1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu truyện Nôm bác học trên chiều lịch đại - Những cách tiếp cận và hướng đến đọc khác

11 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 309,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này quan tâm trực tiếp đến hai vấn đề về truyện Nôm bác học: Một là kiểm thảo những cách tiếp cận đã có, và thứ hai, hướng đến xác lập cách đọc từ phương pháp tâm lí các chiều sâu của C. Jung. Từ đây, truyện Nôm bác học được chúng tôi nhìn nhận từ khía cạnh các cấu trúc chìm - cấu trúc nội giới.

Trang 1

Nghiên cứu truyện Nôm bác học trên chiều lịch đại - Những cách tiếp cận và hướng đến đọc khác

Diachronical approach to scholarly Nom stories and others

ThS Nguyễn Quang Huy Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

M.A Nguyen Quang Huy The University of Education - University of Da Nang

Tóm tắt

Truyện Nôm bác học là một di sản văn hóa, văn học độc đáo của dân tộc Nó được quan tâm nghiên cứu trên khá nhiều khía cạnh khác nhau từ nhiều phương pháp cụ thể: xã hội học Marxist, so sánh, văn hóa nhưng đến nay, nó vẫn còn nhiều điều còn bỏ ngỏ Truyện Nôm bác học tự bản thân nó luôn hàm chứa nhiều giá trị và vẫy gọi nhiều hướng nhìn Bài viết này quan tâm trực tiếp đến hai vấn đề về truyện Nôm bác học: một là kiểm thảo những cách tiếp cận đã có, và thứ hai, hướng đến xác lập cách đọc từ phương pháp tâm lí các chiều sâu của C Jung Từ đây, truyện Nôm bác học được chúng tôi nhìn nhận từ khía cạnh các cấu trúc chìm - cấu trúc nội giới

Từ khóa: truyện Nôm bác học, phương pháp, C Jung, tâm lí các chiều sâu, nội giới

Abstract

The scholarly Nom stories are the original heritage of literature and culture of our nation It is interesting the topic attracts a great deal of scientific researches: marxist sociology, comparative method, cultural method and so on; but for now it is to say the work is far from perfect The scholarly Nom stories always preserve many values and suggests numerous points of views This article solves directly two puzzles of the scholarly Nom stories: firstly, we examine the former approaches, secondly

we aim to establish a reading way derived from Jung’s method of the in – depth psychology Henceforth, the scholarly Nom stories are considered by us through aspect of the submersible structure – internal link structure (profound structures – the structure of psychological life)

Keywords: the scholarly Nom stories, method, Carl Jung, depth psychology, the psychological life…

Truyện Nôm người Việt cho đến nay

đã được ghi nhận như một di sản văn hóa

độc đáo, là kho tư liệu phong phú không

những dành cho lĩnh vực khoa học văn học,

mà còn là mảnh đất ẩn chứa nhiều giá trị

xác tín cho các nhà ngữ học lịch sử, dân tộc

học, văn hóa học v.v Sự nảy sinh và phát

triển trong vòng hơn ba thế kỷ (thế kỉ XVI, đến những năm đầu của thế kỉ XX) rồi chấm dứt hẳn đã đưa hiện tượng đặc biệt này vào kí ức lịch sử, tồn tại trong tính lịch

sử, một lịch sử mà phần lớn các giá trị của

nó còn trong hành trình mơ màng cần được đánh thức bằng các phương pháp nghiên cứu đặc thù, trên cả hai phương diện, văn

Trang 2

bản học và những cấu trúc nhân văn

Ngay khi quan sát bề ngoài, hiện

tượng truyện Nôm đã hàm chứa nhiều điều

phức tạp hơn người ta tưởng về một thể

loại mà ở đó có sự hiện diện của cấu trúc tự

sự thấm đẫm màu sắc trữ tình Sự phức tạp

này thể hiện trên nhiều mặt, từ vấn đề

ngoại quan lẫn nội quan dọc theo các thành

tựu nghiên cứu đã có Đó là vấn đề về tác

giả (liên đới một phần quan trọng với thuật

ngữ truyện Nôm bác học mà chúng tôi sẽ

dẫn giải ngay sau đây); vấn đề mối quan hệ

về chiều ảnh hưởng của văn hóa văn học

dân gian, bình dân với văn hóa bác học, cái

nào chịu ảnh hưởng của cái nào; vấn đề tư

duy đặc thù của một thể loại đặc thù(1); vấn

đề phương pháp nghiên cứu tương thích

v.v thậm chí đến thuật ngữ gọi tên như:

truyện Nôm bác học, truyện Nôm bình dân,

truyện thơ Nôm, truyện Nôm khuyết danh,

v.v cũng làm cho một định hình về tính

khách quan của đối tượng này có nguy cơ

dẫn tới nhiều bối rối và ràng buộc Chúng

tôi nhận thức được đang rơi vào sự khó

khăn và nhiều nguy cơ rất dễ sa ngã này

1.1 Thuật ngữ truyện Nôm bác học

Tên gọi truyện Nôm hay truyện thơ

Nôm theo chúng tôi không dẫn đến cách

hiểu khác biệt, chúng cùng chỉ về một đối

tượng cụ thể mà ở đó có sự tham dự đặc

biệt song hành như một chiều hướng điều

hòa giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình,

giữa yếu tố thơ và truyện, giữa yếu tố triển

khai giá trị hình tượng nghệ thuật theo trật

tự trục ngang và trục dọc, là sự dung hợp

của yếu tố trần thuật (narration) và yếu tố

trầm tư (méditation) của loại hình nghệ

thuật ngôn từ(2)

, giữa cấu trúc tự sự có nội dung yêu đương - sinh hoạt thế tục kết hợp

với cấu trúc trữ tình mang tính triết lí

Mỗi một ý niệm đưa ra để gọi tên một

vấn đề thường dựa trên sự tương tác đối

lập, hoặc chí ít trong trường nghĩa có tính

chất khác biệt Theo đó, truyện Nôm bác

học(3)phân biệt với truyện Nôm bình dân(4)

, mỗi dòng đều có người sáng tác, công

chúng, đề tài, đời sống văn học, phương thức truyền bá, tư tưởng thẩm mĩ riêng như Trần Đình Hượu (Trần Đình Hượu, 1990)

đã chỉ ra và chúng tôi theo quan điểm phân chia này Về mặt tư tưởng, cả hai dòng này

có những tương quan nhất định chứ không

hề tách biệt hẳn Truyện Nôm bác học

trước hết dẫn ra như một vấn đề văn tự (viết bằng chữ Nôm), nghiêng về phong cách học (phong cách cao, thuộc về trí thức bậc cao, đặc quyền của giới tinh hoa) nhằm tạo ra khoảng cách với truyện Nôm bình dân (phong cách thấp, thuộc giới bình dân, nghiêng về tính chất ứng tác, truyền miệng) Dấu hiệu nhận biết quan trọng nhất của nó là ở bút pháp sáng tạo thể hiện trong tác phẩm Theo đó, trong môi trường sáng tạo văn hóa - văn học trung đại thuộc tư

duy đông Á, Đông Nam Á, truyện Nôm

bác học người Việt khu biệt với truyện Nôm bình dân ở chỗ, ngoài việc vận dụng ngôn ngữ trau chuốt (dấu hiệu của dụng công trong tạo tác), còn là việc sử dụng các yếu tố cốt truyện, tập cổ (dựa trên văn liệu Trung Hoa, cốt truyện Trung hoa, cốt truyện Đông Nam Á, ý tưởng của tiền nhân, thánh nhân để tạo ra một thế giới riêng), sử dụng dày đặc các điển, các tích,

và đặc biệt nhất là dấu ấn thế giới quan, nhân sinh quan, trên cơ sở đó, đem đến các cách ứng xử khác nhau, thái độ khác nhau

về thân phận con người Liên quan đến vấn vấn đề tư tưởng truyện Nôm có hai cách xuất phát điểm, hai xu hướng: xu hướng đặt nó trong kiểu tư duy Đông Á - (Đặng Thanh Lê, 1979), (Durand, 1998) và xu hướng đặt nó trong kiểu tư duy Đông Nam

Á - (Riftin, 2012, pp 66-81), (Niculin, 2000)(5) Truyện Nôm bác học cũng đồng thời dung chứa trong mình cả các yếu tố thần thoại, cổ tích, Phật tích, cốt truyện nước ngoài, truyện dịch, diễn ca các vấn đề lịch sử… Theo Riftin, văn xuôi tự sự ở Việt Nam phát triển từ những tập truyện ngắn mang tính thần thoại kiểu các truyện chí quái của Trung Hoa, đến loại truyện

Trang 3

văn học phát triển thế kỉ XVI, rồi sau đó, ở

đó, khác với các nước Viễn Đông khác,

xuất hiện không phải các truyện, mà là các

truyện thơ (thế kỉ XVII - XVIII)… điều đó

không phải là ngẫu nhiên Nó thể hiện

những truyền thống của Đông Nam Á Rõ

ràng rằng ở tất cả các dân tộc trên phần đất

này của châu Á, văn chương tự sự phát

triển dưới hình thức thơ - các truyện thơ

Cũng chính vì vậy, truyện Nôm bác học,

chúng tôi xét, về cấu trúc tư tưởng, có hai

cơ tầng, hai dòng: dòng tư tưởng Đông Á

(Trung Hoa) và dòng bản địa (Đông Nam

Á) tạo nên nét vừa cổ kính vừa dân dã

trong văn học (Riftin, 2012, p 74) Trên

bình diện nhân vật, truyện Nôm bác học

mang dấu ấn cá tính phân biệt với dấu ấn

loại tính, có xu hướng nằm trong văn hóa

dân gian (Kiều Thu Hoạch, 2007) Nếu làm

một phép so sánh giữa Hoa tiên, Đoạn

trường tân thanh (truyện Nôm bác học) và

Phạm công Cúc Hoa, Phương Hoa (truyện

Nôm bình dân) trên các phương diện trên

chúng ta sẽ thấy rõ sự khác biệt

Một vấn đề khác đặt ra, trường hợp

các truyện Nôm như Phan Trần, Nhị độ

mai, phần lớn các nhà nghiên cứu xếp đặt

nó vào truyện Nôm khuyết danh tồn tại

cùng với truyện Nôm bình dân Khuyết

danh hay hữu danh là một vấn đề khác, liên

quan đến ba nhận thức: 1/ truyền thống

không đặt nặng tính chất sở hữu các trước

tác(6); 2/ liên quan đến việc cấm kị, tai họa

mà tầng lớp thống trị ngăn cấm, nó thuộc

ngoài văn bản, không giống như tiêu chí

phong cách và tư tưởng; và 3/ mặc cảm về

tính chất bên lề, ngoại vi, nôm na dân dã

đứng bên cạnh dòng văn học Hán chính

thống vốn tồn tại đầy uy nghi từ lâu đời

Yếu tố này dù ít dù nhiều cũng góp phần

tác động vào thế đứng có kiêu hãnh hay

không của một dòng văn học Khi phân

chia các lĩnh vực thuộc văn học, chúng tôi

tôn trọng và tuân theo các tiêu chí tư tưởng

văn học, lấy cái nhìn nội quan để đánh giá

Theo đó, các trường hợp truyện Nôm khuyết

danh như vừa kể trên đều được chúng tôi

xếp vào bộ phận truyện Nôm bác học

1.2 Giá trị nội tại

Đến đây tạm gác sang một bên những vấn đề tranh cãi về thuật ngữ vốn tồn tại vừa tranh luận vừa có lí do riêng bấy lâu, chúng tôi muốn đề cập tới một phương

diện khác của truyện Nôm bác học, là ở

chiều kích văn hóa của nó Không phải ngẫu nhiên mà giai đoạn từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, là giai đoạn có sự xuất hiện những nhận thức sâu sắc về thân phận con người trên nhiều mặt: thân và tâm, tinh thần và thể xác, tâm linh và trần tục(7)

Trên chiều nhận thức, các truyện Nôm

bác học đã để cho các nhân vật của mình

thể hiện các thái độ, lời nói, hành vi trong tương quan mật thiết với hai thế giới sống đặc biệt: thế giới nội tâm tâm linh và với thế giới bên ngoài hiễn hữu như những thực tại tối thượng, mang tính chất bản thể (siêu hình học) quyết định tất cả các hành

vi con người như: trời, con tạo, ông xanh, ông tơ bà nguyệt, những linh hồn đã khuất… tất cả những điều này hướng chúng tôi mượn cái nhìn từ lí thuyết Phân tâm học của C Jung, G Bachelard, đồng thời, liên quan đến những nội dung kiếp, nghiệp, số phận trong các truyện Nôm bác học, chúng tôi có tham khảo lí thuyết tâm lí học Phật giáo (duy thức học) trong chừng mực có thể, đặc biệt là thuật ngữ Thức thứ tám (A lại da thức(8), tương đương với thuật ngữ vô thức trong Phân tâm học nhưng mang nghĩa rộng hơn rất nhiều Đời sống nhận thức về các giá trị văn hóa lớn được cân nhắc, để lại nhiều ý nghĩa quan trọng Phật giáo, tín ngưỡng bản địa, Đạo giáo phát triển Phật giáo được các chúa Trịnh và Nguyễn quan tâm đặc biệt

Về mặt nhận thức, có thể dẫn ra đây những lưu ý của Lê Quý Đôn (1726 - 1784), về các giá trị văn hóa và các giá trị nhận thức luận về cái biết (nhận thức về thế giới sống), đặc biệt là về những điều mà ý thức Nho giáo không lưu tâm hoặc chê bai:

Trang 4

“Đạo giáo của họ Phật, họ Lão, thanh tĩnh

hư vô, cao siêu tịch diệt, không hệ lụy đến

sự vật, đấy cũng là đạo giáo của các bậc

cao minh dùng để tu dưỡng bản thân, đến

những lời bàn luận sâu rộng về đạo đức, về

hình thần không có điều gì là không có ý

nghĩa màu nhiệm Nhà Nho chúng ta cứ

giữ thành kiến kia khác, thường thường bác

bẻ, như thế có nên không? Hãy nói sản vật

dưới đất, tính tình loài người, ở trong chín

châu, còn mỗi nơi mỗi khác, huống hồ trên

không gian bao là mờ mịt, giữa đại địa

rộng lớn xoay vần, những việc quái dị biến

hiện, không biết thế nào mà hạn định,

người ta chỉ là tấm thân nhỏ bé, dầu có tài

hoa biện luận, dọc ngang tám cõi, thu hút

chín châu, nhưng kiến văn vẫn chưa được

rộng khắp, thế mà hễ thấy sách cổ chép về

sự quỷ thần linh ứng, động vật, thực vật

biến hóa li kì, cùng là hình trạng phương

xa, cảnh tượng quái lạ, đều nhất thiết

không tin, thậm chí chê bai cả tiên phật,

sao mà hẹp hòi thế” (Lê Quý Đôn, 2013,

pp 174-175) Chính giai đoạn này, nhiều

kinh điển Phật giáo được lưu truyền rộng

rãi Đây cũng là lí do để chúng tôi hướng

tới mở rộng khảo sát các văn bản văn học,

đặc biệt là truyện Nôm bác học giai đoạn

này từ phương diện tâm lí học Phật giáo

truyện Nôm bác học đến nay

2.1 Phải thừa nhận rằng, ngay từ khi

ra đời, đặt trong bối cảnh văn hóa vốn lấy

sự thù tạc, giao đãi, nhuận sắc làm thước

đo cho tính đối thoại, các truyện Nôm bác

học đã được tiếp nhận ngay trong giới hàn

lâm, giới tinh hoa dưới dạng các “bài tựa”,

“đề tựa”, “bài bạt”, “đề từ” - một kiểu giới

thiệu và phát biểu những ý nghĩ ngắn,

mang màu sắc cảm xúc chủ quan, nghiêng

về thái độ đạo đức Ví dụ bài Đoạn trường

tân thanh đề từ (Phạm Quý Thích), tựa

Đoạn trường tân thanh (Phong Tuyết chủ

nhân Thập Thanh thị), tựa Đoạn trường

chủ nhân), bài tựa truyện Hoa tiên (Cao Bá

Quát)(9) Đây là những bài tựa theo các văn

bản truyện Nôm bác học cụ thể (Đoạn

trường tân thanh - Nguyễn Du, Hoa tiên -

Nguyễn Huy Tự), với tiêu chí lấy tình để đãi tình, lấy đức đãi đức, vừa thể hiện sự tương tri, tri âm, vừa đong đo sở học - điều

mà Nguyễn Văn Vĩnh (trong Étude sur la

lange et littérature annamites - nghiên cứu

về ngôn ngữ và văn chương An nam)(10)

gọi là “thú ngâm nga”, đồng thời thể hiện thái độ riêng tư của cá nhân người đánh giá Đây cũng là thái độ chung trên dưới mười thế kỉ của các nhà nho đối với văn chương

2.2 Bước sang những năm 20 của thế

kỉ XX, đời sống sinh hoạt, văn hóa trở nên linh hoạt hơn, chuyên nghiệp hơn Điều này thể hiện rõ trên Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí, Hữu Thanh, qua các bài nhận định, giới thiệu, bút đàm, khảo luận của các học giả quan trọng như:

Nguyễn Văn Vĩnh (Văn chương An Nam -

Đông Dương tạp chí (9) 1913, tr.9-10, Nguyễn Văn Vĩnh kí tên T.N.T (tân Nam

tử)), Phạm Quỳnh (Truyện Kiều - Nam

Phong (30) 1919), Nguyễn Tường Tam (Mấy lời bàn luận về văn chương “Truyện Kiều” - Nam Phong (79) 1924), Ngô Đức

Kế (Luận về chính học cùng tà thuyết quốc

văn - “Kim Vân Kiều” - Nguyễn Du, Hữu

Thanh (81) 9/1924), Vũ Đình Long (Văn

chương Truyện Kiều - Nam Phong (81,83

và 87) 1924), Trần Trọng Kim (Truyện

Thúy Kiều - Khảo luận, chú giải, soạn

chung với Bùi Kỉ, 1925), Đồ Nam -

Nguyễn Trọng Thuật (Nghiên cứu và phán

đoán về Truyện Kiều - Nam Phong (127)

1928)(11) Danh sách này có thể chưa đầy

đủ nhưng nó đã tiêu biểu cho một giai đoạn

nhìn nhận về truyện Nôm bác học Điều dễ

nhận thấy là các học giả, các nhà văn hóa

tập trung vào một văn bản cụ thể - Truyện

Kiều, kiểu “điểm nhãn” về trường hợp tinh

hoa (tinh hoa cho quốc âm, làm mẫu cho văn chương quốc ngữ) trong nhiều văn bản cùng loại hình Sở dĩ có chuyện này vì liên quan đến các vấn đề quan trọng mang tính

Trang 5

lịch sử như: vấn đề quốc âm, vấn đề sáng

tạo giá trị văn học trong thời đại mới, thời

đại giao thoa về các vấn đề giá trị đạo đức

và giá trị nghệ thuật Cũng đặt trong cái

nhìn lấy giá trị đạo đức làm điểm quy chiếu

cho văn học trên còn có René

Crayssac(René Crayssac, 2002)

2.3 Bàn luận một cách sâu rộng về

truyện Nôm bác học phải đợi đến những

năm 40 của thế kỉ XX, với Dương Quảng

Hàm(Dương Quảng Hàm, 2005) (1943)

Dù mang tính chất lịch sử nhưng với sự

công phu và khoa học của nó còn ảnh

hưởng sâu sắc tới cách nhìn nhận, đánh giá

mà dấu vết còn kéo dài đến ngày nay Ông

đã có đóng góp nhất định khi nhìn nhận về

Truyện Kiều, Hoa tiên, Lục Vân Tiên, Bích

Câu kì ngộ, Nhị độ mai, Phan Trần Các

truyện Nôm Bích Câu kì ngộ, Nhị độ mai,

Phan Trần được tác giả xếp vào khuyết

danh Dấu ấn khoa học đặc biệt thể hiện rõ

trong khuynh hướng nghiên cứu của

Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa (2003)

bằng phương pháp Duy vật lịch sử, với cái

nhìn văn hóa lịch sử, ông đã tạo ra được

dấu ấn riêng của mình trong giai đoạn này,

khi đi tìm những bí ẩn trong Truyện Kiều

và Nguyễn Du Trước đó ít lâu có Nguyễn

Tiến Lãng đã ít nhiều muốn xác lập một cái

nhìn riêng, khi ông quan tâm đến truyện

Nôm Hoa tiên, muốn nâng nó ngang tầm

Truyện Kiều Trong Nét đẹp Hoa tiên -

truyện thơ Annam, Nguyễn Tiến Lãng

trong quá trình phân tích nội dung tình cảm

câu chuyện đã nâng Hoa tiên lên như một

“hình thức mơ mộng có tính cách đặc trưng

của người An nam”(Nguyễn Tiến Lãng,

2012, p 28)

2.4 Sự phân chia Nam - Bắc về mặt

lịch sử từ sau năm 1954 cũng hình thành

hai cực học thuật trên hai miền Bắc, Nam

của đất nước kéo dài đến năm 1975

Ở miền Bắc, khuynh hướng chung là

nhìn nhận lại các giá trị văn học cổ của dân

tộc, theo đó, các truyện Nôm có giá trị hiện

thực, thể hiện nỗi đau nhân tình thế thái,

thể hiện tinh thần đấu tranh được phát hiện

và phân tích, qua đó xem xét lại các thành tựu nghiên cứu đã có giai đoạn trước, để có cái nhìn thống nhất trong sự tương hợp với

hệ thống kiến trúc thượng tầng chung Đặc

biệt là Truyện Kiều và các truyện Nôm của

Nguyễn Đình Chiểu, các truyện Nôm bình dân (Truyện Trinh thử, truyện Trê cóc, Truyện Quan âm thị Kính, Truyện Thạch

Sanh…) Có thể thấy rất rõ điều này qua những tiểu luận và bài viết của Hoài Thanh: Nguyễn Du, một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn; Truyện Kiều; Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn, một tấm gương chói ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam(Từ Sơn (chọn và giới thiệu),

2008); Xuân Diệu: nhà thơ thiên tài dân

tộc Nguyễn Du; Bản cáo trạng cuối cùng trong “Truyện Kiều”; Đọc lại thơ văn Nguyễn Đình Chiểu; Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà… (Xuân Diệu, 2009); Đặng

Việt Thanh: Tìm hiểu giá trị tập “Sãi Vãi”

của Nguyễn Cư Trinh (Đặng Việt Thanh,

1957, pp 32-42); Nguyễn Hồng Phong:

Nhận xét chung về truyện Nôm khuyết danh

(Nguyễn Hồng Phong, 2005)…Nhìn tổng quát, các tác giả trên, một mặt tiếp tục khai

thác giá trị Truyện Kiều, nhưng chủ yếu tập

trung ở khía cạnh phản ánh hiện thực cuộc sống, mượn một văn bản nghệ thuật để thuyết minh cho tính chất đạo đức và giai cấp về nội dung đấu tranh và chống áp bức cường quyền Dựa trên mô hình phản ánh luận và đấu tranh giai cấp, vì thế làm cho yếu tố văn học đi chệch khỏi quỹ đạo giá trị vốn có của nó Mặt khác, tập trung các truyện Nôm bình dân có tính cách phổ biến

nhất (truyện Thạch Sanh, truyện Trinh

thử…) vốn đã gần gũi với nhân dân lao

động, được tô chuốt thêm khía cạnh

“chống các thế lực phong kiến thối nát”:

“bên cạnh tính chất trữ tình là tính chất hiện thực Truyện Nôm (khuyết danh) không chỉ là một lời than tiêu cực, mà còn

là một lời tố cáo, một lời phản kháng đối với xã hội đương thời Cho nên truyện

Trang 6

Nôm có một giá trị phản phong ở mức độ

nhất định” (Nguyễn Hồng Phong, 2005, p

549) Những nội dung trên cũng là những

phần quan trọng trong các công trình văn

học sử Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam –

xuất bản năm 1957, của nhóm Văn Tân,

Nguyễn Hồng Phong…, Lược thảo lịch sử

văn học Việt Nam- xuất bản năm 1957, của

nhóm Lê Quý Đôn) mà dấu vết của nó còn

thể hiện khá sâu đậm trong các công trình

văn học sử về sau này Điểm đặc biệt nữa

trong quan niệm văn học giai đoạn này là

nhận định về chiều ảnh hưởng của hai xu

hướng: bác học và bình dân/ dân gian Đó

là xu hướng văn học dân gian ảnh hưởng

đến các truyện Nôm từ tính trữ tình, tính

hiện thực đến yếu tố lãng mạn và anh hùng

ca Đây là một nhận diện nhiều ý nghĩa

trên nhiều mặt Thứ nhất, chính gợi ý về

chiều ảnh hưởng từ dân gian này đã để lại

ảnh hưởng tới các xu hướng nghiên cứu

hiện đại về truyện Nôm của các tác giả như

Kiều Thu Hoạch (Kiều Thu Hoạch, 2007),

Cao Huy Đỉnh (Cao Huy Đỉnh, 2003)…

Ở miền Nam cũng diễn ra quá trình

tìm hiểu di sản truyện Nôm song song với

các giá trị văn hóa văn học khác Đóng góp

dễ nhận thấy nhất là khuynh hướng sử văn

học với các tác giả Phạm Việt Tuyền

(1965), Hà Như Chi (1951), Thạch Trung

Giả (1973), Thanh Lãng (1953, 1967),

Phạm Thế Ngũ (1963,1997), Phạm Văn

Diêu (1960)… Nét nổi bật nhất trong các

công trình này chính là sự cởi mở trong

việc nhìn nhận giá trị các truyện Nôm (cả

truyện Nôm bình dân lẫn truyện Nôm bác

học) Tuy thế, cách phân chia hai khía cạnh

nội dung và hình thức truyện kể như một

khung khổ chung cho tất cả các truyện (bỏ

qua tính đặc thù) đã tạo ra những nhát cắt ít

nhiều sơ lược, chung chung, không tạo ra

được chiều sâu nhất định Điểm đáng lưu

tâm nữa trong dấu ấn của các nhà làm sử

văn học miền Nam giai đoạn này là sự vận

dụng ít nhiều các lí thuyết văn học phương

Tây (như lí thuyết Phân tâm học, Hiện

sinh, hiện tượng luận, Cấu trúc luận…) Dấu ấn quan trọng nhất về mặt phương pháp, theo chúng tôi, là ở trường hợp nhà phê bình Lê Tuyên (1964, 2000) nghiên

cứu về các truyện Nôm bác học như Lâm

tuyền kì ngộ, Bích Câu kì ngộ, Đoạn trường tân thanh Xuất phát từ Hiện tượng

học (E Husserl, Merleau Ponty) và Phân tâm học vật chất của G Bachelard, Lê Tuyên đã vận dụng phương pháp mới vào nghiên cứu văn học cổ Điều này đem đến một ý nghĩa kép Một mặt, về nhận thức, đây là cách nhìn nhận giá trị nghệ thuật ngôn từ từ phương pháp cụ thể, lấy văn bản làm trung tâm, trên các đối tượng cụ thể, nhìn từ lí thuyết khoa học, làm phát lộ các tầng nghĩa mới Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu các truyện Nôm bác học này, đưa hướng giải minh các văn bản văn học đứng trên chiều tư duy hiện đại Bên cạnh

đó, còn có Đàm Quang Thiện (1965), Nguyễn Đăng Thục (1971) nhìn nhận

Truyện Kiều và các truyện Nôm bác học

theo trục tư tưởng, so sánh các dấu ấn của

lí thuyết Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng bản địa

2.5 Như vậy, hiện tượng truyện Nôm

bác học đến đây, theo chiều lịch sử, đã có

hai lần thay đổi hệ hình tư duy, mượn thuật ngữ của H R Jauss (Hans Robert Jauss, 2007) là cuộc diễn trình của “những cách đọc” Lần thứ nhất diễn ra khi xã hội thoát khỏi trường trung đại vào những năm 30,

40 của thế kỉ XX, chứng kiến sự đoạn tuyệt cách cảm nhận văn chương trong nhóm nhỏ, giữa cá nhân với cá nhân theo mô hình tri âm để đón nhận cái nhìn có phương pháp khoa học (phương pháp tả chân, phương pháp ấn tượng, phương pháp văn hóa lịch sử) Lần thứ hai, diễn ra sau năm 1945, khi trên miền Bắc độc tôn phương pháp xã hội học Marxism, theo nguyên tắc phản ánh luận hiện thực, tôn trọng cái điển hình về đấu tranh giai cấp (lí thuyết Xô viết) và ở miền Nam diễn ra các

xu hướng nghiên cứu theo phương Tây

Trang 7

Cũng chính những thành tựu này góp phần

quan trọng, đặt nền móng cho những nhận

thức về văn học cổ nói chung và di sản

truyện Nôm nói riêng giai đoạn tiếp theo

Sau hòa bình lập lại, đặc biệt là sau

Đổi mới 1986, lĩnh vực nghiên cứu truyện

Nôm bác học có nhiều chuyển biến và

đóng góp trên cả hai phương diện, văn bản

học và giải minh các giá trị Điều này diễn

ra trên nhiều khuynh hướng và quan điểm,

thái độ khác nhau.Trước hết phải kể đến

đóng góp của hai nhà nghiên cứu Đặng

Thanh Lê (1978) và Trần Đình Hượu

(2007) Đặng Thanh Lê trình bày con

đường đi đến một tác phẩm kết tinh điển

hình của kiểu loại: Truyện Kiều- truyện

Nôm.Trần Đình Hượu (2007) cho thấy một

con đường khác để đi tìm giá trị nhân văn

truyền thống Đó là con đường tư tưởng, cụ

thể ở đây là tư tưởng Nho giáo mà biểu

hiện đậm nhạt của nó vào văn học trong

từng giai đoạn cụ thể Đó là sự gắn kết của

một mẫu nhà nho - nhà nho tài tử với sức

hấp dẫn của các ca bản, tiểu thuyết tình yêu

Trung Quốc đặt trong môi trường tài tử

giai nhân, vấn đề trung tâm là tình yêu cá

nhân trong chiều hướng tránh mâu thuẫn

với lễ giáo phong kiến Thế giới mà các

nhân vật mơ về chính là nghĩa Như vậy,

truyện Nôm bác học đi đến giữa cuối thế kỉ

XIX, trong trường hợp Nguyễn Đình Chiểu

(Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư -

Tiều nho y vấn đáp) đã chuyển hướng so

với nội dung truyện Nôm bác học trước đó,

từ phạm trù Thân, Tình chuyển qua cộng

đồng và nghĩa

Khuynh hướng nghiên cứu về thể loại,

loại hình truyện Nôm nói chung còn có các

công trình của Kiều Thu Hoạch (2007),

Cao Huy Đỉnh (2003), Nguyễn Phong Nam

(2008) Từ phương pháp so sánh, nhìn

nhận truyện Nôm trong tương quan loại

hình với văn học các dân tộc khác, với bản

địa và khu vực cũng được các tác giả quan

tâm như: Hà Thị Bình (2005), Vũ Anh

Tuấn (2004), Ngô Thị Phượng (2013)…

Đây là khuynh hướng mở rộng phạm vi trong tính đối sánh để nhìn nhận sâu rộng hơn con đường phát triển cũng như bản chất và giá trị truyện Nôm

còn bỏ ngỏ

Lướt qua bức tranh lịch sử nghiên cứu trên cũng cho thấy truyện Nôm đã được nghiên cứu sâu rộng trên nhiều phương pháp, nhiều hướng nhìn biểu hiện sự thay đổi hệ hình tư duy nghiên cứu khoa học văn học từ truyền thống đến hiện đại Cũng theo đó, các giá trị truyện Nôm đã lộ ra nhiều chiều kích (từ văn bản học đến các giá trị nội tại) Điều này làm cho chúng tôi

có thêm nhiều thuận lợi kế thừa từ cơ sở của những người đi trước đã phát hiện, nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều nguy cơ Đây cũng là lí do để chúng tôi thử sức với một phương pháp khác, từ cái nhìn tâm lí học các chiều sâu Đây cũng là hướng lí thuyết chưa được giới nghiên cứu quan tâm nhiều Như phần trên chúng tôi có đề cập, lịch sử văn học là lịch sử của những cách đọc (H Jauss), của những phương pháp

“đọc” văn bản nghệ thuật khác nhau Mỗi một phương pháp thường để lại những thành công hay thất bại nhất định (vì không

có phương pháp đa trị cho một loại đối tượng nhận thức), nhưng phương pháp làm cho đối tượng hiện ra những bản chất khách quan nhất (nếu tuân thủ đúng phương pháp) “Đọc” một đối tượng tiền hiện đại bằng một lí thuyết hiện đại, đến nay đã là một hiển nhiên và nghiên cứu văn bản thuộc cơ tầng văn hóa đặc thù phương Đông từ sự cống hiến của lí thuyết khoa học nhân văn phương Tây đã trở nên quen thuộc (các công trình của Lê Tuyên, Đỗ

Lai Thúy, Trần Đình Sử…) Sự đối lập chủ thể - đối tượng nói trên khi đối diện với văn bản tiền hiện đại, dẫn đến hai hệ lụy: 1/

chủ thể hướng tới đối tượng theo chiều ngang của sự nhận thức, tập trung vào ý thức (duy lí) của chủ thể, không chú ý tới chiều sâu tâm thức, tâm linh và kết quả là

Trang 8

đẩy những “không gian thiêng” ra phía

“duy tâm”, “mê tín” và 2/ tiếp nhận ở phạm

vi đối lập mô hình thế giới theo hai đối

cực: tiên/ âm phủ đối với tục/ cõi trần thế

Sự đối lập nhị nguyên này vô tình làm mờ

khuất yếu tố con người trong tính chiều sâu

nội giới của nó, đặc biệt là chưa soi sáng

nó ở chiều mộng tưởng, chưa xem xét đúng

mức vị trí vũ trụ Tâm ở các bình diện như:

các năng lượng tâm thần, các chiều kích

của huyễn tưởng tâm linh - phần mơ tưởng

của con người các thời đại, những ngưỡng

vọng của cộng đồng

Cái nhìn về cuộc đời trong truyện

Nôm nói chung và truyện Nôm bác học nói

riêng cũng đồng thời đặt cá nhân trong

tương quan với các niềm tin của nó với xã

hội mà nó tồn tại trong đó Trong phạm vi

chúng ta đang khảo xét, vấn đề này diễn ra

trong bối cảnh có nhiều cảnh giới hứa hẹn

cho một sự yên ổn với cuộc sống trần thế

như Tiên giới, Niết Bàn, Chân Như, miền

Tịnh Thổ/ Độ, cõi âm (những không gian

thiêng hiện diện trong xã hội trần tục)… Sự

lựa chọn nào đó có thể xẩy ra, trên nét lớn,

là dựa trên cấu trúc hướng nội và hướng

ngoại Từ yếu tố tâm thức, thời trung đại

Việt Nam, có thể nói tâm thức của “sự

tham dự thần bí” (Lévy Bruhl) luôn luôn

hiện diện, ví dụ, Kiều từ hội đạp thanh, gặp

“mồ vô chủ” và bị ám ảnh, tin thật sự vào

sự liên hệ linh thiêng này với Đạm Tiên

Trong chiều kích này, với ý thức sơ khai,

kiểu kết hợp tiên - người, ma - người,

người - trời… không có giá trị biệt lập theo

kiểu những phản ứng trong những bộ máy

hay cơ thể Do đó, ý nghĩa của những hành

vi ấy không phải là sự kiện vật lí suông của

chúng, mà là sự lập lại hành vi nguyên

thủy, một mô phạm thần thoại, tức là

những hành vi của đấng thiêng liêng xưa

kia đã hành động Đây là sự tham nhập

nhằm thức tỉnh và trông đợi những ban

phát từ thần linh Ví dụ như việc ăn uống,

dinh dưỡng, giao phối không phải là tác

động thuần túy sinh lí, mà là tham dự với sự

sống thần linh; những cuộc lễ hôn phối tự

do, lễ cuồng ẩm, lễ hội phồn thực, việc cày ruộng của vua vào ngày thiêng đều rập khuôn những hành vi của các thần, tổ tiên Bên cạnh đó, truyện Nôm bác học cũng có sự kết hợp xu thế dân gian và xu thế thế tục Về xu thế dân gian, có hai nguồn ảnh hưởng, hai xu hướng: 1/ Sự trỗi sinh từ chính truyền thống văn học trước

đó và 2/ Tư tưởng phi Nho giáo được phát triển trong giai đoạn loạn lạc của lịch sử Trong xu hướng thứ nhất, từ việc sưu tầm, ghi chép truyện dân gian từ trước thế kỉ XIV, đến thế kỉ XV, XVII có sự xuất hiện

đặc biệt của Lê Thánh Tông (Thánh Tông

di thảo) và Nguyễn Dữ (Truyền kì mạn lục) Rất dễ nhận ra xu hướng dân gian khi

các tác giả đã sử dụng các motif quen thuộc

có trong cổ tích như: lấy vợ kì dị (vợ là ma, quỷ, tinh loài vật, tiên, thần…), phép thần phù trợ, gặp gỡ người chết, xuống thủy cung, lên thiên tào, cứu vật vật đền ơn… Như vậy, truyện Nôm bác học tự bản thân nó luôn hàm chứa nhiều giá trị và vẫy gọi nhiều hướng nhìn Nhìn từ lí thuyết tâm

lí học các chiều sâu của C Jung cũng đồng thời phác họa ra chiều rộng (hệ hình thế giới quan) và chiều sâu (hệ hình nhân sinh quan) trong tư tưởng văn học trung đại Việt Nam trong giai đoạn cụ thể (thế kỉ XVII, XIX), từ thế giới quan tiên mộng, mộng ảo, đến cái nhìn về cuộc đời với những tín ngưỡng riêng, từ đây, những cảm quan riêng biệt về chính cuộc sống được

mở rộng, đi sâu vào chiều nội giới của sáng tạo nghệ thuật

Chú thích:

(1)

Mỗi thể loại đặc thù, khi đã đi vào phát triển

ổn định và kéo dài không đơn thuần là dấu hiệu chỉ hình thức của nó, mà còn là một cách biểu hiện thế giới và nhân sinh đặc biệt Ví dụ Ngâm khúc là những bi cảm, bi ca của thân phận trước hoàn cảnh, dấu hiệu đặc trưng của

nó là sự thể hiện tập trung vào thế giới nội cảm như một đối đãi đặc biệt với thế giới

Trang 9

sống bên ngoài Truyện Nôm là sự kết hợp

giữa cái nhìn bên ngoài và cái nhìn bên trong,

như một nhận thức dung hòa, hay ít nhất,

hướng về sự dung hòa về thế giới sống của

con người…

(2)

Trong các công trình như: Truyện Kiều và thể

loại truyện Nôm (Đặng Thanh Lê, 1979), Thi

pháp truyện Kiều(Trần Đình Sử, 2005) đều sử

dụng song song hai thuật ngữ này Nó chứng

minh cho việc khu biệt thuộc về một hướng

đặt vấn đề khác mà chúng tôi không tập trung

ở đây Có thể xem thêm những dẫn giải chi

tiết trong Truyện Nôm những nghiên cứu hình

thái học (Nguyễn Phong Nam, 2008)

(3) Trong văn hóa đặc biệt là khi xuất hiện Nhà

nước, ý thức hệ chính thống… luôn tồn tại thế

lưỡng phân văn hóa: bác học và dân gian/bình

dân; chính thống (officiel) và dân gian

(populaire); giới tinh hoa và quần chúng;

trung tâm và ngoại biên… Các xu thế này

luôn nằm trong thế hướng tới sự “giải tập

trung”, “li tâm” để vươn đến sự hài hòa, đặc

biệt là trong văn hóa Việt Nam trong truyền

thống Các nỗ lực này ta có thể thấy rõ trong

các nhà văn lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn

Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du…

(4) Trần Đình Hượu cho rằng: “Trước thế kỉ XX,

văn học của ta có hai dòng cách biệt: bác học

và bình dân Mỗi dòng đều có người sáng tác,

công chúng, đề tài, đời sống văn học, phương

th ức truyền bá riêng; đều được sáng tác theo

những quan niệm văn học, tư tưởng thẩm mĩ,

bằng những thể loại nhất định và không giống

nhau Văn chương bác học là của nhà nho,

văn chương bình dân là của nhân dân lao

động (chủ yếu là nông dân) Hai dòng tuy khá

cách biệt nhau nhưng đều là sản vật nông

thôn; ở một mức độ nào đó, cả hai có khác với

bộ phận văn học cung đình nhỏ bé Văn học

cung đình nói chung cũng xếp vào văn

chương bác học Sự khác biệt đó đã có lúc có

cơ được xóa nhòa Đó là lúc xuất hiện truyện

Nôm, tôi muốn nói truyện Nôm tài tử giai

nhân Khi những nhà nho, thuộc tầng lớp

thượng lưu nhất, thậm chí xuất thân từ đẳng

cấp quý tộc, sống ở kinh kì, một loại đô thị

phong kiến, viết thơ ca, ngâm khúc, truyện

Nôm tỏ sự đồng tình với những người gặp

cảnh bất công, ngang trái, chịu số phận hẩm

hiu với một thái độ nhân đạo chủ nghĩa, thì

tuy họ cũng chỉ mới nói đến những bậc tài

tình, những người tài sắc, nhân dân lao động

vẫn cứ thích thú, nhân dân lao động vẫn tìm được trong đó những tiếng nói đồng điệu Nhà nho cũng theo đó có cơ đi vào những tiếng nói, tâm tình của nông dân”(Trần Đình Hượu,

1990, pp 66- 67) Đó là sự thâm nhập về mặt

tư tưởng, tình cảm của hai dòng văn học

(5)

N.I Niculin cho rằng sự hiện hữu của truyện thơ trong văn học Việt Nam đã làm cho nền văn học này khác hẳn với truyền thống của Viễn Đông mà nó gắn bó khăng khít Về phương diện này, ông nói, thơ ca Việt Nam gần gũi với các nền văn học của các dân tộc khác ở Đông Nam châu Á: truyện thơ chiếm một vị trí quan trọng trong thơ ca của hai nước láng giềng Lào

và Campuchia cũng như của đất nước Thái Lan; ở Việt nam, những truyện thơ dân gian có nét hao hao giống các đa-xtan của Trung Á và xuất hiện ở người Mường, Tày, Nùng, Thái… (Niculin, 2000, pp 518-519)

(6)

Ngay từ đầu thế kỉ XX, Nguyễn Văn Vĩnh đã phàn nàn về tình trạng này (tất nhiên là ông nhìn trong sự đối sánh với truyền thống phương tây): Chỉ tiếc rằng các nhà học nước Nam không hay trọng lấy các bản thảo, và người làm văn hay cầu lấy tuyệt, phát ra cho thiên hạ coi rồi về sau lại sửa đi sửa lại, hoặc lại để cho người hay hơn sửa, cho nên những văn nhất bút không có, mà người coi sách cũng không nệ tìm lấy nguyên thảo, thành ra bấy giờ ai muốn khảo cứu những danh văn, không biết bằng cứ vào đâu(Nguyễn Văn Vĩnh, 2007, p 344)

(7) Cơ thể xã hội Đại Việt giai đoạn này, nếu nhìn

từ khía cạnh tâm lí và văn hóa, bộc lộ sự mệt mỏi và suy nhược, kết quả của cuộc tranh giành quyền lực và tranh đoạt lẫn nhau giữa các tập đoàn phong kiếm, các cuộc chiến tranh nông dân, các cuộc lưu dân li tán… mà

sử gia Tạ Chí Đại Trường (Tạ Chí Đại Trường, 2013) gọi là “cuộc nội chiến” Cũng chính vì vậy, hệ thống các giá trị, các niềm tin, các vị thế của con người tồn tại trong thế cân nhắc mong manh Những luồng tư tưởng trong cơ thể xã hội có thể hình dung như những xung lực Nó chính là năng lượng nuôi dưỡng phần hồn của cả một cộng đồng, thời đại trong đó các cá nhân, các tổ chức sinh hoạt và mơ tưởng Những luồng tư tưởng này phải được vận hành trong cơ thể ấy theo một cách nào đó, bằng cách này hoặc cách khác, hoặc ẩn chìm hoặc hiển hiện khi bị ức chế, phủ nhận hoặc khi có cơ hội thăng hoa.Chúng

Trang 10

tôi coi đây là sự thức tỉnh, phản tỉnh của hai

trung tâm nhận thức và tri giác về thế giới

sống: tâm và thể (thân/ thân thể) Văn học nói

chung và truyện Nôm bác học nói riêng thể

hiện sâu sắc các chủ đề này Nếu thể thể hiện

sự nhận thức về một cơ thể sống cần được sự

để ý của hoàn cảnh xung quanh, nó đòi hỏi và

cất lên tiếng nói cho quyền của mình thì thế

giới tâm diễn ra phức tạp hơn, đa thanh hơn

Trê n nét lớn, có hai môi trường tâm hướng

đến: tâm tín ngưỡng, tư tưởng (gồm tín

ngưỡng bản địa, Nho giáo, Phật giáo và cả

Đạo giáo), và tâm tình cảm - tình yêu cá tính

Cả hai yếu tố này làm nên chiều nhân sinh

quan của nó Đây là một hệ quả quan trọng

của nhiều nguyên nhân xã hội: 1/ sự hiện diện

của một “không khí dân chủ về đời sống tâm

linh được tái tạo”; 2/ sự xuất hiện hàng loạt

các câu chuyện tình sử Đường - Tống, các

tiểu thuyết phong tình, tài tử giai nhân Minh -

Thanh; và 3/ theo khảo sát của chúng tôi trên

phương diện xã hội học văn hóa, chính các

quan hệ giao thương rộng mở và có sự chuyển

di các dòng người trong giai đoạn hậu kì trung

đại này, do chiến tranh, do phân chia quyền

lực, đã dẫn đến sự xác tín lại các niềm tin cố

hữu và các trải nghiệm đô thị Những chuyển

biến này đã để lại trong cơ thể văn hóa Đại

Việt những tương tác văn hóa quan trọng

(8) Tâm lí học Phật giáo chú trọng tới pháp Duyên

khởi Trong kinh A-hàm nói: Cái này có mặt

thì cái kia có mặt/ Cái này sanh thì cái kia

sanh/ Cái nà y không có mặt thì cái kia không

có mặt/ Cái này hoại diệt thì cái kia hoại diệt -

(Ấn Thuận, 2005, p 16) Tâm con người tồn

tại trong thế tương quan tương duyên mật

thiết với vũ trụ, nhân sinh Nếu chiều Vũ trụ,

tâm tồn tại trong thế cộng thông với bốn đại

chủng: đất, nước, lửa, gió thì chiều nhân sinh,

nó tồn tại trong thế cộng thông với các linh

hồn, tha nhân, nhân và quả trước và sau mình,

vì giống hữu tình chứa các sắc sở tạo như

thanh, hương, vị, xúc… (Bồ Tát hộ pháp và

các tác giả, 2006, p 102) A lại da (Àlaya)

chính là Thức chứa (tàng) những dấu ấn do

suy nghĩ, cảm thọ, ước muốn và hành động để

lại, hoặc tốt hoặc xấu A lại da là thức thứ tám

(các thức trước gồm theo thứ tự phân chia:

Xúc, Tác, Thọ, Tưởng, Tư, Mạt na thức - ý

thức, Mạt na - ý, và A lại da) Thức này liên

quan đến khái niệm Tập khí, theo diễn giải

của D.T Suzuki, về mặt vật lí cũng như tâm

lí, là kí ức - cái để lại sau khi một hành động được thực hiện, ẩn chứa trong thức A lại da như một thứ năng lực tiềm tàng luôn sẵn sàng hoạt động - (D.T Suzuki, 1999)

(9) (Phan Trọng Thưởng và các tác giả, 2007, pp

180, 222, 223, 242)

(10) Bài viết này in lần đầu trong Đông Dương tạp chí (9) 1913, tr9- 10, Nguyễn Văn Vĩnh kí tên T.N.T (tân Nam tử Vấn đề bàn luận của Nguyễn Văn Vĩnh ở chỗ ông cho rằng âm nôm

có tính cách hạn chế của một vị thế quốc âm, cần có sự phối hợp với chữ Nho, tiếng Lang sa

để gây dựng cho văn chương nước nhà phát triển(Nguyễn Văn Vĩnh, 2007, pp 342-345)

(11) Chuyển dẫn từ (Phan Trọng Thưởng và các tác giả, 2007) Do những khó khăn nhất định nên việc tiếp cận các tạp chí này hiện nay chỉ

có trên bản pdf điện tử Trong tài liệu chúng tôi vừa dẫn có thể coi là đầy đủ và có uy tín

để có thể nhận xét và đánh giá

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hà Thị Bình (2005) (dịch và giới thiệu), Tử

Thư - Văn Thậy, Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội

2 Bồ Tát hộ pháp và các tác giả (2006) (Thích

Thiện Siêu dịch), Luận thành duy thức,

Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp Hồ Chí Minh

3 Hà Như Chi (1951), Việt Nam thi văn giảng

luận, Nxb Tân Việt, Huế

4 Crayssac, R (2002), Truyện Kiều và xã hội

Á Đông In trong Nguyễn Du về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội

5 Phạm Văn Diêu (1960), Văn học Việt Nam,

Nxb Tân Việt, Huế

6 Xuân Diệu (2009), Các nhà thơ cổ điển

Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội

7 Durand, M (1998), L’univers des truyện Nôm, Nxb Văn hóa, Hà Nội

8 Cao Huy Đỉnh (2003), Tìm hiểu tiến trình

văn học dân gian Việt Nam, in trong Tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh tr

365-581, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

9 Lê Quý Đôn (2013) (Nguyễn Trọng Điềm

dịch), Kiến văn tiểu lục, thiền dật (tập 2),

Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh

10 Thạch Trung Giả (1973), Văn học phân tích

toàn thư, Nxb Lá Bối, Sài Gòn

Ngày đăng: 25/10/2020, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w