Tài liệu tham khảo Nghiên cứu truyện cổ MẠ-K'HO
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
NGHIÊN CỨU TRUYỆN CỔ MẠ–K’HO
BẰNG PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH LOẠI HÌNH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
MÃ SỐ : B2004-29.32 Chủ nhiệm đề tài : TS Lê Hồng Phong
ĐÀ LẠT, 2006
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 TRUYỆN CỔ MẠ-K’HO : ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH ………06
1.1 Huy àn tho ïi Mạ-K’Ho ……… 06
1.2 Cổ tích Mạ-K’Ho ………15
1.3 Truyện hài – ng ï ngôn……….32
Chương 2 TRUYỆN CỔ MẠ-K’HO : SO SÁNH LOẠI HÌNH ……….39
2.1 Huy àn tho ïi Mạ-K’Ho – Một v øi so sánh………. 39
2.2 So sánh với cổ tích ng ời Việt……….45
2.3 Truy än hài - ng ï ngôn trong tương quan thể loại………58
KẾT LUẬN………64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 67
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ……… 74
Trang 3MỞ ĐẦU 0.1 LÝ DO, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược quan trọng của Việt Nam, nơi cư trú của
12 tộc người thiểu số bản địa [100, 8-9], nay đang có mặt hầu hết các thành phần dântộc Việt Nam Tây Nguyên đã và đang được giới khoa học quan tâm nghiên cứu vềnhiều phương diện, trong đó có văn hoá, văn học dân gian Tuy nhiên, Việt Nam làquốc gia đa dân tộc, việc trình bày đủ diện mạo văn học dân gian dù là khái quát cũngrất khó khăn Trong tổng thể văn hoá Tây Nguyên, truyện cổ Mạ và K’Ho tuy bước đầuđã có người sưu tầm nhưng cơ bản chưa có ai nghiên cứu
Nghiên cứu truyện cổ Mạ-K Ho nhằm góp phần vào nghiên cứu văn học dân
gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, vào chương trình và nội dung đào tạo của nhàtrường, cụ thể là hoàn thiện các chuyên đề về văn học dân gian Tây Nguyên; khai thácthế mạnh được “đứng chân” trên mảnh đất này để ít nhiều có thể phục vụ một số nhiệm
vụ của địa phương; nguồn tư liệu thu được không chỉ có giá trị cho Nghiên cứu truyện
cổ Mạ-K Ho mà còn có thể xuất bản khi có điều kiện nhằm bảo tồn và phát huy vốn
văn hoá dân gian dân tộc thiểu số
Với đề tài này tác giả trình bày đặc điểm các thể loại truyện cổ Mạ-K’Ho và bước đầu so sánh về loại hình trong bối cảnh truyện cổ Tây Nguyên, Việt Nam (chủ
yếu với truyện cổ người Việt) và Đông Nam Á
0.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI
Nghiên cứu văn học dân gian một tộc người đương nhiên phải nghiên cứu tộcngười ấy ở nhiều phương diện nhưng với tính chất một đề tài nghiên cứu văn học, đối
tượng nghiên cứu cụ thể và chủ yếu ở đây là truyện cổ Mạ và K’Ho.
Người Mạ và người K'Ho là hai tộc người thiểu số bản địa có mặt từ xa xưa tạiNam Tây Nguyên, cơ bản tập trung cư trú ở Lâm Đồng; về dân số người K'Ho xếp thứhai, người Mạ xếp thứ ba sau người Việt (Kinh) Cho đến nay, cả người Mạ và ngườiK'Ho vẫn đang được khẳng định là hai dân tộc trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam,
nhưng hai tộc người này có nhiều điểm thống nhất đến mức “có thể xem như cùng một
tộc người”[99, 09] Do đặc điểm chung là nổi bật nên đề tài này nghiên cứu gộp chung
cả truyện cổ Mạ và K'Ho, viết tắt là truyện cổ Mạ-K'Ho.Nhiều thuật ngữ, nhân danh,
địa danh, kể cả tộc danh trong các công trình khoa học đã xuất bản cũng không thốngnhất, tác giả giữ nguyên những cách viết khác nhau ấy khi đề cập hoặc trích dẫn côngtrình của các tác giả khác
Nghiên cứu văn học dân gian nói chung, nghiên cứu truyện cổ Mạ-K'Ho nóiriêng, tất yếu phải sưu tầm tư liệu Sau 15 năm điền dã, được sự cộng tác của nhiều sinhviên ngữ văn (Đại học Đà Lạt), sự giúp đỡ hào hiệp và hiệu quả của các già làng vàthông dịch viên, tác giả hiện có 384 truyện cổ Mạ-K'Ho, với 10 tập tư liệu bao gồm
Trang 42000 trang chép tay cỡ A.4 Trong 384 “văn bản” ấy, truyện cổ Mạ có 237 và truyện cổK’Ho có 147 truyện và dị bản Đề tài này chủ yếu nghiên cứu trong phạm vi nguồn tưliệu mới sưu tầm này.
0.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ở mức độ khác nhau, trong cả quá trình sưu tầm và nghiên cứu, có kết hợp sửdụng các phương pháp: mô tả, thống kê, phân tích-tổng hợp, loại hình, so sánh, liênngành …Với đề tài này, phương pháp chủ yếu là nghiên cứu loại hình và so sánh loạihình Tư duy loại hình là phổ biến trong đời sống, trong văn chương và trong nghiên cứu
khoa học Mỗi loại hình (ví dụ: tự sự dân gian/truyện dân gian) được phân thành các tiểu loại hình, lẽ ra gọi là loại thể nhưng giới nghiên cứu đã quen gọi là thể loại (huyền
thoại, cổ tích…) Phân loại, nghiên cứu theo thể loại, chỉ ra đặc điểm thể loại, kiểu
(type) truyện … chính là đã sử dụng phương pháp loại hình.
So sánh cũng là thao tác quen thuộc trong đời sống, thủ pháp quan trọng trongsáng tác, một phương pháp nghiên cứu khoa học quen thuộc Có thể so sánh ở nhiều
cấp độ mà một trong những cấp độ loại hình là thể loại Kết hợp một cách có ý thức,
chúng ta có một tập hợp vừa mang ý nghĩa là một trong những cấp độ so sánh, vừa là
một phương pháp kép: so sánh loại hình.
Với đề tài cụ thể này, trước hết phải phân loại, nghiên cứu đặc điểm từng thể
loại, sau đó mới có thể tiến hành so sánh thể loại Thao tác là phân loại, so sánh từng thể loại nhưng phương pháp là loại hình và so sánh loại hình.
0.4 LỊCH SỬ ĐỀ TÀI
Trước 1975, ở miền Bắc Việt Nam, trong điều kiện chiến tranh, một số tuyểntập truyện cổ, dân ca và sử thi Tây Nguyên đã được xuất bản Tuy nhiên, trong cố gắngbước đầu đáng ghi nhận ấy, dù đã có quan tâm đến văn học dân gian Tây Nguyên,nhưng hầu như chưa có tư liệu về truyện cổ Mạ-K’Ho Ở miền Nam Việt Nam, có một
số công trình sưu tầm, khảo cứu như Việt Nam văn học toàn thư của Hoàng Trọng Miên[47], Xứ người Mạ lãnh thổ của thần linh của Boulbet [4.b], Miền Thượng Cao Nguyên của Cửu Long Giang – Toan Aùnh [28]…
Sau 1975, nước Việt Nam độc lập và thống nhất đã tạo điều kiện mới cho sựnghiệp sưu tầm, nghiên cứu Tây Nguyên trên nhiều phương diện khác nhau và đã thuđược những kết quả khả quan.Về phương diện nghiên cứu văn học, từ hàng chục nămnay, truyện cổ Tây Nguyên ít nhiều cũng đã được giới thiệu trong giáo trình ngữ văncủa các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam song các giáo trình này chủ yếu vẫndành để trình bày văn học dân gian của người Việt (Kinh) Việt Nam có 54 dân tộc, mỗidân tộc có một kho tàng truyện cổ phong phú của riêng mình, các giáo trình văn họcdân gian không thể trình bày dù ở dạng khái quát nhất kho tàng truyện cổ của tất cả cácdân tộc thiểu số Việc đó phải dành riêng cho các chuyên khảo về từng thể loại haytừng dân tộc Chúng ta cần khẳng định đóng góp của một số công trình nghiên cứu tiêu
biểu: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam trước cách mạng tháng Tám của Phan
Trang 5Đăng Nhật [53]; Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam của Võ Quang Nhơn [55]; Lời giới thiệu” tuyển tập Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên[99, 07-17] của Đặng Nghiêm Vạn và Đặng Văn Lungv.v…Đặng Nghiêm Vạn
cũng đã sưu tập, tóm tắt và nghiên cứu 307 dị bản huyền thoại về nguồn gốc tộc người[67, 803-863] Riêng tại địa bàn Lâm Đồng, đã có những đề tài cấp tỉnh nhằm nghiêncứu văn hoá dân gian, trong đó có văn học dân gian các dân tộc bản địa [93], [32],[32b]…
Tây Nguyên là địa bàn đa dân tộc, có dân tộc đã được nghiên cứu tương đốinhiều như Ê Đê, Bana… nhưng các dân tộc khác như Mạ, K’Ho chủ yếu mới đượcnghiên cứu ở phương diện dân tộc học; có thể loại đã được quan tâm sưu tầm và nghiêncứu đạt kết quả tốt như sử thi nhưng đối với các thể loại truyện cổ và dân ca tuy đã đượcsưu tầm nhưng chưa được đầu tư nghiên cứu ngang tầm với trữ lượng và giá trị củachúng
Văn học dân gian Tây Nguyên có những đặc điểm riêng về thể loại, nhưng trongquá trình biên soạn các tập truyện, các soạn giả vẫn đang gọi bằng thuật ngữ chung:
Truyện cổ M Nông, Truyện cổ Ê Đê mà chưa có điều kiện phân loại, ít chú ý đến văn
học dân gian Tây Nguyên về phương diện loại hình
Khi nghiên cứu sử thi và cổ tích, kể cả khi nghiên cứu nhân vật mồ côi hay nộidung cổ tích, việc áp dụng quan điểm giai cấp còn chưa thuyết phục Tín ngưỡng dângian là một lĩnh vực văn hóa tinh thần chi phối nhiều thể loại văn học và nhiều sinhhoạt văn hóa khác, rất đáng nghiên cứu
Những tương đồng và khác biệt giữa văn học dân gian Việt và Tây Nguyên, vănhọc dân gian Tây Nguyên và Đông Nam Á, nguyên nhân và ý nghĩa của tương quanvăn hóa này cũng cần được xem xét từ góc nhìn so sánh loại hình
0.5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Từ sự nghiên cứu mới về một nguồn tư liệu mới, đề tài đã ít nhiều có đóng góp
ở các phương diện: nghiên cứu khoa học về văn học dân gian, góp phần vào đào tạo và
tự đào tạo ở một trường đại học, tăng cường hợp tác và phục vụ địa phương, bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân gian dân tộc thiểu số Việt Nam Tuy nhiên, dù cố gắng trong
sưu tầm, xử lý và trình bày kết quả nghiên cứu, những luận điểm được nêu trong đề tàicũng chỉ dừng lại ở những khái quát cơ bản về tư liệu Khi nguồn tư liệu được tiếp tụcbổ sung hoặc khi tiếp cận những phương pháp nghiên cứu mới, có thể làm xuất hiệnnhững vấn đề mới hoặc bổ sung những kiến giải mới về một số vấn đề đã được đưa ra
trong đề tài này Nhiều kết quả nghiên cứu đã được công bố (Xem Những công trình
của tác giả ) và sau khi đề tài này được nghiệm thu cấp cơ sở thì cuốn sách của tôi Tìm
hiểu truyện cổ Tây Nguyên-trường hợp Mạ-K Ho đã được Nxb Văn học ấn hành vào
tháng 10 /2006
Trang 60.6 BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình của tác giả, Tài liệu tham
khảo, đề tài gồm hai chương nội dung:
Chương 1 Truyện cổ Mạ-K Ho - Đặc điểm loại hình
Chương 2 Truyện cổ Mạ-K Ho - So sánh loại hình
Trang 7Chương 1.
TRUYỆN CỔ MẠ-K HO : ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH
Nương theo các định nghĩa và cách xác định của các nhà khoa học đi trước, nhấtlà qua các giáo trình đại học về văn học dân gian Việt Nam, kếthợp với thựctiễn sưutầm và nghiên cứu của bản thân, căn cứ vào đề tài và nhân vật chính, tác giả phân loạitruyện cổ Mạ-K’Ho thành ba loại hình: 65 huyền thoại, 268 cổ tích và 51 truyện hài –ngụ ngôn Sau khi phân loại, đã tiến hành tóm tắt tất cả tác phẩm và dị bản theo thểloại, ghi chú và thống kê tương đối chính xác các motif chủ yếu của từng thể loạitruyện, qua tần số xuất hiện nhiều hay ít của các motif để nhận định về đặc điểm của
từng loại hình truyện cổ Mạ-K’Ho.
1.1 HUYỀN THOẠI MẠ-K HO
Trong các giáo trình đại học và giáo khoa phổ thông, thuật ngữ thần thoại thông
dụng hơn, nhưng thời gian gần đây, trong các sách chuyên khảo và bài nghiên cứu ở
Việt Nam, các nhà khoa học thường sử dụng huyền thoại và nó đang trở thành một
thuật ngữ chuyên ngành quen thuộc Huyền thoại, theo nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên,
là hình thức tư duy của người nguyên thủy, là loại hình nghệ thuật nguyên hợp, là yếu tố thi pháp của văn học viết và văn học dân gian, là lối nói để chỉ những sự việc, hiện tượng có tầm vóc lớn lao, kỳ vĩ [14.b].
Ở đề tài này, tác giả sử dụng huyền thoại với tính chất là thể loại, thể loại nàychịu sự chi phối của tư duy huyền thoại Trong huyền thoại Mạ-K’Ho không hề có danh
xưng thần, thậm chí không có cả nhân vật thần mà chỉ là những tổ phụ, những pàng
yàng, pàng yau, mò pàng Hoặc đơn giản hơn, tác phẩm chỉ nhắc tên mà không biết là
ông hay bà nhưng đảm đương vai trò sáng tạo thế giới hoặc con người, tộc người Những
truyện có motif lụt và motif sinh nở tộc người về cơ bản cũng không có ông thần hay bà
thần nhưng hoàn toàn đủ khả năng gọi là huyền thoại, và từ lâu, các nhà nghiên cứuĐặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Tấn Đắc đã gọi những tác phẩm như vậy là huyền thoại[67] Theo đó, chúng ta không bị câu thúc bởi định nghĩa ngắn gọn, đúng nhưng hẹp:
thần thoại là những truyện kể về thần Xét về thuật ngữ, huyền thoại ở đây được dùng
tương đương với thuật ngữ thần thoại quen thuộc, nhưng rộng hơn
Trong tư liệu truyện cổ Mạ-K'Ho sưu tầm được, hiện có 65 tư liệu được xếp vàohuyền thoại với các nội dung chính hầu như thống nhất với nội dung huyền thoại các tộcngười khác Mỗi nội dung có thể gắn với một truyện độc lập nhưng nhiều khi có sự gắnkết nhiều nội dung trong một tác phẩm, chưa kể có nhiều mẩu truyện móc nối với nhau
Trang 8thành chuỗi truyện Phần trình bày dưới đây chủ yếu là theo nội dung chứ không phảitheo type truyện.
1.1.1 Huyền thoại về nguồn gốc vũ trụ
Ai làm ra trời đất? Câu hỏi này sớm được các tộc người đặt ra và trả lời theocách của người nguyên thủy Ai sinh ra đất ? Đó không phải là câu hỏi thích hợp, ít nhất
là đối với huyền thoại Mạ-K'Ho Và ngay cả ở thần thoại Hy lạp thì Đất mẹ – Gai-a có trước cả Bầu Trời, làm ra Bầu Trời – Uranôs Trong số các vị thần linh ban đầu - các
yàng, pàng yàng, mò pàng, pàng yau, được nhắc tên rất nhiều là K’Đu, K’Đạ, K’Đòn… Đạ rèn Mặt Trời bằng đất và sắt… Như vậy, đất là cái có trước, có sẵn, theo quan
niệm của người Mạ-K'Ho, là nguyên liệu chế tác Mặt Trời Tiếp đó, Đu rèn Mặt Trăng bằng sừng trâu, lược bằng móng trâu, Bầu Trời bằng lưng trâu, các sao bằng
xương đầu trâu (MA.75) Trong dị bản Tổ tiên ban đầu (I), Ha Đu Đong được coi là
người Sao, Ha Tang – người Trời, Ha Tông – người Thần, Ha Krang Đăm Jranh – ngườiSét…
Từ những dòng kể này chúng ta thấy motif rèn mặt trời đã xuất hiện trong huyền
thoại Từ sự quan sát sức nóng và màu đỏ của ngọn lửa, của lò rèn, dân gian thấy cótương đồng gần nhất với sức nóng, màu đỏ của Mặt Trời Sự phát triển sớm của nghềrèn và vai trò của nó trong đời sống cộng đồng kết hợp với vai trò của lửa, tín ngưỡngvề Mặt Trời và tục giữ lửa trong bếp nhà sàn…đã chi phối óc tưởng tượng và sáng tạohuyền thoại của người Mạ-K'Ho
Dân gian quan niệm rằng trâu là nguyên liệu để chế tác Mặt Trăng, Bầu Trời vàcác vì sao, bởi cư dân đã kết hợp những quan sát sự vật, hiện tượng tự nhiên với óctưởng tượng của mình Lưng trâu khum khum gần giống bầu trời, sừng trâu cong congtựa như vành trăng khuyết, móng trâu chẽ ra tương tự răng lược Người ta nghĩ về thếgiới khác, dù là thế giới thần cũng bằng những hiểu biết về chính thế giới người, haynói cách khác, chính cuộc sống chi phối tư duy về thần linh, tư duy huyền thoại, chính
con người vẽ ra các thần linh Con trâu “đi vào huyền thoại, “vào” phong tục ăn trâu (nhô sa rpu), tín ngưỡng chi phối phong tục và huyền thoại, và đến lượt mình, huyền
thoại phản ánh cả tín ngưỡng về yàng và phù hợp với phong tục, cụ thể là tục ăn trâucúng yàng Vì có đủ tư cách nối liền tình cảm con người với thần linh, người ta dâng nólên các yàng, chứ không phải làm thịt trâu thông thường Trong phạm vi huyền thoại, từ
xa xưa dân gian từng tin là các yàng K’Đu, K’Đạ đã dùng lưng trâu, sừng trâu… làm
“vật liệu” chế tác Mặt Trời, Trăng, Sao… Cả ba thành tố văn hoá ấy: tín ngưỡng - huyền thoại - phong tục (ăn trâu) đã gắn bó chặt chẽ với nhau.
Đáng chú ý là người Mạ-K'Ho có phân biệt qua huyền thoại hình ảnh Bầu Trời
và Mặt Trời, dù cả hai đều được nhân hóa Bầu Trời là Trồ, vương quốc của ông Trồ được hình dung như một bon hùng mạnh, còn Mặt Trời là Măt T ngai lại ở một bon khác
của những yàng khác Tuy nhiên, có khi hai loại yàng này được đồng nhất với nhau vìcả hai đều ở trên cao, đều thiêng liêng và đều mang tính người
Trang 9Huyền thoại đã quan tâm lý giải quan hệ giữa Mặt Trời và Mặt Trăng Đó là hainhân vật tín ngưỡng, cũng là hai nhân vật văn học nên tôi viết hoa tên nhân vật thầntheo lối tên riêng Từ góc độ sáng tạo vũ trụ, cả hai là sản phẩm của K’Đu và K’Đạ,nhưng trong tư duy và tưởng tượng của cư dân, đó không chỉ là hai vì tinh tú mà còn là
hai loại người-thần sống ở bon yàng: bon Mặt Trời và bon Mặt Trăng Trong dị bản
MA.67, Mặt Trăng cũng chẳng khác Mặt Trời, thậm chí nóng hơn, như thể có hai MặtTrời vậy! Các tinh tú như Mặt Trời, Mặt Trăng vừa là thế lực hùng mạnh của tự nhiên,vừa bắt đầu có nhân tính, tính cách của các vị ấy ít nhiều giống con người
Về quan hệ giữa ngày và đêm qua hình ảnh Mặt Trời và Mặt Trăng, còn có hai
dị bản nữa được đặt tên là Măng lin măng lo Theo tiếng Mạ-K'Ho, măng là đêm, và
măng lin măng lo là từ láy chỉ hiện tượng đen tối ngập tràn mà chúng ta quen gọi là
nhật thực Căn cứ nội dung lời kể của nghệ nhân thì Mặt Trời và Mặt Trăng không hợp
nhau, ở riêng, khi gặp nhau gây ra măng lin măng lo… (MA.66) Vào thời kỳ đen tối ấy con người và muôn loài phải kiêng cữ (motif cấm kỵ), phải đốt củi, nói chuyện để không
mất tiếng Nếu đi ra ngoài đạp phải cây hóa cây, đạp phải đá hóa đá Con người giữđược điều kiêng cữ nên còn tiếng nói, muôn loài sau đó không còn tiếng nói! Có cặp vợ
chồng lạc trong rừng, ôm nhau chết, hóa đá (motif hóa thân), người ta cũng gọi đó là đá
măng lin măng li (KC.30).
Trong số các yàng, có khổng lồ Dút (Yut, K Yut, KN Yut) là vị thần không sáng
tạo ra một sự vật nào cụ thể mà chỉ làm nhiệm vụ phân cách trời và đất, nhưng suy chocùng cũng là một hành động sáng tạo Chính vị này đã dùng chân đạp trời hoặc dùngkhèn chống trời Nhưng để tạo dựng thế giới, không chỉ các vị thần mà còn có cả nhiều
động vật thiêng, vật thần tham gia vào quá trình sáng tạo thế giới: Ia Lú (gà đá) bới đất thành núi, Yàng K Rài (rắn thiêng) tháo nước Đạ Lung thành suối, Sur Rke (heo sừng) ủi đất thành hang…(MA75) Trong khái niệm yàng, các vật thiêng cũng là yàng như là kết
quả của sự thiêng hóa, thần thánh hóa tự nhiên Nếu các yàng K’Đu, K’Đạ…đã bước
đầu được nhân hóa thì các yàng động vật chỉ mới có phẩm chất tự nhiên, phẩm chất
thần mà chưa có phẩm chất người Trong quan niệm của cư dân, ngoài các yàng ấy,những thế lực hay vật thể tinh vi, khó hiểu, không nhìn thấy cũng được gọi là yàng,
chẳng hạn: vi trùng là tur yàng!
1.1.2 Huyền thoại về nguồn gốc, quan hệ các loài
Ngoài hành động sáng tạo của các thần, trong huyền thoại còn có motif hóa thân
sáng tạo của chính các thần được coi là anh em của K’Đạ và K’Đu trong một thế giới
đa thần (bon yàng): Đòn, K Sriêng thành đá; K Ó K Òn thì ruột thành giun, xác thành
cây, tóc thành dây leo, dây mây; K Blụp thành cá, K Bla thành muối, K Los (Aûh Chùng Los) thành sắt (MA.75; KĐ.01; MĐ.26) Tên của các vị này được ghép liền với vật mà
họ hóa thành: Blọp gơska, K Bla gơsvơh, Ăh Chung los (K’Blọp có cá, K’Bla có muối, Ăh Chung có sắt) Trong những huyền thoại này, motif hóa thân là motif chủ đạo Có thể nói, motif hóa thân trong cổ tích là kế thừa huyền thoại, và một khi huyền thoại mất
đi hay biến tướng thì những motif cổ vẫn có khả năng tồn tại trong những thể loại được
Trang 10coi là xuất hiện sau thời huyền thoại.
Trong sự sáng tạo tự nhiên, dân gian đã giải thích nguồn gốc các sự vật thiết yếu
đối với con người như Lúa, bắp, cà, ớt; Muối , sắt, cá (tên hai tác phẩm)… Huyền thoại
đã kể lại rằng mẹ Ka Grup (hoặc Ka Rup) lấy chồng Kon Chau (Con Người), đẻ bachàng trai, ba chàng nói sau này sẽ có muối, sắt, cá… Mọi người cho đó là chuyện lạ, và
ba chàng trai nói chuyện lạ ấy đã bị nghi là malai Họ phải chết và họ xin được chết ởnhững miền khác nhau, hóa thân thành ba vật lạ cần thiết cho cư dân sau đó là muối,sắt, cá Cả ba thứ do tổ tiên hóa thân sáng tạo ấy đều liên quan thiết yếu đến con người.Hoặc một huyền thoại khác cho biết mẹ Ka Grau đã ngủ mơ thấy ông già bỏ vào tay hạtgiống lạ, tỉnh dậy có hạt giống, gieo xuống đất thì mọc lên lúa, bắp, cà, ớt Đó là truyệnvề nguồn gốc lương thực, thực phẩm, gia vị Cùng với việc làm ra cái ăn là làm ra thứcuống, nhất là rượu cần Truyện kể dân gian cũng cho rằng việc làm và uống rượu cầnlà do nhím bày cho con người!
Huyền thoại còn giải thích mối quan hệ giữa loài Quạ và rắn (MA.64.A;
MA.64.B) Ở dị bản thứ nhất nói về khả năng chụp bóng của rắn, chụp bóng ai là ngườiđó chết, nên buổi sáng và chiều bóng dài, người ta không dám đi rẫy Quạ đậu gốc cây,rắn chụp bóng, quạ chết Loài quạ đi kiện, K’Lăn (trăn) làm chủ muôn loài rắn bảo rắnói hết chất độc, chỉ rắn nhỏ trong cây mum (tre) không chịu ói, nay là rắn độc nhấtrừng Ở dị bản thứ hai, K’Đòn tài giỏi nhờ thuốc độc của mẹ (chưa rõ mẹ nào) K’Đònchết, đầu mọc cây mum, đốt thành tro (không rõ ai đốt) Rắn hút tro độc thành rắn độc,gọi là K’Lăn (trăn), trăn hú thì người chết, quạ chết Quạ chọc tức, trăn tức giận ói chấtđộc, từ đó trăn không độc, loài rắn nhỏ ăn phải chất ói đó trở thành độc nhất rừng Hai
dị bản thống nhất ở motif đối lập chim-rắn, rắn độc có thể hú chết người hoặc chụp
bóng chết người, rắn nhỏ độc nhất rừng… Có thể xem tác phẩm này là Sự tích rắn độc.
Trong tín ngưỡng và trong huyền thoại Mạ-K'Ho, người chỉ là một trong muônloài, loài người có quan hệ rất chặt chẽ và thân thiết với tự nhiên thông qua quan hệngười và vật Vật có thể là bạn của người, là thầy của người, cũng có thể lấy người;ngược lại, người có thể lấy vật, sinh ra vật hoặc hóa thành vật
Các dị bản có tên là Người chưa biết đẻ (I,II,III), đều xuất hiện nhân vật người
chồng (K’Tàr hoặc K’Yai) đi kiếm thức ăn về cho vợ hoặc cho con sắp ra đời, bị lạcđường, mệt mỏi, ngủ dưới gốc đa, trên cây là nơi gia đình khỉ đang ở Bằng giấc mơhoặc bằng nước thần rửa mắt, người chồng nhìn lên thấy đó không phải cây mà là ngôinhà của bon khỉ, khỉ vợ cũng đang sắp sinh Người chồng chứng kiến cảnh khỉ sinh nở,hoặc phàn nàn với khỉ về việc con người không biết đẻ Cứ đến ngày đứa trẻ muốn rađời thì phải mổ bụng mẹ lấy con ra! Một đứa trẻ ra đời là một người mẹ phải chết nhưmột biểu tượng về sự hy sinh vĩ đại đầu tiên của người nữ, của MẸ Đó có lẽ khônghoàn toàn là bịa đặt mà có thể là tình trạng thực trong buổi ban đầu? Khỉ cho thuốc đẻ,từ đấy con người biết đẻ con mà không chết Trong tư cách này, khỉ đúng là thầy, là
bạn của người Cái thuốc sinh nở ấy nhiều người Mạ biết và gọi là lok, các sản phụ
thường uống sau khi đẻ rồi đi làm bình thường Dân gian đã khoác cho nó một sắc màu
Trang 11huyền thoại bởi sự kỳ diệu của tính năng và tác dụng của nó Motif khỉ giúp người biết
đẻ cũng đã được Boulbet ghi chép trong công trình của ông[4.b], được một số công trình
gần đây tham khảo và trích dẫn [62], [92]
Motif người lấy vật, người hóa vật rất phổ biến trong truyện kể Mạ-K'Ho Tần
số xuất hiện motif người lấy vật, người hóa vật ở huyền thoại là 9, trong đó có các
tiểu-motif nhỏ như Người lấy khỉ, Người hóa khỉ, Người lấy rắn, Người hóa rắn, Người hóa
voi (cũng là tên tác phẩm).
Trong chuỗi truyện được ký hiệu là MC.14 có tới 6 mẩu truyện A,B,C,Đ,E,F có
sự móc nối nhân vật và cốt truyện Ngay trong MC.14.A, trước khi nói tới việc sinh nở
Rup Rum Rau để có tộc người, nghệ nhân K’NDoch đã mở đầu rằng Quạ làm ra Mặt
Trời, Quạ bắt vợ là Ka Rịt đẻ Ka Rìn Ở trên, chúng ta biết dân gian đã kể về K’Đạ rèn
Mặt Trời, còn ở đây lại nói việc rèn Mặt Trời là do Quạ (Kơn Đạ) Trong tiếng
Mạ-K'Ho, hai từ này phát âm rất gần nhau: Đạ và Kơn Đạ Rất có thể trong tín ngưỡng,
Quạ cũng chính là thần K’Đạ, thần ở trên trời mang lốt chim? Trong sử thi Đam Săn có
tù trưởng chim Ó - mơtao Grứ và tù trưởng Sắt – mơtao M Sây là hai đối thủ đã cướp vợ
Đam Săn và bị chàng đánh bại Tuy nhiên, việc một số tù trưởng hay một số thần linhmang danh động vật chưa đủ để nghiên cứu và khẳng định về vật tổ
Truyện cổ Mạ-K’Ho có các motif người lấy vật, người đẻ vật, vật đẻ người, vật
nuôi người, có motif nhân vật nữ Ka Mài và hoàn cảnh chồng đi vắng… được lặp lại.
Quan hệ tính giao giữa người và vật được tưởng tượng rồi kể lại một cách hồn nhiên,thậm chí được coi là bình thường trong khi nối kết tổ tiên huyền thoại với gia phả dònghọ mà không chút mặc cảm Trong đó có quan hệ người với động vật, với thực vật, cụ
thể là người với cây, không chỉ có motif người đẻ vật, mà còn có motif cây sinh người Ở
đây, còn gì khác hơn là vạn vật hữu linh (có yàng), vạn vật tương giao, sinh thành, biếnhóa lẫn nhau Tín ngưỡng nguyên thủy và quan niệm nguyên thủy về hôn nhân, sinhnở, về sự sống thật mộc mạc và bình dị
Ngay cả khi kể truyện về dòng họ như một gia phả truyền miệng, nghệ nhânK’NDoch vẫn hồn nhiên kể về sự kết hợp giữa các tổ phụ xưa với rắn, với khỉ hay với
cây (M.C.14) Sự hồn nhiên không mặc cảm tự ti khi kể huyền thoại gia phả ấy cho
phép chúng ta tin cậy vào tính chất nguyên thủy của cốt truyện Mối quan hệ sinhthành, biến hóa giữa người và vật rất phổ biến nhưng chưa đủ điều kiện nói đến tô-temgiáo mà chỉ dừng lại ở mức độ khẳng định mối “quan hệ” giữa TỰ NHIÊN – CONNGƯỜI – THẦN-MA trong quan niệm chung về vạn vật hữu linh, vạn vật tương giao
Ngoài ra, trong tương quan người và vật, phải kể tới motif hóa thân của con
người thành động vật Truyện MA.26 kể rằng K’Chiêng đi săn, săn được con dọc-ma,nướng nhưng không dám ăn, ném nó xuống ao Cá trong ao biến thành cá-ma, có những
người khác bắt cá nướng ăn, biến thành khỉ Ở đây có motif biến hóa và motif hóa thân.
Cá ăn dọc ma thành cá ma thuộc về sự biến hóa nói chung nhưng việc người biến thànhkhỉ được xếp vào motif hóa thân - người vĩnh viễn thành động vật, thực vật, sự vật Các
Trang 12motif này tuy xuất hiện chưa nhiều trong huyền thoại nhưng sau này còn gặp lại với tần
số rất lớn trong cổ tích Có tới bốn dị bản nói về việc người hóa voi trong motif hóa thân của “con người” thành “con vật” cùng có chung cấu tạo và chung các motif cấm kỵ à vi
phạm à trừng phạt à hóa thân…
Nhìn chung, motif người hóa vật trong các dị bản này cùng với motif hóa thânthành muối, sắt, cá của các con mẹ Ka Grum, motif hóa thân thành giun, thành cây của
các yàng anh em của K’Đu, K’Đạ… càng khẳng định tầm quan trọng của motif hóa thân
trong huyền thoại Hơn nữa, các motif: người hóa vật, người lấy vật, người đẻ vật, vậtnuôi người…cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với động thực vật, với tựnhiên nói chung Người sống trong rừng, giữa cây cối và muông thú, người tin rằng loàingười cũng chỉ là một trong muôn loài Trong các động vật huyền thoại, sự xuất hiệnnhiều nhất thuộc về nhân vật khỉ trong quan hệ tính giao, sinh nở, biến hóa, giúp đỡ haylàm hại…con người Các truyện và dị bản này đã biểu hiện mối quan hệ giữa các loàicủa tự nhiên, giữa loài người với tự nhiên, nên có thể xếp chúng thành nhóm huyềnthoại về nguồn gốc và quan hệ các loài Trong muôn loài ấy, người gắn với tự nhiên,người chính là tự nhiên
1.1.3 Huyền thoại về nguồn gốc tộc người
Có một số truyện và dị bản kể về K’Vung (K’Bung, K’Bun, K’Bông, …là do phátâm và ghi âm khác nhau chút ít) Việc sáng tạo vũ trụ được gắn với K’Đu, còn việcsáng tạo con người được gắn với K’Bung là nhân vật được coi là kế tục K’Đu để sángtạo con người và các điều kiện cho “nó” sinh tồn K’Đu, K’Đạ và các yàng khác đãsáng tạo thế giới vĩ mô còn K’Bung sáng tạo loài người và một số động vật, thực vật vật
từ trong đất rồi dắt díu loài người trong đất lên trên đất qua hang xưa (trùm yau) Việc
sáng tạo của K’Bung được kể lại qua nhiều bản kể khác nhau Có một số dị bản chủ ýkể riêng về K’Bung (MA.89), thậm chí đưa tên ông vào trong tên tác phẩm Bông ting sò (KĐ.02) và nhiều dị bản khác nhắc tới K’Bung đã sáng tạo ra mọi thứ từ trong
đất, trong lòng đất Theo lối đặt tên cho các nhân vật có tiếng tăm, các thủ lĩnh và cáctổ phụ đều có danh hiệu: Bông Đăm Đung (Dơng, Dong) là K’Bông Lớn, con của Rong Đăm Đu Chưa đủ điều kiện khẳng định K’Bông và K’Đu là thủ lĩnh (pơtao)
được nâng lên đẳng cấp thần hay thần được nhân hóa thành tổ tiên của tộc người
Nhưng lụt lớn đã hủy diệt loài người thứ nhất, loài người hiện nay là loài người
thứ hai được sinh ra sau nạn lụt! Có bao nhiêu dị bản có motif lụt? Vì sao lụt? Ai báo
tin? Nơi tránh lụt? Ai sống sót sau lụt? Cuộc hôn phối sau đó như thế nào? Kết quảsinh ra những tộc nào?… Do tư liệu mới sưu tầm nên trước khi trả lời các câu hỏi ấy, cần
phải giới thiệu các dị bản huyền thoại Rúp Rum Rau (R.1 R.7) trong sơ đồ tóm tắt
sau:
Lụt anh trai + em gái KaGrưm
thuyền KaGrau
Trang 13KaGrúp + Prum → Prum K’Chiêng + K’Giêng KaGrum+ Chau → Kon Chau
KaGrao + Yuôn → Kon Yuôn
R.3 KaRúp + Prum→ Kon Prum
KaRum + Chau→ Kon ChauK’Đạ + Ka Rịt → Ka Rìn + K’Lọt KaRau + Yơn → Kon Yơn
K’Kựm+Gỗ → Rịt,Rìn,Nền,Lòn,Chòn,Mài
R.4 KaGrắp + Prum Prum
KaJong + nước trờ Ka Grum + Chau con chung Chau
Lụt – Pàng Phi + Pàng Phăn KGrưm => Cho
R.6
Pang Phi + Ka Giông KaGrưm => Chau
Lụt - Pang Phan + Ka Giêng KaGro => Yuan
KaEh, KaWan+ CÊru,Tơi (Tây!)
Chú thích: R.1: MA.61 Kon Prum : người Chăm ;
R.2: MB.02 Kon Chau : người Mạ-K'Ho;
R.3: MC14A Kon Yoan : người Việt (Kinh);
Trang 14R.5: KB.18 à : sinh nở;
Motif lụt xuất hiện kéo theo sự hủy diệt hầu hết loài người thứ nhất Nạn hồng
thủy hay đại hồng thủy, theo cách mà chúng ta quan niệm, thực ra là thiên tai lớn trongquá khứ, được nhân lên gấp bội bởi tư duy và nhận thức hạn hẹp về thế giới tự nhiên,
thế giới người mình và thế giới người khác, bởi sức đề kháng nhỏ nhoi của con người
trong đêm tối rừng già nguyên thủy Cái gọi là hủy diệt loài người trong thực tế chỉ làhủy diệt hầu hết thị tộc hay bộ lạc nguyên thủy, hoặc một vùng rộng lớn nào đó được
coi là loài người trong tầm giao du hạn hẹp của mỗi cộng đồng Motif lụt xuất hiện
trong 5/7 dị bản huyền thoại Mạ-K’Ho về nguồn gốc tộc người trong tư liệu của chúngtôi cũng như trong tài liệu đã công bố của người đi trước [91, 11-13] Nguyên nhân lụt
có thể do Trời trừng phạt (KB.18), hoặc do vi phạm điều cấm kỵ là giã gừng với
hành…(KC.25) nhưng phần nhiều không nói rõ nguyên nhân Ở cao nguyên cách mựcnước biển từ 1.500 – 2.000m, hiện tượng này có lẽ là do sự di cư tộc người kéo theo sự
di chuyển cốt truyện và motif
Sự sống sót sau nạn lụt của một (hoặc hai) cặp trai gái là anh (chị) em ruột hoặc
sự xuất hiện của một cặp bà tổ – ông tổ (mò pàng) dù không có lụt đã cho ta hình dung về một thứ hôn nhân đồng huyết – một dạng hôn nhân chắc là phổ biến trong đời sống
nguyên thủy xa xưa của tất cả các tộc người buổi hồng hoang như một quy luật và đã
được phản ánh trong huyền thoại tộc người Motif cặp duy nhất - cái duy nhất đã được
dân gian đưa vào với tình huống bất khả kháng Và họ – cặp tổ tiên huyền thoại ấyphải lấy nhau theo ý chí của thần linh Hôn nhân này là được phép nhằm sứ mạng cứuvãn giống nòi nhưng để tránh sự dị nghị khi kể cho con cháu đã bị cấm bởi luật tục thì
người đời sau phần nhiều tìm cách giải thích tội tổ tông bằng chi tiết lửa khói văng vào nhau, quyện vào nhau… trong khi người Việt giải thích bi kịch nàng Vọng Phu là do sự
nhầm lẫn.
Cặp duy nhất sống sót sau nạn lụt hoặc cặp tổ tiên ban đầu ấy đã sinh nở con
người, đúng hơn, sinh nở các tộc người Cả bảy dị bản đều nhắc tới ba người nữ – ba bà
mẹ tộc người như là biểu hiện sinh động của văn hóa mẹ – bằng chứng của văn hóa
nguyên thủy, của hôn nhân và gia đình mẫu hệ còn tồn tại đậm trong cộng đồng K’Hovà một phần trong cộng đồng Mạ đầu thế kỷ XXI Đó là Ka Grup, Ka Grum, Ka Grau,đôi khi phát âm và ghi chữ sai khác một chút thành Rưp, Rưm, Rao hay Ro Có thể gọi
rút gọn là truyện Rup Rum Rau theo lối nói vắt tắt của cư dân Từ ba người mẹ này đã
thành ra (sinh ra hoặc lấy) ba tộc người hay ba nhóm tộc người cơ bản sau:
• Ka Grup thành [sinh hoặc lấy] Kon Prum : Con Chăm;
• Ka Grum thành [ ] Kon Chau (Cho): Con Người;
• Ka Grau thành [ ] Kon Yoan (Yuăn, Yuôn, Yơn):Con Việt (Kinh).
Chau là người, là khái niệm chỉ người Thượng nói chung trong phân biệt với
Prum và Yoan Kon Chau : Con Người – là cách tự xưng có tính chất tự hào hoặc tôn
kính như các từ nhân, ngài … Để phân biệt các nhóm, người ta thêm vào tên nhóm:
Trang 15Chau Chil, Chau Lach, Chau K Yong, Chau Ma… Dù các công trình dân tộc học viết về
các nhóm K’Ho-Chil, K’Ho-Lạch…trong tộc người K’Ho chung nhưng cơ bản người bảnđịa vẫn tự nhận là Chau Lạch hay Chau Chil mà không nối thêm từ K’Ho vào trước Có
5 nhóm tộc người làm thành tộc người K’Ho mà cư dân 5 nhóm ấy thường không ghépchữ K’Ho vào trước tên nhóm, trong khi đó lại thiếu mất nhóm cơ bản nhất là nhómK’Ho để lấy tên nhóm làm tên tộc người? Vấn nạn này người nghiên cứu văn học dângian không đủ sức trả lời
Trong huyền thoại Chặt cây thần (KC.11) có nói đến việc chia cây, mỗi người
lấy một thứ rồi thành ra các tộc người: người Chil và Lạch lấy gốc, người K Đu lấy
thân, người Yong (K’Dòn?) và người Mạ lấy cành, lấy lá, mỗi người đi một nơi sốngđến ngày nay Người K’Đu phải chăng là người coi mình là con cháu Yàng K’Đu nói
trên, có phải là nhóm chính trong K’Ho? Trong truyện Đắp núi Lơm Biang, dân gian kể
rằng người Đu và người Lạch rủ nhau đắp núi Có thể có nhóm Đu, với tổ phụ (pàng
yau) N’Đu mà người sưu tầm nghiên cứu tưởng đó là yàng tối cao chăng? Người Mạ
cũng là Kon Chau, khi cần cụ thể thì xưng là Chau Mạ.
Cả bảy dị bản huyền thoại tộc người của người Mạ và K’Ho đều nhắc tới ngườiChăm và người Kinh Đó là bằng chứng sinh động cho sự giao lưu văn hóa tộc người.Rõ ràng yếu tố Chăm và Việt là văn hóa muộn, thuộc lớp văn hóa mới bồi đắp chohuyền thoại tộc người của người Mạ-K'Ho
1.1.4 Huyền thoại về nguồn gốc địa danh
Có hai dị bản Sự tích suối Đạ R nga (MA.14 và MC13) Dạ hoặc dà (Việt hóa:
đà) là nước, Nga là tên nhân vật được gắn vào làm tên suối, tương tự như trong Sự
tích thác Đạ M Bri (MC32; MC42) Cả hai dị bản về thác Đạ M’Bri do tập thể chúng
tôi sưu tầm ngay ở các làng Mạ gần dòng thác đẹp nổi tiếng này Một mặt là sưu tầmngẫu nhiên như đối với mọi thể loại khác, địa phương khác, mặt khác cũng muốn tìmxem thật sự là có hay không một truyện tình cảm động giữa chàng Đam và nàng Brinhư thuyết minh tại khu du lịch Nhưng dân Mạ không ai biết một chuyện tình như vậy
Đăm hay Đam (Dam) là chàng trai, thường gắn với nhân vật quyền thế hoặc tài năng
như Đăm San, Đăm Thang, Đăm Tho, người bình thường chỉ được gọi là K’Wy hay Ha
Jai… Vì vậy, không thể có một chàng trai hay một tù trưởng lại có tên là Dam (Đam, Đăm) nghĩa là Chàng! Bri (Brê) là rừng, nên trong hai dị bản trên, một dị bản gọi chàng trai là Bri, thác nước và dòng suối gắn tên chàng là Đạ M Bri (nước M Bri, suối Bri,
thác Bri) Còn ở dị bản kia thì tạm chấp nhận là Đam Bri (Chàng Bri; Chàng Rừng) theo
lối đặt tên tác phẩm và nhân vật như truyện Đam B ri mang yếu tố truyền thuyết của
người M’Nông Như vậy, theo thiển ý của tôi, từ Đà M Bri vừa nối âm vừa phổ thông
hóa thành Đam Bri Việc Đắp núi Lang Bian và việc làm ra các suối, các thác mang
tên nhân vật trong truyện có tính chất sáng tạo núi sông được tạm xếp vào huyền thoại,chờ tìm thêm dị bản và tác phẩm khác để nghiên cứu thêm
Trong các sự tích sông suối, điểm thống nhất là motif bầu nước thiêng Chàng
Trang 16trai đi săn, tìm nước uống hoặc bắn vào bầu nước lạ, bọc nước thiêng, mà thực ra banđầu cũng không biết là vật gì Nước bắn tung toé, chàng bỏ chạy, nước đuổi theo.
Chàng quá mệt và nằm nghỉ, trong giấc ngủ được thần báo mộng xưng mình là nước
nhỏ, con của mẹ Đờng Nai hoặc mẹ nước lớn Đạ Đờng bị lạc, nhờ người đưa về gặp mẹ.
Đi mãi rồi chàng trai chết, tạo ra sau lưng mình dòng thác, dòng suối, người ta lấy tên
chàng đặt cho thác hay suối đó Các motif chính: người đi săn, bầu nước thiêng, thần
báo mộng… là điểm chung của các truyện và dị bản liên quan đến sự tích sông suối Cốt
truyện đơn giản, nhân vật rất ít, liên quan nhiều đến tự nhiên, ít hoặc không liên quanlắm đến sinh hoạt, phong tục hay lịch sử Vì thế mà tôi đã xếp những truyện như vậyvào huyền thoại núi sông
1.2 CỔ TÍCH MẠ-K HO
Về thể loại cổ tích, có nhiều định nghĩa khác nhau Trong Từ điển văn học, nhà
nghiên cứu Chu Xuân Diên nêu những nội dung đã ít nhiều thống nhất [54, 204]
Các nhà nghiên cứu cũng cơ bản thống nhất rằng cổ tích ra đời trong xã hội nguyênthủy và phát triển mạnh trong xã hội có giai cấp, đối với người Việt là xã hội phongkiến kéo dài mãi đến 1945 Qua nhân vật mồ côi và cổ tích về nhân vật mồ côi, thườngphản ánh những tín ngưỡng, phong tục tập quán, quan hệ gia đình và xã hội và cũng có
ý kiến cho rằng nó phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội…[41, 322]
Xét về loại hình, trong tư liệu mới sưu tầm có 268 “văn bản” thuộc thể loại cổ
tích (tính cả dị bản), trong đó có 116 cổ tích về nhân vật mồ côi;107 cổ tích về nhân vật
mang lốt; 45 cổ tích về nhân vật malai Phân loại này theo nhân vật chính, không kể
nhân vật mồ côi xuất hiện trong cổ tích về nhân vật mang lốt và ngược lại Thể loại cổtích chiếm hai phần ba trong tổng số 384 truyện và dị bản truyện cổ Mạ-K'Ho
1.2.1 Cổ tích về nhân vật mồ côi
1.2.1.1 Các kiểu nhân vật
* Mồ côi-bất hạnh là kiểu nhân vật mồ côi thứ nhất Đó là những con người bình
thường trong cộng đồng, nhưng không may bị mất cha hay mẹ, hoặc mất cả cha lẫn mẹ,sống một mình trong túp lều cũ, trong rẫy cũ, trong rừng, xa lánh mọi người hay bị mọingười xa lánh Nhân vật mồ côi cũng có thể sống với mẹ, với bà, cơ bản là sống mộtmình, các trường hợp nhân vật sống với anh, chị, cậu ruột hay cậu họ không đáng kể.Trong truyện cổ tích, dân gian có nói đến cái đói, sự thiếu ăn, thiếu lúa gạo của cộngđồng hoặc của nhân vật, nhất là khi kể về cảnh ngộ của nhân vật mồ côi Trong cái đóichung của cộng đồng, cái đói của mồ côi là một trong những biểu hiện của cảnh ngộ mồcôi trong mở đầu tác phẩm Dân gian không dành nhiều lời cho sự miêu tả cảnh ngộ banđầu của nhân vật, mô tả là đặc điểm thi pháp của sử thi chứ không phải của thể loại cổtích Nhìn khái quát, cuộc đời nhân vật mồ côi ban đầu là: nghèo hèn, đói khổ, bấthạnh Các nhân vật mồ côi này là những con người thật thà, tốt bụng, siêng năng, tạo
thành kiểu nhân vật mồ côi chủ yếu, có thể gọi là mồ côi-bất hạnh.
Trang 17* Mồ côidũng sĩ là kiểu nhân vật mồ côi thứ hai tạo nên type truyện dũng sĩ
-diệt ác - cứu người Đó là kiểu nhân vật vừa mồ côi vừa là dũng sĩ, có thể gọi là mồ dũng sĩ (nếu đặt bên cạnh các kiểu nhân vật mồ côi) hay dũng sĩ-mồ côi (nếu trong
côi-tương quan với các dũng sĩ khác) Các dũng sĩ mồ côi diệt ác cứu người, cụ thể là đã
diệt cọp, diệt lươn, diệt đại bàng, diệt các loại ma quái Với dũng sĩ mồ côi, ngoàinhững phẩm chất tốt đẹp của nhân vật mồ côi, còn có thêm tính cách anh hùng, mụcđích cao cả trong các hành động kỳ vĩ, khá gần gũi với nhân vật anh hùng của sử thi.Các dũng sĩ đã chiến thắng các kẻ thù dù đó là ác điểu, ác thú, ác thần – ma quái,chiến thắng cả Mặt Trời nếu ông thần này đóng vai kẻ ăn thịt người, bắt con người cống
nộp cho mình các cô gái đẹp Tiêu biểu là Tis Tơli và bè bạn của anh trong các dị bản
cùng tên
* Mồ côi-lười biếng là kiểu nhân vật mồ côi thứ ba, thường là con trai, xuất hiện
trong 8 dị bản với cái tên gọi có nghĩa là “tro bếp” như K’Bo, K’Bâu, Ha Bo, K’Buh…là những cách phát âm địa phương của một từ Truyện kể dân gian cũng đề cập đếngiấc mơ no đủ của nhân vật, ngay cả nhân vật mồ côi lười…
* Mồ côi-đặc biệt là kiểu nhân vật mồ côi thứ tư - những đứa con không cha hoặc
con không me, chỉ đặc biệt ở nguồn gốc xuất thân Con không cha thực ra là không xác
định được cha, có thể coi là loại mồ côi đặc biệt, thường ở với mẹ hoặc bà Con không mẹ là nét riêng của nhân vật mồ côi và là đặc sản trong truyện cổ tích về mồ côi của
người Mạ-K'Ho Đó không phải là là con mồ côi mẹ, mà thực sự là không do mẹ sinh
ra, không hề có mẹ bình thường như những trẻ khác, do người cha kết hợp với tự nhiên
mà sinh ra Trong tư liệu hiện có 4 dị bản của truyện Kon K Lach (I,II,III,IV).
1.2.1.2 Vai trò của yếu tố thần kỳ
Cuộc đời mồ côi sẽ là chuỗi đau khổ nếu không có sự xuất hiện của yếu tố thần
kỳ, yếu tố này có thể xuất hiện trong mở đầu và kết thúc truyện nhưng đậm đặc nhất là
trong diễn biến cốt truyện Với huyền thoại thì thần kỳ là bản chất nên không sử dụng khái niệm yếu tố thần kỳ cho thể loại huyền thoại.
Yếu tố thần kỳ hay cái thần kỳ xuất hiện trong hầu hết các cổ tích Mạ-K'Ho nói
chung và truyện về nhân vật mồ côi nói riêng đến mức trở thành một đặc điểm nộidung-nghệ thuật quan trọng Do nhu cầu cần phải so sánh những motif ấy trong nhiều
loại truyện khác nhau nên tác giả tạm phân loại và xác định tên motif: thần báo mộng,
sự biến hóa, ăn uống-sinh con, dây bầu thiêng, bầu lúa thiêng (trong tương quan bầu mẹ, bầu con, bầu thuyền…), motif về trời (vừa là motif hành động vừa gợi đến một không
gian thiêng)… Nếu tính cả motif hôn nhân thần kỳ thì có 185 lượt motif liên quan đến cái
thần kỳ trong truyện về nhân vật mồ côi Xét về sự trợ giúp của yếu tố thần kỳ, nhiều
nhất vẫn là motif thần báo mộng Với 116 truyện về nhân vật mồ côi mà có tới 83 lần
xuất hiện motif thần báo mộng là một tần số rất lớn
Trong cõi tâm linh, cư dân đã từng hình dung về sự linh thiêng, tính chất có yàng
Trang 18của cây cỏ, chim muông, thần linh Trong tín ngưỡng bản địa cũng như trong huyềnthoại và cổ tích, ý niệm về yàng rất rộng Yàng có thể là thần – những người có sứcmạnh hơn người, sống ở các bon riêng nhưng thấu hiểu nỗi thống khổ của mồ côi và ratay giúp đỡ Mặt Trời cũng là một trong những loại thần, nhưng trong hiện thực thì chỉcó một Mặt Trời, còn trong cổ tích có rất nhiều thực thể Mặt Trời sống ở bon Mặt Trời.Bon ấy, theo tư duy truyện cổ thì ở trên trời cao, hoặc ở trên cùng nguồn nước, hoặc ở
xa phía ngoài biển… Con người có thể bay tới đó nhờ cành cây hay con chim thần, ngựabay Dù ở đâu, Mặt Trời cũng giúp cho mồ côi những công cụ sản xuất linh nghiệm, cácvũ khí thiêng có khả năng biến hóa, các quả bầu hay hạt giống trồng thành bầu nhưngnở ra lúa, hoặc cho con trai, con gái xuống trần giúp đỡ mồ côi Có lúc nói là con của
Mặt Trời, có lúc chỉ nói là con yàng chung chung.
Các yàng đa phần xuất hiện trong giấc mơ, khi nhân vật mồ côi ngủ mệt, ngủ đóihay lạc đường ngủ trong rừng, trên tảng đá, dưới gốc cây Thần đến trong mơ, khuyênnhân vật nên hành động như thế nào và tỉnh dậy nhân vật đã làm theo thì được như ý.Vai trò của giấc mơ và niềm tin vào sự báo mộng là có thật trong tín ngưỡng dân giandù là dân gian nguyên thủy hay thậm chí cả trong dân gian thời hiện đại Những ấntượng, ám ảnh lúc thức có thể xuất hiện trong giấc ngủ, những ao ước có thể “hiện thực
hóa” trong giấc mơ… Và người ta đã tin, khiến cho hình ảnh giấc mơ và motif thần báo mộng xuất hiện trong cổ tích với tư cách là một trong những biểu hiện của yếu tố thần
kỳ, là biểu hiện với tần số lớn nhất
Motif nhân vật lươn thần cũng là một trong những motif đáng lưu tâm Trong tổng thể các biểu hiện của yếu tố thần kỳ thì lươn thần là nhân vật thần mang lốt nhưng
không cởi lốt, chỉ là nhân vật phụ, nhân vật phù trợ cho mồ côi Nhân vật mồ côi xúc cáchỉ được một con cá trắng, cá nhỏ, hoặc phần nhiều xúc được con lươn nhỏ Chàng nuôilươn lớn, lươn thần đã biến hóa nhiều lần để giúp nhiều lần, đồng thời nhân vật phảndiện cũng liên tục bắt chước mồ côi để ép lươn thần phải giúp, nhưng nhân vật phảndiện luôn luôn thất bại
Đền vật thiêng cũng là một motif quan trọng mà nguyên nhân phần lớn được giải thích bởi motif trước đó là cây sống lại Cứu rắn - con vua Thủy Tề thì Sơn Tinh –
Nguyễn Tuấn được tặng sách ước; cứu con vua Thủy Tề, Thạch Sanh được tặng đàn
thần và niêu cơm thần… Đó là sự trả ơn thuộc motif sự ban tặng vật báu, motif này xuất
hiện trong cổ tích người Việt không nhiều lắm Ở cổ tích Mạ-K'Ho về nhân vật mồ côi
thì vật thiêng cũng có thể được thần ban tặng (sự ban tặng bầu thiêng, phép thiêng, bùa
ngải…), nhưng đa phần được bố trí liên quan đến chuỗi sự việc và hành động trước đó.Chàng mồ côi sống trong rừng, lạc trong rừng, bị bỏ rơi trong rừng hay bị xua đuổi vàorừng Chàng chặt cây làm nhà, hay làm rẫy nhưng sau một đêm, cây liền gốc trở lại
như cũ (cây sống lại), rình bắt được khỉ, dọc, vượn (họ khỉ), đòi giết con đầu đàn và buộc lòng khỉ đền chiêng để được tha mạng Khỉ là motif nhân vật phổ biến trong huyền thoại, cổ tích, truyện hài-ngụ ngôn Mạ-K'Ho, phát sinh motif khỉ đền chiêng trong tổng thể motif đền vật thiêng Vật thiêng ở đây có thể là gươm thần, trống thần, đa phần là
Trang 19thiêng, nhưng không phải thần linh ban tặng mà chủ yếu là nhân vật mồ côi đã đoạt lấy,
đã buộc kẻ phá hoại phải nộp vật báu cho mình để được chàng tha mạng nên không gọi
đó là sự ban tặng vật báu Nếu đặt trong bối cảnh chung của thể loại cổ tích thì cũng có thể coi đền vật thiêng như một trong những biểu hiện của sự ban tặng vật báu.
Các dũng sĩ mồ côi đã sử dụng phương tiện thần kỳ như một vũ khí hiệu nghiệmđể tiêu diệt các kẻ thù, cứu người đẹp hoặc cứu cộng đồng Qua một số nhân vật mồ côicó tính cách dũng sĩ (12 nhân vật) đã có dấu hiệu tạo thành một type truyện riêng, tác
phẩm tiêu biểu là truyện kể về dũng sĩ Tis Tơli ( 8 dị bản).
1.2.1.3 Kết thúc có hậu
Với sự giúp đỡ trực tiếp của nhân vật thần hoặc vật thần kỳ, hoặc giúp đỡ giántiếp qua 83 lần thần báo mộng…nhân vật mồ côi đã thay đổi hoàn toàn số phận cuộc đờimình Yếu tố thần kỳ có thể được xét từ văn hóa tâm linh-tín ngưỡng như một nội dungcổ tích, nhưng mặt khác, có thể xem đây là thủ pháp phát triển cốt truyện, trợ giúp nhânvật chính-chính diện, dẫn tới kết thúc có hậu cho truyện về nhân vật mồ côi
Trước hết là sự thay đổi của mồ côi về tài sản và địa vị Nhân vật mồ côi vốn rấtnghèo, nghèo nhất trong hiện thực đời sống và trong khởi đầu tác phẩm thì nay đã no đủ
và giàu có cho mình và cho bon làng Giấc mơ no đủ và giàu có thể hiện qua motif quả bầu thiêng Quả bầu trong huyền thoại của các tộc người Đông Nam Á có thể là quả
bầu- mẹ, quả bầu- con hoặc quả bầu-thuyền Trong truyện cổ tích Mạ-K'Ho rất phổ biến
motif quả bầu-của cải Từ quả bầu thần cho hay từ quả bầu do mình trồng đã nở ra lúa,
hoặc lúa và đồ dùng, nhân vật đã trở nên no đủ, giàu có, lại còn làm cho bon làng no đủvà giàu theo
Có nhiều trường hợp, dân gian thay motif quả bầu thiêng bằng motif cái chiêng
thần hoặc cái gươm thần Kết thúc có hậu với sự thay đổi về tài sản đã cho thấy tầm
quan trọng của giấc mơ no đủ hoặc giàu có của cư dân Dân gian không mơ những cáiviễn vông, xa xỉ mà chỉ mơ những cái cốt yếu cho cuộc sống con người như ẩm thực,trang phục, nhà cửa, dụng cụ sản xuất, binh khí… Giấc mơ trong văn chương liên quanđến khát vọng đời thường, giấc mơ và sự sáng tạo văn chương xuất phát từ hiện thựccuộc sống của cư dân, từ cái đói, cái rét, cái gian khổ có thật Có thể nói đến một giấc
mơ ẩm thực của cộng đồng qua truyện cổ tích, gọi theo một chi tiết đã thành “điển tích”
là giấc mơ Thạch Sanh.
Không chỉ no đủ, giàu sang, mồ côi còn có hạnh phúc tuyệt vời qua motif kết hôn Trong các dạng hôn nhân thường gặp trong tác phẩm, hôn nhân thần kỳ (người lấy
Trang 20thần) chiếm ưu thế: 30 trường hợp, đó là ước mơ, là sự lý tưởng hóa mang màu sắc lãng
mạn
Có một dạng hôn nhân mang tính thực tế là hôn nhân giữa con cô và con cậu,
chủ yếu là con trai cô lấy con gái cậu Thứ hôn nhân này hợp luật tục mẫu hệ theohướng củng cố dòng mẹ và tục bắt chồng Dù người cậu tốt hay người cậu xấu, nếu mồcôi đã ưa thích con gái cậu thì cháu trở thành con rể cậu Con gái cậu cũng chấp nhậnđiều này một cách tất yếu Thậm chí, người cậu đã chủ động đứng ra tố chức lễ ăn trâu,làm đám cưới cho cháu và con gái mình dù trước đó tình cảm cậu cháu không tốt Motif
kết hôn là một trong những motif kết thúc truyện cổ tích về nhân vật mồ côi, một trong
những cách ban thưởng hạnh phúc cho nhân vật này
Motif người sống lại có thể kết hợp với motif sự biến hóa nếu mồ côi nghèo
nàn, thiếu ăn, thiếu mặc, ở bẩn, xấu xí… Sự thay đổi hình thức bên ngoài của nhân vậtmồ côi cố nhiên không thể so sánh với nhân vật mang lốt nhưng không phải là khôngcó Các nhân vật như Tis Tơli được hưởng sự thay đổi này do tài năng và chiến công củamình
Motif nhận người thân có thể xuất hiện cuối tác phẩm Đứa cháu mồ côi lưu lạc
lâu năm, đàn con bị đuổi vào rừng, bị bỏ trong rừng hay lạc trong rừng nay tìm về nhậncha, nhận bà, nhận họ hàng Thủ tục được nhắc tới trong các tình huống đó là: nấu cơmnếp, luộc trứng gà, ném lọt miệng mới nhận người thân, trái lại bị coi là ma qủy - kẻ giảmạo… Tuy nhiên, từ ngày điền dã sưu tầm đến nay tôi chưa được chứng kiến trường hợpnào trong thực tế
Motif sự tha thứ trong kết thúc có hậu là một trong những đặc điểm của cổ tích
Mạ-K'Ho, do tính chất phổ biến của nó nên cơ bản không trình bày motif này Đối với
nhân vật phản diện, phần lớn nhân vật mồ côi đã tha thứ cho cậu và những kẻ từng làm
khổ mình nhưng đối với ma quái hoặc những kẻ hại chồng - cướp vợ hoặc hại vợ - cướp
chồng đều bị trừng phạt bởi vũ khí, mưu mẹo, phép thiêng (Xung Bang kon Yôn
-MĐ.18)
Motif sự trừng phạt theo lối tự trừng phạt là kết cục dành riêng cho một số nhân
vật cậu, thường là chết do tham thì thâm và chỉ có 18/116 truyện có sự trừng phạt Đó
là tự trừng phạt xét từ nhân vật phản diện nhưng nếu xét từ cách nhân vật rơi vào cáichết, vào cái bẫy của y theo sự bố trí của tác giả dân gian thì cũng có thể xếp nhữngtruyện như vậy vào số tác phẩm có sự trừng phạt
Trường hợp các nhân vật mồ côi là con không mẹ thì người vợ của cha bị phạt
bằng các hình thức như gặp mưa gió dọc đường đi, bị con heo con gà vạch mặt khimang bánh cám, bánh trấu đi dự tiệc, hoặc bắt ăn cháo sừng trâu, dọc đường về khátnước mà chết Dù sao, mồ côi cũng không tự ra tay giết người mẹ hờ ấy dẫu cho bà ta
đã từng nhiều lần xui chồng mình bỏ con trong rừng Còn người cha, qua motif dây bầu thiêng mọc dài ra hay co ngắn lại, lùi dần, cha tìm được con mình nay đã giàu có.
Motif về trời chủ yếu xuất hiện trong kết thúc truyện Nhân vật mồ côi sau
Trang 21những đau khổ, sau những chiến công, có thể ở lại chung sống với người thân và caiquản bon làng cũ hay bon mới nhưng trong 18 truyện nhân vật trở về trời sau khi giaobon làng giàu có cho cậu và mọi người Với một quan niệm rộng rãi và khá hồn nhiênvề các không gian thiêng tương tự không gian người, cũng là một bon khác nhưng giàucó, hạnh phúc và bất tử, tác giả dân gian đã để cho mồ côi về trời hưởng hạnh phúc vĩnhhằng Sự thăng hoa trong tưởng tượng nghệ thuật kết hợp với lòng nhân ái của mìnhgiành cho mồ côi, niềm mơ ước cho cộng đồng và cho chính mình khiến tác giả di
chuyển nhân vật của mình về cõi trên Cho nhân vật về trời là một trong những cách
kết thúc viên mãn truyện về nhân vật mồ côi và cũng là motif cuối cùng trong chuỗihành động, sự kiện và quan hệ của truyện cổ tích
Với một xã hội tiền giai cấp, đang trong quá độ từ nguyên thủy bước thẳng lên xãhội hiện đại, bỏ qua nhiều phương thức sản xuất, nhiều hình thái kinh tế-xã hội nhưngtruyện về nhân vật mồ côi sưu tầm được nhiều nhất và nhân vật mồ côi xuất hiện với
tần số cao nhất trong cổ tích Mạ-K'Ho Từ đó có thể khẳng định vấn đề thứ nhất: mồ côi là vấn đề con người, cho mọi thời kỳ lịch sử, mọi giai cấp, mọi tộc người Vấn đề thứ
hai là: truyện về nhân vật mồ côi và cổ tích nói chung không chỉ ra đời trong xã hội
nguyên thủy mà còn có thể phát triển ngay trong xã hội ấy, ít nhất là những xã hội tộc
người kéo dài một cách không bình thường hình thái kinh tế -xã hội nguyên thủy và hônnhân gia đình nguyên thủy như xã hội các tộc người Tây Nguyên
1.2.2 Cổ tích về nhân vật mang lốt
Trong cổ tích, nhân vật mang lốt là nhân vật có tầm quan trọng không kém nhânvật mồ côi Đối với cổ tích người Việt, tính trong những tuyển tập cổ tích đã công bố,
những truyện như Sọ Dừa rất hiếm, vậy mà trong cổ tích Mạ-K'Ho lượng truyện có
nhân vật mang lốt rất nhiều Chỉ tính riêng tư liệu mới sưu tầm đã có 107 truyện và dịbản về nhân vật mang lốt
1.2.2.1 Cơ sở xuất hiện nhân vật mang lốt
a Môi trường tự nhiên
Cư dân Mạ-K'Ho cũng như các tộc người Tây Nguyên cách nay không lâu lắmtừng sống cuộc sống trong rừng, giữa cây cối, chim chóc và muông thú Nền kinh tếnguyên thủy là nền kinh tế theo phương thức chiếm đoạt với các thao tác săn bắt, hái
lượm là chính Người dân ăn rừng là ăn những thức có sẵn từ thiên nhiên, là chặt cây,
đốt rẫy và gieo trồng lúa, bắp, cà, ớt Từ cuộc sống chan hòa với tự nhiên đã nảy sinhnhững ý tưởng, những cảm xúc về tự nhiên và về mối quan hệ gần gũi giữa con ngườivới tự nhiên Phương thức kinh tế chiếm đoạt còn để lại dấu vết trong truyện kể dângian, tên nhân vật và hình đáng nhân vật cũng liên quan sinh hoạt kinh tế của cư dân
“ăn rừng”: nàng Dưa, chàng Dừa, chàng Xoài, chàng Đu Đủ, chàng Tôm, chàng Cóc,
nàng Chuối…
b.Tín ngưỡng nguyên thủy
Trang 22Người nguyên thủy quan niệm trong mỗi vật dù động vật hay thực vật cũng có
một cái gì đó mang tính chất thiêng – có yàng Yàng trong trường hợp này không phải là
thần mà là thiêng – một tính từ chỉ tính chất có yàng mà theo quan niệm chung có thể
gọi là vạn vật hữu linh Từ chỗ mọi vật có yàng, theo thời gian và sự phát triển của tưduy, của sản xuất và xã hội, dần dần chỉ còn một số vật nào đó, một số chỗ nào đó cótính cách thiêng, thế là thu hẹp lại thành vật thiêng Tiếp đó, một số thế lực thiên nhiênđược thần hóa và nhân hóa thành thần có tính cách thiêng, tính cách người dù vẫn giữlại tính chất tự nhiên Các vật có quan hệ với nhau và với người: biết tiếng người, nóichuyện được với nhau, người lấy vật, đẻ vật, hóa vật và ngược lại Phía trong cái áo vậtcó thể là con người, thậm chí là người hoàn hảo nhất Một động vật chỉ là con vật trongmắt người thường, nếu con người được bôi mắt, tắm, rửa mắt bằng ngải thì lại có thểnhìn động vật ấy như một con người
c Quan niệm về sự sống
Trong tầm nhận thức hạn chế buổi ban sơ, tổ tiên mọi tộc người thuở ấy khôngthể hiểu hết về nguyên nhân nảy sinh mầm sống trong cơ thể người nhằm bảo toàn nòigiống người Người ta tin về sự tác hợp, chi phối của thế lực thiêng nào đó để con ngườikết hợp với nhau mới có con Một thức ăn, thức uống nào đó có thể làm con người cómang và sinh nở, không nhất thiết là phải có hay chỉ có quan hệ tính giao mới có thể
sinh con Cây có thể sinh người vì trong cây có yàng, có khi là motif cây, có lúc lại là
motif quả – cũng là bộ phận cây rừng Một chút nước, một miếng quả – nguồn thức ăn
thực vật có thể khiến cho nhân vật có thai và sinh nở con người bình thường hoặc nhiềukhi mang lốt quả Đó không chỉ nói lên quan hệ giữa người với cây trái, với rừng, với tự
nhiên mà còn thể hiện quan niệm về nguồn gốc sự sống, về sinh nở con người Motif ăn
uống sinh con phổ biến trong cổ tích về nhân vật mang lốt.
Có những nhân vật nữ đi canh rẫy, ngủ ở lúp lều trong rừng, đã chủ động rủ
chàng trai lạ vào chòi hay mời về nhà mình Và nhiều nhân vật nữ bỗngï nhiên có mang,các cô giải thích với cha mẹ là do ăn uống phải một thức gì đó trong rừng Đó là sự trảlời của nhân vật, đó cũng là cách giải thích của các tác giả dân gian về nguyên nhânsinh nở, là quan niệm của dân gian về nguồn gốc sự sống con người
d Hiện thực cuộc sống
Một cuộc sống nghèo nàn, đói rét và bệnh tật đã làm xuất hiện trong đời thựcnhững quái thai, những em bé tàn tật bẩm sinh, những người bệnh cùi cụt ghẻ lở trongquá trình sống, những người già trước tuổi hoặc khó xác định tuổi (khi nhà nghiên cứulà người ngoại tộc) Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng làm xuất hiện các nhânvật mang lốt, thường là lốt dị dạng và lốt người già trong cổ tích
e Đạo lý dân gian
Đạo lý dân gian với tấm lòng thương yêu, sự quan tâm và niềm ao ước đổi đời
Trang 23cho mình và cho nhân vật bất hạnh cũng là một nguyên nhân Nếu không thương yêu,không khao khát đổi thay, nếu bằng lòng với thực tại, nếu thờ ơ với khổ đau của đồngloại làm sao nhân vật mang lốt lại được quan tâm xây dựng thành công với tỉ lệ lớn nhưvậy.
1.2.2.2 Các kiểu nhân vật mang lốt
a Thần mang lốt
Thần nói chung, hoặc thần Mặt Trời cho con mang lốt con người hoặc động vậtđể giúp đỡ nhân vật mồ côi, hoặc giúp nhân vật nói chung Thần xuất hiện như mộtnhân vật tí hon nằm trong bầu nhỏ vốn là con trai Mặt Trời xuống làm bạn với người
con gái bị bỏ rơi trong rừng (Người trong bầu) Thần có thể mang lốt người già để thử
thách lòng hảo tâm của con người theo công thức mà Bụt, Tiên đã tiến hành trongtruyện cổ tích của người Việt
b Người mang lốt
Dạng thứ nhất của người mang lốt là những nhân vật bị tật bẩm sinh, hoặc bị
những thứ bệnh hay gặp ở vùng núi rừng, kể cả hôm nay Các nhân vật cùi, cụt, ghẻ lở
bị cộng đồng ruồng bỏ vì sợ lây nhiễm, phải sống riêng trong rẫy cũ, nơi cái chòi nhỏtrong rừng K’Tàr trong 11 dị bản cùng tên là kiểu nhân vật như vậy
Dạng thứ hai của người mang lốt là các nhân vật do mẹ ăn uống, mang thai bất
thường rồi sinh nở ra những đứa con mang dáng dấp tương tự như thức mà mẹ đã ănuống trước đó Cũng có khi Ka Vìng (Ka Bìng) ngủ với tất cả trai làng, sinh một ngườimột heo…
c Ma mang lốt
Ma mang lốt như một cách tiếp cận để làm hại con người, nhằm hại chồng - cướpvợ hoặc hại vợ - cướp chồng với tư cách là kẻ giả mạo Có khi ma mang lốt con người,nhưng cũng nhiều khi ma mang lốt khỉ và các động vật khác
Vì có ba kiểu nhân vật : người mang lốt, thần mang lốt, ma mang lốt nên tôi
không gọi các truyện này là cổ tích về người mang lốt, người đội lốt, hay người xấu xí
mà tài ba như nhiều nhà nghiên cứu đã định danh mà dùng thuật ngữ nhân vật mang lốt
để chỉ loại nhân vật này, dù vẫn ưu tiên sự chú ý đến người mang lốt.
1.2.2.3 Các dạng thức lốt
a 70 nhân vật mang lốt động vật, trong đó có 4 trường hợp là mượn áo vật để mặc Các
nhân vật mang lốt động vật như khỉ, tôm, chồn, đỏ…, vì vậy mà tên nhân vật và têntruyện cũng là tên cái lốt ấy
b 22 nhân vật mang lốt dị dạng chủ yếu là cụt tay chân do bệnh cùi như K’Tàr (11 dị
bản) và người lùn, tí hon, tiêu biểu là nhân vật Sar Đèn
Trang 24c 20 nhân vật mang lốt sự vật, ví dụ Chàng Mâm, Chàng Lồ ô trong tác phẩm cùng tên Riêng 12 dị bản Nàng Ngà thì đặc biệt hơn Nàng có xuất xứ động vật: từ ngà voi
“chui” ra, nàng mang lốt ngà voi nhưng không phải là lốt con voi, nên khó xếp nhân vậtvào lốt động vật, đành phải tạm xếp vào dạng thức lốt sự vật
d Chỉ có 9 nhân vật mang lốt thực vật, nhân vật ở trong các lốt quả như dưa, dừa, chuối, cam, đu đủ…Tên nhân vật chính và tên tác phẩm bộc lộ rõ dạng thức lốt: Chàng Dưa, Nàng Chuối
e Có 5 nhân vật mang lốt đặc biệt này, có khi tên tác phẩm và nhân vật được gọi thẳng
là Ông già ( Krăh)ø Đây là dạng thức “mới” so với các dạng quen thuộc trong các
truyện đã công bố, không thể xếp vào lốt dị dạng vì già lão là đặc điểm của con người
Ở đây là cái áo già, thần hoặc người mặc vào để tạm thời che mắt mọi người, thử tháchcái nhìn của nhân vật khác
Nhìn chung, các dạng thức lốt chủ yếu liên quan đến giới động vật quen thuộccủa núi rừng, với nền kinh tế săn bắt nguyên thủy, với những cây quả mà con người háilượm được trong rừng, trên rẫy, có cả những thứ con người trồng được Dạng thức lốt
phong phú nhưng nhiều nhất là lốt động vật.
1.2.2.4 Các motif chủ yếu
a Sinh nở thần kỳ
Biểu hiện cụ thể của motif sinh nở thần kỳ là motif ăn uống sinh con đã xuất
hiện 27 lần, nằm ở vị trí thứ 4 trong bảng thống kê motif của nhóm truyện về nhân vậtmang lốt Thức ăn mà một hay hai cô gái trẻ ăn phải trong rừng là những quả hay convật quen thuộc của núi rừng, gần gũi với phương thức kinh tế chiếm đoạt Nếu ngườicha mang lốt làm cho người mẹ ăn uống rồi mang thai sẽ sinh ra những người con bìnhthường, nếu người cha không xác định, mẹ tự nhiên ăn uống rồi mang thai sẽ sinhnhững đứa con mang lốt Có vài ba trường hợp người mẹ chửi trời khi phơi lúa, hoặcnhặt được hòn đá của trời rồi dắt vào váy…cũng có mang Đó là sự hôn phối với thần
linh một cách gián tiếp Ăn uống sinh con hoặc phơi lúa sinh con là cách lý giải hồn
nhiên nhất về nguyên nhân mang thai và sinh nở
b Sự cởi lốt
Đó là motif bắt buộc đối với loại nhân vật và nhóm truyện này Nhân vật cởi lốt
để săn bắt, hái lượm hoặc phát rẫy trồng lúa trồng bầu Nhân vật cởi lốt để thổi kèn,đánh chiêng, dự hội, uống rượu, ăn trâu Nhân vật cởi lốt để tắm rửa, sinh hoạt Nhânvật còn cởi lốt để “động phòng hoa chúc trong tân hôn, vì hôn nhân Những lý do cởi lốtthật chính đáng: sản xuất, văn nghệ, lễ hội, sinh hoạt và hôn nhân Lốt thực ra gần như
là cái áo: mặc vào thành vật, cởi ra là người – mà là người đẹp Những dị bản Mặc áo vượn cho thấy rõ quan niệm mộc mạc, hồn nhiên về cái áo mặc tạm Vì thế, khi đã cởi
lốt thành người đẹp, nếu sơ ý là có thể bị kẻ giả mạo mặc áo đẹp của mình và thế chỗcủa mình để hại mình mà cướp chồng hay vợ
Trang 25Nhân vật mang lốt về cơ bản là đã có phẩm chất khoẻ – tài – tốt, bây giờ cởi lốtcó thêm cái đẹp Dân gian thường nhấn mạnh phẩm chất bên trong, những phẩm chấtquyết định một con người, nhưng dân gian cũng có khao khát về sự hoàn thiện, về cáiđẹp bên ngoài, cái đẹp hình thức Họ mong mỏi một sự thay đổi tuyệt đối cho nhân vậtbất hạnh, và qua đó cũng cho thấy quan niệm về cái đẹp trong sự hài hòa chân – thiện– mỹ Tuy hình thức câu chuyện hồn nhiên, thậm chí công thức, nhưng giấc mơ, khátvọng hoàn thiện đạo đức – thẩm mỹ là đáng khâm phục.
c Sự kết hôn
Motif này có một số biểu hiện cụ thể có thể xem như những tiểu motif:
* Kết hôn với thần linhø
Hôn nhân này gồm cảû hôn nhân với thần linh nói chung (5) và hôn nhân với conMặt Trời (5) là hôn nhân giữa nhân vật dị dạng với con của thần linh hay cụ thể là conMặt Trời được sai xuống giúp đỡ và thành vợ thành chồng Chàng K’Tàr cụt trong dịbản Tàr (I) ngoài một vợ là con cậu, còn lấy thêm hai vợ nữa là con gái Mặt Trời.
Hôn nhân với thần linh là hôn nhân hoàn toàn mang tính chất lý tưởng hóa, chỉ có trongtưởng tượng và trong giấc mơ cổ tích
* Kết hôn với con cậu
Như nhân vật mồ côi, hôn nhân con cậu là hôn nhân xuất hiện 17 lần, nhiều nhấttrong hôn nhân của nhân vật mang lốt Nhân vật mang lốt dù xấu xí nhưng vẫn có ýthức và khát vọng hôn nhân, con gái cậu cũng thương yêu nhân vật mang lốt từ khi nhânvật còn có vẻ ngoài xấu xí Những chàng trai còn mang lốt ấy đã chủ động xin đi chăntrâu cho cậu ruột hay cậu họ, cô gái mang cơm, phát hiện và xé, đốt hay ném trôi sông
cái áo vật để cho nhân vật mãi là người Hôn nhân con cậu là hôn nhân hợp luật tục,
được khuyến khích trong xã hội mẫu hệ Hôn nhân con cậu, vai trò áp đảo của nhân vậtmẹ, bà, cậu… cho thấy ưu thế của người nữ, dòng nữ trong hôn nhân gia đình, của vănhóa mẫu hệ trong truyện cổ dân gian trong khi cha và những nhân vật dòng cha tỏ rakhông mấy quan trọng, không xuất hiện nhiều Về ngôn ngữ, trong đời sống cũng như
trong tất cả các truyện cổ, chỉ có tổ hợp me vàp (bàp) mẹ cha mà hầu như không thấy trường hợp ngược lại Đó là gì nếu không phải là dấu hiệu khẳng định văn hóa mẹ, tính
nữ của văn hóa nguyên thủy còn kéo dài trong đời thực, còn in dấu trong tư liệufolklore?
* Kết hôn với người Chăm
Hôn nhân giữa chàng Dừa với người Chăm, giữa K’Tàr trong Tàr (III) với
công chúa Chăm về cơ bản cũng phi hiện thực Hôn nhân như thế không phải là khôngcó trong lịch sử quan hệ tộc người, nhưng không phổ biến Cùng với hôn nhân, cuối một
số truyện còn có motif lên ngôi: Vua Chăm cho chàng cùi K Tàr thay mình cai quản các
tộc người ( Tàr làm vua), cho Đu Đủ làm pơtao (Chàng Đu đủ)…
* Kết hôn với mồ côi
Dạng hôn nhân này cũng đã có trong truyện về nhân vật mồ côi, lại cũng thấy
Trang 26trong truyện về nhân vật mang lốt Nàng Ngà trong các dị bản cùng tên đã xuất hiện để
làm bạn, làm vợ, làm người bảo trợ cho mồ côi Từ việc bắn chim, người Chăm xin đổixoài cho mồ côi, mồ côi trồng xoài hay trồng chuối, voi phá rẫy, đi tìm voi, voi đầu đànđền cho cái ngà, ngà biến thành cô gái hoặc nàng Ngà từ ngà voi chui ra, rình bắt được,lấy làm vợ…
d Tiền hôn nhân
Có 17 trường hợp xảy ra tình huống này Người con gái của cậu, con gái pơ tao,con gái của người Chăm hay con “vua” Chăm đã ngủ với chàng trai mang lốt trongrừng Có chi tiết phổ biến là quên dao, quên xà gạc khi đi hái quýt, me, xoài, đu đủ…về
để làm tiệc, thậm chí là làm tiệc cưới cho cô với người đã hứa hôn Kéo theo motif con
dao bỏ quên, cha cô phát giác (sự tiết lộ), là motif đuổi con vào rừng, hoặc sai người giết
con (và rể) trong rừng, người được sai phái đã giết chó thay người (vật thế mạng) Trong rừng sâu, có thể xuất hiện motif cây sống lại khỉ đền chiêng, cũng có thể xuất hiện motif nguồn nước đục rồi cha con tái ngộ hoặc cha đem quân trừng phạt kẻ làm
đục nguồn nước và thường bị thua chàng rể…
Tiền hôn nhân bao giờ cũng dẫn tới hôn nhân với đối tượng mà dân gian đã “bố
trí” sẵn cho nhân vật mang lốt Tiền hôn nhân là hiện tượng phổ biến cho tất cả các
dạng hôn nhân Các nam nữ thanh niên tự do quan hệ tính giao trong rừng (hái xoài ngủquên trong rừng), bên suối (rủ tắm chung), trong túp lều trong rừng (nhà nào cũng cóchòi canh rẫy), hay thậm chí ngay trong cung điện vua Chăm Hầu hết các truyện hễ cóhôn nhân là có tiền hôn nhân và tiền hôn nhân bao giờ cũng dẫn tới hôn nhân Nếu khóxác định chồng cho con gái, khó tìm cha cho đứa trẻ thì ông bà dùng cách thức hồnnhiên: cho trai làng phóng lao vào lỗ, bắt nhấc đầu lươn nếu có sự tranh công, cho trẻnhận quà…Quy luật ứng xử trong truyện (và có lẽ cả ngoài đời) là tiền hôn nhân phảitiến tới hôn nhân, là sự tự do trong luật tục, tuân thủ tục hôn nhân của cộng đồng
e Sự cướp đoạt (Hôn nhân cướp đoạt)
Trong nhiều dạng hôn nhân khác nhau thường xuất hiện nhân vật thứ ba Khi cócặp hôn nhân giữa mang lốt với mồ côi, với thần linh hay con cậu…thì kẻ thứ ba xuất
hiện Phù hợp với việc đó là sự xuất hiện 12 lần motif hại vợ - cướp chồng và 9 lần hại
chồng - cướp vợ trong truyện về nhân vật mang lốt Có thể đó là khỉ, vượn với tư cách
ma qủy mang lốt động vật, dụ dỗ nhân vật đi tắm, đi uống rượu, ăn tiệc, xô té nhân vậtxuống suối, cướp áo quần đẹp hoặc mượn áo quần mặc vào đóng vai người chồng hay
người vợ Tất nhiên, ban đầu kẻ giả mạo đã đánh lừa được người bạn đời của họ để
đóng vai chồng vợ một thời gian … Cũng có khi người cướp đoạt lại là pơtao hay pơtaoPrum (thủ lĩnh Chăm) Thấy người ta có vợ đẹp, pơtao tìm cách cướp về, đòi đổi vợhoặc cướp vợ Để hợp thức sự tranh cướp ấy, ông ta bày ra sự thử thách bất thường: bắtlấy sữa dê, cọp, sấu, voi, rắn…Nhờ phép thần của người vợ vốn là nhân vật mang lốt,
người chồng đã vượt qua thử thách Hầu hết các dị bản Nàng Ngà sưu tầm ở Lâm Đồng
đều có chi tiết quan trọng là vua Chăm đòi sữa gấu, sữa voi, sữa cá sấu… và bao giờ
Trang 27chàng cũng lấy đủ các vật hiếm.
f Sự chung chạ trong hôn nhân
Trong các dị bản Đùng Làng, có dị bản nói bốn anh em trai tìm cách ngủ với
vợ K’Đùng, một anh trai đã ngủ được với Ka Làng hoặc cậu Ha Zôt tán tỉnh vợ của
cháu ( Đùng Làng VIII)… Sự chung chạ cũng gần với sự cướp đoạt nhưng ở đây là
chung chạ trong nội bộ người thân
Một số dị bản Tàr (II,V, IX) kể rằng K’Tàr lấy được Ka Bìng và Ka Lòng –
hai chị em ruột đã mang thai vì ăn thừa trái cây do chàng vứt xuống suối Khi chàng hếtbệnh trở thành chàng trai đẹp thì mẹ vợ lại bộc lộ ý xấu, giả vờ kêu đau bắt chàng rểbóp bụng…, người con gái bực mình về trời, hoặc hai vợ chồng về trời, để lại hai con mồcôi cho bà nuôi… Với những trường hợp này, cha vốn là nhân vật mang lốt, nhưng tình
huống cha mẹ bỏ về trời khiến con trở thành nhân vật mồ côi Đến đây hoặc có thể kết
thúc tác phẩm, hoặc có thể tiếp tục kể về số phận của một hay hai đứa con mồ côi ấy,làm cho nội dung tác phẩm vừa có tính chất của cổ tích về nhân vật mang lốt vừa cótính chất của cổ tích về nhân vật mồ côi
Có thể coi những cổ tích như vậy là những truyện cổ tích có hai tiến trình: tiến
trình thứ nhất kể về nhân vật người cha mang lốt, tiến trình thứ hai kể về số phận con
mồ côi Nhiều dị bản chỉ có một tiến trình, riêng Tàr (V) và Tàr (IX) có cả hai tiến
trình Từ đấy chúng ta thấy ranh giới tương đối giữa hai kiểu nhân vật và hai nhómtruyện cổ tích
g Sự trừng phạt
Motif sự trừng phạt phần nhiều dành cho kẻ hại chồng cướp vợ hay hại vợ
-cướp chồng dù đó là quỷ mang lốt khỉ, vượn hay vua Chăm, pơtao Chăm Bằng phép
thần sẵn có của nhân vật mang lốt, hai vợ chồng thách đấu, đánh nhau với kẻ thù, hoặccho sấu ngậm vào đuôi nhau làm thành chiếc cầu cho đám cưới để vua Chăm và người
“Chăm xấu” chết chìm trong biển Trong nhiều truyện khác, nhân vật giết chết vượn
hoặc đánh đuổi khỉ – ma, buộc nó hiện nguyên hình, bị chọc sắt nóng vào đít (khỉ đỏ
đít), chạy vào rừng với lời nguyền sẽ về ăn bắp, phá lúa, hại mùa màng! Không thể phủ
nhận những chi tiết liên quan đến tập tính sinh học, nhưng là chi tiết phụ, không làm
thành cái gọi là truyện động vật hay truyện cổ tích loài vật
Sự tha thứ là bản chất của con người, của cổ tích Mạ-K’Ho nói chung, dù nói đến
motif trừng phạt thì tha thứ vẫn là quy luật của cả cổ tích Trong truyện Chàng Tôm,
người vợ xấu hổ không cho chồng đi dự tiệc vui, Tôm cởi lốt đi sau Tại cuộc vui, vợTôm đã phải lòng chàng trai lạ mà không hề biết đó chính là chồng mình Có thể nói,
nàng đã ngoại tình với chính chồng mình sau khi người chồng đã cởi lốt để làm một
người đẹp Vậy nhưng, như bao nhân vật chính diện khác, chàng Tôm vẫn tha thứ chovợ, sự trừng phạt không phải là lối kết thúc cơ bản của cổ tích, trừ cổ tích về malai
Trang 28Nhân vật mang lốt có những tương đồng với nhân vật mồ côi, cả hai nhân vật đều
xuất hiện trong nhiều cổ tích với những phẩm chất tốt đẹp Về diện mạo bên ngoài,nhân vật mồ côi là những người bình thường khác nhân vật mang lốt Tuy nhiên, có một
số nhân vật mồ côi có thể do người mẹ ăn uống - mang thai - sinh nở thần kỳ như nhân
vật mang lốt Mồ côi có thể xuất hiện trong truyện về nhân vật mang lốt ( Chơi, Nài…) và ngược lại, nhân vật mang lốt có thể xuất hiện trong truyện về nhân vật mồ
côi như là bạn bầu hay người phù trợ Lươn thần, cá thần…đều là thần mang lốt nhưng
không cởi lốt mà biến hóa để giúp mồ côi Với một số dị bản của truyện Tàr thì cha
mang lốt, nhưng con là mồ côi vì cha mẹ bỏ về trời…Sự xuất hiện của nhân vật mồ côitrong truyện cổ tích về nhân vật mang lốt và ngược lại cho thấy ranh giới tương đối củahai loại nhân vật và hai nhóm truyện cổ tích Nhiều vấn đề chung có thể toát lên từ cảhai nhóm truyện: tín ngưỡng, phong tục hôn nhân, quan hệ tộc người, yếu tố thần kỳ,motif tha thứ, trừng phạt, về trời…
Nhân vật mang lốt có những điểm khác nhân vật mồ côi Dù là con có cha mẹ
bình thường hay là con không cha, con không mẹ do sinh nở bất thường thì mang lốt
-cởi lốt là hai motif phân biệt hai kiểu nhân vật Cái quan trọng hơn, nhân vật mồ côi cơ
bản không có phép thần, trong cuộc sống phải nhờ yếu tố thần kỳ giúp đỡ với sự phổ
biến của thần báo mộng (83 lượt), đền vật thiêng (15), bầu lúa thần (7), người sống lại
(10), biến hóa (9), hôn nhân thần kỳ (30) Trái lại, nhân vật mang lốt có sẵn phép thần,
đủ khả năng biến hóa, trừng phạt, biết dùng phép thuật và sức mạnh để giành hạnhphúc cho mình, cho mồ côi, cho cộng đồng Nhân vật mồ côi cơ bản là nhân vật hiệnthực, còn nhân vật mang lốt, trừ người dị dạng, đều có tính chất lý tưởng hóa
Lốt mà nhân vật phải mang trong một đoạn đời là cách để thử thách sự nhìn nhậncủa con người, khơi dậy nơi con người lòng trân trọng, cảm thông sâu sắc và quan tâmgiúp đỡ những con người không may khiếm khuyết về thể chất do bẩm sinh hoặc dobệnh tật Truyện cổ tích về nhân vật mang lốt góp phần uốn nắn những cái nhìn lệchlạc, sự xúc phạm do cố ý hay vô tình của con người đối với con người trong cuộc sống
Dân gian nhiều tộc người quan niệm có tật có tài, bên trong nhân vật mang lốt là cả một
tài năng, một tâm hồn và những phẩm chất tốt, cuối cùng lại thành một con người đẹp
1.2.3 Cổ tích về nhân vật malai
1.2.3.1 Mối quan hệ giữa tín ngưỡng, tập tục và văn học
Trang 29Các công trình dân tộc học về Tây Nguyên ở Việt Nam ít nhiều có đề cập đến
một thế lực làm hại, thường là chà trong đối lập với yàng Hiểu chà là ma thì yàng là
thần, nếu chà là ác thần thì yàng là phúc thần Tuy nhiên, các công trình này cũng chỉnhắc sơ lược đến hiện tượng tín ngưỡng này như một trong những biểu hiện lạc hậu, mêtín
Nếu yàng có nhiều loại thì ma cũng có nhiều loại khác nhau, ám ảnh nhất là loại
chà ăn người thường mang dáng dấp người, người-ma mà nhiều người đã từng nghe nói
đến với tên gọi ma lai /malai Người Chăm gọi đó là kamưlai, Raglai gọi là kamalai, M’Nông gọi là km lai, ka mlai, còn người Mạvà K'Ho là cêa malai, chà malai, ómalai.
Trong Từ điển Việt - Chăm, malai là ma, qủy hay ma quỷ nói chung nhưng theo quan
niệm Mạ-K'Ho và một số tộc người Tây Nguyên thì malai là kẻ ăn người, thậm chí
mang lốt người.
Như vậy, ở đây có hai sự ngẫu nhiên thú vị về phương diện từ ngữ Thứ nhất, ma
là do mư, mơ (m ) biến thành, ngẫu nhiên trùng với ma trong tiếng Việt Ngẫu nhiên thứ hai là hiện tượng ma mang lốt người, ma-lai-người, người-ma trùng với lai (pha trộn, lai ghép) của tiếng Việt Ở đây, tôi viết malai liền thành một từ, như viết: pơtao, nưgar
Tín ngưỡng về malai chắc chắn đã từng chi phối mạnh mẽ cuộc sống cộng đồngMạ-K'Ho trong quá khứ và một phần trong hiện tại cuối thế kỷ XX, thậm chí lan sangcả thế kỷ XXI Tất nhiên từ góc nhìn hiện đại thì không thể chấp nhận một quan niệmnhư vậy vì nó dẫn đến tệ nạn giết người vô tội Tập tục đó có thể coi là hủ tục chứ
không phải là phong tục (thuần phong mỹ tục) Đã có nhận định “Hiện tượng tội ác này
chỉ mới được chấm dứt sau ngày giải phóng [102, 83] nhưng thực ra, nó vẫn còn tồn tại
một cách âm ỉ và kín đáo hơn Nếu hỏi già làng hay cán bộ thôn xã thì người ta sẽ nóirằng không có, hoặc ngày xưa có, nay không ai nhắc nữa… nhưng thực tế thì đó đây vẫnbàng bạc tín ngưỡng và hiện tượng xử malai
Nếu quan niệm về yàng là mặt thứ nhất của tín ngưỡng thì mặt thứ hai, có thể cho là mặt trái của nó là quan niệm về malai hay chà nói chung Ma trong quan niệm của cư dân không phải là hồn ma của người hay động vật thành tinh quái Ma có nhiều
loại với những tên gọi khác nhau, nhưng có thể quy chiếu về một thế lực được coi làhiện hữu trong tâm linh, trong thực tế ứng xử: malai Tín ngưỡng này đương nhiên đượcngười ngoài cuộc và người hiện đại coi là mê tín dị đoan vì nó chà đạp số phận củathành viên cùng tộc, vì nó chi phối thực trạng xét xử quá hồn nhiên và cũng quá dã mantạo nên những cái chết oan uổng Nhưng xét từ đời sống quá thiếu thốn trong quá khứ,sự bất lực của con người, sự sợ hãi và sùng bái thế lực tự nhiên đã gây ám ảnh về malai– thứ ma trong người, người-ma Tín ngưỡng là thành tố thứ nhất và sau đó là tập tục,cả hai chi phối văn học, hình thành nên một loại truyện có nhân vật trung tâm là malai.Quan niệm malai như là mặt đối lập của quan niệm về phúc thần trong tín ngưỡng bảnđịa
Niềm tin sai lạc ấy về ma qủy, ma thuật đã chi phối đời sống xã hội tộc người,
Trang 30chi phối cách ứng xử của cư dân đối với một số thành viên trong cộng đồng, nghi ngờ họkhông phải là người mà là loại người-ma Một người đột nhiên giàu lên, một cô gái quáđẹp, một thầy cúng mất uy tín, một người già đến đâu thì ngẫu nhiên có trâu chết, ngườiốm… đều có thể bị nghi ngờ, bị khép tội malai, sẽ bị xử chết nếu không trốn chạy kịp.Trình độ nhận thức có hạn, sự sợ hãi trước thiên nhiên, trước những gì không thể hiểu,mức sống thấp, bệnh tật nhiều, giấc mơ hãi hùng được bệnh nhân thuật lại … đều có thểlà nguyên nhân tạo nên sự nghi ngờ này Sức mạnh truyền thống, sức mạnh của tập tụcsẽ có ích nếu đó là thuần phong mỹ tục, nhưng truyền thống cũng có mặt sai lầm, lệchlạc Nhân danh luật tục, nhân danh truyền thống cộng đồng cũng có thể củng cố niềmtin về cái gọi là malai, gây nên thực trạng xử ma lai mà thực chất là giết oan con người,buộc người ta vào trọng tội mà không thể thanh minh, bào chữa được Trong nhữngtrường hợp này, tín ngưỡng về malai chi phối tập tục xử malai trong hiện thực đời sống.
Đồng thời, tín ngưỡng không chỉ chi phối hiện thực xử malai trong đời sống thực
ở các bon làng trong quá khứ, một phần nhỏ trong hiện tại mà còn chi phối sự tưởngtượng, tạo nên tác phẩm và hình thành loại cổ tích về nhân vật malai Cùng với tínngưỡng, tập tục cũng chi phối văn học, chi phối tác phẩm Đến lượt mình, tác phẩm vănhọc phản ánh cả tín ngưỡng và tập tục, cụ thể là tục xử malai, hơn nữa, đã từng gópphần nhất định củng cố tập tục cổ hủ (hủ tục) ấy và niềm tin sai lạc ấy Ba thành tố TÍNNGƯỠNG - TẬP TỤC - VĂN HỌC có quan hệ với nhau một cách phức tạp, nhiềuchiều: phản ánh, chi phối, lệ thuộc lẫn nhau:
Hơn bất cứ loại thể nào, cổ tích về nhân vật malai cho thấy mối quan hệ chặt chẽgiữa văn chương với cuộc đời, ranh giới giữa nội dung phản ánh với hiện thực cuộc sốngrất mỏng manh Về phương diện tín ngưỡng và sự chi phối của nó đối với văn học, cổtích về nhân vật malai gần với huyền thoại nhưng xét kỹ mối quan hệ với thực tại, tínhchất đời thường và đặc biệt là cấu tạo cốt truyện, nhân vật và quan hệ nhân vật phức tạphơn huyền thoại rất nhiều nên tôi xếp vào cổ tích chứ không xếp vào huyền thoại – mộtthể loại được coi là xuất hiện sớm nhất và đơn giản nhất – một thứ nghệ thuật không tựgiác, hướng về tự nhiên hoặc con người ở khía cạnh sinh học, giống loài
Dù người viết có nghe thấy những ví dụ về thực trạng xử malai trong thời hiện tạithì đó cũng chỉ là dấu vết để hình dung về chính tệ nạn ấy trong quá khứ muôn lầnmạnh hơn và để khẳng định mối quan hệ giữa ba thành tố văn hóa là tín ngưỡng - tậptục - văn học Dù thống nhất phần nào với hiện tại, truyện kể về malai là sản phẩm củaquá khứ, là cổ tích với những vấn đề thể loại như nhân vật và hành động, cốt truyện,thời gian và không gian, yếu tố thần kỳ, tha thứ hay trừng phạt…Đó là văn chương, là tự
sự dân gian, có liên hệ quá khứ -hiện tại nhưng không phải là truyện kim mà đã là
truyện cổ - cổ tích về nhân vật malai Khi dùng thuuật ngữ nhân vật malai, chủ yếu là
đề cập tới malai với tư cách một nhân vật văn học
Nhân vật malai là nhân vật đặc biệt, nhân vật chính tạo thành trung tâm của loạitruyện riêng dù ít nhiều nó cũng có xuất hiện trong cổ tích về mồ côi hay cổ tích vềnhân vật mang lốt với tư cách kẻ làm hại - một nhân vật phụ
Trang 31Qua truyện cổ, dân gian quan niệm ma có nhiều loại, nhiều tên gọi khác nhaudù có khi gọi là ómalai và nhiều khi gọi bằng tên khác nhưng tính chất chung của loạinhân vật này là làm hại Tính chất chung còn thấy ở sự xuất hiện của nó ở khắp cáckhông gian trong tác phẩm: nhà – bon – rẫy – rừng, trong các quan hệ thân thiết hoặc
xa lạ Dân gian quan niệm đó là một loại người – ma, không phải là bóng ma, hồn mamà là một thực thể tồn tại trong cộng đồng xã hội hay trong môi trường tự nhiên nhưngliên quan đến con người Ngoài việc sống riêng thành bon ma, trong làng người có
malai và trong làng ma cũng có người-không phải malai, người bình thường.
Về mối liên hệ giữa người và malai có một số motif: ma lốt người, người lấy ma,
người thành ma Ngoài 21 nhân vật ma mang lốt người còn có 15 nhân vật ma mang lốt vật.
1.2.3.2 Hành động của nhân vật malai
a Hành động làm hại
Malai hút máu người, ăn thịt người, ăn óc ngườ, liếm người sống, bú sữa người đẹp,ăn thịt sống, cá tươi, ăn xác chết…Thậm chí có trường hợp malai ăn thịt chính mình
Trong truyện Chà Tành Rông, nhân vật ăn thịt, uống máu bảy đứa con của mình, định
ăn vợ không được, đành ăn dần thân thể mình, chỉ còn đầu, xương, ruột…
b Cách thức làm hại
Malai thường giả mạo cha mẹ để bắt trẻ con; giả mạo chồng để hại vợ; giả mạo người đẹp để làm quen; biến hoá thành động vật, sự vật; kết bạn; kết hôn với người; thu hồn người; dùng bùa ngải.
Sự phân loại motif cổ tích chỉ có tính chất tương đối để tiện trình bày đặc điểmcổ tích về nhân vật malai đồng thời còn dễ so sánh tương quan với truyện về nhân vật
mồ côi và truyện về nhân vật mang lốt Khi malai biến hóa thành người, thành động vật…tức ít nhiều nó đã mang lốt tạm thời để đóng vai kẻ giả mạo Nếu liệt kê các dạng
thức lốt người, động vật, thực vật, sự vật, dị dạng, người già thì thấy có đủ dạng thức lốtquen thuộc mà chúng ta đã thấy nơi cổ tích về nhân vật mang lốt nhưng đặc biệt nhất,
nhiều nhất là ma lốt người Nếu gộp chung các dạng ấy thì từ cách nhìn khác, đó chỉ là những biểu hiện khác nhau của motif biến hóa như là cách tiếp cận để làm hại Nguyên nhân, mục đích mà nhân vật phải mang lốt là khác nhau ở người mang lốt, thần mang lốt và ma mang lốt Lâu nay, chúng ta nghiên cứu và nhấn mạnh loại nhân vật mang lốt là
người mang lốt vật, với truyện kể về malai, có thể mở rộng thêm nghĩa của khái niệm mang lốt khi có cả nhân vật ma mang lốt người!
Kết quả của âm mưu và hành động của nhân vật malai là trong 23 truyện nạnnhân bị malai làm hại đã chết Thất bại của con người là phổ biến cho nửa đầu cốttruyện làm cho nó khác xa với truyện về nhân vật mồ côi hay truyện về nhân vật manglốt dù có người mang lốt, thần mang lốt và cả ma mang lốt Về bùa ngải, phép thuật thì
cả thần, người và ma đều có sử dụng nhưng với malai, phép thuật hay bùa ngải là ma
Trang 32thuật, tà thuật làm hại Vì thế, đối tượng đã bị hại, con người bước đầu đã thất bại.
Thực ra, cũng có một số nạn nhân chống lại malai bằng những cách nào đó có
tính chất một sự trì hoãn Nạn nhân đốt lửa lên thì quan tài biến mất, ma hiện hình
người; cố kéo dài thời gian tìm cách trốn chạy, đòi đi múc nước, ma giành đi múc nước,
đưa cho nó cái bầu thủng đáy (motif bầu thủng xuất hiện 5 lần); đổ hạt cải xuống sàn,
ma nhặt giùm; nhân vật chạy trốn sau khi đã dặn các vật nói dối hoặc lên tiếng trả lời
thay mình khi ma gọi Tuy nhiên, trong trường hợp bỏ trốn, nạn nhân vẫn quên dặn mộtcon vật: thường là con gà mái ấp; chính con vật này đã báo cho malai biết đối tượngtrốn về làng Nhân vật có thể trốn dưới đống chiêng ché, dưới bảy cái chiêng…nhưng
vẫn lòi ra một sợi tóc – sự tiết lộ Và malai đã biến thành ngựa, cọp đuổi về đến làng,
biến thành ong chui vào đốt cô gái hoặc nhổ sợi tóc ấy, nạn nhân chết
Công bằng mà xét thì cũng có một vài nhân vật malai giúp đỡ con người, kết bạnvới người, xẻ thân mình làm hai nửa đắp cho bạn khỏi bị lạnh…Đó là trường hợpK’Rang được bạn malai K’Chang giúp đỡ nhiệt tình, vì đã kể cho mọi người nghe bímật của malai nên anh ta phải chết Nhưng do niềm tin và theo tập tục, con ngườikhông cam chịu thua ma qủy Người thân (chồng, vợ, cha mẹ) và cả cộng đồng đã tìmcách trừng phạt malai Diễn biến tiếp theo của hầu hết các cốt truyện là sự trừng phạtvà cách thực hiện sự trừng phạt ấy
1.2.3.3 Số phận của nhân vật malai
Với 40/45 tác phẩm có sự trừng phạt chứng tỏ sự phổ biến của motif này trong
cổ tích về nhân vật malai, chiếm tần số cao nhất trong ba nhóm cổ tích Mạ-K'Ho Để
trừng phạt malai, người nhà nạn nhân và cộng đồng đã tìm cách đánh tráo (đổi chỗ nằm, đổi ống hồn; nhận diện, cắt cổ, đốt xác, săn malai (dùng chó săn); đầu độc malai;
dùng bùa ngải; nhờ thần giúp; cúng giải ma (cho ma thanh người thường)…Hầu hết cổ
tích về nhân vật malai đều có sự trừng phạt cuối tác phẩm, nhân vật malai không đượctha thứ sau khi đã giết chết người thường Kết thúc cổ tích về nhân vật malai nặng nềhơn hai nhóm truyện đã khảo sát Nạn nhân chết rồi thủ phạm chết, thậm chí là cảnhtàn sát gia đình ma, cộng đồng buôn làng ma
Khác với sự tha thứ phổ biến cho cổ tích, trái với sự hồn hậu, mộc mạc của cư dân trong ứng xử, cổ tích về malai và motif trừng phạt malai tạo ra nét khác cho cổ tích
Mạ-K'Ho và có lẽ cho truyện cổ Tây Nguyên nói chung Khắc phục, chấm dứt tệ nạnấy, thay đổi đời sống tâm linh là việc không đơn giản, cần sự nỗ lực nội tại, cần cả giaolưu với bên ngoài với nhiều giải pháp đồng bộ để hiện tượng ấy chỉ còn lại dấu tíchtrong truyện cổ tích Đó là mong ước của nhiều người, trong đó có cả những người đãtừng nghe kể về malai, đã từng sưu tầm và nghiên cứu cổ tích về nhân vật malai
1.3 TRUYỆN HÀI-NGỤ NGÔN MẠ-K HO
Nhìn chung, tìm một định nghĩa ngắn gọn cho từng thể loại văn học dân gian,
trong đó có truyện cười là vấn đề phức tạp Vì vậy các nhà khoa học thường bổ sung
thêm bằng các dấu hiệu về đề tài, nhân vật, đối tượng cười và phương tiện gây cười
Trang 33nhằm giúp người đọc nắm được đặc điểm chính của thể loại này[41;362], [77; 135-137],[54; 241], [96; 183]… Truyện cười phản ánh cuộc sống bằng cái hài, hướng vào các đốitượng cười, gây ra tiếng cười nơi người tiếp nhận.
Về thể loại ngụ ngôn, trong hai giáo trình đại học do các tác giả Nguyễn Tấn
Phát và Lê Chí Quế chủ biên [73],[77] có lẽ do lượng tác phẩm còn lại “quá mỏng” nênkhông trình bày thể loại ngụ ngôn Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh đãkhẳng định tư cách của thể loại ngụ ngôn; sau khi định nghĩa[41; 349] tác giả đã nói
đến cốt truyện và tầm quan trọng của lời quy châm mà người tiếp nhận có thể tìm thấy
nơi ngụ ngôn[41]
Đại đồng tiểu dị, các nhà nghiên cứu folklore ở Việt Nam đã thừa nhận ở người
Việt cơ bản có năm thể loại truyện dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ
ngôn, truyện cười, trong đó truyện cười và ngụ ngôn là hai thể loại độc lập Trong khi
với nhiều tộc người Tây Nguyên, trong đó có người Mạ-K’Ho, thì tính chất ngụ ngôn và tính chất hài đang kết hợp trong một phức thể có tính liên thể loại Vì vậy, từ 1996,
được sự đồng tình của một số nhà khoa học chuyên ngành, tôi đã sử dụng thuật ngữ
truyện hài-ngụ ngôn để khảo sát số tư liệu này Vì đối tượng nghiên cứu của mình là
một phức thể kết hợp trong bản chất cả tính hài và tính ngụ ngôn nên tác giả sử dụng thuật ngữ truyện hài-ngụ ngôn như một công cụ làm việc Đó chưa phải là truyện cười đích thực hay ngụ ngôn đích thực, cũng không phải là truyện cười và truyện ngụ ngôn mà chỉ là truyện có cả yếu tố hài và yếu tố ngụ ngôn.
1.3.1 Tập tính loài vật - một đặc điểm không cơ bản
Dù ít hay nhiều, những truyện này đều có liên quan đến thế giới tự nhiên, cụ thểlà thế giới động vật Có thể vì thế mà một số nhà nghiên cứu xếp những truyện tương
tự vào tập hợp truyện loài vật, thậm chí, cổ tích loài vật.
Trước hết, nhiều nhân vật trong hầu hết các truyện và dị bản là động vật, là vậtrừng như thỏ, rùa, khỉ, cọp, rái cá, ó, trê, trâu rừng… hoặc vật nuôi như heo, chó, gà.Đặc tự nhiên, cụ thể là tập tính động vật ít nhiều còn in dấu trong tác phẩm Chẳng hạn:cọp là loài ăn thịt, cọp sợ lửa, cọp có vằn; voi to xác, chậm, rơi xuống sình không lênđược; rùa quen sình lầy, sống được cả trên cạn và dưới nước; ốc rất chậm, mà rùa cũngchậm; thỏ thường nhanh nhảu, khỉ sống trên cây, có đuôi, dù nấp vẫn lòi đuôi; cá trê cóngạnh có thể chích tay người; ong đốt người và các động vật khác… Dân gian Việt cũng
có các thành ngữ : nhanh như thỏ, chậm như rùa, lòi đuôi khỉ, bắt chước như khỉ, trò khỉ
Liên quan đến loài vật là không gian tự nhiên: rừng, rẫy, suối, ruộng, bãi cỏtranh…là những nơi “diễn ra” cuộc sống muôn vật, nơi các tình huống được dân gian đặt
ra trong quan hệ giữa các nhân vật động vật Tuy nhiên, thiên nhiên hay tập tính loàivật không phải là đặc điểm chủ yếu của loại truyện này Không còn loại truyện dângian chỉ lấy việc mô tả đời sống và tập tính loài vật làm nội dung chính yếu của nó, và
như vậy, không còn có truyện loài vật đích thực, ít nhất là trong tư liệu truyện cổ K’Ho mà tôi và đồng sự đã tìm và hiểu.
Mạ-1.3.2 Tính ngụ ngôn của truyện hài-ngụ ngôn
Trang 34Không phủ nhận tập tính tự nhiên trong nội dung của loại truyện này song tínhchất ấy thực sự không tiêu biểu cho những truyện có nhân vật là động vật Các nhânvật được xây dựng, được hình dung theo tính cách người và quan hệ người Con ngườisáng tạo ra truyện kể, sáng tạo ra thế giới nhân vật của mình, dù là kể về vật nhưngchất người trong các truyện này rất nổi bật.
Điểm lại các sự việc mà nhân vật đã làm thì hầu hết là việc làm của con người: ở
nhà sàn, chặt lá mây lợp nhà, chặt đọt mây làm thức ăn, tát cá, câu cá, làm bẫy heo, khiêng heo, làm thịt heo, đan gùi, chia thịt, đổi gùi, đổi áo, đổi trứng, đổi lúa, dự tiệc, nấu canh, ăn cơm, cuốc cỏ, tìm mật ong… Các hoạt động “sản xuất” mà nhân vật động
vật đã làm thực ra là hoạt động kinh tế “chiếm đoạt” hoặc kinh tế nương rẫy của conngười, của người dân bản địa Tây Nguyên Ngoài ra, còn có thể kể tới một số hoạt động
khác trong lĩnh vực văn hóa – xã hội hay nghệ thuật như thổi khèn, thổi sáo, đánh
chiêng, uống rượu, tiếp khách, xử kiện là dấu hiệu văn hóa của con người, riêng cho
con người
Khi đề cập tới quan hệ giữa các nhân vật động vật lại có cả quan hệ hôn nhân,gia đình, dòng họ, tục đền mạng, tiệc cúng yàng…thuộc lĩnh vực phong tục tộc người,của con người; có các quan hệ bạn bè thất thường giữa Rùa và Khỉ, quan hệ vợ chồng,cha con của gia đình Khỉ, vợ chồng Cọp… Nếu xét theo quy luật tự nhiên, từ góc độ tậptính loài vật thì Rùa và Khỉ sao dám vào nhà ông Cọp, lại còn khâu miệng bà Cọpï?Làm sao Rùa và Khỉ lại có thể cùng phát rẫy, cùng đi săn, cùng làm thịt heo, đan gùidính gốc lồ ô rồi chia đá lẫn thịt cho Cọp?… Rất nhiều cái “vô lý” và trái tự nhiên ấycho thấy hình ảnh con người rất rõ trong cái lốt động vật Dù nhân vật có cái tên độngvật nhưng ngôn ngữ của người, tính cách người và quan hệ người vẫn là điểm nổi bật
hơn Chính vì thế mà nhân vật ranh mãnh đã sử dụng các mẹo lừa để liên tục lừa gạt đối phương Cũng vậy, khi bị lừa, các nhân vật ngốc cố xin theo, cố bắt chước để mong lừa
lại được kẻ đã lừa mình nhưng luôn thất bại Hai kiểu nhân vật thông minh và ngu ngốc,hàng loạt mẹo lừa và bị lừa, sự bắt chước… cho thấy dân gian đã mượn vật nói người,truyện đã có tính chất ngụ ngôn không chối cãi
Qua các truyện và dị bản của chúng, dân gian đã nhìn động vật và quan hệ loàivật bằng hiểu biết về con người và xã hội người, gán một vài tính cách người cho mộtsố động vật và giải quyết sự việc theo quan niệm của con người Từ đó, rõ ràng những
truyện này không phải là truyện loài vật mà chỉ là truyện có nhân vật động vật Như thế
thì Rùa và Khỉ mới đặt bẫy được heo, mới khiêng thịt, chia thịt và làm nhiều hành độngkhác Tất cả các nhân vật động vật đều nói năng và cư xử gần như con người, tập tínhloài vật nhạt nhòa hơn tập quán con người trong các truyện ấy Thậm chí, dân gian đã
trân trọng gọi các nhân vật động vật là ông: pàng Pài, pàng Klìu, pàng Pĩn nghĩa là
ông Thỏ, ông Cọp, ông Rái cá…! Với người Việt, dấu vết ấy cũng còn lưu lại qua việc họ
gọi cá Voi là cá Ôâng, là Ông, lễ hội nghênh Ông hay gọi Cọp là ông Ba mươi, Ngài,
Khái
Chính vì nặng tính xã hội, tính người nên khi bỏ bớt một nhân vật động vật, thayvào đó là nhân vật người thì các motif mẹo lừa, quan hệ khôn-dại, sự bắt chước vẫn
Trang 35được tiếp tục Trong nhóm B.1, Thỏ không lừa Cọp mà lừa người, Thỏ cũng cắt lúa củangười, lừa người đập chiêng ché, lừa người đốt cháu người Còn trong nhóm B.2 thì vaitrò của Rùa do người đảm nhiệm và Khỉ đóng vai như nhân vật Khỉ trong nhóm A.2.Thỏ đóng vai thông minh dù với người hay với Cọp còn Khỉ đóng vai ngu dại dù vớingười hay với Rùa.
Xét khái quát motif sự lừa gạt của người khôn, sự bắt chước của kẻ dại…thì có
thể xem sự thay đổi đó là bước chuyển tiếp để ra đời nhóm thứ ba hoàn toàn thay thế cả
hai nhân vật động vật bằng hai nhân vật người trong các truyện Yut và Đời, Yut và Mot Muôi, Yut và Pu Pot Đã không còn nhân vật nào là động vật, nhưng chuỗi lừa nhau
của Đời và Yut thì vẫn cùng bản chất như truyện về Thỏ hay về Rùa Yut đóng vai khờdại, Đời đóng vai của Thỏ, của Rùa, là người khôn Đời sử dụng một số hành độngtương tự Thỏ và Rùa như nuôi chim, câu cá, lấy mật…Khi thay các nhân vật động vậtbằng nhân vật người, tính chất ngụ ngôn vẫn còn ở bài học khôn - dại, hậu quả của sựbắt chước… nhưng dù sao thì sự ngụ ý đã nhạt hơn
Đặt giả thiết: nếu ta thay tên nhân vật của cả ba nhóm (vật và vật, vật và người,
người và người ) bằng tên khác như “Cuội và Ngốc hoặc “A và B thì giá trị của từng
nhóm cơ bản vẫn giữ nguyên, cả ba nhóm vẫn rất gần nhau về motif khôn thắng dại,các mẹo lừa, sự bắt chước… Thực ra thì dân gian đã sáng tác và lưu hành cả ba nhóm,
giả thiết thay thế chỉ là so sánh để thấy công thức chung, đặc điểm chung Đặc điểm
của loại truyện này là tính chất ngụ ngôn đã có nhưng chưa cao, bài học khôn là chung cho nhiều truyện, nhiều nhóm, về cơ bản chưa đạt tới lời quy châm súc tích, riêng biệt cho từng mẩu truyện.
1.3.3 Tính chất hài của truyện hài-ngụ ngôn
Cùng với tính ngụ ngôn, tính chất hài hay tính hài hước cũng là một đặc điểmquan trọng khác của loại truyện này Thực ra, ngay cả truyện ngụ ngôn đích thực củanhiều tộc người trên thế giới mà chúng ta đã biết, thậm chí cả những ngụ ngôn “có têntuổi” như ngụ ngôn Ê dốp thì tính chất hài vẫn hiển hiện song song với tính ngụ ngôn
Chẳng hạn, ở truyện Con cáo và chùm nho, tiếng cười xuất hiện khi nhân vật không hái
được nho nhưng lại tự vỗ về an ủi bản thân một cách cố ý rằng nho còn xanh quá!
Tiếng cười cũng bật lên vì người nghe biết được sự hư cấu và dụng ý sâu xa của loạitruyện mượn vật nói người Liên hệ với một khoảnh khắc nào đó trong đời sống củachính mình hoặc người mà mình biết, cũng có cảm giác buồn cười vì con người có lúcđã mang tính cách nhân vật cáo: không tìm cách vượt khó khăn mà tìm lý do để baobiện, chùn bước, tự đánh lừa bản thân mình Tuy nhiên, dù tiếng cười có hiện diện thìnhững truyện ngắn gọn và cô đúc như vậy vẫn là ngụ ngôn Chức năng kép của ngụngôn là một mặt chế diễu nhân vật và thói tính nào đó, mặt khác quan trọng hơn, muốn
truyền đạt một lời quy châm, một bài học nhận thức hoặc ứng xử cho con người qua cốt
truyện về động vật Cái hài trong ngụ ngôn vẫn được nhấn mạnh như một thủ pháp, mộtyếu tố thi pháp
Nói tính chất hài của loại truyện hài - ngụ ngôn đương nhiên phải đặt nó trong
trong tương quan với thể loại truyện cười, xem xét đối tượng cười và thủ pháp gây cười
Trang 36Với truyện cười của người Việt, đã có những mảng truyện cười vua chúa, cười quan lại,cười các loại thầy (thầy đồ, thầy tướng, thầy bói, thầy địa lý, thầy cúng, thầy lang, thầy
chùa, …) Cùng với việc cười các hạng người, truyện cười Việt còn cười vào các thói tính
(thói ăn vụng, ăn tham, ăn trộm, hà tiện, xu nịnh, ba phải, gàn dở, khoe của, khoe chữ…)
mặc dù sự phân biệt hạng người và thói tính cũng rất tương đối Bên cạnh hàng loạt
truyện trào phúng nhằm phê phán, chế diễu, đả kích theo lối “hủy diệt” đối tượng cười,
còn có những truyện hài hước với tiếng cười nhẹ nhàng mang màu sắc giải trí nhiều hơn (Ba anh ngủ mê; Con vịt có tay…).
Trong tất cả các truyện và dị bản truyện hài - ngụ ngôn được khảo sát hầu như
truyện nào cũng có tính chất hài Tuy nhiên, đây chưa phải là truyện cười đích thực vìrất nhiều truyện và dị bản còn mượn động vật làm phương tiện gây cười, vì tính chất hàiđang gắn chặt với tính ngụ ý, ngụ ngôn Tiếng cười cất lên khi nhân vật Thỏ, Rùa hayĐời dùng trí thông minh, sự nhanh nhạy để lừa gạt đối phương…Thỏ được Cọp cho ăngà, uống rượu nhưng lại cuốc hết lúa, để cỏ lại Thỏ khuyên Cọp đập ché, phá kho, đốtnhà để bắt nó Thỏ giả bộ đánh tổ ong, lừa Cọp là đánh đàn khiến Cọp bị ong đốt Thỏcòn bày cho Cọp đút lưỡi vào giữa hai cây tre để thổi khèn khiến Cọp đứt lưỡi… Biệnpháp chơi khăm đối phương của nhân vật ranh mãnh là liên tục nói dối, liên tục dùngmẹo lừa Đối phương luôn bị mắc lừa vì dân gian đã phóng đại sự ngu ngốc của loạinhân vật ấy Chỉ với một đối thủ quá ngu ngốc thì nhân vật ranh mãnh mới thực hiện
thành công tất cả các mẹo lừa, đôi khi quá quắt, của mình Sự phóng đại là một trong
những thủ pháp gây cười của truyện cười nói chung, cũng là một thủ pháp của truyệnhài-ngụ ngôn Dân gian đã phóng đại sự khôn ngoan đến quá quắt của nhân vật ranhmãnh, phóng đại cả sự khờ đại, ngu ngốc của nhân vật ngốc
Rùa cũng tương tự Thỏ trong việc chơi khăm Khỉ: Rùa nằm trong bó lá mây thìKhỉ mang Rùa về, bắt chước Rùa thì Khỉ bị Rùa vứt xuống suối; Khỉ câu cá thì Rùa gỡmồi thịt heo về ăn, bắt chước Rùa thì Khỉ bị Rùa dùng mồi rắn doạ Khỉ chạy…Hầu nhưRùa đã thành công trong tất cả các mẹo lừa của mình trong khi Khỉ không nghĩ đượcmẹo nào mới, chỉ bắt chước và luôn thất bại Chúng ta cười vì các trò tinh nghịch, láu cámà nhân vật đã sử dụng, chúng ta cười khi thấy nhân vật ngốc lăm le bắt chước, bắtchước chính cái mẹo mà đối phương đã lừa mình, bắt chước để hy vọng lừa lại đốiphương và thất bại ê chề Trong tự nhiên không có “trứng heo” nhưng Khỉ vẫn xin đổi
trứng gà lấy trứng heo (đá cuội) Rùa lại còn bày cho Khỉ cách luộc trứng heo làm cho
cả nhà Khỉ bị bỏng, thậm chí còn bày cho cách chữa bỏng bằng muối, ớt…Người nghevừa thấy có nét ngụ ý, ám chỉ giữa các nhân vật và quan hệ của chúng với tính cách vàquan hệ của con người nhưng đồng thời vẫn thấy vui, thấy ngộ nghĩnh và…cười! Trong
truyện cười, nhân vật thường dùng thủ pháp gậy ông đập lưng ông như một motif nghệ
thuật Chính sự ngu dốt kết hợp với sự tham lam, lười biếng, lười suy nghĩ khiến đốitượng đã bị rơi vào tình huống ê chề: muốn khiêng đầu nhẹ thì được nhẹ nhưng lại bị
gai chích; muốn trứng to thì đổi trứng gà lấy trứng heo, ăn không được còn bị bỏng;
muốn nhiều lúa thì đổi lúa lấy bông lau…
Trang 37Tiếng cười còn cất lên vì một số hành động, chi tiết hoặc ngôn ngữ nhân vật, kểcả yếu tố tục Nhiều khi nhân vật đã sử dụng cả những trò ranh mãnh đến quá quắt màngười ngoài cuộc, người hiện đại khó chấp nhận Đời đánh chiêng sau lưng bà nội lại
nói dối là đánh lưng bà! Sự nói dối là bản chất của loại nhân vật ranh mãnh nhưng nếu không có sự bắt chước một cách máy móc của kiểu nhân vật ngốc thì mẹo lừa cũng
không thành Chính Yùut đã tưởng thật, về nhà đánh lưng bà nội đến nỗi bà bị chết màchiêng vẫn không kêu! Tham lam, tham ăn và ngu ngốc đến nỗi Yut bị Đời lừa cho cảnhà ăn thịt bà nội lại tưởng là thịt nai! Theo quán tính, người ngoài cuộc có thể có cảmgiác ghê rợn trước những trò tinh quái của những nhân vật như Đời Tuy nhiên, đây chỉ
là truyện giải trí, truyện bịa đặt Cậu bảo nấu nước nóng chuột để tắm cho mợ, nhân vật
nấu nước rồi thả chuột vào, thấy chuột chết thì tắm cho mợ, mợ chết, vác mợ đi chôn,dọc đường đánh rơi xác mà không biết, quay lại còn tưởng là người khác…Về mặt nào
đó, có thể so sánh truyện này với truyện Cái chết của bốn ông sư của người Việt: với
truyện Mạ-K’Ho thì xác chết của người nhà lại tưởng là người khác, còn trong truyệncủa người Việt thì lần lượt chôn từng xác chết nhưng cứ tưởng là người chết quay lại!Ngoài ra, chúng ta còn có thể thấy một số biểu hiện khác của yếu tố tục: Đời lừa Yùutăn nước đái của Đời; Thỏ lừa Cọp, Rái, Gà ăn phân Thỏ; Yut đái ỉa cho Pu Pot ăn; chotrâu đực ngậm…của nhau để bơi qua sông khỏi bị sấu cắn…
Nếu nói tới đối tượng cười thì chỉ có một đối tượng chủ yếu là nhân vật ngốc,nhưng tiếng cười còn bật lên qua cả trò láu cá, sự chơi khăm, xúi bẩy, lừa gạt của chính
nhân vật ranh mãnh Các thủ pháp gây cười chủ yếu là : sự tương phản giữa khôn và dại, sự nghịch ngợm, sự bắt chước, sự phóng đại, yếu tố tục…
Xét gộp cả tính chất hài và tính chất ngụ ngôn thì sự biểu hiện ở bốn nhómkhông hoàn toàn giống nhau:
- Nhóm thứ nhất về vật và vật có yếu tố hài nhưng chất ngụ ngôn dù sao cũng
trội hơn
- Nhóm thứ hai về người và vật có thể coi là một trung gian trong quá trình vận
động sang nhóm thứ ba Người lừa được Khỉ nhưng người lại bị Thỏ lừa Tác phẩm vẫngây cười qua các mẹo lừa, sự bắt chước máy móc, sự thất bại tất yếu…
- Nhóm thứ ba về người và người, nhân vật động vật được thay thế hoàn toàn
bằng con người thì tính chất hài trội hơn ngụ ngôn Tính ngụ ngôn, ngụ ý giảm xuống vìkhông còn mượn động vật làm nhân vật mà nói thẳng vào con người Tuy vậy, vẫn làbài học cũ được nhắn gửi về sự khôn, sự dại, sự bắt chước và sự thất bại liên tiếp
- Nhóm thứ tư, trong bốn truyện về chàng Ngốc, tính chất hài là chủ yếu
KN’Hai (Chàng Trăng) xuất hiện trong truyện là kẻ cực kỳ ngu dại Anh ta ngu đến nỗi
bắt cá vứt lên bờ rồi về tay không; nghe tiếng chim hót, tiếng lá rừng thì tưởng chúngxin thịt nên đã cho hết thịt nai; đi trỉa lúa gặp con ếch thì chọc lỗ, tra hạt theo bước nhảycủa ếch; bẫy chim thì vặt lông mang về, bỏ chim lại…
Có thể nói, tính chất hài là chung cho tất cả các tác phẩm và các nhóm dù tínhchất ngụ ngôn có thể đậm nhạt khác nhau Chưa thể phân ra những truyện nào thì cườihạng người nào, truyện cười nào thì cười thói tính nào trong xã hội theo kiểu truyện
Trang 38cười của người Việt Tiếng cười cơ bản là tiếng cười hài hước với chức năng giải trí làchủ yếu, chưa phải là tiếng cười trào phúng, đả kích đối tượng cười.
1.3.4 Tính kết chuỗi của truyện hài-ngụ ngôn
Với các nhóm truyện về Thỏ và Cọp, Rùa và Khỉ hay Yut và Đời tính chất xâu
chuỗi các tình tiết, các hành động lừa lọc và bắt chước là phổ biến cho tất cả các dị bản
của từng hệ thống truyện Một tác phẩm như Thỏ và Cọp có hàng loạt dị bản khác nhau
mà chúng tôi mới chỉ sưu tầm được 10 dị bản, nhưng nhìn rộng hơn, nếu lấy Thỏ làm
nhân vật chính trung tâm thì đã sưu tầm được 24 truyện và dị bản kể về nhân vật Thỏ.
Mỗi lần kể nghệ nhân chỉ nhớ một số tình tiết, dù truyện chỉ dừng lại ở đó thì chúng tacũng có quyền gọi đó là một dị bản của tác phẩm-loại tác phẩm xâu chuỗi hay kếtchuỗi Không có dị bản nào có đủ các motif tình tiết mà chúng tôi đã thống kê, cũng
chưa thể cả quyết là truyện về Thỏ nói chung hay truyện Thỏ và Cọp có bao nhiêu dị
bản và dị bản tổng quát nhất có bao nhiêu tình tiết, mỗi tình tiết là một mẹo lừa đượcthực hiện thành công
Trật tự các motif tình tiết cũng rất khác nhau trong từng dị bản Có dị bản bắt đầubằng việc Cọp dẫm chết con của Thỏ như là motif nguyên nhân dẫn tới chuỗi hànhđộng trả thù mà Thỏ dành cho Cọp, truyện chỉ kết thúc khi Cọp bị sa xuống hố, bị chínhThỏ lấp hố hoặc báo người Chăm bắt Cọp Cũng có thể có lối kết thúc khác: Thỏ đốtCọp có vằn, hoặc làm cháy con của Cọp, trả được món nợ thì kết thúc chuỗi mẹo lừa.Nhưng cũng có dị bản ngay từ đầu đưa ra tình tiết Cọp làm cỏ lúa không xuể, nhờ Thỏlàm giùm hoặc chính Thỏ gợi ý làm giùm với điều kiện là Cọp đãi cơm gà rượu…và kếtquả là Thỏ ăn hoặc cuốc hết lúa Cọp, chừa cỏ lại
Với 9 dị bản Rùa và Khỉ xung đột khôn dại chủ yếu diễn ra giữa Rùa và Khỉ, lúc
này Rùa đóng vai khôn của Thỏ, vai khờ dại của Cọp “được chuyển” cho Khỉ Cọp cóthể xuất hiện trong một số dị bản của nhóm A.2 này, thường xuất hiện trong phần đầucủa hệ thống nhưng không phải ngay từ đầu Phải qua các tình tiết như Rùa và Khỉ kếtbạn làm rẫy, bẫy được heo và khiêng heo, Khỉ lười và nhanh nhẩu chọn đầu nhẹ, Rùakhôn ngoan cho được như ý nhưng đầu nhẹ có gai, đau quá Khỉ đành bàn với Rùa làmthịt heo chia nhau và nhân vật Cọp xuất hiện đòi được chia thịt… Tiếp đó là Rùa và Khỉđồng lòng lừa Cọp đến khi Cọp bị chết Quan hệ Khỉ và Rùa lại tiếp diễn khi nhân vậtthứ ba đã rút khỏi “sân chơi”
Kết cấu của cả 4 nhóm: Thỏ và Cọp (Rùa và Khỉ), Thỏ và Người (Khỉ và Người), Yut và Đời, Chàng Ngốc đều rất lỏng lẻo, trật tự trước sau trong liên kết có thể
bị vi phạm tùy trí nhớ của nghệ nhân, tùy từng dị bản mà khác nhau Trừ trường hợp kểvề Măng K’Ron đi bán kiến thì trật tự là chặt chẽ: gà ăn kiến - đền gà, chó ăn gà – đềnchó… Sự lỏng lẻo trong kết cấu chung toàn hệ thống truyện là đặc điểm quan trọng thứ
ba của truyện hài-ngụ ngôn.