TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP - YẾU TỐ QUAN TRỌNG ĐỂ CÓ THỂ HỌC TẬP SUỐT ĐỜI Thế kỉ XXI là thế kỉ đi vào văn minh trí tuệ với các xu thế đã rõ ràng, như sự phát triển của công n
Trang 1Chương IX
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP HOÁ HỌC
§1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP - YẾU TỐ QUAN TRỌNG ĐỂ CÓ THỂ HỌC TẬP SUỐT ĐỜI
Thế kỉ XXI là thế kỉ đi vào văn minh trí tuệ với các xu thế đã rõ ràng, như
sự phát triển của công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức, xã hội học tập … Con người muốn tồn tại và phát triển trong xã hội thì phải học và học suốt đời, theo hướng 4 trụ cột của giáo dục (là học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau, học để làm người)
Việc học ở nước ta đang có những bước chuyển mạnh mẽ, vừa phản ánh sự phù hợp với triết lí giáo dục thế thỉ XXI (là học suốt đời, 4 trụ cột của giáo dục và xây dựng một xã hội học tập), vừa phù hợp với những mục tiêu phát triển của đất nước, mà một trong những yếu tố mới được đề ra ở Đại hội
IX của Đảng (4/2001) và chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, là phải thực hiện: "Mọi người đi học, học thường xuyên suốt đời; cả nước trở thành một xã hội học tập" Vì thế năng lực học của con người cần phải được nâng lên mạnh mẽ, nhờ vào trước hết "biết học cách học"
Không phải tự nhiên mà trong những năm gần đay có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc học, nhiều cách tiếp cận khoa học về việc học Chưa
có cách tiếp cận nào là hoàn hảo duy nhất, nhưng các học thuyết lí giải về học
đa dạng để có thể giúp ta hiểu biết quá trình học và từ đó thiết kế quá trình dạy thích hợp với quá trình học
Mục tiêu:
1 Nội dung: SV hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp học tập
Hoá học, những quan niệm chủ yếu về viêc học, nhứng yếu tố quan trọng của phương pháp học tập và những biện pháp rèn luyện phương pháp học tập, đặc biệt là phương pháp tự học.
2 Phương pháp: SV bước đầu nắm được lí luận và thực tiễn về
những biện pháp rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh,
do đó có thể đề xuất biện pháp rèn luyện phương pháp học tập cho bản thân về phương pháp học tập, trong đó có phương pháp tự học
Trang 2
Nhà giáo làm nghề dạy học chỉ là để giúp cho người học hành nên người Vì vậy nghề sư phạm được xác định trước hết không phải là hoạt động dạy mà phải bằng các hoạt động học của người học Bản lĩnh của người giáo viên biểu hiện ở năng lực vừa tập trung đi sâu vào nội dung học vừa tập trung
đi sâu vào việc học Từ chuyên gia về dạy học, người giáo viên phải trở trành chuyên gia về việc học của người học
§2 QUAN NIỆM VỀ VIỆC HỌC
I HỌC LÀ GÌ?
Có thể xác định việc học như là một quá trình thu nhận, ghi nhớ, tích luỹ,
sử dụng, liên kết, lí giải và xử lí thông tin, giải quyết vấn đề Đó là cách tiếp
cận việc học theo mô hình quá trình thông tin Cũng có thể nói: Học là quá
trình nội tại, trong đó chủ thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người mình, bằng cách thu nhận, xử lí thông tin, lấy từ môi trường sống xung quanh mình Dạy học trong nhà trường là nói về thay đổi cách thức mà
người học đã hiểu Nếu đã hiểu đúng thì phải hiểu sâu hơn, hiểu rộng hơn Không hiểu thì phải coi là chưa học Quá trình hiểu phát triển từ thấp đến cao,
từ nông đến sâu và từ hẹp đến rộng
Nhưng học là quá trình mà chủ thể khó lòng ý thức được, còn là một quá
trình khó khách quan hoá vì ít nhất ba lí do Trước hết thật khó ghi nhận mốc
thời gian: thời gian bắt đầu việc học không rõ ràng, thời gian kết thúc cũng
vậy; không bai giờ hoàn toàn học xong rồi, ta có thể tiếp tục học về những gì
ta tưởng là đã chiếm lĩnh được Lí do thứ hai là sự phân biệt giữa quá trình
học và sản phẩm của quá trình đó Mọi việc học đều là kết quả của một quá
trình rất khó tiếp cận, một quá trình hộp đen - khó xác định những gì đang xảy
ra trong hộp đó Cho nên, người ta thường có xu hướng tìm hiểu quá trình học
dưới ánh sáng của các sản phẩm học Lí do thứ ba: sự đa dạng về cách học
thức cũng làm cho ta khó xác định đặc tính của phương pháp học hợp lí nhất.
Có thể học bằng cách bắt chước, bằng suy luận hay loại suy, bằng cách giải quyết vấn đề hoặc bằng thực nghiệm, thực hành, hoặc tìm hiểu một mô hình… Như vậy có thể học bằng rất nhiều cách khác nhau và thông thường là kết hợp với nhau
II CÁC MO HÌNH LÍ GIẢI VIỆC HỌC
1 Theo các nhà Tâm lí học nhận thức.
Ý tưởng cơ bản về mô hình lí giải việc học là xử lí thông tin, sự vận hành
của não trong việc học cũng tương tự như vận hành của máy tính Học là thay
đổi hệ thống biểu tượng.
Đã biết có hai hình thức cơ bản để chiếm lĩnh kiến thức: học bằng hành động khám phá và học qua bài giảng của thầy Giáo dục đã liên kết hai hình
Trang 3thức đó bằng cách xác định một chuỗi hoạt động bao gồm cả bài thuyết trình
và bài tập ứng dụng kiến thức đã được thuyết trình Cách tiếp cận này chuyển hoạt động trí tuệ thành một chuỗi thao tác toán học và logic đơn giản, một lối vận hành, phân tích và phát triển mọi hoạt động theo trật tự logic
2 Theo các nhà Tâm lí học xã hội.
Khái niệm mâu thuẫn xã hội - nhận thức trở thành khái niệm trung tâm Mâu thuẫn thường xảy ra trong những cuộc tranh luận của chủ thể và tương tác xã hội tác động đến cách suy nghĩ và học tập của người học
3 Theo các nhà Phương pháp luận.
Trường phái này nhấn mạnh đến chức năng làm trung gian của giáo viên và cấu trúc chung cuả tư duy, các thao tác trí tuệ làm nền tảng cho việc học Người trung gian (giáo viên) là người biết nhận ra và kích thích năng lực học của học sinh, với lòng tin tưởng ở học sinh Giáo viên cũng là người biết sắp xếp việc học bằng cách tổ chức các tình huống tương ứng với phạm vi phát triển tối đa của học sinh Người trung gian không làm thay cho người học
và có ba chứcnăng:
- Kích thích hứng thú và sự gắn bó chủ thể với yêu cầu nhiệm vụ được giao;
- Giảm bớt một số vật cản bằng cách giảm bớt số hành động không cần thíêt để đạt được mục tiêu;
- Duy trì định hướng cho chủ thể tiếp tục theo đuổi mục tiêu chính và các mục tiêu trung gian cần thiết
4 Các nhà Tâm lí - Xã hội học.
Học như là một trò chơi xã hội với sự tham gia của các tác nhân của quá trình học là giáo viên, trẻ em, người quản lí, cha mẹ Để phát triển việc học, cần phải quan tâm đến các mối quan hệ quyền lực trong lớp học
5 Các nhà Lí luận dạy học.
Việc học lệ thuộc chủ yếu vào bản chất của tri thức môn học; logic của việc học một phần lớn là do logic nội dung các môn học quy định, cho nên phải dành ưu tiên cho quan hệ trò - trí thức và chú ý đến các biểu hiện của quan hệ đó
III BA NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA VIỆC HOC
Các mô hình lí giải việc học trên đây chưa thể dãn đến một cách tiếp cận tổng hợp về việc học ở nhà trường Tuy vậy từ đó có thể đúc ra ba nguyên tắc
cơ bản của việc học:
- Học là tìm ra ý nghĩa một tình huống học - dạy
Trang 4- Học là làm chủ một kĩ xảo nhận thức.
- Học là tạo ra các cầu nối nhận thức giữa các yếu tố tri thức riêng biệt Sau đây sẽ xem xét kĩ hơn về ba nguyên tắc trên
1 Học là tìm ra ý nghĩa trong một tình huống học - dạy.
Học là hành động kiến tạo của chủ thể, giúp cho chủ thể chiếm lĩnh các mẫu thực hiện Học không phải là một quá trình thụ động mà là một quá trình tích cực và phản ứng Để học cần phải tự vạch ra đề án học Mọi việc học đều
có mục tiêu và lộ trình, có ý đồ và hành động, có sản phẩm và quá trình Học
là tìm ra và kiến tạo một tổng thể hệ quy chiếu và giá trị có thể giúp chủ thể lập lại trật tự trong thế giới của mình và dần dần trao đổi thế giới của mình với thế giới của người khác Chủ thể tìm ra các ý nghĩa trong hành động có ý thức của mình
Chúng ta sẽ xem xét vấn đề ý nghĩa trong khuôn khổ Tâm lí học và Giáo
dục học.
Hành động, cuộc sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi mang một mục đích nào đó Mục đích đó có thể được xem xét trên ba bình diện: hiện thực khách quan, tưởng tượng và tượng trưng
- Dần dần người phát hiện ra rằng học là hi vọng hiểu biết về hiện thực khách quan (thế giới bên ngoài bao gồm các sinh vật, vật thể và các quy luật
có liên quan) Tri thức về hiện thực chỉ là tạm thời chứ không phải là vĩnh viễn, không phải là cuối cùng Một học thuyết nói ngày mai sẽ xem xét cách lí giải ngày nay
- Tưởng tượng ứng với cách thức cá nhân phản ứng về lí giải và nhận thức thế giới bên ngoài Học là nghiên cứu phát hiện hiện thực và trí tưởng tượng được nuôi dưỡng
- Tượng trương tương ứng với các cụng cụ nhận thức có thể diễn tả, phát hiện hoặc lí giải hiện thực Học là biến đổi một dữ kiện thành hình tượng
Như vậy, học là xây dựng mối quan hệ giữa người học với thế giới bên
ngoài bằng cách dựa vào cái hiện thực, tưởng tượng hay tượng trưng Ta có
thể hêỉu rằng học ở nhà trường khơi dậy những tình huống thời thơ ấu đã từng giúp cho trẻ em tự phát triển, tự xác định vị trí của mình trong môi trường gia đình
Để học tốt, phải có lòng ham muốn học Hơn thế, còn phải làm cho lòng
ham muốn vận động và chuyển sang hành động Động cơ thúc đẩy lòng ham muốn vận động Động cơ kéo dài ham muốn đến hành động Dựa vào động
cơ thì mục đích và hoài bão (dự án) mới triển khai hành động có hiệu quả
Cần phân biệt hai loại động cơ: động cơ bên trong thường gắn với hứng thú
riêng của bản thân (ví dụ muốn học lớp chuyên Hoá vì bản thân học tốt môn
Trang 5Hoá học và muốn đi sâu nghiên cứu hoá học); động cơ bên ngoài thường gắn
với mục tiêu, hoài bão cơ bản và dài hạn của bản thân (ví dụ muốn học lớp chuyên để sau này dễ có điều kiện đi học ở nước ngoài) Chủ thể chỉ học mỗi khi tìm ra được ý nghĩa của tình huống học Ý nghĩa này hình như nằm trong mối tương quan giữa ham muốn và động cơ- động cơ bên trong hay động cơ
bên ngoài Hứng thú học đích thực có thể là sự chuyển biến vị trí động cơ bên
ngoài thành động cơ bên trong.
Như vậy trong việc học cần phải tác động đến ham muốn và động cơ của người học Giáo viên có thể giúp cho học sinh có ý thức về khả năng ứng dụng tri thức học được ở nhà trường vào cuộc sống, đồng thời giúp cho học sinh có ý thức về cách chiếm lĩnh tri thức, cách học Vì thế, dạy học chính là giúp cho học sinh có ý thức về ý thức của mình Đó chính là vấn đề ý nghĩa trong khuôn khổ Giáo dục học
Tóm lại việc học chỉ có thể tiến hành với điều kiện người học có lòng ham muốn và có động cơ học Để chiếm lĩnh tri thức, phải ham học.
2 Học là làm chủ một kĩ xảo nhận thức
Ý nghĩa của việc học là một thành tố tâm lí bao gồm cả ham muốn và động cơ học tập của người học Giáo viên là người kích thích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học của học sinh nên cần giúp đỡ học sinh tìm ra ý nghĩa của việc học Muốn thế, cần thực hiện ba điều kiện:
- Người học cần biết dự báo về kết quả hoàn thành nhiệm vụ, để tự mình xác định mục đích việc học, làm cơ sở cho việc tiến hành tự đánh giá có tác dụng đào tạo
- Cần diễn đạt các biểu tượng đang vận hành và đề xuất mâu thuẫn nhận thức hay mâu thuẫn xã hội- nhận thức với các bạn để khởi động ý thức
về các vật cản tiềm ẩn trong các biểu tượng đó
- Có khả năng chuyển vị kĩ xảo vào một tình huống mới
a Học là phải dự báo kết quả và kế hoạch việc học
Dự báo kết quả học sẽ giúp cho học sinh kế hoạch hoá việc học và xem xét cách thức thực hiện kế hoạch Kế hoạch có thể được tiến hành theo trình tự: diễn đạt đúng mục đích và tính chất của khách thể (tri thức và kĩ năng); dự báo về con đường cần đi để vươn tới đích; kế hoạch hoá; thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá
b Học là làm nảy sinh mâu thuẫn bên trong cá nhân
Mâu thuẫn bên trong cá nhân thường được khơi dậy bởi mâu thuẫn giữa các cá nhân, xuât phát từ những biểu tượng đối lập nhau trong các cuộc tranh luận
Trang 6Trong học tập, học sinh thường cảm thấy mình đang ở trong một tình huống cao hơn trình độ phát triển của mình, tuy không cao hơn nhiều, nghĩa là
lúc đó học sinh đang ở “vùng phát triển gần” (hay vùng tương cận của phát
triển) Cho nên học sinh thấy sự cần thiết phải sử dụng công cụ mới khác với công cụ hiện có để có thể bắt đầu một việc mới Lúc đó giáo viên phải tính đến việc sử dụng hai cách sắp xếp liên kết chặt chẽ với nhau là sắp xếp chỗ dựa
và tháo bỏ chỗ dựa
Sắp xếp chỗ dựa tương ứng với tình huống sư phạm do giáo viên xây
dựng nên với các cụng cụ sư phạm như là vai trò trung gian của chính mình, mức độ khó khăn của nhiệm vụ đã được giáo viên tính toán kĩ… để tạo điều kiện thuận lợi làm chỗ dựa cho việc học
Pha thứ hai của việc học là “tháo bỏ chỗ dựa”, tức là tháo bỏ các ”các trụ
tạm thời” và làm cho tri thức thành của riêng của cá nhân học sinh, để cho học sinh có thể sử dụng tuỳ ý mình vào các tình huống khác Học sinh tự tìm ra các trường hợp khác trong đó tri thức của mình thật sự có ý nghĩa
Khó khăn của giáo viên là phải xác đinh vùng phát triển gần tương ứng với nội dung học cụ thể, có giới hạn Cách tốt nhất là dựa vào các biểu tượng khác nhau của học sinh về chủ đề được đề cập đến “Vung phát triển gần” bây giờ trở thành khoảng không gian sư phạm mà giáo viên xây dựng nên để làm cho các biểu tượng khác biệt nhau đó cọ xát với nhau thành mâu thuẫn giữa các cá nhân; dựa vào các vật cản để đề xuất các yếu tố của việc học có thể giúp vượt qua vật cản và hình thành mâu thuẫn bên trong cá nhân Việc giải quyết mâu thuẫn bên trong đó sẽ là kết quả học tập trong khuôn khổ tình huống đã cho
Tri thức mới làm cho học sinh đoạn tuyệt với một số quan niệm trước đây, đồng thời cũng làm cho học sinh tiếp nối một cách liên tục một số ý nghĩ dần dần phức tạp hoá
Việc nghiên cứu các biểu tượng của học sinh đã dẫn đến vật chất hoá lập luận về kết quả học tập bằng thuật ngữ “vật cản” cần vượt qua và “mục tiêu- vật cản”
Vật cản bao hàm những gì phải biến đổi, những gì phải vận dụng vào biểu tượng để giúp biểu tượng hoá
Mục tiêu- Vật cản là đặc tính của một trong những vật cản hiện có trong
lớp và trở thành mục tiêu phải đạt được
Như vậy, vùng phát triển gần (vùng tương cận của phát triển) tương ứng với thời điểm vượt qua vật cản hiện có trong biểu tượng mà chủ thể chuyển tải
từ một lĩnh vực tri thức
c Học là chuyển vị những gì đã chiếm lĩnh được trong tình huống ban đầu vào một tình huống mới
Trang 7Học không những là làm chủ một kĩ xảo mà còn có khả năng sử dụng lại
kĩ xảo đó trong một tình huống khác Học có kết quả tức là có khả năng ứng dụng, tái đầu tư hoặc chuyển vị
Có khả năng ứng dụng mỗi khi chủ thể sử dụng kĩ xảo đã chiếm lĩnh
được trong một tình huống có cùng cấu trúc với tình huống ban đầu
Có khả năng tái đầu tư mỗi khi chủ thể có khả năng sử dụng kĩ xảo để
chiếm lĩnh được trong một tình huống có cấu trúc gần gũi với cấu trúc của tình huống học ban đầu
Có khả năng chuyển vị mỗi khi chủ thể có khả năng sử dụng kĩ xảo đã
chiếm lĩnh được vào một tình huống hoàn toàn mới so với tình huống học ban đầu
Chuyển vị là sử dụng kết quả học vào một tình huống mới, khi làm việc
đó đòi hỏi phải nhận biết cấu trúc chung của hai tình huống
Ở trình độ tình huống mới, chuyển vị là một hoạt động cấu tạo lại, tức là phải đối chiếu các mối quan hệ giữa tình huống mới và các tình huống đã gặp trước đây, cấu tạo lại cho phù hợp với tình huống mới và sử dụng kĩ xảo nào cho có hiệu quả
Như vậy, sau khi học, người học sinh phải làm chủ được một kĩ xảo mới
mà lúc đầu chưa có Học tức là hiểu biết để có thể hành động trong các tình
huống khác.
3 Học là tạo ra các cầu nối nhận thức giữa các yếu tố tri thức riêng biệt
Để tạo ra các cầu nối nhận thức, cần phải giúp học sinh dần dần nắm được bản chất cấu thành môn học để phân biệt phần chủ yếu với phần thứ yếu, tức là giúp học sinh nắm được chìa khoá của môn học
Muốn làm được điều này, cần phải tiến hành đối chiếu lại các kiến thức chiếm lĩnh được trong tiến trình năm học nhằm giúp cho học sinh dần dần nắm được các yếu tố chủ yếu của môn học (hay ma trận của môn học)
Còn phần phải vạch rõ mối liên hệ giữa các môn học khác nhau dù các môn học đó vận dụng những quan điểm giống nhau, dù sự liên kết các môn học đó có thể dẫn đến những khái niệm mới Đối chiếu các môn học là việc
làm có lợi về hai mặt: Một là tạo nên những thực thể tri thức chỉ bộc lộ rõ tất
cả ý nghĩa khi được đối chiếu với các môn học khác; Hai là để vật chất hoá sự
khác biệt khi tiếp cận với một số dữ kiện của các môn học khác nhau
Như vậy đối với người học, học là tìm ra ý nghĩa trong các tình huống giáo dục, làm chủ các kĩ xảo nhận thức và tình cảm, tạo ra các cầu nối nhận thức giữa các kĩ xảo đó Việc học có kết quả là đạt được các cầu nối giữa các yếu tố khác nhau đã được chiếm lĩnh từ trước Quan điểm học đó đòi hỏi người học phải phát triển ba năng lực quan trọng là năng lực dự báo, năng lực
Trang 8kế hoạch hoá và năng lực điều chỉnh Người học phát triển các năng lực đó thông qua các tình huống học nhằm chiếm lĩnh các loại tri thức
IV SƠ ĐỒ TÓM TẮT CÁCH HỌC CÓ HIỆU QỦA, CÔNG NGHỆ HỎI
Cách học có hiệu quả có thể được tóm tắt ở bốn chữ:
Học- Hỏi- Hiểu- Hành
Trong quá trình học, đặc biệt là tự học, tự nghiên cứu tài liệu, tiếp thu sự giảng dạy của thầy, để đảm bảo được mục đích tối thiểu phải đạt là hiểu thì
1 Tự hỏi, tự trả lời, tự đánh giá
Đó là quá trình phát hiệu ra những điều không hiểu, hiểu “lơ mơ”, hiểu sai, không thông suốt và cần phải tìm cách giải quyết những thắc mắc Quá trình này là quá trình người học rèn luyện phương pháp tư duy cho bản thân, nâng cao năng lực tìm tòi giải đáp các câu hỏi đặt ra, qua đó mà nắm vững hơn những nội dung cần phải biết, phải áp dụng Lúc này, nếu tự mình thấy không được thỏa mãn ở chỗ nào đó thì có thể hỏi người khác và tiếp thu lời giải đáp, nhờ đó có thể hiểu hơn
2 Hỏi chủ động, hỏi thụ động
Khi hỏi người khác, có nhiều cách, gồm 2 loại chính: hỏi chủ động (hoặc hỏi tích cực) và hỏi thụ động
Hỏi chủ động là chỉ hỏi sau khi đã tự hỏi, tự đáp và đã thấy rõ chỗ nào là
chỗ nào là chỗ mình không tự thỏa mãn được; như vậy câu hỏi sẽ cụ thể hơn, sáng sủa hơn Khi hỏi chủ động, lúc nhận được câu trả lời, người hỏi sẽ có cảm giác ngay là “thông” hay “chưa thông”, từ đó có thêm cơ sở để tiếp thu tìm hiểu vấn đề kĩ hơn Kết quả cần đạt phải là “hiểu hơn trước”, rồi từng bước tiến lên “hiểu đầy đủ hơn, hiểu sâu hơn” Thiếu khâu tự hỏi, tự đáp mà
đã đi hỏi người khác ngày, thì câu hỏi thường được chuẩn bị không kĩ càng,
HỎI
Tự hỏi- Tự đáp- Tự đánh giá
Chủ động(*)
Thụ động
Hiểu
Hiểu
Hiểu
Hành
Hành
Hành
Trang 9không đủ sâu, cho nên hiệu quả tiếp nhận lời đáp sẽ thấp, nghĩa là không hiểu thêm được mấy
Khái niệm hỏi “người khác” có hàm ý rộng, là đặt câu hỏi với các đối tượng “ngoài bản thân” như các tài liệu, tư liệu (sách, báo, phim ảnh, băng ghi
âm, băng hình, di tích, các công nghệ thông tin và truyền thông) Tiềm năng của “người khác” là một nguồn lực bên ngoài
3 Quá trình tương tác trực tiếp và tương tác gián tiếp
Tương tác trực tiếp là quá trình “hỏi- đáp”, “hỏi tiếp- đáp tiếp” giữa người
hỏi và người được hỏi Điều này thường xảy ra giữa người với người, hoặc
giữa người với loại máy tính cùng phần mềm có tính năng tương tác Tương
tác gián tiếp xảy ra khi người được hỏi không phải là những trường hợp vừa
nêu, mà là sách, tư liệu…
Sự tương tác này được sinh ra bắt đầu từ việc hỏi, hiệu quả tương tác trước hết phụ thuộc vào mức độ “chuẩn bị hỏi” Như vậy người học sinh phải học cách hỏi, cách tự hỏi và cách hỏi “người khác”
3 Học phải đi đôi với hỏi thì mới hiểu, hiểu sâu, đồng thời lại thấy những
điều còn chưa biết, chưa hiểu, cần phải tiép tục học Vì vậy ông cha ta thường nói “học hỏi” Khi học, không nên chỉ tiếp thu một chiều mà phải lật lại đi lật lại vấn đề và tìm cách trả lời thì mới hiểu được sâu được rộng; “hỏi” chính là một thao tác “kích thích” tư duy trong quá trình học, mà nhiệm vụ là đặt ra một vấn
đề phải giải quyết, nhằm làm cho người học hiểu rõ hơn Vì ba khâu này liên quan chặt chẽ với nhau nên người ta nói: học- hỏi- hiểu
Khi nói học sinh hiểu một nôi dung tức là học sinh hiểu được điều các nhà khoa học nói về nội dung đó Vì vậy hiểu là điểm tựa để từ đó học sinh phát triển, đặt biệt phát triển bằng ứng dụng, bằng hành động
5 “Cách hỏi” để hiểu và để hành
- Thông thường người ta hỏi: “vì sao?”, “là gì?”, “thế nào” Ở đây cần lưu
ý đến mục đích của “hỏi” là để “hiểu” và “hành” Do đó cần tập trung vào câu hỏi về “ý nghĩa gì” (tức là lập luận của tác giả là gì? hoặc những quan niệm nào có thể ứng dụng được để giải quyết vấn đề) và câu hỏi “làm thế nào?”
- Cần liên hệ kiến thức đã biết từ trước với kiến thức mới, liên hệ với những kiến thức đã được nêu ở những giáo trình khác nhau
- Tổ chức và cơ cấu của nội dung tạo thành một tổng thể gắn bó
Trong cách tiếp cận này, nổi lên là tác động từ bên trong người học, như một sự đòi hỏi “mở cửa sổ”, thông qua nó mà những khía cạnh của thực tiễn được hiểu rõ hơn (1).
Trang 10§3 NHỮNG YẾU TỐ QUAN TRỌNG CỦA PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP HÓA HỌC
Mới chỉ có rất ít công trình nghiên cứu về phương pháp học tập Hóa học
ở trường PT Dưới đây chỉ trình bày một vài phác thảo bước đầu góp phần thảo luận về vấn đề quan trọng n ày
Để xác định được những yếu tố quan trọng của phương pháp học tập Hóa học, cần vận dụng những lí luận về việc học tập tích cực chủ động, sáng tạo, chú ý những dạng hoạt động chủ yếu của việc học tập các môn học (bao gồm thu nhập thông tin, xử lí thông tin, ghi nhớ và vận dụng), đồng thời chú ý đặc điểm của môn học Hóa học Vì vậy có thể xét đến các mặt chủ yếu sau:
I HỌC THU NHẬP THÔNG TIN
1 Học cách nghe giảng, ghi bài trên lớp
- Tận dụng sách giáo khoa, sách bài tập, đồng thời phải có vở ghi và vở làm bài (hoặc có vở học tập) Kết hợp cao nhất đồng thời thính giác, thị giác
Cố gắng để hiểu rõ vấn đề mấu chốt, trọng tâm chi phối các vấn đề khác
- Nhanh chóng xác định được thủ thuật nghe và ghi bài, phù hợp với mỗi môn học, thậm chí đối với mỗi thầy cô giáo
2 Học cách học bài
- Học cách tự học: Chú ý cách học theo hướng thao tác tư duy từ thấp
lên cao theo sáu nấc thang nhận thức hoặc tư duy theo Bloom: nhận biết, thông hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Chú ý học ứng dụng, học phân tích, học bình luận đánh giá từng kiến thức, học tư duy trừu tượng, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo trong quan hệ hệ thống của các kiến thức
- Học cách trình bày diễn giải bằng lời những điều học được trước nhóm
nhỏ học tập hoặc trước tập thể lớp
- Học cách tham khảo trí tuệ của bạn học và đồng nghiệp hoặc cách
thuyết phục các bạn học
3 Học cách đọc sách
- Trước hết phải rèn luyện lòng ham thích đọc sách
- Cần học cách chọn sách đọc: phù hợp với mục tiêu môn học, phù hợp với trình độ người đọc, biết chọn sách để đào sâu và mở rộng một vấn đề
- Học cách đọc sách và ghi chép để lưu giữ thông tin, để bổ sung bài giảng và để tự học nâng cao tri thức và năng lực