợ có tác dụng tăng sức miễn dịch và kéo dài thời gian miễn dịch của các loại vaccine chết, nhưng các chất bổ trợ cũng có thể gây phản ứng viêm tại chỗ
Trang 292.8.4.3 Nguyên tắc dùng vaccine
Nguyên tắc dùng vaccine có giá trị cho tất cả các loài cá:
Vaccine bảo vệ chống lại bệnh và giảm việc sử dụng thuốc kháng sinh
Vaccine phải được sử dụng phù hợp với quy trình hướng dẫn để đạt được sự bảo vệ như mong muốn
Kết quả làm cá tăng trưởng tốt hơn và tăng lợi nhuận nếu cá được tiêm vaccine một cách chính xác
Sự bảo vệ tốt nhất chống lại bệnh khi cá được tiêm vaccine hơn một lần
Trước khi cá được chuyển từ nơi ương đến lồng nuôi thịt, cá nên được tiêm vaccine
Không dùng vaccine cho cá bệnh
Tránh stress trước, trong và sau khi dùng vaccine vì stress sẽ làm giảm hiệu quả vaccine
Cá đã được xử lý ngâm tắm, bị stress do phân loại hoặc vận chuyển, nên được để yên khoảng ba tuần trước khi dùng vaccine
Chỉ những người được đào tạo mới được phép tiến hành tiêm vaccine
Nếu có cá chết xảy ra trong suốt quá trình dùng vaccine, dừng ngay lập tức và có nhân viên thú y xem xét vấn đề
Sử dụng vaccine có thương hiệu đã được đăng ký, có chất lượng tốt để đảm bảo hiệu quả phòng bệnh cho cá
2.8.4.4 Một số điều cần lưu ý khi sử dụng vaccine
Vaccine là chế phẩm dùng để phòng bệnh, chỉ nên dùng cho cá chưa mắc bệnh Nếu tiêm cho cá mắc bệnh rồi, bệnh có thể xảy ra sớm hơn, nặng hơn Nhờ vậy, khi tiêm vaccine thẳng vào ổ dịch sẽ giúp dập tắt ổ dịch nhanh hơn
Vaccine phòng bệnh nào thì chỉ phòng được bệnh đó, không phòng được các bệnh khác
Hiệu quả của vaccine phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá vì nó đáp ứng miễn dịch bằng tính kháng nguyên và phản ứng của cơ thể
Chỉ dùng vaccine cho những cá có phản ứng tốt, tức những cá khoẻ mạnh, được nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm khác và trưởng thành về hệ thống miễn dịch Trong một đàn cá khó có thể có 100% cá đủ tiêu chuẩn về tiêm vaccine, tỉ lệ tiêm đạt 80% đã đủ để chống được bệnh lây lan vào đàn Có một số ít cá không sinh miễn dịch hoặc sinh miễn dịch kém, những cá này có thể mắc bệnh mặc dù đã được tiêm phòng
Trang 30Vaccine chỉ gây được miễn dịch một đến ba tuần sau khi tiêm (tùy loại vaccine) Trong thời gian từ 1 - 2 tuần cá vẫn có thể mắc bệnh và phát bệnh
Phải lắc kỹ lọ chứa vaccine và ống tiêm trước khi tiêm
Một số vaccine có thể gây phản ứng phụ Phản ứng này xảy ra nhanh sau khi tiêm Nếu phản ứng nhẹ thì sau một thời gian ngắn cá sẽ trở lại bình thường, nếu phản ứng nặng có thể làm cá chết Vì vậy, khi tiêm xong vaccine cho đàn cá phải quan sát kỹ trong khoảng thời gian là 2 giờ sau khi tiêm
Không nên dùng vaccine cho cá còn quá nhỏ Ở những cá này có cơ quan miễn dịch chưa hoàn chỉnh nên đáp ứng miễn dịch với vaccine còn rất yếu
Khi cá được dùng vaccine lần đầu ít ra phải 5 – 6 ngày mới có kháng thể, kháng thể lần đầu được tạo ra thường không nhiều và giảm đi nhanh Đó là đặc điểm của đáp ứng miễn dịch lần đầu Để tránh những nhược điểm đó, phải dùng vaccine lần thứ hai cách lần một 3 – 4 tuần Đáp ứng miễn dịch lần này sẽ nhanh và mạnh hơn lần đầu nhiều lần, thời gian cũng kéo dài hơn Đáp ứng này gọi là đáp ứng thứ phát
Bảo quản vaccine có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả vaccine Tốt nhất là luôn giữ vaccine trong nuớc đá và để trong tủ lạnh từ 2 – 8 0C Trong điều kiện đó, có thể giữ vaccine tới hạn dùng như trong nhãn Nếu không như các điều kiện trên thì thời gian hạn dùng bị rút ngắn đi nhiều Không được để vaccine ở chỗ nóng, chỗ có ánh sáng mặt trời chiếu vào, không đuợc giữ vaccine ở nhiệt độ âm, vì nhiệt độ quá lạnh làm ảnh hưởng đến nút đậy cao su của lọ vaccine làm không khí và hơi nước sẽ vào lọ
Thao tác pha thuốc: Lấy thuốc và tiêm đúng kỹ thuật, vô trùng, mọi dụng cụ phải được tiệt trùng đúng quy cách
Những loại vaccine sống, các dụng cụ dùng để pha thuốc và rút thuốc không được dùng chất sát trùng để sát trùng
2.8.4.5 Vaccine dùng trong tương lai
Một trở ngại chính cho sự phát triển vaccine cá có hiệu quả là kiến thức hạn chế của chúng ta về những hệ thống miễn dịch của những loài cá khác nhau Về cơ bản, vaccine là formalin bất hoạt vi khuẩn Nhà sản xuất vaccine phải phát triển vaccine trộn thức ăn, vaccine này phải có hiệu quả, hiển nhiên không có hiệu ứng phụ và không làm stress cá Vaccine trộn thức ăn hiện nay không mang lại ý nghĩa bảo vệ chống lại những bệnh trên cá
Trang 31Nuôi trồng thuỷ sản tương lai yêu cầu dùng phương pháp vaccine có hiệu quả để tránh những vấn đề ô nhiễm do sử dụng thuốc kháng sinh Vaccine qua đường tiêu hóa là những giải pháp để phòng bệnh cho cá
2.9 Vài Nét về Kháng Sinh Dùng trong Điều Trị
Kháng sinh là chất hữu cơ có nguồn gốc sinh học, bán tổng hợp hay tổng hợp có tác dụng ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn trên cơ sở kết hợp với một điểm tiếp nhận (receptor) trong quá trình biến dưỡng dẫn đến sự ngưng trệ quá trình sống của vi khuẩn Động vật đa bào và virus không có điểm tiếp nhận kháng sinh, do đó dùng kháng sinh không có tác dụng đối với chúng
2.9.1 Phân loại kháng sinh
Theo khả năng diệt khuẩn thì người ta chia kháng sinh làm hai loại: kháng sinh tĩnh khuẩn và kháng sinh sát khuẩn
- Kháng sinh tĩnh khuẩn (trụ sinh): gồm có nhóm Tetracyclines, nhóm Macrolides và nhóm Phenicols
- Kháng sinh sát khuẩn: gồm có nhóm Quinolones, nhóm Aminosides, nhóm Polypeptides, nhóm -Lactamines, nhóm Sulfamides và nhóm Diaminopyrimidines
Trang 32Bảng 2.2 Bảng phân loại kháng sinh (Nguyễn Như Pho, 2004)
Doxycycline, Chlortetracycline
Tiamuline, lincomycine
Enrofloxacine, Ciprofloxacine
Gentamycine,Tobramycine, Spectinomycine
-Lactamines Penicilline Ampicilline, Benzathine penicilline,
Potassium penicilline, Sodium penicilline, Procain penicilline, Amoxicilline
Cefalosporine Cefalotine, Cefaloridine, Cefaclor,
Cefadrine, Cefamandole, Cefoxitine, Cefurocine
Sulfadiazine, Sulfametoxazole, Sulfadimidine
Diaveridine, Pyrimethamine
2.9.2 Nguyên tắc sử dụng kháng sinh
Kháng sinh được sử dụng phải nhạy cảm với vi khuẩn gây bệnh và phải phân bố được đến các vị trí nhiễm trùng Sử dụng kháng sinh phải đúng liều lượng để đảm bảo diệt được vi khuẩn và tránh tạo vi khuẩn kháng thuốc Chỉ ngưng sử dụng kháng sinh sau hai đến ba ngày khi vật nuôi hết triệu chứng lâm sàng Tránh đối kháng trong kết hợp kháng sinh
Một số hoá chất và kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất kinh doanh thuỷ sản ở Việt Nam theo QĐ 01/2002/QĐ – BTS 22/01/2002 gồm: Chloramphenicol, Nitrofuran, Ronidazole, Chloroform, Chlorpromazine, Dapsone, Colchicine, Dimetridazole, Metrodinazole
Trang 33III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian và Địa Điểm Nghiên Cứu
Thời gian: đề tài được tiến hành từ tháng 4/2005 đến tháng 8/2005
Địa điểm:
- Địa điểm điều tra: chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên 40 hộ, trong đó có
20 hộ nuôi lồng bè tại Quận 9, 20 hộ nuôi ao tại Quận 9 và Huyện Củ Chi
- Địa điểm thu mẫu: tại các bè và ao nuôi xảy ra dịch bệnh
- Địa điểm phân tích mẫu: phòng bệnh học Khoa Thủy Sản trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bị
Dụng cụ nghiên cứu: ống nghiệm, đĩa petri, que cấy, đèn cồn, kéo, kẹp, kim tiêm, bình tam giác, pipette, kính hiển vi, máy li tâm, máy lắc, tủ sấy, tủ lạnh, bể xi măng,…
Môi trường nuôi cấy và bảo quản giống vi khuẩn: môi trường NA (Nutrient Agar), môi trường NB (Nutrient Broth), MHA (Muller Hinton Agar)
Hóa chất: glycerol, cồn 700, formaline, ethylenglycolmonophenylether (C2H10O2), nước muối sinh lý,…
3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.3.1.1 Nguồn số liệu sơ cấp
Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 20 hộ nuôi cá rô phi đỏ lồng bè tại Quận 9 và 20 hộ nông dân nuôi cá rô phi đỏ ao tại huyện Củ Chi và Quận
9 Tp HCM để thu thập các số liệu về thông tin nông hộ, kỹ thuật nuôi và tình hình dịch bệnh Số liệu được thu thập dựa vào biểu điều tra đã được chuẩn bị sẵn thông qua việc phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi (xem phụ lục)