1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÌNH HÌNH ĐỊA PHƯƠNG B1

41 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 282,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km, nằm trên tuyến đường giao thông xuyên Bắc – Nam, Ninh Bình vừa giữa vị trí liên lạc vừa là cửa ngõ giao lưu của các tỉnh phía Nam với vùng Tây Bắc, đồng thờ

Trang 1

Bài thứ nhất ĐẶC ĐIỂM, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI,

LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA TỈNH NINH BÌNH

A/ KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI CỦA TỈNH NINH BÌNH.

I ĐẶC ĐIỂM, ĐIỂU KIỆN TỰ NHIÊN

1 Vị trí địa lý

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, có tọa độ địa lý được xác định(1):

- Vĩ độ bắc: từ 190 57' (cửa sông Đáy xã Cồn Thoi, huyện kim Sơn) đến 200

28' (xóm lạc hồng, xã Xich Thổ, huyện Nho Quan);

- Kinh độ đông: từ 1050 32' 30" (núi Điện rừng Cúc Phương, huyện Nho Quan) đến 1050 53' 20'' (mỏm phía Đông xã Khánh Thành, huyện Yên Khánh)

Ninh Bình tiếp giáp với bốn tỉnh: phía Bắc giáp huyện Thanh Liêm, tỉnh

Hà Nam; phía Đông và Đông Bắc giáp hai huyện Ý Yên và Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định; phía Đông Nam giáp biển Đông; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hoà Bình Cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km, nằm trên tuyến đường giao thông xuyên Bắc – Nam, Ninh Bình vừa giữa vị trí liên lạc vừa là cửa ngõ giao lưu của các tỉnh phía Nam với vùng Tây Bắc, đồng thời là điểm nối liền vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long Ngoài quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, Ninh Bình còn có hệ thống cảng biển, đường sông, đường biển thuận lợi, tạo điều kiện giao lưu, hợp tác, phát triển toàn diện với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế

2 Đặc điểm địa hình

Ninh Bình nằm ở phía Nam châu thổ sông Hồng, nơi có sự hòa quyện giữa đồng bằng và đồi núi thuộc phức hệ Tây Bắc Việt Nam nên có nhiều kiểu địa hình khác nhau như đồng bằng, núi đá vôi và gò đồi đá phiến, được phân thành 3 vùng

rõ rệt gồm: vùng đồi núi, nửa đồi núi; vùng đồng bằng trũng; vùng đồng bằng ven biển và biển

1() Địa Chí Ninh Bình, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2010

Trang 2

- Vùng đồi núi, nửa đồi núi (còn gọi là vùng "bán sơn địa") với các dãy núi

đá vôi, núi nhiều thạch sét, sa thạch, đồi đất đan xen các thung lũng lòng chảo hẹp, đầm lầy, ruộng trũng ven núi, có tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đá vôi Vùng này chủ yếu nằm ở huyện Nho Quan, phía Bắc - Đông Bắc huyện Gia Viễn và phần lớn thị xã Tam Điệp Các vùng nửa đồi núi tuy không lớn nhưng lại phân bố rải rác, xen kẽ chạy dài từ điểm cực Tây huyện Gia Viễn theo hướng Đông Nam qua huyện Hoa Lư, Yên Mô xuống Kim Sơn (giáp huyện Nga Sơn - Thanh Hoá) Điểm cao nhất so với mặt biển là đỉnh Mây Bạc trên vườn Quốc gia Cúc Phương cao 656m, điểm thấp nhất so với mực nước biển là xã Gia Trung huyện Gia Viễn (-0,4m) Dãy núi đá vôi ở phía Tây của tỉnh chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bắt nguồn từ vùng rừng núi Hoà Bình chạy ra biển tạo thành vùng phù sa cổ ven chân núi Do qua trình tạo sơn hơn 200 triệu năm về trước, dãy núi đá vôi ở phía Tây của tỉnh có nhiều hang động đẹp như: Bích Động, Tam Cốc, Địch Lộng, Xuyên Thuỷ Động, Bàn Long, Hoa Sơn…

- Vùng đồng bằng trũng trung tâm, bao gồm phần còn lại của huyện Nho

Quan, Gia Viễn, thị xã Tam Điệp và huyện Hoa Lư, thành phố Ninh Bình, một phần huyện Yên Mô, phía Bắc huyện Yên Khánh Đây là vùng đất đai màu mỡ, bãi bồi ven sông do khi biển bồi trong điều kiện kín sóng, lại bị núi đồi, bao bọc che chở, nên không đủ phù sa bồi đắp để sót lại vùng sâu trũng ngày nay Vì thế, vùng đất này có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ, và sản xuất hàng hóa xuất khẩu Tuy nhiên, huyện Gia Viễn, một phần huyện Nho Quan, Yên Mô, Hoa Lư là vùng trũng nên hay bị úng lụt

- Vùng đồng bằng ven biển và biển, bao gồm toàn bộ huyện Kim Sơn, phía

Nam Yên Khánh và phần còn lại của huyện Yên Mô Là vùng đất có 16,5 km bờ biển thuộc huyện Kim Sơn, có cửa sông Đáy và cửa sông Càn đổ ra biển, được bồi dần tạo nên, hàng năm tiến thêm ra biển khoảng 80 - 100m và quĩ đất tăng thêm hàng năm khoảng 140 - 168 ha Đây là vùng đất phì nhiêu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và có nhiều điều kiện phát triển nuôi trồng thuỷ sản, khai thác các nguồn lợi ven biển

3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

a) Khí hậu

Mang khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển

Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng, ngoài ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam, còn chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển, khí hậu rừng núi và nửa rừng núi Ninh Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió

Trang 3

mùa: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau

- Lượng mưa: trung bình hàng năm ở vào khoảng 1.700 - 1.800 mm; nhưng

phân bố không đều, tập trung 70% lượng mưa vào các tháng 6 đến tháng 9

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 23,50 C; nhiệt độ trung bình cao nhất

38 - 390C, nhiệt độ trung bình thấp nhất 5 - 80C Hằng năm có 04 tháng nhiệt độ trung bình từ 20 - 250 C; tháng lạnh nhất trong năm là tháng 12 và tháng 1 Số giờ nắng trong năm: 1.600 - 1.700 giờ;

- Độ ẩm: độ ẩm tương đối trung bình: 80 - 85%.

b) Thuỷ văn

Là tỉnh có nguồn nước mặt khá dồi dào được cung cấp chủ yếu bởi các con sông lớn như: Sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vạc, sông Vân với tổng chiều dài 496 km, chưa kể đến hàng vạn ha ruộng trũng và ao hồ là những bể chứa nước quan trọng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Trong đó, có sông Đáy chạy dọc tỉnh, là gianh giới với tỉnh Hà Nam và Nam Định đổ ra biển Mật độ mạng lưới sông ngòi khoảng 0,6 - 0,9 km/km2

- Hệ thống sông ngòi Ninh Bình bắt nguồn từ thượng nguồn tỉnh Hoà Bình,

Hà Nội (thuộc địa phận tỉnh Hà Tây cũ) chảy qua các địa phương huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, TP.Ninh Bình, Yên Khánh, Kim Sơn và đổ ra biển Đông theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với tổng chiều dài sông và suối là 811 km, có tác dụng dẫn nước cho việc tưới tiêu trong phát triển nông nghiệp và có tác dụng quan trọng trong hệ thống giao thông đường thuỷ Các sông lớn chảy qua địa phận tỉnh gồm:

+ Sông Đáy: là chi lưu của sông Hồng, chảy từ Thượng Cốc (Hòa Bình) ra biển qua cửa Đáy, là địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình Sông Đáy chảy vào địa phận Ninh Bình từ xã Gia Thanh (Gia Viễn) đến Gián Khẩu (Gia Viễn), sông chảy theo hướng Bắc - Nam, từ Gián Khẩu đến Tam Tòa (Yên Khánh) theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, sau đó theo hướng Bắc - Nam đổ ra biển với chiều dài khoảng 240 km Chế độ dòng chảy của sông Đáy, ngoài sự phụ thuộc vào tình hình mưa trong lưu vực, phần dòng chảy trên nhánh sông Hoàng Long và sông Đào (Nam Định) còn phụ thuộc vào vào việc đóng mở đập Đáy (Hà Nội)

Các phụ lưu lớn của sông Đáy gồm sông Tích, sông Thanh Hà, sông Hoàng Long, sông Nhuệ, sông Châu, sông Cát, sông Đào Trong đó, sông Đào ở Nam

Trang 4

Định là chi lưu của sông Hồng đổ vào sông Đáy ở Độc Bộ Ngoài ra,sông Ninh Cơ cũng là chi lưu của sông Hồng liên hệ với sông Đáy bởi sông Quần Liêu.

+ Sông Hoàng Long: là nhánh lớn nhất ở phía ngạn sông Đáy do bốn chi lưu hợp thành là sông Bôi, sông Đập và sông Lạng và sông Rịa Các chi lưu này bắt nguồn từ vùng đồi núi phía Nam tỉnh Hòa Bình, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sau khi hợp lại với nhau ở vùng Gia Viễn, hướng chảy chuyển thành Tây - Đông và đổ về sông Đáy ở Gián Khẩu Lưu vực sông Hoàng Long có diện tích 1.445 km2 Sông Bôi là nhánh lớn nhất trong ba chi lưu, có chiều dài lưu vực

là 80km, chiều rộng 13km, chiếm 55,5% diện tích sông Hoàng Long Do độ dốc lưu vực sông lớn, nhất là ở thượng nguồn nên lũ tràn xuống khá nhanh (lũ thường xảy ra vào các tháng 7,8,9 và nửa đầu tháng 10) Về mùa nước kiệt, vùng trung và

hạ lưu chịu ảnh hưởng của thủy triều khá mạnh

Ngoài hai sông lớn trên, Ninh Bình còn có một hệ thống sông ngòi vừa và nhỏ là các sông Vạc, sông Vân được phân bố khá đều Các sông lớn và vừa thường tập trung ở phía Đông và Nam của tỉnh Vùng núi phía Tây có nhiều suối nhỏ đổ vào sông Đáy và sông Hoàng Long Các vùng đồng bằng phía Bắc, phía Đông và phía Nam còn có các kênh mương nhân tạo chằng chịt nối với sông lớn

Hệ thống kênh mương này được đào đắp để phục vụ cho việc tưới tiêu nước trên toàn diện tích đất canh tác của tỉnh

- Hồ, đầm: Ninh Bình có nhiều hồ, đầm lớn như hồ Đồng Thái, hồ Yên Thắng (Yên Mô), hồ Đồng Chương, hồ Yên Quang, hồ Đồng Liêm, hồ Thường Sung (Nho Quan); đầm Cút, đầm Vân Long (Gia Viễn) Các hồ, đầm này ngoài giá trị thủy lợi chứa và tưới nước, đều có cảnh quan đẹp, nằm trong quần thể các núi đá vôi, có tiềm năng phát triển du lịch

- Chế độ thuỷ triều ven biển Ninh Bình là chế độ nhật triều, ngoài ra còn có trường hợp bán nhật triều và triều tạp Thời gian triều lên trong khoảng 8 giờ, triều xuống 16 giờ hằng ngày Khi triều cường thì thời gian lên xuống ± 1 giờ Nhìn chung, thuỷ triều Ninh Bình tương đối yếu, biên độ thuỷ triều trung bình trong ngày khoảng 150-180cm, lớn nhất là 270cm, nhỏ nhất 2-5cm

- Mạng lưới quan trắc thủy văn và lưới trạm đo mưa đến nay đã được xây dựng trên tất cả các sông chính và vùng ở trong tỉnh, nhìn chung mật độ mạng lưới thủy văn, lưới trạm đo mưa trong toàn tỉnh khá dày nhưng phân bố không đều Tất

cả các trạm đều quan trắc mực nước, trong đó trạm Như Tân đo độ mặn nước sông Lưới trạm đo mưa tập trung nhiều ở vùng đồng bằng, và ít hơn ở vùng trung

du và vùng núi phía Tây

Trang 5

Ngoài ra, Ninh Bình còn có nguồn nước ngầm khá phong phú, như nước ngầm ở Tam Điệp có thể khai thác với quy mô công nghiệp để phục vụ sản xuất

và đời sống với khối lượng 51.418m3/ngày, lưu lượng Q: 8,2 đến 6.911/s

4 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên

a) Tài nguyên đất

Ninh Bình là một tỉnh có đa dạng các loại đất (19 loại), song có thể chia thành 5 nhóm đất chính sau(1):

- Nhóm đất phù sa: là nhóm có diện tích lớn nhất với 74.529,8 ha, chiếm

53% diện tích tự nhiên Đất phù sa gồm có đất phù sa được bồi và đất phù sa không được bồi (thuộc vùng đồng bằng ven biển), đất phù sa Glây, đất phù sa có tầng phèn tiềm tàng sâu, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng và đất phù sa úng trũng Đây là nhóm đất thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản và cây công nghiệp, thích ứng cho thâm canh lúa, hoa màu Diện tích đất này phân bố ở hầu hết các huyện Yên Khánh, Kim Sơn, Hoa Lư, Yên Mô, Nho Quan Ở Tam Điệp và Nho Quan, đất phù sa có ở dọc các thung lũng hẹp và dọc theo các con suối Đất phù sa của Ninh Bình được hình thành chủ yếu do quá trình lắng đọng phù sa của hệ thống sông Hồng và các sông khác trong tỉnh

- Nhóm đất xám bạc màu: có diện tích là 3.481 ha, chiếm 25% diện tích tự

nhiên, được phân bố ở hầu khắp các vung trong tỉnh nhưng có nhiều ở Nho Quan, Yên Mô, Gia Viễn, Tam Điệp Đất được hình thành trên các loại đá phiến sét, cát kết, sét vôi, đá vôi, thềm phù sa cổ, do quá trình phong hóa, tích lũy sắt, nhôm Có hai lợi chính là: đất xám feranít và đất xám kết von(vùng nửa đồi núi) thích hợp phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu

- Nhóm đất mặn: có diện tích là 14.194,4 ha, chiếm 10% diện tích tự nhiên,

được phân bố ở các xã ven biển Kim Sơn Đất được hình thành chủ yếu do phù sa lắng đọng trong môi trường nước mặn, nước lợ hoặc bị nhiễm mặn do nước ngầm mặn, do thủy triều Đất mặn có đặc tính muối điển hình thích hợp cho phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn, nuôi trồng hải sản, trồng cói, lúa nước…

- Nhóm đất đỏ vàng: có diện tích 24.997,3 ha, chiếm 17,8% diện tích đất tự

nhiên, bao gồm 5 loại chính là, đất nâu vàng trên đá vôi, đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất nâu vàng trên phù sa cổ và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa Các loại đất trên phân bố chủ yếu ở xã Quang Sơn, Nông trường Đồng Giao (thị xã Tam Điệp), xã Quỳnh Lưu, xã Xích Thổ, xã Kỳ Phú, xã Sơn Lai, xã Quảng Lạc,

xã Đồng Phong, xã Phú Sơn, Vườn Quốc gia Cúc Phương (huyện Nho Quan)…

1() Địa Chí Ninh Bình, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2010

Trang 6

- Nhóm đất thung lũng dốc tụ: có diện tích 1.601,2 ha, chiếm 1,1% diện tích

tự nhiên, bao gồm, đất thung lũng dốc tụ và đất đen, được phân bố chủ yếu ở những thung lũng thấp, nhỏ trong vùng đồi núi của thị xã Tam Điệp, huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư Nhóm đất này có đặc điểm tầng đất mỏng, tỷ lệ kết von cao trên 85%, thành phần cơ giới nặng, đất có phản ứng chua, nghèo mùn, nghéo các chất dinh dưỡng

Hiện trạng sử dụng đất năm 2009(1) ở tỉnh ta như sau, trong tổng số 138.907,3 ha có:

+ Đất nông nghiệp: 96.705 ha, chiếm 69,7% diện tích Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp có 61.889 ha, chiếm 44,6% tổng diện tích; đất lâm nghiệp có rừng là 28.851 ha, chiếm 20,8% tổng diện tích đất

+ Đất phi nông nghiệp: 30.479,3 ha, chiếm 21,9% tổng diện tích đất

+ Đất chưa sử dụng: 11.723 ha, chiếm 8,4% tổng diện tích đất

b) Tài nguyên rừng

Những đặc điểm về địa hình, khí hậu đã tạo điều kiện cho Ninh Bình có diện tích rừng lớn nhất so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng Tính đên năm 2009, diện tích đất rừng của Ninh Bình 28.851,6 ha(2), chiếm 20,8% tổng diện tích đất của tỉnh, gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và sản xuất

- Rừng phòng hộ: trên địa bàn toàn tỉnh có 10.615,9 ha, gồm rừng gỗ, rừng trên núi đá, rừng tre nứa, rừng hỗn giao và rừng ngập mặn (thuộc huyện Kim Sơn) Ngoài ra, Ninh Bình còn có tiềm năng rừng trên núi đá vôi, rừng tự nhiên trên các tiểu vùng thuộc thị xã Tam Điệp, huyện Nho Quan, Hoa Lư, Yên Mô…quy mô lớn và phát triển đa dạng

- Rừng đặc dụng: Ninh Bình là nơi có nhiều khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn

đa dạng sinh học, rừng đặc dụng văn hóa, du lịch Trên địa bàn toàn tỉnh tính đến năm 2009 có 16.954,4 ha, phân bố ở Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Kim Sơn

- Rừng sản xuất: trên địa bàn toàn tỉnh có diện tích 1.281,3 ha, tập trung ở

huyện Nho Quan, Gia Viễn, thị xã Tam Điệp, với cây trồng chủ yếu là thông nhựa, keo tai tượng, bạch đàn, Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp, thời gian gần đây, nhất là khu vực miền núi, phong trào trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả và cải tạo vườn tạp đang được quan tâm và đã mang lại hiệu quả tốt

1() Niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê 2010

2() Niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê 2010

Trang 7

Hầu hết diện tích rừng ở Ninh Bình thuộc loại rừng nguyên sinh, nhiệt đới, phong phú về chủng loại; một số giống, loài quý hiếm về thực, động vật đã được ghi vào sách đỏ Việt nam và thế giới Là loại rừng nhiệt đới điển hình với hệ động thực vật phong phú, đa dạng đồng thời là khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó tập trung chủ yếu ở Vườn Quốc gia Cúc Phương với diện tích trên 11.350 ha nằm trên địa phận Ninh Bình, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long với diện tích 2.643 ha và khu rừng văn hoá - lịch sử - môi trường Hoa Lư có diện tích 5.624 ha Đây vừa là nơi tham quan, du lịch sinh thái vừa là nơi nghiên cứu đa dạng sinh học của Việt Nam và thế giới

+ Về thực vật: Rừng ở Ninh Bình là rừng nhiệt đới ẩm thường xanh, tập trung ở trung tâm khu bảo tồn Cúc Phương, hệ sinh cảnh rừng dày, nhiều tầng, còn dấu tích cổ sơ nguyên thủy với những quần xã thực vật ưu thế bản địa, đồng thời cũng là khu vực thích nghi của phần lớn các loài động thực vật hoang dã quí hiếm Vườn Quốc gia Cúc Phương được nhà nước qui hoạch bảo vệ từ lâu nên còn phong phú về hệ sinh thái, loài và gen, thực sự là một kho tàng di sản thiên nhiên trong lĩnh vực đa dạng sinh học Theo số liệu khảo sát của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Ninh Bình năm 1999 (Dự thảo quy hoạch Tổng thể phát triển Nông nghiệp và nông thôn Ninh Bình đến 2010, 1999), thực vật tự nhiên ở rừng Cúc Phơng có 1.880 loài thuộc 887 chi và 221 họ, 4 ngành thực vật

Rừng Cúc Phương thuộc loại rừng mưa nhiệt đới điển hình với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng (tới 5 tầng, tầng vượt tán có những cây cao 40-50m), phong phú về thành phần loài Đây còn là nơi gặp gỡ của các loài thực vật dễ di thực từ vùng nhiệt đới khô như Ấn Độ, Miến Điện tới Một số loài thực vật điển hình là chò xanh (Terminalia Mgriocarpa), cây lê (brassaiopsis cucphalobgensis thuộc họ Araliacsae), cây chân chim (Schefflera globulihera thuộc họ Araliacsae) Tổng trữ lượng gỗ ước khoảng 1,1 triệu m3, đây là rừng nguyên sinh trong phạm

vi Vườn Quốc gia Cúc Phương được bảo vệ Song hiện nay rừng đang bị suy giảm

do sự tác động của thiên tai và con người (trong năm 2004 diện tích rừng bị giảm

đi là 338,4 ha bao gồm chuyển đổi mục đích sử dụng 259,7 ha, khai thác 78,7 ha)

Rừng thứ sinh nằm ở phía tây và phía đông, gần sông Bưởi Đây là khu vực rừng đang được phục hồi sau khi bị khai thác, chặt phá với thảm thực vật ưu thế tập trung vào các quần xã: sơn rừng, chò dãi, nhội, đa, vàng anh, mạy tèo, ôrô, cỏ tranh, lau… Ở rừng Cúc Phương còn có hệ sinh thái đất ngập nước tồn tại và phát triển trong các suối nước, ở sông Bưởi…

Trang 8

Ngoài ra, ở một số nơi trên sườn núi đá vôi có thảm thực vật thứ sinh nghèo nằm rải rác trên địa bàn tỉnh Tại khu du lịch sinh thái Vân Long huyện Gia Viễn, với diện tích 341 ha, hệ thủy sinh rất đa dạng và phong phú Các loài thường gặp

là cỏ lác, cỏ bợ, cỏ năn, bèo ong, rong cưa, cỏ bấc, cỏ sậy, bèo tây, dừa nước, bàn trang, sen súng… Ở ven biển Kim Sơn có rừng ngập mặn với chủ yếu là cây sú vẹt thưa có tác dụng là lá phổi xanh cho vùng ven biển, chắn sóng bảo vệ đê, bờ biển,

cố định bùn bãi bồi, nơi cư trú của nhiều loài chim di cư, các loài hải sản, phát triển nuôi trồng thủy sản

+ Về động vật: Động vật tập trung chủ yếu ở rừng Cúc Phương và khá phong phú Hiện đã phát hiện được 233 loài động vật có xương sống, 320 loài chim, 70 loài thú, trên 30 loài bò sát, 16 loài lưỡng cư, 1800 loài côn trùng và các loài động vật thủy sinh cũng rất phong phú…

Như vậy, Ninh Bình là một tỉnh phong phú các loài thực vật, động vật, là mảnh đất có hệ sinh thái đa dạng, có đồi núi, có rừng, có biển, có đồng bằng, đầm

hồ và hệ thống sông ngòi chằng chịt Là nơi chịu ảnh hưởng của 3 luồng di cư động vật, từ phía nam là Mã Lai - Inđônêxia, từ phía bắc là Vân Nam - Quí Châu,

từ tây nam là Ân Độ - Malaixia và các loài bản địa

c) Tài nguyên khoáng sản

Nhìn chung, do đặc điểm địa chất, kiến tạo, Ninh Bình có nhiều loại khoáng sản, từ các loại khoáng sản làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cho tới các khoáng sản cho công nghiệp năng lượng và một số ngành khác Nếu so sánh với các tỉnh có nhiều đồi núi như Hòa Bình, Thanh Hóa thì Ninh Bình

là tỉnh nghèo về khoáng sản, nhất là khoáng sản kim loại, nhưng nếu so sánh với các tỉnh đồng bằng thì Ninh Bình lại là một trong số ít các tỉnh đồng bằng có nhiều tài nguyên khoáng sản, gồm đá vôi, sét, nước khoáng và than, phosphorit, pyrit… nhưng đáng kể nhất là đá vôi

- Đá vôi: Trên địa bàn tỉnh hiện có nhiều núi đá vôi với diện tích 1,2 vạn ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối và hàng chục triệu tấn đôlômít với chất lượng tốt Đây là nguồn nguyên liệu lớn cho sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là xi măng

và một số hoá chất, phân bón Đá vôi có cường độ chịu lực và tính nguyên khối cao dùng làm đá ốp lát và trang trí trong xây dựng

Đá vôi ở Đồng Giao (thuộc huyện Tam Điệp) có hàm lượng oxyt canxi từ

54 - 55%, hàm lượng oxyt manhê nhỏ hơn 1%, dùng làm nguyên liệu cho ngành hóa chất Ngoài ra, khu vực Tam Điệp và Hoa Lư có nguồn đôlômít phong hóa dùng làm gạch không nung có cường độ chịu nén cao

Trang 9

- Sét: Có thể nói, Ninh Bình là một trong những tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng giầu khoáng sản sét, phân bố rải rác chủ yếu ở các vùng núi thấp thuộc Sơn

Hà, Sích Thổ (Nho Quan), Đồng Giao, Ghềnh (Tam Điệp), các huyện Gia Viễn, Yên Mô,… dùng để sản xuất gạch ngói rất tốt và là nguyên liệu cho ngành đúc Ước tính hàng năm có thể cung cấp cho các xí nghiệp gạch ngói với công xuất 20

- 30 triệu viên/năm Ngoài ra, còn có đất sét caolanh làm nguyên liệu cho sản xuất sành sứ và sét để sản xuất xi măng

- Than: Ninh Bình có các loại than dùng làm nguyên liệu cháy, phân vi sinh với trữ lượng (ước tính) và phân bố:

+ Than bùn, với tổng tiềm năng trữ lượng vào khoảng 4.394 600 m3, phân

bố tập trung ở Yên Bạc, xã Sơn Hà (Nho Quan); Nguyễn Thôn, xã Yên Sơn và Quang Hiển, xã Yên Bình (Tam Điệp) dùng để sản xuất phân vi sinh

+ Than mỡ, được phân bố ở một số điểm than ở các đồi cao 80 - 100m tại các xã Gia Vân, Gia Hòa (Gia Viễn), Gia Sơn và mỏ than Đầm Đùn xã Thạch Bình(Nho Quan) Hiện nay, trữ lượng than còn lại của mỏ than Đầm Đùn là 2.633.000 tấn

+ Than nâu, tập trung ở mỏ than Đồng Giao nằm trong địa phận xã Quang Sơn thuộc thị xã Tam Điệp

- Nước khoáng nóng: Một trong các tài nguyên khoáng sản có giá trị ở Ninh Bình có thể kể tới là tài nguyên nước khoáng nóng Hiện nay có các mở nước khoáng nóng đang được khia thác và sử dụng là mỏ nước khoáng nóng Lỗ Sôi (Kênh Gà, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn) Suối nước nóng này có thành phần hóa học tương tự suối nước nóng ở Wesbaden (Đức), vói các nguyên tố hóa học như:

Na, K, Cl, Mg, S…trong nước có nhiều hợp chất muối hòa tan nên có vị mặn, chát, có giá trị chữa bệnh (ngòi da, đường ruột…) Nhiệt độ của nước lên đến 53%C, nước phun mạnh, đều với lưu lượng 5m3/giờ Trong thành phần của nước

có một lượng nhỏ phóng xạ (Atroneium) không gây hại mà có tác dụng chữa bệnh Khu vực xã Kỳ Phú huyện Nho Quan có mỏ khoáng nóng Thường Sung với chất lượng khá tốt, nhiệt độ từ 350C, dùng sản xuất nước khoáng uống, nước chữa bệnh và phục vụ khách tham quan du lịch…

Ngoài các tài nguyên khoáng sản chủ yếu trên, Ninh Bình còn có các điểm khoáng sản khác như: antimoan ở Yên Vệ thuộc xã Thạch Bình, huyện Nho Quan; thủy ngân ở khu vực Đồi Giăng thuộc xã Phú Long, huyện Nho Quan; kaolin ở xã Xích Thổ, huyện Nho Quan; khoáng sản bột màu tự nhiên ở xã Kỳ Phú, xã Văn

Trang 10

phú của Huyện Nho Quan….Các khoáng sản này chưa được thăm dò và đánh giá

dự báo đầy đủ

d)Tài nguyên biển

Ninh Bình có chiều dài bờ biển khoảng 16,5km, nằm ở phía Nam huyện Kim Sơn, nằm giữa hay cửa sông là Cửa Đáy và Cửa Càn với hàng ngàn ha bãi bồi, hàng chục ngàn ha lãnh hải Cửa sông Đáy giáp tỉnh Nam Định là cửa lớn nhất, có độ sâu tương đối, đảm bảo tàu thuyền lớn, trọng tải hàng ngàn tấn ra vào thuận tiện Cửa Càn giáp tỉnh Thanh Hóa

Vùng biển Ninh Bình có tiềm năng nuôi trồng, khai thác, đánh bắt nguồn lợi hải sản với sản lượng từ 2.000 - 2.500 tấn/năm

5 Đặc điểm về giao thông

Giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy đều thuận lợi Thành phố Ninh Bình nằm trên đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 1A, cách Hà Nội hơn 90km Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng

+ Đường bộ: với chiều dài gần 3000 km(1), tất cả các huyện, thành phố, thị

xã của tỉnh đều có quốc lộ đi qua:

Quốc lộ 1A xuyên Việt đi qua các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp với tổng chiều dài gần 40 km

Quốc lộ 10 nối từ Quảng Ninh qua các tỉnh duyên hải Bắc bộ: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định tới thành phố Ninh Bình đi các huyện Yên Khánh, Kim Sơn

Quốc lộ 12A, 12B nối thị xã Tam Điệp, Nho Quan với đường Hồ Chí Minh, tỉnh Hoà Bình và Vĩnh Phúc

Quốc lộ 45 nối Nho Quan với Thanh Hóa

Mạng lưới giao thông tỉnh lộ khá thuận tiện với những tuyến xe buýt nội tỉnh Bến xe Ninh Bình nằm gần nút giao thông giữa quốc lộ 1 và quốc lộ 10 ở thành phố Ninh Bình

Hiện có đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh, đã và đang triển khai đường cao tốc Ninh Bình - Cầu Giẽ; đường cao tốc Ninh Bình - Vinh

+ Đường sắt: Về giao thông đường sắt, Ninh Bình có trục đô thị Tam Điệp

– Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt Bắc-Nam với tổng chiều dài khoảng 20

km(2), từ cầu Non Nước (thành phố Ninh Bình) đến Dốc Xây (thị xã Tam Điệp) Trên địa bàn tỉnh, có các ga: ga Ninh Bình, ga Cầu Yên, ga Ghềnh và ga Đồng

1() Địa Chí Ninh Bình, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2010

2() Địa Chí Ninh Bình, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2010

Trang 11

Giao Theo quy hoạch xây dựng mới, đường sắt cao tốc Bắc - Nam chạy thẳng từ

Hà Nội sẽ đặt ga chính ở Ninh Bình, Vinh

+ Đường thuỷ: Về giao thông đường thủy, Ninh Bình có hệ thống sông ngòi

dày đặc: sông Đáy là sông lớn nhất chảy vào giữa ranh giới Ninh Bình với Hà Nam, Nam Định Sông Càn với nhiều nhánh nhỏ, phần hạ lưu chảy giữa ranh giới huyện Kim Sơn với tỉnh Thanh Hóa Các sông nội tỉnh khác: sông Hoàng Long, sông Vạc, sông Vân, sông Bôi, sông Lạng, sông Bến Đang đem lại nguồn lợi đáng

kể về tưới tiêu, giao thông (khoảng 500 km đường sông) và khai thác thuỷ sản

Cảng Ninh Phúc là cảng sông cấp I Ngoài ra, có cảng Ninh Bình, cảng Cầu Yên, cảng Non Nước

II ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI

1 Dân số - lao động

a) Dân số

Ninh Bình có số dân vào loại trung bình của cả nước Theo Niên giám thống kê năm 2009(1), dân số tỉnh Ninh Bình đứng thứ 10 so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, chỉ đứng trên Hà Nam (785,1 nghìn người) chiếm hơn 1,1% dân

số cả nước Tổng dân số của tỉnh Ninh Bình đến 12/2009 là 901.686 người Trong

đó,

+ Nam: 448.589 người; Nữ: 453.097 người;

+ Thành thị: 169.852 người; Nông thôn: 731 834 người;

Theo đơn vị hành chính, huyện Kim Sơn có số dân đông nhất với 165.566 người, sau đó là Nho Quan với 144.201 người Thị xã Tam Điệp có số dân ít nhất là 54.483 người Mật độ dân cư trung bình là 649 người/km2

Về gia tăng dân sô: Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của Ninh Bình đang giảm

dần Năm 2002 là 0,89%; năm 2005 là 0,83%; năm 2009 là 0,81%

Từ năm 1981 - 1991, sau 10 năm dân số Ninh Bình tăng 195,8 nghìn người

Từ năm 1991 - 2001, sau 10 năm dân số Ninh Bình tăng 93,2 nghìn người

Từ năm 1995 - 2005, sau 10 năm dân số Ninh Bình tăng 19,5 nghìn người Như vậy, dân số đang có xu hướng tăng chậm lại, đặc biệt là từ 1995 trở lại đây

Kết cấu dân sô: Kết cấu dân số theo giới tính ở tỉnh Ninh Bình ít biến đổi qua

các thời kỳ Số dân số nữ luôn nhiều hơn số dân số nam

1() Niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê 2010

Trang 12

Nam 436,341 436,714 440,865 444,304 448,589

(Dân số Ninh Bình phân theo giới tính, đơn vị nghìn người)

b) Lao động

Nguồn lao động: Nguồn lao động của tỉnh ta tương đối dồi dào, năm 2009 số

lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 501,6 nghìn người trong tổng số dân 901.686 người, chiếm gần 55,6% dân số Bình quân mỗi năm tăng hàng chục nghìn lao động

Ninh Bình là một tỉnh nông nghiệp (có gần 70% dân số sống về nghề nông), công nghiệp còn nhỏ bé nên lao động tập trung chủ yếu trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp Năm 2009, số lao động nông nghiệp, nông thôn là 248,1 nghìn người, chiếm 49,4% số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế

Chất lượng lao động: Lao động tỉnh ta cần cù, khéo tay, có nhiều truyền

thống, kinh nghiệm trong sản xuất nhất là trong các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; sáng tạo trong lao động, có khả năng tiếp thu khoa học, biết vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh thực tế ở địa phương Tuy nhiên, là một tỉnh nông nghiệp, người lao động còn thiếu tác phong công nghiệp, tính kỷ luật không cao, trình độ chuyên môn, tay nghề nhìn chung thấp chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH

Nhìn chung, năng suất lao động công thấp nên phần lớn người lao động có thu nhập thấp, đồng thời còn nhiều quĩ thời gian lao động ở nông thôn cũng như ở các cơ quan, xí nghiệp chưa sử dụng hết

2 Dân tộc và tôn giáo

a) Dân tộc

Đại bộ phận dân số tỉnh Ninh Bình là dân tộc Kinh, chiếm tỉ lệ gần 98,37%

dân số toàn tỉnh, phần còn lại là dân số thuộc các dân tộc khác Cộng đồng các dân

tộc sống trong tỉnh gồm có nhiều các dân tộc ít người nhưng các dân tộc ở đây chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục tập quán và truyền thống văn hóa của người Việt (Kinh) Chủ yếu là dân tộc Mường với 14.668 người, chiếm 1, 63% dân số toàn

tỉnh và một số ít dân tộc Thái, Tày Người dân tộc Mường định cư khá lâu đời, sống

tập trung ở các xã thuộc huyện miền núi Nho Quan, các phong tục tập quán sinh hoạt, truyền thống văn hóa mang những nét giống như cộng đồng dân tộc Mường của Việt Nam Người dân tộc Kinh và người dân tộc thiểu số đều có tinh thần đoàn kết

b) Tôn giáo

Trang 13

Phật giáo du nhập và xuất hiện ở Ninh Bình khá sớm từ trước thời Đinh - tiền

Lê Hiện nay, hoạt động Phật giáo của tỉnh được thông qua tổ chức Hội Phật giáo Ninh Bình, với một số lượng lớn tín đồ là 47.700 người, chiếm khoảng 5,18% dân số toàn tỉnh, 333 ngôi chùa Các chùa chiền trên đất Ninh Bình trong nhiều năm qua cơ bản đều được đầu tư, trùng tu và xây dựng với khuôn viên đất đai và cơ sở thờ tự

Công giáo du nhập vào Ninh Bình từ năm 1627, do linh mục người Pháp truyền đạo tại cửa Thần Phù, nay là giáo sứ Hảo Nho thuộc xã Yên Lâm, huyện Yên

Mô Hiện nay tín đồ Công giáo trên toàn tỉnh có trên 150.700 giáo dân, chiếm 16,3% dân số toàn tỉnh, sống đan xen ở 100 xã, phường, thị trấn Song tập trung chủ yếu ở huyện Kim Sơn với gần 77.600 giáo dân, chiếm 44,5% dân số(1) toàn huyện Đầu não của Công giáo tại Ninh Bình là Tòa giám mục Kim Sơn do giám mục đầu sứ cai quản Vai trò, vị trí của xứ đạo này có ảnh hưởng và tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển Công giáo ở Ninh Bình nói riêng và Giáo hội Công giáo Việt Nam nói chung Ở Ninh Bình hiện có hai dòng tu là dòng Mến Thánh giá Phát Diệm, huyện Kim Sơn và dòng Xi Tô của Đan Viện Châu Sơn, xã Phú Sơn huyện Nho Quan

3 Văn hóa, giáo dục, y tế

a) Văn hóa

Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa văn hóa và giao thông giữa các khu vực: Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, là địa bàn ảnh hưởng của nền văn hóa Hòa Bình và văn hóa Đông Sơn Với đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa tương đối đa dạng và năng động, mang đặc trưng khác biệt trên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng, một nền văn hóa từ lâu đời, nền văn hóa Hoa Lư được hình thành và phát triển từ thời Đinh - Lê Trải qua bao thời gian nền văn hóa Hoa Lư vẫn còn lưu giữ và bảo tồn, thể hiện ở những câu ca dao, tục ngữ, những điệu hát du, hát cò lả, hát chèo, hát sẩm (Ninh Bình có nghệ nhân hát sẩm nổi tiếng là bà Hà Thị Cầu quê ở Yên Phong huyện Yên Mô) và ở các lễ hội truyền thống

Ninh Bình là vùng đất có nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội cố đô Hoa

Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái Vi Ngoài

ra, còn có nhiều các lễ hội khác: hội thôn Tập Minh, lễ hội động Hoa Lư Tất cả đều phản ánh đời sống sản xuất và đời sống tinh thần của người dân lao động

Hoạt động văn hóa quần chúng được duy trì và đẩy mạnh phát triển ở các địa phương trong tỉnh, đặc biệt Nhà hát chèo Ninh Bình đã dàn dựng được nhièu chương trình ca múa, nhạc và dàn dựng được nhiều vở chèo gây tiếng vang trên toàn quốc như: Kim Giao, Hoa khôi dạy chồng, Tấm áo bào hoàng đế

1() Địa Chí Ninh Bình, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2010

Trang 14

Bên cạnh đó, Ninh Bình cũng đã tiếp thu có chọn lọc và xây dựng được nền văn hóa hiện đại đó là các trung tâm văn hóa, thư viện, bảo tàng và các dịch vụ văn hóa Hoạt động bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử được chú trọng quan tâm và phát triển.

Công tác báo chí, phát thanh truyền hình có chuyển biến tích cực, thời lượng phát sóng phát thanh, truyền hình ngày một tăng, chất lượng hoạt động từng bước được nâng cao Cơ sở hạ tầng ngành phát thanh - truyền hình tiếp tục được đầu tư

Mạng lưới cơ sở dịch vụ văn hóa đã hình thành và phát triển Thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp và các huyện lị là các trung tâm văn hóa của địa phương

b) Giáo dục - Đào tạo

Hiện nay, Ninh Bình có mạng lưới giáo dục khá hoàn chỉnh, phát triển rộng khắp đến các xã, phường và một hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh với đủ các bậc học, bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông (có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông); giáo dục nghề nghiệp(có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề); giáo dục đại học và sau đại học (gồm cao đẳng, đại học - gọi chung là giáo dục đại học)

Số trường học, học sinh, sinh viên và giáo viên năm học 2009- 2010

và đại học có nhiều hình thức đào tạo: đào tạo chính quy, tập trung, tại chức, chuyên

tu, từ xa…

Chất lượng giáo dục của tỉnh từng bước được nâng cao Năm 1960 tỉ lệ dân số

mù chữ cao, toàn tỉnh chỉ có 9,8% số dân biết đọc, biết viết Năm 1999, có 94% dân

số biết đọc biết viết, trong đó trình độ trung học phổ thông trở lên chiếm 66,2%, đại học cao đẳng trở lên chiếm 2,5% Hiện nay, tỉ lệ dân số biết đọc biết viết chiếm 99,9%, trình độ cao đẳng đại học trở lên là 3,1% Toàn tỉnh huy động được 52% trẻ

em trong độ tuổi đến nhà trẻ, 85% trẻ em trong độ tuổi đến học các lớp mẫu giáo, 100% trẻ em trong độ tuổi vào lớp 1 Năm học 2009-2010, tỉnh Ninh Bình có

Trang 15

13.407 học sinh THPT và Bổ túc THPT tham dự kỳ thi tốt nghiệp THPT, trong đó 10.867/11.022 học sinh THPT đỗ tốt nghiệp, đạt 98,59% (tăng 7,18% so với năm học 2008-2009), có 104 học sinh đỗ tốt nghiệp loại giỏi (đạt 0,95%), 1.422 học sinh đỗ tốt nghiệp loại khá (đạt 13,08%). Đội ngũ giáo viên tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, phần lớn các giáo viên các bậc học đều đạt chuẩn và vượt chuẩn quy định.

Cơ sở vật chất trường học được không ngừng củng cố và tăng cường Năm

1992 chỉ có 20 xã, phường, thị trấn có trường cao tầng Năm 2005 đã có 145/145 xã, phường, thị trấn có trường học cao tầng kiên cố Tính đến tháng 8/2010, toàn tỉnh có

287 trường đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia Trong đó có, 147 trường tiểu học,

70 trường mầm non, 68 trường trung học cơ sở và 2 trường phổ thông trung học

c) Y tế

Trong những năm qua tỉnh đã tăng cường đầu tư xây dựng mới và cải tạo, nâng cấp các cơ sở khám chữa bệnh, các trung tâm y tế Các cơ sở y tế được trang bị nhiều máy móc, thiết bị hiện đại, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào việc khám chữa bệnh

Y học cổ truyền được củng cố và phát triển cùng với phong trào xây dựng các xã đạt chuẩn quốc gia về y tế

Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng được cải thiện, mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và nâng cấp Mạng lưới dịch vụ y tế phát triển rộng khắp đến các xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh Tính đến năm 2009 toàn tỉnh

có 168 cơ sở y tế, trong đó có 12 bệnh viện, 12 phòng khám đa khoa khu vực, 144 trạm y tế với tổng số gường bệnh là 2.240 gường, bình quân 24,8 gường bệnh trên

1000 dân ( cả nước là 28,3 gường bệnh trên 1000 dân) Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có các cơ sở y tế tư nhân, các trung tâm y tế dự phòng, trung tâm phòng chống bệnh xã hội, trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, trung tâm phòng chống HIV/AIDS…(có 8/8 huyện, thành phố, thị xã có trung tâm y tế dự phòng, đội chăm sóc sức khỏe sinh sản)

Số cán bộ y tế ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong và ngoài tỉnh Năm 2005 toàn tỉnh có 1.807 cán bộ y tế thì đến năm 2009 con số này là 2.131 (tăng 324 người) Trong đó, bác sĩ

có 633 người, y sĩ có 540 người, y tá có 779 người, nữ hộ sinh có 179 người Tính bình quân cứ 1 vạn dân có 7 cán bộ y tế, cao hơn so với bình quân cả nước (cả nước

là 6,7 cán bộ y tế/ 1000 dân), thấp hơn so với bình quân của cả khu vực đồng bằng sông Hồng (đồng bằng sông Hồng là 7,5 cán bộ y tế/ 1000 dân)

4 Tổ chức các đơn vị hành chính

Trang 16

Theo Niờn Giỏm thống kờ 2009 của Cục thống kờ Ninh Bỡnh, tớnh đến 31/12/2009, Ninh Bỡnh cú 1 thành phố (Ninh Bỡnh), 1 thị xó (Tam Điệp) và cú 6 huyện với 146 xó, phường, thị trấn( 123 xó, 16 phường, 7 thị trấn) Trong đú,

1 Thành phố Ninh Bỡnh cú: 14 xó, phường ( 3 xó, 11 phường);

2 Thị xó Tam Điệp cú: 9 xó, phường (4 xó, 5 phường);

3 Huyện Hoa Lư cú: 11 xó, thị trấn (10 xó, 1thị trấn);

4 Huyện Nho Quan cú: 27 xó, thị trấn (26 xó, 1 thị trấn);

5 Huyện Gia Viễn cú: 21 xó, thị trấn (20 xó, 1 thị trấn );

6 Huyện Yờn Khỏnh cú: 19 xó, thị trấn (18 xó, 1 thị trấn);

7 Huyện Yờn Mụ cú: 18 xó, thị trấn (17 xó, 1 thị trấn);

8 Huyện Kim Sơn cú: 27 xó, thị trấn (25 xó, 2 thị trấn)

B/ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THỐNG NINH BèNH.

I KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NINH BèNH.

1 Ninh Bỡnh từ thời tiền sử đến nửa đầu thế kỷ X.

a, Ninh Bỡnh thời kỳ tiền - sơ sử

Với điều kiện địa lý tự nhiờn tương đối thuận lợi Ninh Bỡnh là một trong những nơi chứng kiến những bước đi đầu tiờn trong quỏ trỡnh tiến hoỏ và phỏt triển của lịch sử dõn tộc Cỏc di tớch đó được phỏt hiện ở Tam Điệp như di chỉ

“Nỳi Ba” (phường Bắc Sơn); “Thung Lang”(1) (phường Nam Sơn)… đó tỡm thấy

răng, xương đười ươi, lợn, răng vượn người cỏc hoỏ thạch này cú niờn đại cỏch ngày nay khoảng 30 vạn năm(2), tức thuộc giai đoạn sơ kỳ thời đại đồ đỏ cũ

Di chỉ Hang Sáo (Xã Quang Sơn, thị xã Tam Điệp) có niên đại cách ngày nay khoảng trên dới 1 vạn năm; di chỉ hang Đắng (Động người xưa), nằm trong khu vực vườn quốc gia Cỳc Phương (địa phận huyện Nho Quan), cỏc di vật với chất liệu đỏ được chế tỏc thành chày, cụng cụ chặt, mũi nhọn, dao cắt, hạch đỏ, rỡu Cỏc di vật là đồ xương, nhuyễn thể gồm ốc nỳi, ốc suối, ốc, trai, hến, cua, xương trõu, bũ, lợn, nhớm… thuộc thời kỳ đồ đỏ mới Như vậy, từ hơn 7.500 năm đến hơn 1vạn năm trước, trờn vựng đất Ninh Bỡnh là mụi trường thuận lợi để con người nguyờn thuỷ sinh sống và phỏt triển

1() Promaget J L Indochine Francaise, sa structure gụjol gique, ses roches, ses mines et leurs rlelations possibles avec la tectonique, B S G, vol 25, pp 2-63 (331).

2() Nguyễn Lõn Cường: “Những hoỏ thạch người cổ Việt Nam và Đụng Nam Á trong thời kỳ Pleistocene”, Tạp

chớ Nghiờn cứu Đụng Nam Á, số 1, 2002, tr 5-12 (335).

Trang 17

Tại di chỉ hang Chợ Ghềnh (thuộc phường Bắc Sơn, Thị xã Tam Điệp), có niên đại cách ngày nay khoảng 4.000 - 5.000 năm; di chỉ Mán Bạc thuộc địa bàn các xã Yên Thắng, Yên Thành, Yên Đồng (huyện Yên Mô), có niên đại cách ngày nay khoảng 3000 - 3500 năm… đều thuộc nền văn hoá Đông Sơn, cơ sở hình thành nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc Đặc biệt, trong các ngôi mộ đã có đồ tuỳ táng: đồ gốm như bình, nồi, bát, đồ trang sức… hiện vật trong các mộ có nhiều ít khác nhau, chứng tỏ đã có sự phân hoá giàu nghèo của xã hội trên đất Ninh Bình

b, Thời đại Hùng Vương - An Dương Vương.

Thời kỳ các vua Hùng tương ứng với sơ kỳ thời đại đồng thau đến sơ kỳ thời đại đồ sắt (tức thời kỳ văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ) Trên đất Ninh Bình đã xuất lộ những di vật của thời kỳ này Đó là một chiếc rìu đồng lưỡi xéo, sưu tầm được ở vùng Tây Bắc nông trường Đồng Giao Tại núi Ngọc (xã Yên Đồng, huyện Yên Mô) tìm được một chiếc lưỡi búa đồng thời Đông Sơn Hai trống đồng thuộc thời đại các vua Hùng: Trống thôn Mống (xã Yên Quang, huyện Nho Quan) được phát hiện năm 1969 và Trống Thạch La 2, được phát hiện năm

1994, tại thôn Thạch La (xã Thạch Bình, huyện Nho Quan), cả hai hiện vật đang được trưng bày tại Bảo tàng Ninh Bình

Thời Hùng Vương, theo truyền thuyết thì cả vua lẫn con rể và các tướng lĩnh đều đã qua lại vùng đất Ninh Bình Một số nơi thờ các nhân vật thời vua Hùng - Thục như: đền - chùa thôn Năm (xã Khánh Tiên, huyện Yên Khánh) thờ Tản Viên Sơn thánh; đền Kê Thượng, đền Kê Hạ (xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư) thờ Tản Viên, Cao Sơn đại vương…

Sự phát hiện vết tích vật chất và lưu truyền các truyền thuyết trong dân gian của thời kỳ này đã góp phần chứng minh sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội thời đại Hùng Vương - An Dương Vương trên địa bàn Ninh Bình

c, Thời kỳ đấu tranh chống phong kiến phương Bắc xâm lược và đô hộ.

Vùng đất Ninh Bình trong các giai đoạn lịch sử luôn phải đương đầu với các thế lực xâm lược, bất kể chúng đến từ phương Bắc hay phương Nam, bởi Ninh Bình là nơi có vị trí chiến lược của đường hành quân Bắc - Nam, cả đường bộ lẫn đường thuỷ

Năm 40, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã nổ ra và nhanh chóng giành thắng lợi Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng tham gia của đông đảo nhân dân cả

Trang 18

nước, trong đó có nhân dân vùng đất Ninh Bình Đến năm 43, cuộc khởi nghĩa bị thất bại, nhưng nhân dân Ninh Bình cùng nhân dân cả nước vẫn tiếp tục tập hợp lực lượng chiến đấu chống lại nhà Hán Nhiều tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa vừa kháng cự vừa rút dần về những địa bàn hiểm trở để bảo toàn lực lượng

Trên vùng đất cổ Ninh Bình hiện còn những di tích thờ các vị anh hùng thời Hai Bà Trưng cũng như những truyền thuyết nói về họ đã chiến đấu dũng cảm để ngăn bước tiến của bọn xâm lăng Đông Hán: Đền Đông Hội (xã Ninh An huyện Hoa Lư) thờ ba vị tướng của Trưng Nữ Vương là Đống Bụt, Diệu Vũ, và Ngọc Nữ; đền Me (thị trấn Me, huyện Gia Viễn) thờ Hồng Nương, Bạch Hoa, Hắc Y và Thuỷ Tinh công chúa…

Sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhân dân Ninh Bình cùng với nhân dân

cả nước tiếp tục chiến đấu chống sự chiếm đóng và sự đồng hoá của giặc phương Bắc Năm 938, Ngô Quyền đánh tan giặc Nam Hán xâm lược, đất nước chấm dứt thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, bước vào một thời kỳ mới tự cường, tự chủ, xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập thống nhất mà đất và người Ninh Bình đã có những đóng góp đáng kể

2 Ninh Bình thời Đinh - Lê.

a, Ninh Bình thời Đinh (968 - 979).

Dưới thời nhà Đường, vùng đất Ninh Bình thuộc Trường châu, gồm bốn huyện là Văn Dương (nơi có châu lỵ đóng), Đồng Thái, Trường Sơn, Kỳ Thường Trong đó, huyện Văn Dương cơ bản thuộc địa phận các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư ngày nay Khi nước nhà được thống nhất, độc lập, tự chủ, Nhà Đinh chia nước ta làm 10 đạo

Năm 944, Ngô Quyền băng hà, triều đình Cổ Loa hỗn loạn, các thế lực địa phương đua nhau cát cứ Trong thời kỳ Hậu Ngô Vương thống kê được 12 thế lực

cát cứ các vùng miền mà sử cũ gọi là Thập nhị sứ quân Đinh Bộ Lĩnh đã có công

dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước

Đinh Bộ Lĩnh sinh năm Giáp Thân (924), quê ở làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng, nay là xã Gia Phương, huyện Gia Viễn Bố là Đinh Công Trứ giữ chức Thứ sử Hoan Châu (Nghệ An), mẹ là Đàm Thị Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh kết hợp với Trần Minh Công (Trần Lãm) và được tin dùng, được giao cho binh lính để đi đánh dẹp các thế lực khác Các trận do Đinh Bộ Lĩnh chỉ huy đều thắng lợi Nhà

Trang 19

sử học Lê Văn Hưu đã viết: “Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người,

dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết”(1)

Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân và thống nhất đất nước, năm 968, Đinh Bộ

Lĩnh lên ngôi Hoàng đế với tôn hiệu Đại Thắng Minh Hoàng đế, định đô ở Hoa

Lư, lập quốc hiệu là Đại Cồ Việt, niên hiệu Thái Bình, thiết lập bộ máy cai trị, tổ chức quân đội, chấn hưng kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng kinh đô Hoa Lư…

b, Ninh Bình thời Tiền Lê (980 - 1009).

Sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, Nhà Đinh bắt đầu lâm vào cuộc khủng hoảng, chia rẽ; giặc ngoại xâm từ phương Nam và phương Bắc ráo riết chuẩn bị thôn tính nước ta Trước tình hình vận mệnh quốc gia ngàn cân treo sợi tóc, Thái hậu Dương Vân Nga đã sai Lê Hoàn chuẩn bị lực lượng đánh giặc Được quân sĩ ủng hộ, Dương hậu thuận theo đã đưa Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, rồi chuẩn bị đem quân kháng chiến chống Tống

Cuộc kháng chiến chống Tống của nhà Lê hợp với lòng dân, nên đã được quân và dân cả nước đặc biệt là nhân dân địa phương hưởng ứng sôi nổi, rộng khắp làm nên chiến thắng Bạch Đằng năm 981, quét sạch quân Tống ra khỏi nước

ta, mang lại nền hoà bình độc lập cho nước nhà Sau cuộc kháng chiến chống quân Tống giành thắng lợi, từ năm 982 Lê Đại Hành nhiều lần đem quân trừng phạt Chiêm Thành dập tắt mối đe doạ từ phía Nam, bảo vệ vững chắc vùng biên cương phía Nam của tổ quốc

Dưới thời Đinh - Tiền Lê, Ninh Bình là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến độc lập, tự chủ, thống nhất, đồng thời cũng là điểm mốc đánh dấu sự kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc của dân tộc, đưa nước ta bước sang một trang sử mới - đó là thời kỳ hình thành và phát triển thịnh vượng của chế độ phong kiến ở Việt Nam Đặc biệt với địa hình hiểm trở cùng với nhiệt huyết của nhân dân địa phương, Ninh Bình đã trở thành thành trì vững chắc để phát triển và bảo vệ nhà nước phong kiến còn non trẻ sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc

3 Ninh Bình từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV (1010 - 1399).

a, Ninh Bình thời Lý (1010 - 1225).

1() Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, 1967, t 1, tr 154.

Trang 20

Từ năm 968 đến năm 1009, dưới hai triều đại Đinh và Tiền Lê với kinh đô Hoa Lư, Ninh Bình là trung tâm của đất nước Năm 1009, Lê Long Đĩnh mất, các quan trụ cột của triều đình nhà Tiền Lê tôn Lý Công Uẩn là Điện tiền chỉ huy sứ lên làm vua (tức vua Lý Thái Tổ) Sau khi lên làm vua, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La Cuộc dời đô của Lý Thái Tổ mang một ý nghĩa trọng đại, một bước ngoặt trong tiến trình phát triển của nước Đại Việt

Vùng đất Ninh Bình, nơi góp phần tạo nên kinh đô Hoa Lư - Kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến độc lập thống nhất cũng là nơi khởi đầu cuộc hành trình dời đô vĩ đại Đất và người Ninh Bình đã vun đắp và xây dựng kinh đô của quốc gia Đại Cồ Việt giờ đây lại cùng cả nước góp công sức xây dựng và bảo vệ kinh đô mới của đất nước - Kinh đô Thăng Long

Năm 1010, Lý Thái Tổ chia lại khu vực hành chính trong cả nước, đổi 10

đạo thành 24 lộ và phủ Ninh Bình thời Lý gọi là phủ Trường Yên và theo Dư địa

chí (1) của Nguyễn Trãi thì phủ Trường Yên thời Lý còn có tên gọi là châu Đại Hoàng Ninh Bình thời Lý không phồn thịnh như dưới thời Đinh - Tiền Lê, nhưng vẫn được nhà Lý coi là một vùng không kém phần quan trọng Vì vậy, Lý Thái Tổ

cử Khai Quốc vương Bồ về trấn giữ, cai quản Hoà nhịp với khí thế rồng bay của đất nước, nhân dân Ninh Bình không ngừng vươn lên trong lao động và sản xuất

để xây dựng quê hương đất nước

Dưới thời Lý, tình hình kinh tế, văn hoá xã hội Ninh Bình tiếp tục phát triển Một số điền trang, thái ấp được lập như thái ấp của Tô Hiến Thành ở khu vực núi Kiếm Lĩnh Một số bến cảng, bến đò được phát triển thành các tụ điểm giao thông thương mại sầm uất nhất như Phúc Thành hải cảng, bến đò Trường Yên…

Để mở mang hệ thống giao thông đường thủy từ Ninh Bình vào phía Nam, tháng 11/1051, nhà Lý cho đào sông Lẫm (ở địa phận các xã Thần Phù, Phù Sa, Ngọc Lâm, huyện Yên Mô)(2); Sông Vân Sàng (thuộc thành phố Ninh Bình ngày nay)

Trong hai lần vua Lý Thánh Tông xuất quân đánh Chiêm Thành năm 1044

và 1069 đều có sự đóng góp công sức của nhân dân Ninh Bình, tiêu biểu như Phạm Tông Nương người làng Khương Dụ, xã Yên Phong, huyện Yên Mô Đất và

1() Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr 616.

2() Đại Nam nhất thống chí, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, t 3, tr 248.

Ngày đăng: 27/06/2015, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w