Bệnh án còn có những công dụng khác: đó là tài liệu quan trọng nhất trong hồ sơ y khoa, là 1 thủ tục được chấp nhận rộng rãi trong việc kiểm soát thực hành y khoa, và nó cung cấp nhiều c
Trang 1BỆNH ÁN, BỆNH SỬ VÀ KỸ NĂNG HỎI BỆNH
Học viết bệnh án là rất quan trọng
trước khi học khám lâm sàng Hầu hết
các cuộc gặp giữa bác sĩ (hoặc sinh
viên) với bệnh nhân đều liên quan đến
thông tin trong bệnh án Những ghi
chép ban đầu bao gồm bệnh sử chi tiết,
thăm khám lâm sàng Khi kết quả thăm
khám có giá trị, thông tin này sẽ được
thêm vào bệnh án và sau mỗi lần khám
lâm sàng, diễn tiến và thay đổi trong
việc theo dõi bệnh sẽ được ghi lại
Bệnh án ghi lại bệnh sử của bệnh nhân
từ lần bệnh đầu tiên cho đến khi tử
vong Trong suốt cuộc đời, bệnh nhân
trải qua những giai đoạn bệnh khác
nhau: bệnh cấp tính, mạn tính, tình
trạng khó chữa hay tiến triển Ở mỗi
trường hợp, trong chẩn đoán và điều trị,
cần quan tâm đến những vấn đề chính
của bệnh nhân và lướt qua những than
phiền phụ, trừ khi than phiền này liên
quan rõ ràng đến vấn đề chính Nhiều
bác sĩ và nhân viên y tế có thể đóng
góp vào 1 bệnh án Hơn nữa, bệnh án
nhiều tác giả có thể giúp theo dõi bệnh
nhân mỗi khi họ chuyển nhà
Tác giả của mỗi phần bệnh án có trách
nhiệm nhận ra phần bệnh sử quan trọng
và đảm bảo truyền đạt rõ ràng, chính
xác để người khác có thể hiểu dễ dàng
Bệnh án còn có những công dụng khác:
đó là tài liệu quan trọng nhất trong hồ
sơ y khoa, là 1 thủ tục được chấp nhận
rộng rãi trong việc kiểm soát thực hành
y khoa, và nó cung cấp nhiều chứng cứ
cho pháp y; trong tư pháp, sự tin cậy về
mặt chuyên môn dựa vào duy nhất
bệnh án nếu bạn nhớ thông tin không
Khi chăm sóc y tế trở nên chuyên môn
hóa, phức tạp và phụ thuộc nhiều vào
làm việc nhóm, bệnh án lâm sàng cần
được chuẩn hóa POMR (bệnh án định
hướng vấn đề) là 1 khuôn khổ được
chấp nhận rộng rãi để chuẩn hóa và cải
tiến chất lượng bệnh án Hệ thống này
được Lawrence Weed tán thành đầutiên vào năm 1969
BỆNH ÁN ĐỊNH HƯỚNG VẤN ĐỀ
Tính chính xác của thông tin thu thập
từ 1 bệnh nhân trong suốt quá trìnhbệnh ảnh hưởng đến sự chính xác củachẩn đoán và điều trị POMR nhấnmạnh sự cần thiết của việc thu thập mọithông tin, nhân khẩu học, cá nhân, triệuchứng cơ năng, triệu chứng thực thể vàcác nghiệm pháp, dùng những dữ liệunày lập nên 1 danh sách các vấn đề.Danh sách này không chỉ cung cấpthông tin tổng thể về BN và đề xuấtcho kế hoạch quản lý mà còn hỗ trợbạn tìm mối liên quan giữa các vấn đề
và khai thác 1 tổng quan thống nhất vềBN; hơn nữa, nó phân biệt những vấn
Ngoài danh sách vấn đề, POMR cungcấp 1 khuôn mẫu để chuẩn hóa cấu trúccủa các ghi chú về sau (hình 1.1); nónhấn mạnh những thay đổi trong triệuchứng cơ năng, triệu chứng thực thểcủa BN và sự tiến triển của kế hoạchtiếp cận và quản lý lâm sàng POMRcũng cung cấp 1 sơ đồ để ghi nhậnnhững thay đổi lâm sàng và hóa sinhsau đó
Trang 2BN Bệnh sử dẫn dắt BN thông qua 1
loạt các câu hỏi được thiết kế để lập 1
tiểu sử cá nhân và các vấn đề của họ
Trước khi kết thúc lần hỏi bệnh đầu
tiên, bạn nên hiểu rõ về thông tin cá
nhân, thói quen sinh hoạt và vấn đề lâmsàng của BN Thêm vào đó, bạn cầnxem xét 1 chẩn đoán phân biệt có thểgiải thích triệu chứng của BN
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của bệnh án định hướng vấn đề (POMR)
Danh sách vấn đề ban đầu
Hình 1.2 Danh sách vấn đề được lập ngày 9/1/1997
Bệnh sử bao gồm 1 loạt các câu hỏi từ
than phiền hiện tại cho đến xã hội, học
vấn, tiền căn nghề nghiệp, thói quen cá
nhân, du lịch , hoàn cảnh gia đình, tiền
căn gia đình và những ghi chép liên
quan trong họ hàng trước đó Những
câu hỏi này có thể được ứng dụng vào
bất cứ một triệu chứng hiện tại nào
Tuy nhiên, cũng dễ dàng để tháo gỡhay bỏ qua không hỏi những câu đó.Ghi nhận diễn tiến, kết quả khám mỗikhi người bệnh mô tả một triệu chứngmới Một số thông tin vẫn giữ nguyêntrong suốt thời gian dài (bệnh lý trước
đó, tâm lý-xã hội, tiền căn gia đình, họcvấn, việc làm) cho nên ta chỉ ghi lại khi
có thay đổi
Trang 3Hãy nhớ, đôi khi những tiền căn bệnh
lý có thể mang lại nguồn thông tin quan
trọng về sau, trừ khi bệnh nhân nhập
viện, ví dụ như vì đau dữ dội, thay đổi
ý thức hay khó thở nặng thì không thể
cung cấp được bệnh sử Trong những
tình huống đó, việc ghi chép chi tiết có
hệ thống có thể cung cấp thông tin có
tính quyết định Một câu hỏi thủ tục
cũng giúp gợi cho bệnh nhân nhớ lại
vấn đề chính xác hơn bởi việc thêm
thông tin này vào dữ liệu Cũng như
tiền căn, việc khám được thực hiện để
ghi nhận những dấu hiệu âm tính và
dương tính một cách chi tiết
DANH SÁCH VẤN ĐỀ
Danh sách vấn đề là cơ sở cho POMR.Những danh mục này cung cấp nhữngvấn đề quan trọng liên quan đến sứckhỏe bệnh nhân Danh sách vấn đềchính được đặt trước bệnh án và mỗimục được ghi lại ngày (bảng 1.2) Đây
là thời điểm mà ta lập danh mục chứkhông phải là lúc bệnh nhân xuất hiệnnhững triệu chứng lần đầu (có thể đượccho biết ở trong dấu ngoặc đơn bêncạnh) Thời điểm của mỗi triệu chứngkhông chỉ cho biết trình tự xảy ranhững triệu chứng liên quan đến sứckhỏe bệnh nhân mà còn là một “mụclục” phục vụ cho bệnh án Với việc sửdụng mục thời gian sẽ giúp cho chuyệntìm những danh mục gốc dễ dàng hơn.Bằng việc thêm vào để cung cấp mộtbảng tóm tắt, chú dẫn, danh sách cáctriệu chứng cũng góp phần làm choviệc quản lí những kế hoạch diễn rathuận lợi
Danh sách cập nhật vấn đềTên bệnh nhân: Chẩn đoán bệnh viện:
Trang 4Bảng 1.3: Danh sách vấn đề được cập nhật đến 14/2/1997, cho thấy chẩn đoán viêm gan A ngày 13/1/1997 và những xét nghiệm gan trở lại bình thường ngày 14/2/1997
Sự chán ăn và sụt cân dễ dàng được giải thích bởi viêm gan và những triệu chứng này hướng đến mối liên quan với vấn đề 1 (Viêm gan) Lưu ý, Bệnh trĩ đã được chẩn đoánngày 11/1/1997 và vấn đề này trở nên “không hoạt động” khi việc cắt trĩ được thực hiện 01/2/1997 Khi những xét nghiệm sinh hóa được làm lại vào ngày 13/1/1997, phát hiện tăng cholesterol máu lần đầu và kết quả này được ghi lại trong danh sách cùng ngày Đến 14/2/1997, còn ba vấn đề chưa giải quyết
Thành lập danh sách những vấn đề:
Chia những vấn đề thành 2 loại:
active (hay vấn đề đòi hỏi giải quyết)
và inactive (vấn đề đã được giải quyết
hoặc không đòi hỏi giải quyết nhưng có
thể nó quan trọng đến một vài giai đoạn
ở thời điểm hiện tại của bệnh nhân
hoặc tương lai) Một ghi nhận về “ung
thư hệ tiêu hóa” (1971) ở cột inactive
sẽ ghi nhận lại việc sử dụng thuốc
kháng viêm NonSteroid (NSAID) ở
bệnh nhân thời điểm hiện tại 20 năm
sau điều trị viêm khớp Danh sách
những vấn đề đưa ra rất đa dạng và
cách viết của trang này cho phép bạn
dễ chuyển đổi các vấn đề đó qua lại
giữa hai cột vấn đề “active” (vấn đề
chính) và “inactive” (vấn đề kèm theo)
(hình 1.3)
Những ghi nhận của bạn thành
danh sách vấn đề có đề cập đến chẩn
đoán xác định (vd Viêm loét đại
tràng), triệu chứng cơ năng (vd Khó
thở), triệu chứng thực thể (tiềng thổi
tâm thu tống máu), các xét nghiệm (vd
thiếu máu), tâm lí và tiền sử xã hội
(trầm cảm, thất nghiệp, cha mẹ và tình
trạng hôn nhân) hoặc những yếu tố
nguy cơ (hút thuốc, rượu và lạm dụng
thuốc ngủ) Những chẩn đoán mà bạn
ghi nhận lại được phụ thuộc vào thông
tin sẵn có ở một thời điểm đặc biệt nào
đó Biểu đạt những vấn đề một cách tốt
nhất có thể nhưng cũng nên cập nhật
vào danh sách trên nếu bạn tìm ranhững điểm mới có thể giới hạn bớthoặc làm thay đổi cách hiểu của bạn vềnhững vấn đề trên
Danh sách vấn đề được nêu lên
để xem xét sự thay đổi, do đó, thậtkhông cấn thiết để xóa đi một ghi nhậnnào một khi đưa ra một chẩn đoán mới
Ví dụ, một bệnh nhận hiện tại với vấn
đề vàng da, chán ăn và sụt cân Thôngtin này sẽ đựơc ghi nhận ở bảng danhsách vấn đề (I.2) Nếu 1 vài ngày sau,kiểm tra huyết thanh chứng nhận bệnhnhân đang mắc Viêm gan siêu vi A,chẩn đoán mới được ghi ở 1 dòng mới
ở khung đựơc dự trữ ở vấn đề active(I.3) Những vấn đề khác được giảithích bằng những chẩn đoán (chán ăn
và sụt cân) sẽ được chú ý bằng 1 dòng
và dấu hoa thị (*) chỉ ra sự liên quannhững vấn đề đã đưa ra Ở trường hợpnày, virus viêm gan chỉ điểm chẩn đoáncao nhất Một khi bệnh đã khỏi, bạn đểmột mũi tên từ bệnh đó sang cột
“inactive”, để cho thấy ghi nhận củabác sĩ là các xét nghiệm gan đã trở vềbình thường Những vấn đề bất ngờ cóthể xuất hiện trong quá trình chẩn đoánbệnh (vd: tăng Cholesterol máu ) vànhững vấn đề này đựơc thêm vào danhsách vấn đề
Bảng danh sách vấn đề nên ghi lại liêntục dể chắc rằng những ghi nhận thậtchính xác và được cập nhật
Trang 5Những kế họach dựa vào vấn đề bệnh
Xem vàng daTrĩ
Polyp và ung thư đại tràng
Kiểm tra gan, thời gian Prothrombin, Siêu vi A, B hay C, dung tích hồng cầu, gamma GT,
Hỏi bác sĩ gia đìnhsiêu âm gan, urê và điện giải,
cân nặng cơ bảnxét nghiệm máunội soi đại tràng, X quang ngực
Điều trị nguyên nhân Nếu là trĩ hoặc khối u thì tham khảo ýkiến bác sĩ ngọai khoa
Giải trí và giảm stressGặp những người chuyên giúp đỡ về các vấn đề nghèo đói,
an sinh xã hội,…(social workers)
Giải thích sự cần thiết của kiểm tra đại tràng
Bảng ví dụ về những vấn đề liên quan sau khi tạo ra bảng danh sách vấn đề (Dx, kiểm tra chẩn đoán; Mx, kiểm tra hình ảnh, Rx, điều trị; Ed: chỉ dẫn)
NHỮNG KẾ HOẠCH LIÊN QUAN
người thầy thuốc sẽ xác định được vấn
đề nào cần phải chủ động can thiệp
(trong việc chẩn đoán và điều trị) Do
đó, đối với mỗi vấn đề cần có một bản
kế hoạch (hình 1.4) được lập ra dựa
trên 4 mục sau (xem phía dưới) Tuynhiên, tùy từng trường hợp, có khi chỉmột vài mục là cần thiết
• Các xét nghiệm chẩn đoán (Dx)Viết ra những chẩn đoán phân biệt chotừng bệnh một Kế bên từng chẩn đoán,ghi chú những chi tiết bệnh sử có íchcho việc xác định bệnh Có hàng loạtnhững xét nghiệm có thể dùng để xácđịnh một bệnh, do đó, trong việc chẩn
Trang 6đoán, cần có một cách thức chung.
Cách thức này sẽ trở nên hợp lý hơn
nếu được lần lượt dựa trên những thử
nghiệm lâm sàng, Xquang, siêu âm, xét
nghiệm máu và những phương pháp
chẩn đoán hình ảnh chuyên biệt khác
(hình 1.5)
• Các xét nghiệm để theo dõi
(Mx)Những thông tin thu được khi theo sát
bệnh nhân rất cần thiết để đánh giá tiến
triển của tình trạng sức khỏe bệnh
nhân Đối với mỗi bệnh đang theo dõi,
nên lưu lại kết quả của những xét
nghiệm cần thiết và cũng cần chú ý tới
vấn đề là nên làm những xét nghiệm đó
bao lâu một lần để có thể thu được
những thông tin có ích
• Điều trị (Rx)Luôn nhìn mỗi căn bệnh theo chiềuhướng cần phải điều trị một cách chủđộng Nếu điều trị với thuốc, cần lưu ýđến loại thuốc và liều thuốc Cũng cầntrù liệu trước phòng khi xảy ra tác dụngphụ của thuốc
• Giáo dục cho bệnh nhân (Ed)Một điểm quan trọng trong việc điều trịcho bệnh nhân là việc giáo dục nhậnthức cho họ Kết quả điều trị sẽ tốt hơnnếu người bệnh hiểu bản chất căn bệnh
mà họ đang mắc phải Bằng cách đưamục tiêu này vào trong kế hoạch điềutrị, người thầy thuốc sẽ luôn nhớ rằng
họ phải nói cho bệnh nhân biết rõ vềbệnh tình của mình
Hình 1.5 Sơ đồ giúp lên kế hoạch chẩn đoán
Điện tâm đồ
Đo lưu lượng đỉnh hô hấp
Chọc hút dịchSinh thiết gan/màng phổi
Chọc dò tủyNội soi đại tràng sigma
Thủ thuật lâm sàng
Xét nghiệm cận lâm
sàngXquang và siêu âm
Xét nghiệm trong labo
Phương pháp chẩn đoán đặc biệt
Xquang xương – sọ/xoang – ngực – bụng
Nội soiCT-scanMRIĐánh dấu bằng đồng vị
Xquang có cản quang
Xét nghiệm chức năng hô hấp
Điện tâm đồ gắng sức
Siêu âm bụng – chậu – ngực – cổ
Xét nghiệm máu
pH nước tiểumáu
proteinbilirubinurobilinglucoseceton
tỉ trọngtìm máu/phân
Huyết họcHóa sinhXét nghiệm nội tiếtMiễn dịch
Vi sinhGiải phẫu bệnh
Trang 7POMR cung cấp một phương
pháp cấu trúc chuẩn và chặt chẽ cho
việc theo dõi diễn tiến bệnh Những ghi
chú theo dõi phải cô đọng, ngắn gọn và
chủ yếu tập trung vào những thay đổi
Có bốn đề mục hướng dẫn bạn trong
suốt quá trình ghi chú (hình 1.6)
Subjective (S) chủ quan: ghi
nhận những thay đổi trong triệu chứng
của bệnh nhân, khi cần thiết, phải giải
thích cho BN về việc tuân thủ chế độ
điều trị (VD: ngưng hút thuốc) hoặc
tình trạng dung nạp thuốc
Objective (O) khách quan: ghi
nhận bất cứ thay đổi nào về triệu chứng
thực thể có thể ảnh hưởng đến chẩn
đoán, theo dõi hoặc điều trị
Assessment (A) Đánh giá: chú
giải các thông tin khách quan và chủ
quan đã được xác nhận hoặc thay đổi
cách đánh giá và kế hoạch của bạn
Plan (P) Kế hoạch: sau khi đánh
giá, việc cân nhắc lại các thay đổi kế
hoạch ban đầu là cẩn thiết Cấu trúc của
mục này dựa vào các đề mục đã được
liệt kê trước đó (Dx, Mx, Rx và Ed)
Nếu không có thay đổi khách quan hay
chủ quan qua các lần khám thì chỉ cần
ghi nhận “Không có thay đổi gì trong
đánh giá hay kế họach”
KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM THEO
DÕI:
Các nghiên cứu và đo lường lâm sàngthì thường được lặp lại để giám sátbệnh cấp hoặc mạn tính VD: bệnhnhân tiểu đường toan chuyển hóa cầnđược kiểm tra thường xuyên đườnghuyết, urê, điện giải, pH máu, lượngnước tiểu và áp suất tĩnh mạch trungtâm Trong suy thận mãn, diễn tiến vàđiều trị bệnh được theo dõi bằng cáchthường xuyên đo urê máu, điện giải,creatinin, độ thanh thải creatinin,hemoglobin và thể trọng Một bảngtheo dõi thuận tiện cho việc thu thập dữliệu theo mẫu, mà thoạt nhìn có thể cho
ta biết về xu hướng và tiến triển củabệnh (hình 1.7) Các đồ thị có thể biểuthị giống nhau, mặc dù một đồ thị đơnthể hiện 2 hay nhiều xét nghiệm khácnhau có thể gây nhầm lẫn
ƯU ĐIỂM CỦA POMR:
POMR khuyến khích tất cả các thànhviên của đội ngũ chăm sóc sức khoẻchuẩn hoá việc tiếp cận bệnh án Chínhđiều này nâng cao giáo tiếp và đảm bảomỗi người trong số họ có thể góp phầnvào bệnh sử Hơn thế nữa sự chi tiếtcủa danh sách các vấn đề, kế hoạchchăm sóc và các ghi chép giúp suy nghĩlogic, trật tự và đảm bảo các ghi nhận
đó không những bao quát mà còn chínhxác POMR làm giúp một vấn đề đơn lẻkhỏi bị phân tán và lấn át bởi các yếu
tố khác, vì vậy sẽ còn lại những vấn đềquan trọng
Sự kiểm tra chéo và kiểm tra y khoa đãtrở thành một phần không thể thiếu củaviệc đảm bảo chất lượng và giáo dục ykhoa liên thông POMR giúp làm sáng
tỏ suy nghĩ và quyết định của các nhàlâm sàng Yêu cầu của việc thu thậpthông tin tỉ mỉ và chi tiết thì rất có giátrị cho các nhà nghiên cứu và thực tậplâm sàng trong quá khứ và tương lai
Có lẽ, quan trọng nhất là POMR giúpduy trì triển vọng về bệnh nhân “tổngthể”, do đó cung cấp một cái nhìn tổngquát về các vấn đề thực thể, tâm lý và
Trang 8xã hội cũng như sự tương tác giữa
P - ngày mai: kiểm tra chức năng gan
gọi điện hỏi phòng xét nghiệm về những marker viêm gan
13/1/97
S - cảm giác khá hơn, ăn ngon hơn
O - transaminase và billirubin giảm
IgM đáp ứng viêm gan A: (+)
nội soi đại tràng xích-ma: chảy máu trĩ
tăng cholesterol/máu
A - giải quyết viêm gan A
chảy máu trực tràng ở bệnh nhân trẻ giống với trĩ
P - đánh giá lại bệnh nhân, giải thích về bệnh viêm gan A
chỉ định xuất viện nếu các mẫu xét nghiệm gan sau đó cho thấy tiến triển khá,báo cho BS ngoại khoa xem xét điều trị trĩ
kiểm tra lại cholesterol trong vòng 3 tháng
Hình 1.6 Một ví dụ về ghi chú diễn tiến bệnh
Trang 9Hình 1.7 Một ví dụ về bảng tổng hợp kết quả xét nghiệm
(discharged: xuất viện)
TÍNH BẢO MẬT
Do đặc thù của nghề nghiệp, các bác sĩ
cũng như sinh viên Y khoa thường
xuyên tiếp cận với những thông tin rất
riêng tư của bệnh nhân, và những thông
tin này nếu bị tiết lộ cho những người
không có liên quan sẽ gây nhiều xáo
trộn cho đời sống của bệnh nhân
Chính vì thế, bảo mật thông tin của
bệnh nhân là 1 điều các bác sĩ và sinh
viên Y khoa cần thấm nhuần
Trong thực tế lâm sàng, chúng ta nên
làm bệnh án phụ ngoài bệnh án chính
cho những trường hợp đặc biệt như
bệnh nhân HIV/AIDS, bệnh nhân tâm
thần, bệnh nhân mắc bệnh lây lan quan
đường tình dục,.v.v…
Một điều nữa cần lưu ý: hồ sơ của bệnh
nhân chỉ được phép lưu hành trong nội
bộ khoa phòng, không được tự ý truyền
ra ngoài; chỉ những cá nhân có liên
quan đến việc điều trị của bệnh nhân
mới có quyền tham khảo những hồ sơ
này
KỸ THUẬT HỎI VÀ LẤY
BỆNH SỬ
Các nghiên cứu cho thấy 80% những
thông tin giúp ích cho việc chẩn đoán
bệnh trạng của bệnh nhân đến từ việc
hỏi bệnh Đôi khi, việc này đòi hỏi
nhiều thời gian hơn cả giai đoạn thămkhám lâm sàng
Trong quá trình hỏi bệnh, 2 lọai câuhỏi: đóng và mở có những ưu vàkhuyết riêng, cần có sự phối hợp sửdụng để có kết quả cao nhất
• Triệu chứng của ông/ bà là gì?
• Giấy chuyển viện cho tôi biếtđôi điều về triệu chứng của ông/bà; ông bà có thể mô tả lại cáctriệu chứng đó cho tôi không?Với câu hỏi mở, bệnh nhân có nhiều tự
do hơn để trả lời; đồng thời, bệnh nhâncũng có khả năng gây nhiễu nhân viên
y tế với những thông tin họ cung cấp.Nhiệm vụ của nhân viên y tế là dẫn dắtđịnh hướng câu chuyện của bệnh nhânnhằm phục vụ mục đích chẩn đoán vàđiều trị bệnh
Nên lưu ý rằng, câu trả lời của bệnhnhân không chỉ nằm trong ngôn từ màcòn ở những chi tiết không diễn đạtbằng lời khác Cần tập trung chú ý cảngôn ngữ hình thể của bệnh nhân tronglúc lấy bệnh sử để có cái nhìn toàn diệnhơn về bệnh tình của bệnh nhân
Trang 10Hình 1.10: Một bức thư đề nghị hội chẩn kỹ lưỡng và đầy đủ Những than phiền chính
và ảnh hưởng lên đời sống hằng ngày của BN được nêu đủ Bệnh sử được kể rõ ràng chi tiết , bao gồm cả kết quả của những lần thăm khám trước Những thuốc đã và đangdùng được liệt kê chi tiết Cuối thư, những lý do chủ yếu để được hội chẩn đựơc tổng kết
Câu hỏi mở cho phép người bệnh được
tự do trả lời nhưng cũng khá nguy
hiểm Một buổi hỏi bệnh thành công
cho phép người bệnh đóng vai trò
chính nhưng người hỏi cũng phải biết
lái BN nói vào vấn đề chính Khi bạn
học được cấu trúc của 1 buổi hỏi bệnh,
bạn sẽ thấy sự cân bằng của 2 lọai câu
hỏi trên Nói chung, chúng ta cần bắt
đầu với những câu hỏi mở, sau đó sử
dụng những câu hỏi đóng nếu có đìêu
gì chưa hiểu rõ
Cả sinh viên và bác sĩ thường không
để ý sự biến đổi rất lớn do tâm lý củanhững triệu chứng cơ năng hoặc khôngnhận ra những than phìên có thể phảnánh các bệnh rối lọan tâm lý; cách cư
xử và điệu bộ tay chân của BN có thểcho bíêt những lo lắng, vấn đề suy
Trang 11nhược thần kinh và trầm cảm còn ẩn
giấu của BN
Trước khi đề cập đến những giai đọan
cơ bản trong việc hỏi bệnh, bạn nên lập
sẵn kế họach để dẫn dắt buổi nói
của phòng bệnh có thể gây nhiều khó
khăn cho buổi phỏng vấn Vì vậy nếu
có thể bạn nên tìm 1 căn phòng yêntĩnh để hỏi bệnh Trong phòng khám
BN ngọai trú, sắp ghế của BN gần vớibạn, chứ không đối mặt với họ quabàn
THỜI GIAN:
Bạn cần đảm bảo rằng thời giancho buổi hỏi bệnh là hợp lý Thời giannghỉ và dùng bữa thường được nhữngnhân viên BV xem là không thay đổiđược Vì vậy bạn cần hỏi họ trước khiphải dùng đến những thời gian đó củaBN
Hình 1.11: Vị trí thích hợp khi hỏi
bệnh: BS gần với BN 1 cách tự nhiên,
không có vật chắn
Hình 1.12: Một vị trí kém thoải mái hơn: đối với BN nhạy cảm hơn hay BNthần kinh, họ có thể nghĩ rằng có vật ngăn cách giữa BS và BN, cản trở sự trao đổi thông tin
BẢN THÂN BẠN
Đánh giá đầu tiên của bệnh nhân
về bất kì bác sĩ hay sinh viên nào dựa
trên vẻ bề ngoài và vì vậy, trang phục
đóng một vai trò rất quan trọng trong
mối quan hệ bác sĩ - bệnh nhân Chiếc
áo choàng trắng và sư tự giới thiệu là
một phần của văn hóa y khoa và cũng
quan trọng trong việc thiết lập những
"vai diễn" làm cơ sở cho sự hỏi bệnh
Xu hướng ăn mặc đã thay đổi và do đó,
số loại trang phục được chấp nhận tăng
thêm nhưng những quy tắc cơ bản vẫn
không đổi: cách tiếp cận tốt nhất là mặc
một chiếc áo choàng trắng vừa mới
được là thẳng thuốm - chiếc áo choàng
sẽ cho người khác biết bạn là ai và sẽlàm hài lòng bất cứ thị hiếu đặc biệtnào về trang phục Trẻ em và bệnhnhân tâm thần thường đòi hỏi một quytắc ăn mặc riêng biệt, trong trường hợpnày, có thể một chiếc áo choàng trắng
sẽ không thích hợp Bạn phải đảm bảođôi tay và móng của bạn sạch sẽ, vànếu cần thiết, bạn nên buộc tóc lại đểtránh không cho tóc rơi xuống bệnhnhân khi bạn thực hiện một số thủ thuậtnhư soi đáy mắt Một đôi giày đánhbóng cẩn thận cũng giúp bạn tạo được
ấn tượng tốt với bệnh nhân
Trang 12TIẾP CẬN BAN ĐẦU
Các nhân viên và sinh viên trong
hầu hết bệnh viện đều đeo bảng tên
Mặc dù vậy, bạn cũng nên tự giới thiệu
để bệnh nhân biết rằng bạn là một sinh
viên và bạn muốn có một cơ hội khai
thác bệnh sử và khám thực thể Bệnh
nhân hiếm khi từ chối nhưng đừng cho
đó là cá biệt Phần lớn bệnh nhân sẵn
sàng giúp đỡ bạn nhưng họ mong đợi,
và nên nhận được thái độ lịch sự xứng
đáng với họ Khi đã nhận được sự đồng
ý của bệnh nhân, hãy kéo một chiếc
ghế lại - như thế này tốt hơn việc ngối
trên giường bệnh nhân, và tệ nhất là
ngồi lên người họ (Hình 1.13) Mặc dù
việc xưng hô họ của bệnh nhân có thể
làm bạn cảm thấy ít thân mật hơn khi
hỏi bệnh nhưng nhiều bệnh nhân lại
thấy thoải mái trước một cuộc tiếp xúc
trang trọng hơn Lúc này, hãy cho bệnh
nhân biết những nét chính về những
điều bạn định thực hiện và trong thời
gian bao lâu Mặc dù hỏi bệnh sử và cả
Những câu hỏi đầu tiên
Để bắt đầu, hãy yêu cầu bệnh
nhân khái quát vấn đề của họ bằng cách
sử dụng một câu hỏi mở Nếu bệnh
nhân có nhiều than phiền, bạn nên liệt
kê chúng ra theo trình tự thời gian hơn
là liệt kê lung tung như bệnh nhân
thỉnh thoảng vẫn kể Đến giai đoạn
này, bạn nên viết một tóm tắt về những
gì bệnh nhân kể Tránh quá mải mê viết
mà hãy liên tục lặp lại việc tiếp xúc
bằng mắt Một ví dụ về những điều bạn
đã viết được lúc đó được trình bày
trong bảng tóm tắt dưới đây:
Tóm tắt Viết tóm tắt về than phiền
H M 57 tuổi, nội trợKhó thở tăng dần trong 3 tháng quaKhó thở kịch phát về đêm trong 3 tuần qua
Ho khan 6 ngày qua
BỆNH SỬ
Bệnh sử thể hiện than phiền
Bây giờ bạn cần phải tìm hiểumỗi triệu chứng của bệnh nhân thật chitiết Nếu bệnh nhân không nói về triệuchứng mà tự đưa ra chẩn đoán, như
"Tôi bị viêm họng", hãy tìm hiểu cặn
kẽ chẩn đoán đó để chắc chắn rằng nóchính xác
Có bốn câu hỏi cơ bản cần câu trả lời:
Câu hỏi Bốn câu hỏi cơ bản
Những triệu chứng xuất hiện từ cơ quan/bộ phận nào?Nguyên nhân có thể nhất là gì?
Bệnh nhân này có yếu tố nguy cơ nào không?
Trên bệnh nhân này đã xuất hiện biến chứng gì chưa?
Nên có một dàn ý hữu ích đểphát triển một loạt các câu hỏi nhằmmục đích tiếp tục câu hỏi mở ban đầu
Các triệu chứng từ một hệ thống cơquan có vị trí và tính chất điển hình:
đau ngực có thể có nguồn gốc từ tim,phổi, thực quản hay thành ngực nhưng
sự định vị và tính chất rất khác nhau
Hãy xác minh vị trí phát sinh triệuchứng, hoàn cảnh khởi phát, sự tiếntriển hay thoái biến của triệu chứng, vàcác yếu tố tăng giảm
Cho mỗi triệu chứng, hãy tìm hiểu bavấn đề liệt kê trong bảng tóm tắt dướiđây:
Trang 13Tóm tắt
Triệu chứng
Hoàn cảnh khởi phát
Tiến triển của triệu chứng: tăng, giảm hay không thay đổi
Yếu tố làm tăng/giảm triệu chứng
Hình 1.13 Để hỏi bệnh lâm sàng, nênngồi trên ghế cạnh giường Đảm bảorằng bệnh nhân thấy thoải mái và cóthể nhìn thẳng vào bạn mà không căngthẳng
Để đánh giá đau, ta dùng những đặc
tính trong bảng tóm tắt Tính chất đau
quan trọng cho biết cơ quan tổn
thương Bệnh nhân thường khó mô tả
các triệu chứng của họ, vì vậy cần hỗ
trợ họ bằng cách đưa ra những gợi tả:
đau bụng, chuột rút, cúm, lơ mơ, đánhtrống ngực, cảm giác đè ép hay đaunhư dao đâm? Rất khó đánh giá mức
độ đau Có thể hỏi bệnh nhân cầnthuốc giảm đau không hay đau có làmảnh hưởng công việc, hoạt động Có
Bệnh sử bệnh nhân đau ngực
- Bệnh sử: nam 53 tuổi nhập viện vì
đau ngực dữ dội Một tuần trước vừa
về từ chuyến đi kinh doanh ở Hồng
Kông bằng máy bay đường dài không
quá cảnh Đau khu trú ở phần thấp
ngực phải phía lưng, khởi phát đột
ngột, kéo dài 3 giờ kèm thở nông,
thỉnh thoảng có vướng máu trong đàm
sau cơn ho dài Đau tăng khi hít thở
sâu và ho, giảm khi nằm yên Bệnh
nhân không hút thuốc, không sốt và
đây là lần khởi phát bệnh đầu tiên
- Biện luận: thậm chí không qua khám
lâm sàng ta đã thấy chẩn đoán nổi bật
từ bệnh sử này Dựa vào vị trí và kiểu
đau ta khu trú triệu chứng là của thùy
dưới phổi phải Khó thở và ho ra máu
khởi phát đột ngột gợi ý nhiều đến
thuyên tắc phổi có nhồi máu và trước
đó có chuyến bay dài có thể là nguyên
Bệnh liên quan nghề nghiệp:
-Công nhân ngành amiang, thợ xây: bệnh bụi phổi amiang, u trung biểu mô
-Thợ mỏ: bệnh bụi phổi than-Thợ kim hoàn, đồng, thiếc: bệnh bụi phổi silic
-Nông dân, bác sĩ thú y, công nhân chế biến thịt: bệnh động vật
-Thợ nhuộm anilin: ung thư bàng quang
-Nhân viên y tế: viêm gan siêu vi B