1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

việc nghiên cứu về cổ phần hóa đối với công ty vận tải hàng hóa đường sắt

133 264 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo ra loại hìnhdoanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo người lao động để sửdụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP 4

1.1 Các loại hình doanh nghiệp 4

1.1.1 Doanh nghiệp và bản chất pháp lý của doanh nghiệp 4

1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp 6

1.1.3 Ưu điểm và hạn chế của các loại hình doanh nghiệp 9

1.1.4 Doanh nghiệp nhà nước và vấn đề sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước .15

1.2 Các khái niệm cơ bản về cổ phần hóa Doanh nghiệp 24

1.2.1 Khái niệm cổ phần hóa 24

1.2.2 Đặc điểm của Cổ phần hoá 25

1.2.3 Mục tiêu của Cổ phần hóa 26

1.2.4.Đối tượng cổ phần hoá 26

1.2.5 Các hình thức cổ phần hóa 27

1.3 Sự cần thiết tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp 27

1.3.1 Cổ phần hoá là xu hướng chung ở nhiều nước 27

1.3.2 Xuất phát từ thực trạng hoạt động kém hiệu quả của Doanh nghiệp Nhà nước 28

1.3.3 Xuất phát từ sự thay đổi nhận thức về vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước 29

1.3.4 Cổ phần hoá là sự lựa chọn tốt nhất của các Doanh nghiệp 29

1.4 Giới thiệu chung về cổ phần hóa doanh nghiệp ở Việt Nam 31

1.4.1 Kết quả đạt được: 31

1.4.2 Hạn chế, yếu kém: 34

1.5 Những đặc thù của Doanh nghiệp Vận tải Đường sắt 34

1.5.1 Đặc điểm chung: 34

1.5.2 Đặc điểm riêng: 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TY VẬN TẢI HÀNG HÓA ĐƯỜNG SẮT VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA CHÍNH PHỦ, CỦA NGÀNH VỀ CỔ PHẦN HÓA ĐỐI VỚI CÔNG TY VẬN TẢI 39

2.1 Giới thiệu chung vế Công ty Vận tải hàng hóa đường sắt 39

Trang 2

2.1.3 Giai đoạn từ ngày 05 tháng 12 năm 2011 đến nay: 53

2.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Vận tải Hàng hóa Đường sắt trong những năm gần đây 56

2.2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty VTHH đường sắt năm 2008 và năm 2009 56

2.2.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty VTHH đường sắt năm 2010 khi thành lập các chi nhánh vận tải 61

2.3 Đánh giá và phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Vận tải hàng hóa Đường sắt 62

2.3.1 Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh : 62

2.3.2 Những mặt đã đạt được 66

2.3.3 Những mặt còn hạn chế: 67

2.4 Chủ trương của chính phủ và những văn bản hướng dẫn về quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp vận tải đường sắt 69

2.4.1 Chủ trương của chính phủ về quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp vận tải đường sắt 69

2.4.2 Quan điểm của ngành đường sắt về cổ phần hóa: 73

2.4.3 Những văn bản hướng dẫn về quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp vận tải đường sắt 74

2.5 Kinh nghiệm cổ phần hóa ngành đường sắt của một số nước trên thế giới 76

2.5.1 Kinh nghiệm cổ phần hóa nói chung: 76

2.5.2 Quá trình cổ phần hóa công ty Đường sắt quốc gia Nhật bản (JNR – Japanist National Railway) 77

2.5.3 Kinh nghiệm của Thụy Điển về vấn đền tư nhân hóa, cổ phần hóa đường sắt 79

CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU VỀ CỔ PHẦN HÓA ĐỐI VỚI CÔNG TY VẬN TẢI HÀNG HÓA ĐƯỜNG SẮT 81

3.1 Mục tiêu cổ phần hóa của công ty 81

3.2 Cơ sở pháp lý – khoa học 81

Trang 3

3.2.3 Cơ sở pháp lý - khoa học về cổ phần hóa 91

3.2.4 Quy trình cổ phần hóa 92

3.3 Điều kiện sản xuất kinh doanh khi tiến hành cổ phần hóa 97

3.3.1 Điều kiện về tổ chức – quản lý 97

3.3.2 Điều kiện về vốn 98

3.3.3 Điều kiện về cơ sở vật chất 99

3.4 Cơ hội và nguy cơ rủi ro 100

3.4.1 Cơ hội đối với công ty khi cổ phần hóa 100

3.4.2 Nguy cơ rủi ro 105

3.5 Lộ trình cổ phần hóa 107

3.5.1 Quy trình chuyển DNNN thành công ty cổ phần 107

3.5.2 Xác định giá trị doanh nghiệp 112

3.5.3 Llập hồ sơ cổ phần hóa doanh nghiệp 116

3.6 Các giải pháp thực hiện cổ phần hóa 119

3.6.1 Tạo môi trường pháp lý đầy đủ, ngày càng đồng bộ hơn cho tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần 119

3.6.2 Hoàn thiện việc xác định giá trị doanh nghiệp: 120

3.6.3 Quan tâm đến lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa 121

3.6.4 Mở rộng vốn đầu tư cho doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá 122

3.6.5 Các giải pháp khác 124

KẾT LUẬN 126

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới của đất nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu, những bước đi đáng kể, tuy vậy chúng ta vẫn còn nhiều khókhăn thử thách trong công cuộc gia nhập các khối kinh tế lớn Vì vậy, tronggiai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước với xu thế hộinhập với nền kinh tế của khu vực và thế giới thì chúng ta càng cần phải tậptrung lực lượng, tranh thủ thời cơ, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàndiện và đồng bộ, tiếp tục phát huy và phát triển nền kinh tế nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Dưới sự tác động của chính sách đổi mới, việc chuyển đổi, sắp xếp lạicác doanh nghiệp Nhà nước là một tất yếu cho phù hợp với quá trình hội nhập

và cạnh tranh Chính vì vậy Nhà nước đề ra chủ trương cổ phần hóa cácdoanh nghiệp Nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn là một nộidung quan trọng trong tiến trình đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệpnhà nước

Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo ra loại hìnhdoanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo người lao động để sửdụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn xá hội vàophát triển sản xuất kinh doanh; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năngđộng, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước, phát huy vai trò làm chủ thực

sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đốivới doanh nghiệp; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp

và của người lao động

Trong xu thế phát triển của ngành đường sắt Việt Nam, nhà nước đã vàđang quan tâm đầu tư, phát triển giao thông vận tải đường sắt (Thủ tướngchính phủ đã có quyết định 1686/QĐ-ĐS ngày 20/11/2008 phê duyệt chiếnlược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầmnhìn đến năm 2050 vv ), Chính phủ đã duyệt đề án chuyển đổi của ĐSVN(quyết định 474/QĐ-TTG ngày 31/3/2011 phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt

Trang 5

động của ĐSVN) trong đó lộ trình chuyển đổi của Công ty vận tải hàng hóađường sắt là chuyển đổi thành Công ty TNHH 1 thành viên từ 01/7/2011, tiếntới cổ phần hóa vào năm 2012, đây là xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầuphát triển và đổi mới của ngành.

Từ năm 2003 ngành đường sắt đã thành lập 3 Công ty vận tải đườngsắt, trong đó có Công ty Vận tải hàng hóa Đường sắt với hướng kinh doanhtheo sản phẩm, bóc tách dần các sản phẩm tác nghiệp nhằm chuẩn bị tiền đềcho việc cổ phần hóa Công ty hàng hóa ĐS

Quá trình cổ phần hóa Công ty Vận tải hàng hóa Đường sắt rất đặc thù

và sẽ gặp không ít khó khăn vì: sản phẩm tấn – km hàng hóa do nhiều sảnphẩm tác nghiệp tạo thành, việc cân đối thu chi của ngành đang khó khăn, cơcấu quản lý, cơ cấu tổ chức, quản lý vốn, tài sản đang theo phân cấp củangành, chồng chéo, khó xác định đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ các quy định củanhà nước về công tác cổ phần hóa doanh nghiệp ứng dụng phù hợp với cổphần hóa Công ty Vận tải hàng hóa Đường sắt

Vì vậy việc nghiên cứu về cổ phần hóa đối với công ty Vận tải hànghóa Đường sắt là rất quan trọng và cần thiết

2 Mục đích nghiên cứu :

Hiểu được chủ trương, đường lối, những quy định của Nhà nước, củangành để nghiên cứu đề ra các bước tiến hành lộ trình cổ phần hóa và cácgiải pháp thực hiện hợp lý cho việc cổ phần hóa Công ty Vận tải hàng hóaĐường sắt

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài :

Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận về quá trình cổ phần hóa doanhnghiệp và khả năng ứng dụng vào thực tiễn đối với Công ty Vận tải hàng hóaĐường sắt

4 Phương pháp nghiên cứu :

Sử dụng phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng,ngoài ra còn sử dụng các phương pháp tính của thống kê học,các môn quản trị

Trang 6

doanh nghiệp và các môn khoa học chuyên ngành khác để nghiên cứu, thựchiện nhiệm vụ của luận văn.

5 Kết cấu của luận văn:

Chương 1: Tổng quan về cổ phần hóa Doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng về công ty Vận tải Hàng hóa Đường sắt và chủ

trương của chính phủ, của ngành về cổ phần hóa đối với các công ty vận tải

Chương 3: Nghiên cứu về cổ phần hóa đối với công ty Vận tải Hàng

hóa Đường sắt

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP

1.1 Các loại hình doanh nghiệp:

1.1.1 Doanh nghiệp và bản chất pháp lý của doanh nghiệp:

1.1.1.1 Doanh nghiệp:

Doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng trong nền kinh tế quốc dân mà

ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng cần phải có để hoạt động phục vụ nềnkinh tế của nước đó Đó là nơi cung cấp, sản xuất ra của cải vật chất, các loạihình dịch vụ chính cho con người

Có thể mô tả khái quát doanh nghiệp như sau:

Theo định nghĩa của Viện Thống kê và nghiên cứu kinh tế của Pháp(INSEE) thì: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó

là sản xuất ra các của cải vật chất hoặc các dịch vụ dùng để bán

Theo luật doanh nghiệp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namnăm 2005 quy định tại điều 4: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”

DOANH NGHIỆP

NƠI SẢN XUẤT

Doanh nghiệp kết hợp các phương

tiện về nhân lực, kỹ thuật và tổ chức

để sản xuất ra của cải và dịch vụ

NƠI PHÂN CHIADoanh nghiệp phân phối thu nhập cho người lao động, các chủ sở hữu

và các nhà cung cấp

NƠI HỢP TÁCĐây đồng thời cũng là nơi xung đột

giữa các thành viên của doanh nghiệp

(những người ăn lương và các

nhà lãnh đạo)

NƠI THỰC HIỆN QUYỀN LỰCChủ doanh nghiệp ra các quyết định, các cán bộ truyền đạt, các nhân viên

và công nhân thực hiện chúng

Trang 8

Như vậy doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế có chức năngchung là sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu của thị trườngnhằm đạt được lợi nhuận hoặc mang lại lợi ích xã hội cao nhất.

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện cáchoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bánhàng hóa hoặc làm dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hộiđồng thời thông qua các hoạt động đó để kiếm lời

1.1.1.2 Bản chất pháp lý của Doanh nghiệp:

Bản chất pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện naykhông giống nhau hoàn toàn vì nó còn phụ thuộc một số yếu tố như hình thức

sở hữu Nhưng bản chất pháp lý của doanh nghiệp nói chung được thể hiệnqua các vấn đền chủ yếu sau:

- Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định củapháp luật là phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh tại cơquan nhà nước có thẩm quyền

- Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch, cótài sản, có sử dụng lao động làm thuê Doanh nghiệp là nơi diễn ra hoạt độngsản xuất vật chất thì phải dựa trên các yếu tố về tư liệu sản xuất và lao động.Muốn hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp nào cũng phải có vốn kinhdoanh, có tài sản, trong một số trường hợp nhất định số vốn đầu tư ban đầu(vốn điều lệ) không được thấp hơn mức vốn theo qui định của pháp luật (vốnpháp định) Doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh có qui mô kinh doanh ở mức

độ nhất định

- Mục đích hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp nói chung là nhằmmục đích kinh doanh Kinh doanh được hiểu “ là việc thực hiện một, một sốhoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sảnphẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Điều 3,Luật doanh nghiệp) Theo nghĩa thông thường, doanh nghiệp phải được quanniệm là chủ thể hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Nhưng trong luật thực địnhcủa Việt Nam hiện nay, có nhiều tổ chức kinh tế hoạt động không phải với

Trang 9

mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận nhưng vẫn được coi là doanh nghiệp, đó là cácdoanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích (Điều 3, Luật DNNN và Điều 1,Nghị định 56/CP ngày 02/10/1996).

- Doanh nghiệp phải là chủ thể hạch toán kinh doanh độc lập, có nghĩa nó

là chủ thể tự quyết định việc thu, chi tài chính, tự mình hưởng thành quả cũngnhư chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả hoạt động kinh doanh của mình

- Doanh nghiệp phải là tổ chức kinh tế được thành lập và hoạt độngdưới một hình thức pháp lý nhất định do pháp luật quy định Hình thức pháp

lý của doanh nghiệp được quy định cụ thể trong các luật về doanh nghiệpnhư: Công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệpliên doanh, hợp tác xã

1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp:

Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinhdoanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hìnhdoanh nghiệp là:

- Uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng;

- Khả năng huy động vốn;

- Rủi ro đầu tư;

- Tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp;

- Tổ chức quản lý doanh nghiệp

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giaodịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của phápluật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt nam hiện có LuậtDoanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, luật Hợp tác xã, luật Các tổchức tín dụng Theo đó, Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hìnhkhác nhau Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên nhữnghạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp

Trang 10

1.1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân.Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợinhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quyđịnh của pháp luật Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuêngười khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp thuê ngườikhác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫnphải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhânhoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt độngkinh doanh của Doanh nghiệp Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanhnghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanhnghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanhnghiệp khác Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân và tính chịu tráchnhiệm vô hạn về tài sản nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủdoanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanhnghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanhnghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp

1.1.2.2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH)

1.1.2.2.1 Công ty TNHH một thành viên:

Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp có những đặc điểm sau:

- Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: cơquan nhà nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại doanhnghiệp, các tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Trang 11

- Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốnđiều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp.

- Công ty không được phát hành cổ phần

- Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệmhữu hạn đối với kết quả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệcủa công ty

1.1.2.2.1 Công ty TNHH hai thành viên trở lên:

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có đặc điểmchung sau:

- Hình thức sở hữu của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của cácthành viên công ty

- Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thànhviên mỗi công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi

- Công ty không được phát hành cổ phần

- Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệmhữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp

1.1.2.3 Công ty cổ phần:

Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba vàkhông hạn chế tối đa

- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huyđộng vốn theo quy định của pháp luật về chứng khoán

- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu tráchnhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ vànghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vàodoanh nghiệp

Trang 12

1.1.2.4 Công ty hợp danh

Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm sau đây:

- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợpdanh, có thể có thành viên góp vốn

- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uytín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về cácnghĩa vụ của công ty

- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công tytrong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

- Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp đăng kýkinh doanh

- Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

để huy động vốn

Như vậy công ty hợp danh có hai loại: Công ty hợp danh mà tất cả cácthành viên đều là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viênhợp danh và thành viên góp vốn

1.1.3 Ưu điểm và hạn chế của các loại hình doanh nghiệp:

1.1.3.1 Doanh nghiệp tư nhân:

Theo điều 141- Luật Doanh nghiệp: Doanh nghiệp tư nhân là doanhnghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sảncủa mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; chủ sử hữu duy nhất của doanhnghiệp tư nhân là một cá nhân; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập mộtdoanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳloại chứng khoán nào

Theo điều 143- Luật Doanh nghiệp: Chủ doanh nghiệp tư nhân là đạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp và có toàn quyền quyết định đối với tất

cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sửdụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính kháctheo quy định của pháp luật Chủ doanh nghiệp tư nhân có thẻ trực tiếp hoặc

Trang 13

thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp thuêngười làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫnphải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Ưu điểm của doanh nghiệp tư nhân: Do là chủ sở hữu duy nhất củadoanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyếtđịnh các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Chế

độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đốitác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởipháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đó thì doanh nghiệp tư nhân cũng cómột số nhược điểm: Do không có tư cách pháp nhân và tính chịu trách nhiệm

vô hạn về tài sản nên mức độ rủi ro của chủ doanh nghiệp tư nhân cao, chủdoanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanhnghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanhnghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp

1.1.3.2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH)

1.1.3.2.1 Công ty TNHH một thành viên:

Theo điều 63 – Luật Doanh nghiệp 2005: Công ty trách nhiệm hữu hạnmột thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn.Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên là công ty do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ

sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp Công ty TNHHmột thành viên không được giảm vốn điều lệ và chỉ có thể tăng vốn điều lệbằng việc chủ sở hữu công ty đầu tư thêm hoặc huy động vốn góp của ngườikhác (khi đó sẽ chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên)

Trong công ty TNHH một thành viên có quy định phân biệt quyền vànghĩa vụ của chủ sở hữu là cá nhân và chủ sở hữu là tổ chức (Điều 64)

Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phầnvốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác Công ty trách nhiệm hữu

Trang 14

hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khôngđược quyền phát hành cổ phiếu và không được giảm vốn điều lệ

Theo điều 66 Luật Doanh nghiệp 2005quy định các hạn chế đối với chủ

sở hữu công ty là không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đãgóp vào công ty Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cáchchuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác.Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty khôngthanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả

Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lýnội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồngquản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc

Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có đầy đủ cácđặc thù của công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên trở lên.Điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên vàcông ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên trở lên là công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viênnày có thể là tổ chức hoặc cá nhân

Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữucông ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động củacông ty

1.1.3.2.2 Công ty TNHH hai thành viên trở lên:

Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệptrong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanhnghiệp Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thànhviên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi Công ty trách nhiệmhữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền pháthành cổ phiếu để huy động vốn

Trang 15

Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hộiđồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty tráchnhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát

Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ởViệt nam hiện nay Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệmhữu hạn đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như:

- Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu tráchnhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công tynên ít gây rủi ro cho người góp vốn;

- Số lượng thành viên công ty không nhiều và các thành viên thường làngười quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quáphức tạp;

- Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư

dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhậpcủa người lạ vào công ty

Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những hạnchế nhất định như:

- Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác,bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng;

- Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của phápluật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh;

- Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế dokhông có quyền phát hành cổ phiếu

Trang 16

quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; sốlượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa (Điều 77-Luật Doanh nghiệp 2005)

Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán

ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán

Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị vàGiám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổđông phải có Ban kiểm soát (Điều 95 – Luật Doanh nghiệp 2005)

Lợi thế của công ty cổ phần là:

- Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các

cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công tytrong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao;

- Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết cáclịch vực, ngành nghề; cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạođiều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty;

- Khả năng huy động vốn của công ty cổ phầnrất cao thông qua việc pháthành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần;

- Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng,

do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cảcác cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần

Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng cónhững hạn chế nhất định như:

- Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượngcác cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậmchí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích;

- Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loạihình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật,đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán

Trang 17

- Chủ sở hữu không trực tiếp tham gia vào hoạt động hàng ngày củacông ty đồng thời loại hình công ty cổ phần cũng có nguy cơ dễ bị ngườikhác, công ty khác thôn tính.

1.1.3.4 Công ty hợp danh:

Theo điều 130 – Luật doanh nghiệp 2005: Công ty hợp danh là doanhnghiệp phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty (thànhviên hợp danh), có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cánhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệmbằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, thành viên gópvốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn

đã góp vào công ty Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày đượccấp đăng ký kinh doanh và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoánnào để huy động vốn

Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạtđộng kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về cácnghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo

tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty

và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty Các thành viên hợp danh cóquyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty

Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân củanhiều người Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viênhợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng,đối tác kinh doanh Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do sốlượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau

Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vôhạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao, mọi thành viêncông ty đều có quyền quản lý công ty như nhau

Trang 18

1.1.4 Doanh nghiệp nhà nước và vấn đề sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước

1.1.4.1 Khái quát về doanh nghiệp nhà nước:

Doanh nghiệp nhà nước tồn tại phổ biến ở các quốc gia trên thế giới vớinhững quy mô và vị trí khác nhau Doanh nghiệp nhà nước là chủ thể chính củanền kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa, chúng chiếm vai trò rất quan trọng

và gần như tuyệt đối các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Hầu hết các hoạtđộng kinh tế chủ yếu đều thông qua các doanh nghiệp nhà nước Đối với cácnước tư bản chủ nghĩa, doanh nghiệp nhà nước cũng đóng một vai trò nhất địnhtrong nền kinh tế, ở những nước này thì Nhà nước dùng chính các doanhnghiệp nhà nước để can thiệp vào các hoạt động kinh tế thị trường, Nhà nướctrực tiếp nắm những tiềm lực về kinh tế quan trọng và các doanh nghiệp côngích để duy trì sự phát triển cân đối, có định hướng của nền kinh tế quốc dân

Do đó, vai trò mong muốn của các quốc gia đối với doanh nghiệp nhànước lại không đồng nhất: đối với nhiều quốc gia doanh nghiệp nhà nước cóvai trò xây dựng nền kinh tế tự chủ; còn đối với nhiều quốc gia khác thì doanhnghiệp nhà nước chỉ hỗ trợ vật chất để Nhà nước can thiệp trực tiếp vào đờisống kinh tế Nhưng tựu chung lại thì doanh nghiệp nhà nước phải thực hiệnnhững nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế: Các lĩnh vực như giao thông,điện lực, thông tin, các dịch vụ công cộng, vận tải hành khách, hàng hóathường ít được doanh nghiệp quan tâm và đầu tư; ngoài ra các ngành này đòihỏi vốn đầu tư lớn quá khả năng tài chính, kỹ thuật và công nghệ đối với cácdoanh nghiệp và thường có rủi ro lớn Vì vậy doanh nghiệp nhà nước đượccoi là giải pháp tối ưu để xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế nhất là đốivới các quốc gia đang phát triển, khi doanh nghiệp tư nhân còn nhỏ, yếu kém

về kỹ thuật và tài chính Ngoài ra doanh nghiệp nhà nước còn phải sản xuấtnhững hàng hóa đặc biệt mà các thành phần khác không thể hoặc không đượcsản xuất như chất nổ, chất phóng xạ, chất độc, dịch vụ viễn thông quốc tế…

- Tạo được nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để phát triển kinh tế xãhội Đây là điều rất cần thiết đối với các quốc gia đang phát triển khi mà nông

Trang 19

nghiệp không đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Doanh nghiệp nhà nướcđóng góp cho ngân sách và góp phần tạo ra tích lũy cho Nhà nước.

- Điều tiết nền kinh tế: Nhà nước có thể tác động tới nền kinh tế bằngcác doanh nghiệp nhà nước nhằm mục đích phù hợp với lợi ích của quốc giatheo các chính sách của từng nước

- Thúc đẩy và đảm bảo việc làm: Doanh nghiệp nhà nước thường cóquy mô lớn và thực hiện những dự án như xây dựng hạ tầng, khai thác khoángsản, vận chuyển hàng hóa và hành khách… nên cần một lực lượng lao độngrất lớn

- Tăng cường phát triển nền kinh tế quốc dân và củng cố chủ quyềnquốc gia: Doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo cho nền kinh tế của quốc gia có thể trụvững trước sức ép của các nước khác cũng như khi cần điều chỉnh cơ cấu,chính sách kinh tế

Ngoài ra tùy thuộc vào tình hình từng nước mà doanh nghiệp nhà nướccòn phải có nhiệm vụ như xóa đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề an ninh

xã hội, đóng góp cho ngân sách…

Tùy từng cách tiếp cận mà có nhiều định nghĩa khác nhau về doanhnghiệp nhà nước

Trong báo cáo của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc(UNIDO): Doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là các tổ chức kinh tếthuộc sở hữu nhà nước do Nhà nước kiểm soát có thu nhập chủ yếu từ việc tiêuthụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ Theo cách này, doanh nghiệp nhà nước gồmcác doanh nghiệp thuộc sự quản lý của các bộ, ngành, các doanh nghiệp màNhà nước giữ cổ phần chi phối, các doanh nghiệp nhà nước giữ cổ phần lớn

Tại Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp nhà nước thay đổi qua từng thời

kỳ theo cơ chế quản lý kinh tế

+ Trong giai đoạn 1960 – 1986:

Nước ta theo cơ chế hạch toán tập trung, các tổ chức kinh tế nhà nước

Trang 20

tồn tại dưới dạng các xí nghiệp quốc doanh, nông trường quốc doanh, cáccông ty quốc doanh Lúc này chỉ có định nghĩa về các xí nghiệp, nông trường,công ty quốc doanh; ví dụ theo Điều 1 Điều lệ Xí nghiệp công nghiệp quốcdoanh ban hành theo Nghị định số 93/CP ngày 08/04/1977: “ Xí nghiệp côngnghiệp quốc doanh là đơn vị sản xuất và kinh doanh của nền kinh tế xã hộichủ nghĩa thống nhất, là nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội

và tạo nguồn tích lũy xã hội chủ nghĩa Xí nghiệp sản xuất và kinh doanh theo

kế hoạch nhà nước được quyết định từ Trung ương trên những chỉ tiêu chủyếu nằm trong cân đối chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và được xâydựng từ cơ sở”

+ Giai đoạn 1987 – 1990:

Đây là giai đoạn bước ngoặt của nền kinh tế khi chuyển từ cơ chế kếhoạch hóa tập trung sang hạch toán theo cơ chế thị trường có sự điều tiết củanhà nước, việc quản lý và tổ chức các doanh nghiệp nhà nước cũng bước vàogiai đoạn đổi mới Đại hội VI của Đảng đã ra quyết định: “ Phải đổi mới cơchế quản lý, đảm bảo cho các đơn vị kinh tế quốc doanh có quyền tự chủ,thực sụ chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, lập lại kỷ cươngtrong hoạt động kinh tế”

Vì vậy, Bản Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh năm 1988 đãhoàn thiện hơn như trong Điều 1: “ Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh ( xínghiệp độc lập, xí nghiệp liên hợp) là đơn vị kinh tế cơ sở, khâu cơ bản củanền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa, là đơn vị sản xuất hàng hóa có kếhoạch nhằm đáp ứng nhu cầu càng tăng của xã hội, có tư cách pháp nhân vàhạch toán độc lập”

Như vậy, địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước (xí nghiệp côngnghiệp quốc doanh) đã thay đổi:

- Có tư cách pháp nhân, được coi như những chủ thể kinh tế độc lập, tựhạch toán

- Tài sản của doanh nghiệp nhà nước được giao cho người đứng đầudoanh nghiệp quản lý

Trang 21

- Tài sản được phân loại theo tiêu chí nguồn hình thành: vốn ngân sáchhay từ các nguồn vốn khác.

- Được chủ động trong việc định đoạt tài sản hình thành từ vốn vayhoặc vốn tự có

- Được tham gia xuất khẩu trực tiếp hay gián tiếp

- Được tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài phạm vi chỉ tiêu kế hoạchđược giao nếu tự thực hiện được

+ Giai đoạn 1990 – 1998:

Cùng với sự chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa thì cách nhìn nhận các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũngthay đổi; mặt khác để doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả hơn cần có

cơ sở pháp lý vững chắc hơn Vì vậy năm 1995 luật doanh nghiệp nhà nướcđược ban hành đã thể chế hóa nhiều quan điểm mới:

Trong luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995 thì doanh nghiệp nhànước được định nghĩa như sau: “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế

do Nhà nước đầu tư vốn và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạtđộng công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao.Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân

sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi sốvốn do doanh nghiệp quản lý Doanh nghiệp nhà nước có tên goi, có con dấuriêng và có trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam”

Như vậy đã có sự thay đổi lớn trong các chính sách và cơ cấu kinh tế ởnước ta:

- Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn,thành lập và tổ chức quản lý Trước đây doanh nghiệp có 100% vốn thuộc sởhữu nhà nước mới được gọi là doanh nghiệp nhà nước, nhưng hiện nay nhữngdoanh nghiệp mà sở hữu Nhà nước chiếm đa số vốn vẫn được coi là doanhnghiệp nhà nước Như vậy, doanh nghiệp mà sở hữu Nhà nước không chiếm

đa số nhưng vẫn nắm quyền kiểm soát thì vẫn không được coi là doanhnghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp được Nhà nước

Trang 22

đầu tư vốn, thành lập và do Nhà nước trực tiếp quản lý, các hoạt động củadoanh nghiệp nhà nước đều căn cứ vào ý chủ quan của chủ sở hữu, nhữngngười quản lý doanh nghiệp không phải là chủ sở hữu mà chỉ là người đạidiện cho doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước cử ra.

- Do yêu cầu của những nhu cầu phúc lợi xã hội, an ninh quốc phòng

và có sự tác động của quy luật cạnh tranh nên doanh nghiệp nhà nước chiathành doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và doanh nghiệp nhà nướchoạt động sản xuất kinh doanh Với sự phân loại như thế sẽ tạo được sự bìnhđẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh vàdoanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, tạo điều kiện cho doanh nghiệpkinh doanh cạnh tranh bình đẳng, còn doanh nghiệp công ích được ưu tiênhướng tới các lợi ích công cộng

- Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, vì vậy nó có tính độclập khi hoạt động và có nhiều quan hệ với nhiều loại chủ thể khác nhau, phảithực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, trách nhiệm có giới hạn đối với nhà nước.Nhà nước chỉ có trách nhiệm giới hạn trong phạm vi nhà nước đầu tư vàodoanh nghiệp nhà nước

Ngày 10/12/2003, Chủ tịch nước đã công bố Luật doanh nghiệp nhànước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI

kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003

Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã sửa đổi bổ sung đầy đủ hơn.Theo điều 1 Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 quy định “ doanh nghiệpnhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có

cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước,công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”

Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã có những thay đổi cơ bản:

- Doanh nghiệp nhà nước không chỉ là tổ chức do Nhà nước sở hữu vốn

mà có cả các doanh nghiệp trong đó Nhà nước có cổ phần hoặc số vốn gópcủa Nhà nước nắm quyền chi phối Như vậy gn bao gồm các loại sau:

Trang 23

Hình 1.2: Các loại hình doanh nghiệp nhà nước hiện nay

+ Công ty nhà nước độc lập, Tổng công ty nhà nước: là doanh nghiệp

do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý

+ Công ty cổ phần nhà nước là công ty mà toàn bộ cổ đông là các công

ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước ủy quyền góp vốn

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công tytrách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên: làcông ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhànước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chứcđược nhà nước ủy quyền góp vốn

+ Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước: là doanhnghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ,Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

+ Doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước: là doanh nghiệp màphần vón góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống

- Các hình thức tổ chức của doanh nghiệp nhà nước được bình đẳng với

Doanh nghiệpnhà nước

Công ty TNHH nhà nước một thành viên

Công ty TNHH

NN có hai thành viên trở lên

DN có

cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước

Doanh nghiệp

có một phần vốn góp của nhà nước

Trang 24

nhau tức là bất cứ doanh nghiệp nhà nước nào dù có 100% vốn của Nhà nướchay vốn Nhà nước chỉ chi phối thì cũng bình đẳng với nhau.

- Luật chấp nhận có thể chuyển đổi hình thức từ doanh nghiệp nhànước thành doanh nghiệp thông thường bằng hình thức mua bán, chuyểnnhượng cổ phần Nếu trong quá trình hoạt động, có sự vận động giữa các cổđông khác nhau mà Nhà nước không còn đủ số cổ phần để nắm quyền chiphối thì doanh nghiệp đó sẽ không còn là doanh nghiệp nhà nước nữa

- Quyền kiểm soát trở thành tiêu chí để đánh giá doanh nghiệp đó cóphải là doanh nghiệp nhà nước hay không? Tuy nhiên đây là tiêu chí mangtính định lượng Trong đó, quyền chi phối đối với doanh nghiệp “ là quyềnđịnh đoạt đối với điều lệ hoạt động, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chứccác chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản lý và các quyết định quản

lý quan trọng khác của doanh nghiệp đó”

Về phương diện ngành nghề và lĩnh vực hoạt động, doanh nghiệp nhànước lại bao gồm nhiều loại khác nhau; ngoài lĩnh vực hoạt động kinh doanh

và hoạt động công ích như đã nêu ở trên, doanh nghiệp nhà nước còn hoạtđộng theo nhiều ngành như doanh nghiệp xây dựng, doanh nghiệp tư vấn,doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị, doanh nghiệp vận tải…

1.1.4.2 Vấn đề sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước:

Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện các chủtrương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp nhà nước, khi bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp vànền kinh tế còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp nhà nước đã vượt qua nhều thửthách, đứng vững và không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thànhtựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, đưa đất nước ta rakhỏi khủng hoảng kinh tế, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Doanh nghiệp nhà nước đã chi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt

và phẩm chất thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng thế và lực của

Trang 25

đất nước Loại hình doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sảnphẩm trong nước, trong tổng thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu và các côngtrình hợp tác đẩu tư với nước ngoài; đây là lực lượng quan trọng trong việcthực hiện các chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai và bảo đảm nhiềusản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng và an nình.Doanh nghiệp nhà nước ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường , năng lựcsản xuất tiếp tục tăng, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn, trình độ công nghệ vàquản lý ngày càng tiến bộ, hiệu quả và sức cạnh tranh từng bước được nânglên, đời sống của người lao động từng bước được cải thiện.

- Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động tư vấn trong ngành giao thôngvận tải cũng góp phần phục vụ công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đạihóa của đất nước: nhiều công trình giao thông được thiết kế, xây dựng đã làmđổi mới bộ mặt xã hội, mạng lưới giao thông rộng khắp tới các vùng sâu vùng

xa đã góp phần xóa đói giảm nghèo, dần xóa bỏ ranh giới giữa miền núi vàđồng bằng…

Tuy nhiên, cũng như các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp nhànước hoạt động trong lĩnh vực vận tải còn có những mặt hạn chế yếu kémnhư: quy mô còn nhỏ, cơ cầu còn nhiều bất hợp lý, trình độ công nghệ còn lạchậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sảnxuất kinh doanh; kết quả sản xuất còn chưa tương xứng với các nguồn lực đã

có và sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợkhông có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việc làm và dôi dư cònlớn nên hiện nay các doanh nghiệp này đang đứng trước thách thức gay gắtcủa yêu cầu đổi mới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế

Có một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, đó là:

+ Các doanh nghiệp nhà nước thường được thành lập từ thời kỳ kếhoạch hóa tập trung với quy mô doanh nghiệp nhỏ, cơ cấu phân tán, trình độ

kỹ thuật công nghệ lạc hậu không đủ sức cạnh tranh trong cơ chế tị trường có

sự quản lý của Nhà nước

+ Hệ thống pháp luật, các chính sách về kinh tế chưa hoàn chỉnh và

Trang 26

việc sửa đổi cũng chưa được tiến hành một cách nhanh chóng kịp thời, hệthống văn bản điều chỉnh chủ yếu là những văn bản dưới luật có nhiều quyđịnh còn mâu thuẫn nhau.

+ Chưa xác định rõ chức năng quản lý nhà nước với hoạt động quản lýcủa doanh nghiệp nhà nước

+ Việc quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thanh tra, giám sát chưachuyển biến kịp trong môi trường kinh doanh mới, chưa đạt được hiệu quảcao, còn nhiều chồng chéo

+ Tổ chức, quản lý doanh nghiệp nhà nước hiện nay còn cồng kềnhkém hiệu quả

+ Việc phân bổ các doanh nghiệp theo vùng, ngành dẫn đến tình trạngnơi có quá nhiều doanh nghiệp cùng ngành nghề nhưng có nơi lại có quá ítdoanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động vận tải trong ngành giaothông vận tải thì khó khăn càng nhiều: quy trình quy phạm thiết kế chưa hoànchỉnh, trình độ của cán bộ còn hạn chế trong khi kỹ thuật khoa học công nghệtrên thế giới ngày càng cao…

Chính vì vậy, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phầnthì phải đổi mới và phải sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước nói chung và cácdoanh nghiệp nhà nước hoạt động vận tải nói riêng sao cho hoạt động có hiệuquả, những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không hiệu quả thì có thể giải thểhoặc tuyên bố phá sản

Với mục đích huy động thêm nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước vàosản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ cho tiến kịp trình độ công nghệ tiêntiến trên thế giới, tạo điều kiện cho người lao động, những người góp vốn đượclàm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý tạo động lực thúc đẩy doanhnghiệp kinh doanh có hiệu quả thì công ty cổ phần là một mô hình tối ưu

Xác định mục tiêu: cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo raloại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người laođộng, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm

Trang 27

vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và cơchế quản lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước, phát huy vaitrò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường giám sátcủa xã hội đối với doanh nghiệp Vì vậy Nghị quyết 05/NQ-TW ngày24/09/2001 Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX đề

ra mục tiêu trong giai đoạn 2001 – 2010: “Sắp xếp, đổi mới, phát triển, nângcao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệpnhà nước góp phần quan trọng bảo đảm các sản phẩm, dịch vụ công ích thiếtyếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh, là lực lượngnòng cốt đẩy nhanh tưng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp côngnghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

1.2 Các khái niệm cơ bản về cổ phần hóa Doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm cổ phần hóa:

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp màchủ sở hữu là Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty cổ phần(doanh nghiệp đa sở hữu) , chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luậtdoanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo các quy định về công ty cổ phầntrong Luật Doanh nghiệp

Từ nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khoáVII (6/1992), tiếp theo đó là quyết định số 202/CT(6/1992) của Chủ tịch Hộiđồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), rồi tới các nghị định số28/CP(7/5/1996), 25/CP(23/7/1997) và nghị định 44/CP(29/6/1998), cổ phầnhoá luôn được Đảng và Nhà nước xác định là việc chuyển các doanh nghiệpNhà nước thành các Công ty cổ phần nhằm thực hiện các mục tiêu:

- Chuyển một phần sở hữu Nhà nước sang sở hữu hỗn hợp

- Huy động vốn của toàn xã hội

- Tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự trongdoanh nghiệp

- Thay đổi phương thức quản lý trong doanh nghiệp

Trang 28

Như vậy có thể thấy: so với các nước đã và đang tiến hành Cổ phần hoátrên thế giới, thì ở nước ta, chủ trương Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nướclại xuất phát từ đường lối kinh tế và đặc điểm kinh tế xã hội trong giai đoạnhiện nay: chúng ta đang bố trí lại cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ chế quản lýcho phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chếthị trường có sự quản của Nhà nước Đó là đặc điểm lớn nhất chi phối, quyếtđịnh mục đích nội dung và phương thức Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhànước Vì vậy về thực chất Cổ phần hoá ở nước ta là nhằm sắp xếp lại doanhnghiệp Nhà nước cho hợp lý và hiệu quả, còn việc chuyển đổi sở hữu củaNhà nước thành sở hữu của các cổ đông trong công ty cổ phần chỉ là mộttrong những phương tiện quan trọng để thực hiện mục đích trên.

1.2.2 Đặc điểm của Cổ phần hoá

Chúng ta đều biết rằng cái cốt lõi của quá trình Cổ phần hoá là vấn đề

sở hữu và quyền sở hữu Còn Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là chuyểnđổi sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nước Sở hữu theo quan niệm của chủnghĩa Mác là quan hệ giữa lao động với những điều kiện khách quan của laođộng, đây là một phạm trù cơ bản bao trùm của quan hệ sản xuất , nó phảnánh lao động tổng thể của con người và những mối quan hệ của họ trong việcchiếm hữu những điều kiện khách quan phục vụ cho lơị ích của con người và

sự phát triển xã hội

Thông qua việc phân tích mối quan hệ bản chất của sở hữu ta thấy hiện

rõ hai nội dung cơ bản của sở hữu là : sở hữu xã hội và chiếm hữu tư nhân Trong đó sở hữu xã hội dùng để chỉ quan hệ lao động trừu tượng với toàn bộcác điều kiện khách quan trực tiếp của lao động Giữa sở hữu xã hội và chiếmhữu tư nhân có mối quan hệ biện chứng, vừa thống nhất vừa tách biệt Sở hữu

xã hội có hình thái vận động là giá trị mà sự biểu hiện của nó chủ yếu dướihình thức tiền tệ, còn chiếm hữu ta nhân luôn được thực hiện dưới dạng hoạtđộng cụ thể , có ích trong hệ thống phân công lao động xã hội mà sản phẩmcủa nó thể hiện dưới dạng một hàng hoá hay một loại dịch vụ nhất định Hệquả của sự thống nhất và tách rời giữa sở hữu xã hội và chiếm hữu tư nhândẫn đến sự phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản xã hội

Trang 29

Người có quyền sở hữu sẽ nắm quyền chi phối giá trị , nhằm mục đích tìmkiếm một giá trị cao hơn còn người có quyền sử dụng là người trực tiép thựchiện một hoạt động kinh tế cụ thể nào đó để tạo ra giá trị, đó là phương tiện

để tăng giá trị mối quan hệ của chúng có thể hiểu là mối quan hệ giữa mụcđích và phương tiện Chính sự tách biệt của sở hữu xã hội và chiếm hữu xãhội đã tạo ra các tầng lớp người trong xã hội

Việc vạch ra tính chất của sở hữu là một việc vô cùng quan trọng đểhiểu được sự vận động của nó trong nền kinh tế thị trường Sự tách biệt giữahai mặt của sở hữu là một quá trình lịch sử góp phần cho sự ra đời, sự pháttriển của thị trường chứng khoán và của công ty Cổ phần

1.2.3 Mục tiêu của Cổ phần hóa:

Cổ phần hóa DNNN, là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nướctrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu của cổ phầnhóa là:

- Góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanhnghiệp, tạo ra doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo ngườilao động, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lí năng động của doanh nghiệp

để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp

- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế,

xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triểndoanh nghiệp

- Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của các cổ đông,tăng cường sự giám sát của các nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động

1.2.4 Đối tượng cổ phần hoá:

Đối tượng cổ phần hóa là những doanh nghiệp nhà nước hiện có màNhà nước không cần giữ 100% vốn, không phụ thuộc vào thực trạng kết quảsản xuất kinh doanh Điều 2, Nghị định 109/2007/NĐ-CP, ngày 26/6/2007của Chính phủ quy định đối tượng cổ phần hoá là: Công ty nhà nước độc lậpthuộc các Bộ, ngành, địa phương; Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng

Trang 30

công ty nhà nước (kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước); Công ty mẹ trong

tổ hợp công ty mẹ - công ty con; Công ty thành viên hạch toán độc lập thuộcTổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập; Đơn vị hạch toánphụ thuộc của công ty nhà nước độc lập, tập đoàn, tổng công ty nhà nước,công ty mẹ, công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty; Công tytrách nhiệm hữu hạn do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Cơ quan nhànước có thẩm quyền căn cứ vào định hướng sắp xếp, phát triển doanh nghiệpnhà nước và điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp mà quyết định chuyểndoanh nghiệp nhà nước hiện có thành công ty cổ phần, trong đó Nhà nước có

cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt, cổ phần ở mức thấp, hoặc Nhà nướckhông giữ cổ phần

1.2.5 Các hình thức cổ phần hóa:

Hình thức cổ phần hóa bao gồm: giữ nguyên giá trị doanh nghiệp, pháthành cổ phiếu để thu hút thêm vốn; bán một phần giá trị hiện có của doanhnghiệp cho các cổ đông; cổ phần hóa đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp;chuyển toàn bộ doanh nghiệp thành công ty cổ phần (được quy định tại Điều

4, Nghị định 109/2007/NĐ-CP, ngày 26/6/2007 của Chính phủ) Trường hợp

cổ phần hóa đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp thì không được gây khó khănhoặc làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh các bộ phận còn lạicủa doanh nghiệp

1.3 Sự cần thiết tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp:

1.3.1 Cổ phần hoá là xu hướng chung ở nhiều nước

Trong những năm 1980, quá trình chuyển đổi sở hữu Nhà nước đã trởthành hiện tượng kinh tế chủ yếu trên toàn thế giới Chỉ tính từ năm 1984 -

1991, trên thế giới đã có 250 tỷ USD tài sản Nhà nước đem bán và chỉ tínhriêng 1991 đã chiếm 50 tỷ USD Làn sóng Cổ phần hoá được khởi đầu từVương quốc Anh cuối những năm 1970 với hàng chục xí nghiệp quốc doanhđược Cổ phần hoá đến 1991 Nhà nước thu được 34 tỷ bảng Sau đó quá trìnhnày đã lần lượt chuyển ra ở tất cả các nước công nghiệp phát triển với nhiềuhình thức phong phú trong đó Cổ phần hoá được lựa chọn nhiều nhất và trở

Trang 31

thành hiện tượng phổ biến Sau đó các nước đang phát triển cũng gia nhậpvào xu hướng Cổ phần hoá đang diễn ra phổ biến trên thế giới này và đến nay

có trên 80 đang Cổ phần hoá 1 cách tích cực

Trung Quốc cũng là một quốc gia đi từ quá độ lên chủ nghĩa xã hộinhưng khi ở sang nền kinh tế thị trường Trung Quốc cũng đã chọn giải pháp

Cổ phần hoá những thành tựu mà Trung Quốc đã và đang đạt được thoát khỏitình trạng nghèo nàn lạc hậu, phát triển kinh tế vững mạnh và hiện đại

Việc Doanh nghiệp Nhà nước nước ta Cổ phần hoá chứng tỏ đang hộinhập cùng với nền kinh tế thế giới và Cổ phần hoá là một đòi hỏi khách quankhi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước

và vẫn theo con đường xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Xuất phát từ thực trạng hoạt động kém hiệu quả của Doanh nghiệp Nhà nước

Các Doanh nghiệp Nhà nước đựơc hình thành trong cơ chế tập trungquan liêu bao cấp kéo dài hàng chục năm, trên cơ sở nguồn vốn cấp phát củangân sách Nhà nước và do đó tất cả hoạt động đều chịu sự kiểm soát và chiphối trực tiếp của Nhà nước Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thì cảmột khu vực kinh tế Nhà nước đồ sộ, cồng kềnh bộc lộ tất cả những yếu kém

về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chấp vá, khôngđồng bộ và xơ cứng trong việc thích ứng với cơ chế mới

Các Doanh nghiệp Nhà nước từ lâu đã không được đặt trong môitrường cạnh tranh, do đó chậm đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sảnphẩm Chế độ bao cấp bù lỗ tràn lan làm cho hạch toán kinh tế trong cácdoanh nghiệp Nhà nước chỉ là giả tạo, sản xuất không tính chi phí, như hiệntượng lãi giả, lỗ thật lại hết sức phổ biến Có thể kể ra một số dữ liệu: trong số12.084 có sở quốc doanh thì có tới 4.584 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ,chiếm trên 30% tổng số các doanh nghiệp Nhà nước Trong đó quốc doanhtrung ương có 501 cơ sở thua lỗ = 29,6% số cơ sở do trung ương quản lý,quốc doanh địa phương có 4.083 thua lỗ = 39,9% số đơn vị do địa phươngquản lý và với việc bù giá, bù lương, bù chênh lệch ngoại thương và hàng loạt

Trang 32

khoản bao cấp chuyển Nhà nước khác cho các doanh nghiệp Nhà nước làmcho gánh nặng tài chính và khoản vay nợ chuyển Nhà nước ngày càng nặng

nề trầm trọng, trong khoảng 85-90 tỷ lệ thiếu hụt ngân sách là > 30%

Tổ chức bộ máy trong các doanh nghiệp Nhà nước không phù hợp doquan niệm về sở hữu trong doanh nghiệp không rõ ràng, không có sự phânbiệt đầy đủ quyền sở hữu Nhà nước và quyền kinh doanh

Việc phân phối về tính chất không dựa trên nguyên tắc phân phối theolao động mà mang nặng tính bình quân không kích thích người quản lý vàcông nhân trong các Doanh nghiệp Nhà nước nâng cao hiệu quả công tác vànăng suất lao động Ngoài ra đội ngũ cán bộ với kiến thức và trình độ quản lýkhông phù hợp, thiếu năng động

Như vậy tình trạng … kém hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nướclàm cho nền kinh tế không thể phát triển được, chế độ quan liêu bao cấp kìmhãm sự phát triển lực lượng sản xuất, đẩy nền kinh tế vào khủng hoảng Do đókhi ở sang nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phầnthì việc Cổ phần hoá một bộ doanh nghiệp Nhà nước là cần thiết và cấp thiết

1.3.3 Xuất phát từ sự thay đổi nhận thức về vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước

Hội nghị Trung ương lần thức VI tháng 3/1989 đã nêu rõ vai trò chủđạo của kinh tế Nhà nước không phải có mặt với tỷ trọng lớn ở tất cả mọingành mà chỉ chiếm giữa những vị trí then chốt trong nền kinh tế giải phápđược đặt ra để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩađược đưa ra là: tập trung nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế Nhà nướctrong những lĩnh vực doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện tốt chủ trương Cổphần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp mà Nhà nướckhông cần n/giữ 100% vốn

1.3.4 Cổ phần hoá là sự lựa chọn tốt nhất của các Doanh nghiệp

a Chế độ Cổ phần là sản phẩm tất yếu của xã hội hoá sản xuất và củanền kinh tế thị trường Là một hình thức quyền tài sản, chế độ cổ phần là biểuhiện hình thức vận hành ở góc độ quan hệ sản xuất của sự xã hội hoá sản xuất,

Trang 33

theo cách nói của Mác nó là "tư bản xã hội", tư bản tự nó vốn dựa trênphương thức sản xuất xã hội và đòi hỏi phải có sự tập trung xã hội về tư liệusản xuất và sức lao động, ở đây trực tiếp mang hình thái tư bản xã hội (tư bảncủa những cá nhân trực tiếp liên hiệp lại với nhau), Mac coi đó là "hình thái quá

độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể"

là "sự phủ định", là hình thức phủ định cao nhất" đối với tư bản tư nhân

b Doanh nghiệp Nhà nước áp dụng chế độ cổ phần hoá sẽ có lợi chogiải phóng và thuận lợi sản xuất được thể hiện

Phân định ranh giới rành mạch về quan hệ về quyền tài sản tức làquyền sở hữu cuối cùng Như vậy doanh nghiệp sẽ thực sự là sản xuất kinhdoanh

Thể hiện sự thống nhất về vai trò song trùng vừa là người lao động vừa

là người sở hữu Khi đó quyền lợi của công nhân sẽ gắn chặt với vận mệnhcủa công ty Vì vậy giúp cho công nhân và công ty trở thành một khối vữngchắc, đoàn kết

Tách quyền sở hữu ra khỏi quyền kinh tế Nó cho phép chuyên mônhoá các chức năng quản lý, sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp, nâng caosức cạnh tranh của Doanh nghiệp đồng thời tạo cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù

Cổ phần hoá giúp cho việc khơi thông nguồn vốn xuyên khu vực kếthợp các yếu tố sản xuất xuyên khu vực vì vậy mà gắn chặt việc xây dựng và

đề cho sự phát triển đất nước thành một trong những quốc gia có nền kinh tế

Trang 34

phát triển hiện đại.

1.4 Giới thiệu chung về cổ phần hóa doanh nghiệp ở Việt Nam.

Tính đến đầu năm 2009, cả nước đã thực hiện sắp xếp được 5.556doanh nghiệp và 8 Tổng công ty Nhà nước, trong đó cổ phần hoá được 3.854doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp (chiếm 69,4% tổng số doanh nghiệp

đã sắp xếp), giao 196 doanh nghiệp, bán 155 doanh nghiệp, khoán và cho thuê

30 doanh nghiệp, sáp nhập hợp nhất 531 doanh nghiệp, còn lại các hình thứckhác là 790 doanh nghiệp

Sau gần 20 năm thực hiện chủ trương cổ phần hoá, kết quả đạt đượcnhư sau:

1.4.1 Kết quả đạt được:

1.4.1.1 Đối với doanh nghiệp:

Sau khi chuyển sang công ty cổ phần, hầu hết các chỉ tiêu về tài chính,kết quả hoạt động của doanh nghiệp như tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, doanhthu, lợi nhuận đều tăng rất nhanh Giá trị tổng tài sản bình quân hai năm sau

cổ phần hoá so với bình quân hai năm trước cổ phần hoá tăng 66,39%; giá trịvốn chủ sở hữu tăng tới 90,67%; doanh thu tăng 75,13%; lợi nhuận tăng233,09%; tỉ suất lợi nhuận so với vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp cũngtăng 19,25%

Nhìn chung, doanh nghiệp là đối tượng được lợi nhiều nhất từ chínhsách cổ phần hoá Hầu hết các doanh nghiệp khi chuyển sang công ty cổ phầnđều hoạt động có hiệu quả hơn trước xét tổng thể trên các mặt doanh thu, lợinhuận, nộp ngân sách, tích luỹ vốn…Nhiều doanh nghiệp đã thoát ra khỏi tìnhtrạng nợ nần, phá sản, khắc phục được những hạn chế do cơ chế quản lý cũnhư nạn tham nhũng, lãng phí trong sản xuất, sự thiếu trách nhiệm trong laođộng, quản lý trì trệ, yếu kém…

Ngoài những lợi ích kinh tế kể trên, khi Cổ phần hoá doanh nghiệpNhà nước còn có thêm những lợi ích khác góp phần tích cực vào việc năngcao hiệu quả sản xuất kinh doanh:

Trang 35

 Thứ nhất: Năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng lênnhờ được bổ sung nguồn vốn lưu động và đầu tư đổi mới công nghệ Vềnguyên tắc, tất cả số tiền bán cổ phiếu, sau khi trừ đi các chi phí sẽ được điềuchuyển để bổ sung vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh

 Thứ hai: Doanh nghiệp có quyền chủ động trong sản xuất kinhdoanh Sự chuyển đổi này đã hạn chế thấp nhất những can thiệp thô bạo, phikinh tế của các cơ quan công quyền, hạn chế các chỉ đạo vốn có của mộtdoanh nghiệp Nhà nước

 Thứ ba: Doanh nghiệp đã có được một cách quản lý mới mang tínhdân chủ Với việc cổ phần hoá, doanh nghiệp đã chuyển từ doanh nghiệp Nhànước sang công ty cổ phần, cũng có nghĩa là xác định vai trò chủ nhân tập thể.Hội đồng quản trị sẽ thực sự làm chủ công ty với động lực lợi nhuận, vì lợiích của các cổ đông (trong đó có chính mình), thay mặt các cổ đông và đượccác cổ đông bầu lên chứ không phải ai khác

1.4.1.2 Đối với Nhà nước:

Lợi ích đầu tiên mà Nhà nước thu được từ chính sách cổ phần hoá làphần thuế thu được từ các công ty cổ phần tăng hơn so với khi còn là doanhnghiệp Nhà nước, tất cả các công ty cổ phần đều đóng thuế đầy đủ, năm saucao hơn năm trước từ 30-35%, nộp ngân sách tăng bình quân 2 lần so vớitrước khi cổ phần hoá: cụ thể như CTCP cơ điện lạnh tăng gần 3 lần, công ty

Cổ phần sơn Bạch Tuyết tăng 2,7 lần…

Phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp cổ phần hoá khi xác định lại,nhìn chung đều tăng từ 10-50% so với giá trị ghi trên sổ sách Như vậy, khi cổphần hoá vốn Nhà nước không bị mất đi, được bảo toàn mà còn tăng thêm

Ngoài những lợi ích trên, từ kết quả cổ phần hoá, hàng năm Nhà nướckhông còn tốn một khoản ngân sách lớn để bù đắp cho các doanh nghiệp Nhànước thua lỗ, cán cân thu chi của Nhà nước được cân bằng hơn Hệ thống các

cơ quan quản lý Nhà nước được hoàn chỉnh và gắn với mục tiêu của nền kinh

tế Chính cơ chế tạo chuyên môn hoá dẫn đến sự thay đổi về trình độ quản lý

Trang 36

đạt mức cao Nhà nước có điều kiện quản lý nền kinh tế thông qua các chínhsách vĩ mô.

Cổ phần hoá đã đặt cơ sở cho thị trường vốn ra đời bằng việc ra mắt Uỷban chứng khoán quốc gia và Trung tâm giao dịch chứng khoán vừa qua, làm

cơ sở để Nhà nước kiểm soát lạm phát Lượng tiền lưu thông trong xã hộitrong tương lai gần sẽ chuyển một phần vào thị trương vốn, thực hiện tái đầu

tư trên diện rộng hoặc tập trung vốn giải quyết các công trình trọng điểm củaNhà nước

1.4.1.3 Đối với người lao động:

Có thể nói, nhờ cổ phần hoá mà người lao động đã trở thành người chủthực sự của doanh nghiệp xét theo cổ phần mà họ sở hữu Qua cổ phần hoácác doanh nghiệp Nhà nước, tất cả người lao động trong doanh nghiệp bằngcác nguồn vốn tự có, quỹ phúc lợi của doanh nghiệp được phân bổ và cả vốnriêng của cá nhân, đều có thể tham gia mua cổ phần tại công ty, xí nghiệpđược cổ phần hoá

Với việc góp vốn này, người lao động , từ công nhân trực tiếp sản xuấtđến vị giám đốc, đều có thể trở thành người chủ thực sự đối với doanh nghiệp,được tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào việc lập phương hướng kế hoạch,chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp với quyết tâm và ý chí chung là gặthái được hiệu quả cao nhất, tốt nhất

Trong thực tế, các doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hoá bảo đảmviệc làm và thu nhập của người lao động ổn định và có chiều hướng tăng lên

Do mở rộng sản xuất, số lao động ở các doanh nghiệp này tăng bình quân12% Thu nhập của người lao động làm việc tai các công ty cổ phần tăng bìnhquân hằng năm gần 20% (chưa kể thu nhập từ cổ tức)

Việc đầu tư vào các công ty cổ phần, nói chung người lao động đã thuđược lợi tức cao hơn gửi tiết kiệm và vốn của họ trong công ty tăng gấp 1,5-2lần so với lúc mới mua cổ phiếu Do lãi cao đã bổ sung thêm vào vốn, đếnnay giá trị cổ phần người lao động sở hữu bình quân tăng gấp 2-3 lần, đặc biệt

Trang 37

cú những cụng ty tăng tới 4-5 lần như Cụng ty Cổ phần Cơ điện lạnh vàCụng ty Cổ phần Đại lý liờn hiệp vận chuyển.

Là chủ nhõn thực sự trong Cụng ty cổ phần, ngưũi lao động đó nõngcao tớnh chủ động, ý thức kỷ luật, tinh thần tự giỏc, tiết kiệm trong lao độngsản xuất, gúp phần nõng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mang lạilợi ớch thiết thực cho bản thõn mỡnh, cụng ty, Nhà nước và xó hội

1.4.2 Hạn chế, yếu kộm:

Cổ phần hoỏ doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa như mong muốn Sốlượng doanh nghiệp cổ phần hoỏ tuy đó tăng đỏng kể trong những năm gần đõynhưng so với yờu cầu vẫn cũn hạn chế, tốc độ cổ phần chậm và thời gian thựchiện bị kộo dài; Thu hỳt cổ đụng ngoài doanh nghiệp mới chỉ đạt 15,4% vốnđiều lệ, vỡ vậy cỏc cổ đụng chiến lược cú ớt cơ hội để trở thành những ngườichủ cú vai trũ nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của xớ nghiệp…

Tiến độ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước cũn chậm, cú phần do

sự chỉ đạo của một số Bộ, ngành, địa phương, tổng cụng ty chựng xuống, sựphối hợp giữa cỏc cơ quan trong xử lý cỏc vướng mắc chưa kịp thời, một sốdoanh nghiệp thuộc diện sắp xếp, cổ phần húa trong 2 năm qua cú quy mụvừa và lớn, tỡnh hỡnh tài chớnh phức tạp Bờn cạnh đú, thị trường tài chớnh vàthị trường chứng khoỏn trong và ngoài nước thời gian qua cú những biếnđộng bất thường làm ảnh hưởng khụng nhỏ đến quỏ trỡnh cổ phần hoỏ và bỏndoanh nghiệp Số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới vẫn tiếp tục tăng,nhưng việc thống kờ và theo dừi về thực trạng doanh nghiệp sau đăng ký kinhdoanh cũn yếu…

1.5 Những đặc thự của Doanh nghiệp Vận tải Đường sắt.

1.5.1 Đặc điểm chung:

Đờng sắt Việt Nam đợc xây dựng từ năm 1881 đến nay đã hình thànhmột mạng lới từ Bắc đến Nam với 7 tuyến đờng chạy qua 33 tỉnh và thành phốtrong cả nớc với tổng chiều dài 3.143km, trong đó có 2770km đờng khổ 1m,150km đờng khổ 1,435m, 223km đờng lồng

Về tổ chức: Ngày 06 tháng 04 năm 1945 Thủ tớng Chính phủ đã raQuyết định số 505 – Ttg thành lập Tổng cục đờng sắt trực thuộc Bộ Giao

Trang 38

thông công chính để kiến thiết và khai thác đờng sắt Ngày 14/5/1990 Chủtịch Hội đồng Bộ trởng (nay là Thủ tớng chính phủ) quyết định số 158/CTchuyển tổ chức Tổng cục đờng sắt thành Liên hiệp đờng sắt Việt Nam, thựchiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo cơ chế của Liên hiệp xí nghiệp đặcthù, có t cách pháp nhân, có tài khoản cà con dấu riêng.

Liên hiệp đờng sắt Việt Nam bao gồm các thành viên là doanh nghiệpNhà nớc hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp hoạt động công ích vàcác đơn vị sự nghiệp… có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính,công nghệ, thông tin, đào tạo, tiếp thị, hoạt động trong ngành đờng sắt

Đờng sắt Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng và là một bộ phậnkhông thể thiếu đợc của mạch máu giao thông trong nớc và quốc tế Trong cácnăm gần đây đã đáp ứng đợc nhu cầu đi lại của gần 10 triệu lợt hành khách,chuyên chở trên 6 triệu tấn hàng hóa với lợng luân chuyển khoảng 5 tỷ tấn –

km tính đổi mỗi năm

Ngoài lợi ích về kinh tế đờng sắt còn góp phần thúc đẩy sự phát triển vềchính trị, văn hóa,xã hội giữa các vùng cao, vùng sâu với các khu đô thị, đồngbằng trong cả nớc, đờng sắt cũng góp phần quan trọng trong việc bảo về anninh quốc phòng của đất nớc

Theo quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải đờng sắt đã đợcChính phủ phê duyệt thì vận tải đờng sắt sẽ đảm nhận khối lợng vận tải từ25% đến 30% về tấnvà tấn – km; 20% đến 25% về hành khách và hànhkhách- km trong tổng khối lợng vận tải chung toàn ngành giao thông vận tải

Đến năm 2020 tỷ trọng vận chuyển hành khách trong đô thị chiếm ít nhất 20%khối lợng hành khách ở các đô thị lớn nh Hà Nội, TP.HCM

Ngày 4/ 3/2003 Thủ tớng Chính phủ đã có Quyết định số TTg về việc thành lập Tổng công ty đờng sắt Việt Nam

34/2003/QĐ-Theo quyết định này Tổng công ty Đờng sắt Việt Nam gọi tắt là Tổngcông ty là tổng công ty Nhà nớc hoạt động kinh doanh và thực hiện nhiệm vụquản ý, khai thác, bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng đờng sắt do Nhà nớc giao,

có t cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự theo luật định, tự chịu tráchnhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do Tổng công tyquản lý, có con dấu, có tài sản và các quỹ tập trung, đợc mở tài khoản tại khobạc nhà nớc và tại các ngân hàng nhà nớc, nớc ngoài theo quy định của phápluật, đợc tổ chức và hoạt động theo điều lệ Tổng công ty

Nhiệm vụ của Tổng công ty là kinh doanh vận tải đờng sắt, vận tải đaphơng thức trong nớc và liên vận quốc tế, đại lý và dịch vụ vận tải, quản lý,khai thác, bảo dỡng và sửa chữa hệ thống kết cấu hạ tầng đờng sắt quốc gia, tvấn, khảo sát, thiết kế, chế tạo, đóng mới và sửa chữa các phơng tiện, thiết bị

Trang 39

phụ tùng chuyên ngành đờng sắt và các sản phẩm cơ khí; t vấn, khảo sát, thiết

kế, xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, công nghiệp và dân dụng;sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, thực phẩm; kinhdoanh bất động sản, du lịch, khách sạn, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ viễnthông và tin học; in ấn; xuất khẩu lao động; hợp tác, liên doanh, liên kết vớicác tổ chức trong và ngoài nớc trong hoạt động đờng sắt và tiến hành các hoạt

động kinh doanh khác theo pháp luật Nhận và sử dụng có hiệu quả vốn, tàinguyên, đất đai và các nguồn lực khác do Nhà nớc giao để thực hiện nhiệm vụphát triển sản xuất kinh doanh

Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, đào tạo,bồi dỡng cán bộ, công nhân đáp ứng nhu cầu phát triển ngành

1.5.2 Đặc điểm riờng:

1.5.2.1 Đặc điểm của vận tải đường sắt:

Vận tải đường sắt thuộc lĩnh vực kết cầu hạ tầng, ngoài chức năng kinhdoanh nú cũn thực hiện những dịch vụ xó hội cụng cộng và an ninh quốc phũng

Đường sắt cú thể vận tải những khối lượng hàng húa lớn, thớch hợp vớivận chuyển nhiều loại hàng húa, nhiều loại hành khỏch khỏc nhau

Đường sắt cú thể hoạt động trong hầu như mọi điều kiện thời tiết, cúthể chạy suốt ngày đờm, tốc độ vận chuyển nhanh

Giỏ thành vận tải đường sắt thấp (chỉ cao hơn vận tải đường thủy)

Vận tải đường sắt cú độ an toàn cao, ớt gõy ụ nhiễm mụi trường, tỷ lệchiếm dụng đất thấp hơn so với vận tải đường bộ

Đường sắt cú điều kiền tốt trong việc nõng cao tốc độ, vỡ nú cú tuyếnđường riờng

Một đặc điểm nội bộ cú tớnh chi phối trực tiếp đến hoạt động sản xuất,kinh doanh vận tải, đú là vận tải đường sắt đũi hỏi tớnh đồng bộ, sự phối hợp vàtớnh tập trung cao trong quản lý Tớnh đồng bộ cú thể là yờu cầu của mọi ngành,mọi lĩnh vực, nhưng nú là đũi hỏi đặc biệt cao đối với ngành đường sắt

1.5.2.2 Đặc điểm sản phẩm của Doanh nghiệp vận tải Đường sắt.

Ngày 04/3/2003 Thủ tướng Chớnh phủ đó ra quyết định số 34/QĐ-TTgthành lập Tổng cụng ty đường sắt Việt Nam Sự thay đổi tổ chức nghành ĐS

Trang 40

từ Liên hiệp ĐSVN sang Tổng công ty ĐSVN, đối với công tác tổ chức sảnxuất kinh doanh vận tải từ 3 xí nghiệp liên hợp sang 3 Công ty vận tải , là sựthay đổi mô hình quản ký ngang theo khu vực sang mô hình quản lý dọc theoloại hình vận chuyển hàng hoá và hành khách Việc chuyển đổi mô hình quản

lý mới đặt ra yêu cầu xây dựng qui chế quản lý kế hoạch đầu tư (tạm thời) VàTổng công ty ĐS quản lý các công ty vận tải thông qua sản phẩm (T.Km vàHK.Km tính đổi ) và đơn giá thanh toán nội bộ tổng hợp Giữa các Công ty vậntải có mối quan hệ thanh toán với nhau bằng hệ thống sản phẩm theo tác nghiệp

Như vậy sản phẩm chính của Doanh nghiệp vận tài đường sắt là toàn

bộ lượng luân chuyển hành khách và lượng luân chuyển hàng hoá trên đườngsắt Việt Nam, kể cả lượng luân chuyển từ biên giới đến các ga Lào Cai, ĐồngĐăng Khối lượng sản phẩm và doanh thu vận chuyển hàng hoá được xácđịnh từ 3 Công ty vận tải được tính bằng HK.km và T.Km hàng hoá toànngành

Vận tải Đường sắt là một ngành dịch vụ, do vậy bản chất kinh tế củasản phẩm vận tải đường sắt thể hiện ở các đặc điểm mang tính chất đặc thùcủa một sản phẩm chuyên ngành, đó là:

Thứ nhất: Sản phẩm vận tải đường sắt không phải là hàng hoá có hình

dạng vật chất cụ thể mà là vô hình, có đơn vị tính là HK.KM và Tấn.KM

Thứ hai: Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vận tải không tách

rời nhau, chúng gắn liền với nhau

Đặc điểm này thể hiện rõ nét ở chỗ quá trình vận chuyển hành khách

và hàng hoá - là quá trình sản xuất xảy ra đồng thời với quá trình tiêu thụ sảnphẩm, dịch vụ Đặc điểm này đã dẫn đến việc không thể dự trữ sản phẩm nhưcác ngành sản xuất khác

Thứ ba: Quá trình vận tải phụ thuộc vào thời tiết, địa hình, địa lý Với

thời tiết thuận lợi không có mưa bão gây ảnh hưởng đến an toàn vận tải; Vớiđịa hình địa lý quãng đường chủ hàng thuê vận tải hàng hoá không quá khókhăn; Tất cả những điều đó sẽ có chi phối , tác động và ảnh hưởng đến quátrình tổ chức sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vận tải của doanhnghiệp vận tải đường sắt

Ngày đăng: 05/10/2014, 06:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS TS Lê Hồng Hạnh: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước những vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2004 Khác
2. Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp Các văn bản về đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, Hà Nội 2010 Khác
3. PGS. TS Vũ Trọng Khai (chủ biên), Lâm Ngọc Điệp Tổ chức và quản lý công ty NXB Thống kế, Hà Nội 2003 Khác
5. Luật doanh nghiệp Nhà nước, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005 Khác
6. Quyết định 1882/QĐ – TTg ngày 13/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án chuyển đổi Tổng công ty ĐSVN sang hoạt động theo Khác
7. Quyết định 1883/QĐ – TTg ngày 13/11/2009 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Công ty mẹ - Tổng công ty ĐSVN Khác
8. Quyết định 973/QĐ – TTg ngày 25/06/2010 của Thủ tướng chính phủ về việc chuyển Công ty mẹ - Tổng công ty Đường sắt Việt Nam thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Khác
9. Hồ sơ đề án tổ chức và hoạt động của các chi nhánh vận tải hàng hóa đường sắt Khác
10. Quyết định 1268/QĐ – ĐS ngày 05/12/2011 về việc chuyển đổi Công ty Vận tải hàng hóa Đường sắt thành công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do ĐSVN làm chủ sở hữu Khác
11. Quyết định 474/QĐ – TTg ngày 31/3/2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của Đường sắt Việt Nam Khác
12. Nghị định số 59/2011/NĐ – CP ngày 18 tháng 7 năm 2011 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác
13.Quy trình thực hiện chuyển 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần ban hành kèm theo nghị định số 59/2011/NĐ – CP ngày 18 tháng 7 năm 2011 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác
14.Thông tư số 20/2007/ TT - BLĐTBXH ngày 04/10/2007 hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động Khác
15.Thông tư số 146/2007/TT – BTC ngày 06/12/2007 hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác
16.Nghị định số 110/ 2007/NĐ – CP ngày 26/06/2007 về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước Khác
17.Thông tư số 18/2007/TT – BLĐTBXH ngày 10 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 110/ 2007/NĐ – CP ngày 26/06/2007 về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại Khác
18.Công văn số 2505/2008/CV – Bộ LĐTBXH ngày 17/07/2008 về chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa công ty nhà nước Khác
19. Công văn 2469/2008/CV – Bộ LĐTBXH ngày 15/07/2008 về chế độ đối với người lao động khi cổ phần hóa bộ phận doanh nghiệp 100% vốn nhà nước Khác
20. Công văn số 1403/2008/CV – Bộ LĐTBXH ngày 07/05/2008 về thời gian tính trợ cấp thôi việc, mất việc làm đối với người lao động tại công ty cổ phần được chuyển từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Các loại hình doanh nghiệp nhà nước hiện nay - việc nghiên cứu về cổ phần hóa đối với công ty vận tải hàng hóa đường sắt
Hình 1.2 Các loại hình doanh nghiệp nhà nước hiện nay (Trang 21)
Hình 3.1: Mô hình doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng quản trị - việc nghiên cứu về cổ phần hóa đối với công ty vận tải hàng hóa đường sắt
Hình 3.1 Mô hình doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng quản trị (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w