Phương pháp dạy học môn Hóa hoc
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị: Trường THPT Trần Phú
Mã số:
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG Lĩnh vực nghiên cứu :
Phương pháp dạy học bộ mơn : Hĩa Học
Cĩ đính kèm :
Mơ hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Trang 2Năm học : 2010 – 2011
SƠ LƯỢC VỀ LÝ LỊCH KHOA HỌC
I/ THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN :
1 Họ và tên : Nguyễn Thị Phương Dung
2 Ngày, tháng, năm sinh : 25/10/1976
3 Nam, Nữ : Nữ
4 Địa chỉ : K37, khu phố 2 – phường Xuân Bình – Thị xã Long Khánh – Đồng Nai
5 Điện thoại : 0613726311 (CQ)/ ĐTDĐ : 0933.432.806
6 Fax :……….E-mail :………
7 Chức vụ : Giáo viên
8 Đơn vị công tác : Trường THPT Trần Phú
II/ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất : Cử nhân Hóa học
- Năm nhận bằng : 1999
- Chuyên ngành đào tạo : Hóa học
III/ KINH NGHIỆM KHOA HỌC :
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm
- Số năm kinh nghiệm : 11 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây :
1 Một số phương pháp giải nhanh các bài toán trắc nghiệm hóa học
2 Sử dụng phương pháp trực quan vào giảng dạy chương Oxi – Lưu huỳnh
Trang 3TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC
BẰNG CÁCH LIÊN HỆ THỰC TẾ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Môn Hóa học ở trường phổ thông nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lí phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận.Trước tình hình đó, Hóa học phải đổi mới phương pháp dạy học đã
và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phát huy tính thực tế
Có những vấn đề Hóa học giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong
tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hóa học trong những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học
Trong việc dạy môn hoá học ở trường trung học, người giáo viên phải có vốn kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo ra được những giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học tập của học sinh
Chính vì vậy, tôi xin đưa ra sáng kiến kinh nghiệm : “ Tạo hứng thú học tập môn Hóa học bằng cách liên hệ thực tế”.
II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN :
1.1.CƠ SỞ KHOA HỌC :
1.1.1.Hóa học với thực tiễn cuộc sống :
a) Tác động của hóa học đến đời sống con người :
Không có môn khoa học nào lại có nhiều ứng dụng như môn Hóa học :
- Trong tự nhiên, nhờ có hóa học mà chúng ta có thể khám phá thiên nhiên, nắm được tính chất, quy luật của thiên nhiên và con người ngày càng thành công trong ngành khoa học khám phá vũ trụ, trái đất,…
- Trong đời sống, sản xuất : Hóa học được ứng dụng trong việc nghiên cứu thành phần, tác dụng, chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm, các quy trình sản xuất (sản xuất, chế biến các nguồn nguyên liệu thô thành các nguyên liệu có thể sử dụng trong đời sống sản xuất, chế biến các loại nông sản, chế tạo ra các đồ dùng, vật dụng hằng ngày)
b) Tác dụng của các kiến thức thực tế về hóa học :
- Giúp học sinh nắm được cơ sở hóa học, nắm vững và củng cố kiến thức cơ bản về hóa học
- Nắm nhanh và kĩ các kiến thức đã học trong bài Hóa học là ngành hóa học thực nghiệm, học lý thuyết và kiểm tra lại bằng các thí nghiệm Chính việc tiến hành các thí nghiệm sẽ phát sinh các vấn đề để các em có thể hiểu sâu và kĩ các kiến thức đã học, qua đó các em hiểu bài hơn
Trang 4- Các kiến thức hóa học thực tế làm cho học sinh hiểu được vai trò to lớn của hóa học trong đời sống : kinh tế, quốc phòng, sinh hoạt,… thúc đẩy sự ham hỏi của học sinh
- Giúp học sinh hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng trong đời sống hằng ngày một cách đúng đắn Các em sẽ nhận thức được những gì có ích, những
gì có hại để điều chỉnh hành vi của mình
1.1.2 Tác dụng của việc liên hệ thực tế trong giảng dạy :
a) Với người thầy :
- Phát huy khả năng truyền thụ kiến thức của người thầy Khi mở rộng kiến thức hóa học thực tế trong bài giảng sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy
- Mở rộng kiến thức hóa học thực tế rèn luyện một số kỹ năng dạy học :
+ Kỹ năng diễn đạt
+ Kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học
+ Kỹ năng tiến hành thí nghiệm
+ Kỹ năng phân bố thời gian
+ Kỹ năng giao tiếp
- Kích thích lòng ham thích học tập của học sinh
- Tạo ra giờ học lý thú bổ ích Khi mở rộng kiến thức hóa học thực tế sẽ có rất nhiều câu hỏi đặt ra kích thích học sinh tư duy trả lời, bầu không khí của lớp sẽ trở nên sôi động, tạo điều kiện cho các học sinh còn nhút nhát tham gia vào bài giảng
- Gần gũi với học sinh Khi giáo viên thực hành các kỹ năng nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh, giáo viên sẽ có nhiều cơ hội giao tiếp với học sinh Nhờ đó mà sẽ tạo được ấn tượng tốt với học sinh
b) Với học sinh :
- Các em trở nên yêu thích môn hóa Khi học sinh được hiểu thấu đáo các vấn đề hóa học, được tham gia vào các hoạt động thực tế… Các em sẽ có hứng thú với môn học vì các em đã nắm được tầm quan trọng của môn học, từ đó nâng cao thành tích học tập
- Nắm được các kiến thức cơ bản của hóa học Các kiến thức hóa học thực tế lấy nền tảng là các kiến thức hóa học mà học sinh đã học ở nhà trường, tác dụng của các kiến thức này là giải thích các bản chất của sự vật, hiện tượng do đó các
em sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc các kiến thức hóa học, các em sẽ nắm rõ các kiến thức hơn
- Hình thành kỹ năng tư duy, sử dụng sách… Các kiến thức mới luôn thúc đẩy học sinh tìm tòi phát hiện kiến thức trong sách báo
- Phát huy tính tích cực sáng tạo trong học tập
1.1.3 Liên hệ thực tế là một biện pháp gây hứng thú học tập cho học sinh :
Cái mới luôn là cái kích thích chúng ta tìm hiểu nhất Việc liên hệ thực tế sẽ thúc đẩy học sinh tìm tòi khám phá trong học tập Hiểu và giải thích được các hiện tượng tự nhiên là một động cơ thúc đẩy học sinh học tập Các kiến thức hóa học sẽ thu hút sự chú ý lắng nghe trong giờ học và ham thích học hỏi, tìm kiếm sách vở, rèn luyện khả năng sử dụng sách… Qua đó, các em sẽ thấy được những lý thú của các kiến thức đã học, tăng thêm lòng yêu thích môn học
Trang 5Hứng thú học tập là một trong những yếu tố quyết định kết quả học tập của học sinh Học sinh có khả năng mà không có hứng thú thì cũng không đạt kết quả, giáo viên giỏi chuyên môn mà không có kỹ năng tạo hứng thú học tập cho học sinh thì chưa thành công Do đó đòi hỏi người giáo viên phải hội tụ kiến thức và tất cả các yếu tố phục vụ cho công việc dạy học Kỹ năng tạo hứng thú là kỹ năng quan trọng nhất, mà để có được kỹ năng này thì đầu tiên người giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng, phải luôn cung cấp cho học sinh lượng kiến thức : ĐỦ, ĐÚNG, MỚI, THIẾT THỰC
Với giáo viên bộ môn Hóa học, kiến thức hóa học thực tế sẽ đáp ứng mặt thiết thực của kiến thức
1.2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ :
1.2.1 Thuận lợi :
- 100% giáo viên đã đạt chuẩn
- Trong quá trình giảng dạy môn hóa, giáo viên đều cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các phương pháp như : phương pháp trực quan, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp liên hệ thực tế trong bài giảng…
- Giáo viên đã có sử dụng các đồ dùng và phương tiện dạy học như thí nghiệm, mô hình, tranh … và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học
- Học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung quan sát thí nghiệm, giải thích một
số hiện tượng trong cuộc sống và suy nghĩ trả lời các câu hỏi do giáo viên đặt ra
- Học sinh tích cực thảo luận nhóm và đã đem lại hiệu quả trong quá trình lĩnh hội kiến thức
1.2.2 Khó khăn :
Hiện nay ở trường, một số học sinh chưa biết tác dụng của môn hóa học, do việc giảng dạy ở trường còn mắc phải một số khuyết điểm :
- Còn thiên về lý thuyết thiếu thực tế
- Chưa cung cấp cho học sinh các kiến thức hóa học có ứng dụng nhiều trong thực tiễn
- Do đầu vào thấp, cho nên khả năng vận dụng kiến thức để lý giải các tượng liên quan đến hóa học đối với học sinh còn khó khăn
* Do đó, để khắc phục các nhược điểm trên và để nâng cao khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, để tạo hứng thú trong việc học môn Hóa học thì việc liên hệ thực tế trong quá trình giảng dạy là cần thiết.
2 NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI :
a) Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài giảng mới.Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.
Ví dụ 1 : Khi dạy về bài CLO (ở lớp 10), giáo viên có thể mở bài như sau :
Trang 6- GV : Mỗi khi mở vịi nước máy chúng ta thường ngửi thấy cĩ mùi xốc rất
khĩ chịu Đĩ là vì tại nhà máy nước người ta đã sục vào đĩ một chất khí cĩ tác dụng diệt khuẩn Các em cĩ biết khí đĩ là khí gì khơng ?
- HS cĩ thể biết sẽ trả lời đĩ là khí clo.
- GV : Đây cũng là tên bài học của chúng ta hơm nay.
* Cách giới thiệu này sẽ tạo cho học sinh chú ý hơn để tìm hiểu tại sao clo lại cĩ tính chất như vậy Và trong quá trình học về tính chất của khí Clo các em sẽ giải thích được như sau :
Khi sục vào nước một lượng nhỏ clo, nước cĩ tác dụng sát trùng do clo tan một phần (gây mùi) và một phần với nước :
H2O + Cl2 HCl + HClO
Hợp chất HClO khơng bền cĩ tính oxi hĩa mạnh :
HClO HCl + O
Oxi nguyên tử cĩ khả năng diệt khuẩn
Ví d ụ 2 : Khi dạy về bài Amoniac và muối amoni (ở lớp 11), giáo viên cĩ thể mở bài như sau :
- HS suy nghĩ trả lời :
* Trong quá trình học về tính chất của muối amoni, học sinh sẽ hiểu được hiện tượng trên là do :
(NH4)2CO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc hấp bánh thì (NH4)2CO3 sẽ bị phân hủy dưới tác dụng của nhiệt :
(NH4)2CO3
o
t
2NH3 + CO2 + H2O
Như vậy, khi hấp bánh bao khí CO2, NH3 thốt ra để lại vơ số lỗ nhỏ trong bánh bao làm cho bánh bao vừa to lại vừa xốp và cĩ mùi khai là mùi đặc trưng của amoniac
Ví dụ 3 : Khi dạy về bài PHOTPHO (ở lớp 11), giáo viên cĩ thể liên hệ thực tế khi
mở bài như sau :
- GV : Trong “Văn tế thập loại chúng sinh”, thi hào Nguyễn Du đã viết :
“Lập lịe ngọn lửa ma trơi Tiếng oan văng vẵng tối trời cịn thương”
Thế “ma trơi” là cái gì vậy ? Các nhà văn tưởng tượng ra chăng ? Khơng phải, “ma trơi” quả là cĩ thật Nếu các em cĩ dịp đi qua các nghĩa trang vào ban đêm thì các em sẽ thấy tại một số ngơi mộ tỏa ra những ngọn lửa màu xanh lãng đãng lập lịe mà dân gian thường gọi là “ma trơi” Bài học ngày hơm nay sẽ giúp các em hiểu được hiện tượng này Đĩ là bài PHOT PHO
* Sau khi học xong bài Photpho giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu được hiện tượng trên là do :
- GV : Khi ăn bánh bao ta thường thấy có những lổ xốp Đó là do những
bọt khí thoát ra để lại các lổ hổng trên bột Đó là khí gì vậy ?
- GV : Thành phần để làm bánh bao là bột nở (NH4)2CO3 khi nhiệt phân sẽ giải phóng ra khí CO2 và 1 chất khí có mùi khai Khí mùi khai này có tính chất gì? Nó có độc không, ăn bánh bao có nguy hiểm không ? Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu tính chất của chất khí trên qua bài : Amoniac và muối amoni
Trang 7Trong cơ thể (xương động vật) có chứa một hàm lượng photpho khi chết phân hủy tạo một phần thành khí PH3 (photphin), khi có lẫn một chút khí P2H4
(diphotphin), khí PH3 tự bốc cháy ngay trong điều kiện thường tạo thành khối cầu khí (lửa “ma trơi”)bay trong không khí Bất kể ngày hay đêm đều có PH3 bay ra ở các nghĩa trang, chỉ có điều là ban ngày ánh sáng mặt trời quá mạnh nên ta không thấy được ma trơi
2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O
Điều trùng lặp ngẫu nhiên là : Người ta thường gặp “Ma trơi” ở các nghĩa địa càng tăng thêm sự mê tính dị đoan
Ví dụ 4 : Khi học bài OZON (ở lớp 10), giáo viên có thể mở bài như sau :
- GV : Sau mỗi trận mưa, các em cảm thấy bầu trời, khí hậu như thế nào ?
- HS : Bầu trời quang đãng hơn, khí hậu mát mẻ hơn.
- GV : Thật vậy, sau cơn mưa to sấm nổ đùng đùng, khi mưa tạnh, nắng lên,
mọi người thường cảm thấy như căn phòng, đường xá, khu phố… thậm chí cả bầu trời xanh kia mát mẻ trong lành hẳn lên Hít thở cũng thật dễ chịu Đó là nguyên nhân gì nhỉ ? Để hiểu được điều này, hôm nay chúng ta sẽ học bài : OXI – OZON
* Trong khi học về phần Ozon, học sinh sẽ hiểu được hiện tượng trên là do : Khi có những tia chớp điện thì một phần oxi trong không khí sẽ biến thành ozon : 3O2 → 2O3
Ozon khi rất loãng không có mùi hôi, ngược lại còn cho con người ta có cảm giác tươi mát, thanh sạch dễ chịu Nó còn có tác dụng sát trùng, làm sạch không khí, rất có lợi cho cơ thể con người
Ví dụ 5 : Khi học về bài IOT (ở lớp 10), giáo viên có thể mở bài như sau :
- GV : Hằng ngày, các em thường ăn muối gì ?
- HS : Đó là muối iot ?
- GV : Tại sao phải ăn muối có iot ?
- HS : Để trị bệnh bướu cổ.
- GV : Ăn muối iot để bổ sung hàm lượng iot cho cơ thể, trong cơ thể một
người trưởng thành có chứa 20 - 50mg iot chủ yếu tập trung tuyến giáp trạng, thiếu iot trong tuyến này thì cơ thể sẽ bị một số bệnh : Bướu cổ, nặng hơn là dẫn đến đần độn, phụ nữ thiếu iot dẫn đến vô sinh, có biến chứng sau khi sanh Mỗi ngày phải đảm bảo cho cơ thể hấp thụ với < 150 microgam iot Vậy iot có những tính chất như thế nào ? Bài IOT hôm nay sẽ giúp chúng ta tìm hiểu về tính chất của nguyên
tố này
b) Liên hệ thực tế qua các phản ứng hóa học cụ thể trong bài học Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học sinh.
Ví dụ 1 : Khi dạy bài ANKIN, sau khi học xong phần điều chế axetilen, giáo viên
có thề liên hệ thực tế như sau :
- GV : Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết ? Trong nông nghiệp, đất
đèn dùng để làm gì ?
- HS : Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua, khi tác dụng với nước
sinh ra khí axetilen và canxi hydroxit
Trang 8CaC2 + 2H2O C2H2 + Ca(OH)2
Các chất này làm tổn thương đến các hoạt động hô hấp của cá, vì vậy có thể làm cá chết
Trong nông nghiệp, từ lâu người ta đã dùng đất đèn để làm kích thích quả xanh mau chín và chín đồng loạt ở các kho, thường dùng để dú chuối, cà chua…
Ví dụ 2 : Khi dạy về bài FLO (lớp 10), sau khi học xong tính chất của axit HF,
giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tại sao không đựng dung dịch HF trong bình thủy tinh
- HS : Dung dịch HF, tuy là axit yếu nhưng có tính chất đặc biệt là ăn mòn
thủy tinh Do thành phần của thủy tinh chính là SiO2, khi cho dung dịch HF vào thì
có phản ứng :
SiO2 + 4HF → SiF4 + 2H2O
Ví dụ 3 : Khi dạy về bài LƯU HUỲNH (ở lớp 10), sau khi học xong tính chất hóa
học của lưu huỳnh tác dụng với kim loại, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tại sao khi đánh rơi nhiệt kế thủy ngân thì không được dùng chổi
quét mà nên rắc bột S lên trên ?
- HS : Thủy ngân là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là
một chất độc Vì vậy, khi làm rơi nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi làm cho quá trình thu gom khó khăn Ta phải rắc bột S lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác dụng với thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi
Hg + S HgS↓
Quá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn
Ví dụ 4 : Khi dạy bài MỘT SỐ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA KIM LOẠI
KIỀM, sau khi học xong tính chất của NaHCO3, giáo viên có thể liên hệ như sau :
- GV : Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày ?
- HS : Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl Người bị đau dạ dày là người
có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng :
NaHCO3 + HCl NaCl + CO2 + H2O
Ví dụ 5 : Khi dạy về bài PEPTIT VÀ PROTEIN (ở lớp 12), sau khi học xong phần
tính chất của protein, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau
- GV : Giải thích vì sao khi nấu canh cua thì có gạch cua nổi lên ? Khi nấu trứng
thì lòng trắng trứng kết tủa lại ?
- HS : Vì trong những trường hợp đó có xảy ra sự kết tủa protit bằng nhiệt, gọi là
sự đông tụ Một số protit tan trong nước tạo thành dung dịch keo, khi đun nóng sẽ
bị kết tủa
Ví dụ 6 : Khi dạy về bài AXIT CACBOXYLIC (ở lớp 11), giáo viên có thể liên hệ
thực tế như sau :
- GV : Vì sao khi bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ? (Giáo viên có thể cung
cấp cho học sinh thông tin : trong nọc ong, kiến, nhện có axit HCOOH)
- HS : Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH).
Vôi là chất bazo nên trung hòa axit làm ta đỡ đau
Trang 92HCOOH + Ca(OH)2 (HCOO)2Ca + 2H2O
Ví dụ 7 : Khi dạy về bài NHÔM VÀ HỢP CHẤT CỦA NHÔM, sau khi học xong
tính chất của muối nhôm sunsat, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Vì sao phèn chua có thể làm trong nước ? (Câu này nếu học sinh không giải
thích được thì giáo viên phải diễn giải cho học sinh hiểu)
- HS : Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali ở dạng tinh thể ngậm nước :
K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O Phèn chua không độc, có vị chua, ít tan trong nước lạnh nhưng tan nhiều trong nước nóng Khi tan trong nước, phèn chua sẽ bị thủy phân và tạo thành Al(OH)3 ở dạng kết tủa keo lơ lửng trong nước :
Al2(SO4)3 2Al3+ + 3SO4
2-Al3+ + H2O AlOH2+ + H+
AlOH2+ + H2O Al(OH)2+ + H+
Al(OH)2+ + H2O Al(OH)3 + H+
Al2(SO4)3 + 3H2O 2Al(OH)3 + 3H2SO4
Chính những hạt Al(OH)3 kết tủa dạng keo lơ lửng ở trong nước này đã kết dính với các hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng hơn và lắng xuống Vì vậy, mà nước trở nên trong hơn
Ví dụ 8 : Khi dạy về bài AMIN (ở lớp 12), sau khi học xong tính bazo yếu của
amin giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tại sao khi nấu canh cá người ta thường nấu canh chua ?
- HS : Bởi vì chất chua (axit lactic có trong nước dưa, axit axetic có trong
dấm, axit citric có trong chanh ) rất có duyên với cá Nó nâng cao hương vị của món canh chua cá Mặt khác, nó còn hạn chế mùi tanh của canh khi ăn Vì trong chất tanh của cá có chứa hỗn hợp các amin như : đimêtyl amin, trimetyl amin Hai amin trên có tính chất bazo yếu Trong các chất chua dùng để nấu cá đều có các axit hữu cơ chúng có phản ứng với các amin có tính bazo yếu trong cá tạo thành muối do đó sẽ giảm hay làm mất vị tanh của cá
Ví dụ : CH3COOH + (CH3)2NH CH3COOH2N(CH3)2
c) Liên hệ thực tế sau khi đã kết thúc bài học Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng
ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó ?
Ví dụ 1 : Sau khi học xong bài PHÂN BÓN HÓA HỌC (ở lớp 11) Để tạo cho học
sinh ở khu vực làm nông nghiệp có thể kiểm nghiệm trong đời sống, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : “ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Câu ca dao mang hàm ý khoa học hóa học như thế nào ?
- HS : Câu ca dao nhắc nhở người làm lúa : Vụ chiêm khi lúa đang trổ đòng
đòng mà có trận mưa rào, kèm theo sấm chớp thì sẽ rất tốt và cho năng suất cao sau này
- GV : Em hãy giải thích câu ca dao trên ?
Trang 10- HS : Do trong không khí có ~ 80% khí N2 và ~ 20% khí O2, khi có sấm chớp (tia lửa điện) sẽ tạo điều kiện cho N2 hoạt động :
N2 + O2 3000 0C 2NO Sau đó : 2NO + O2 2NO2
Khí NO2 sẽ tan vào trong nước mưa :
4NO2 + O2 + 2H2O 4HNO3
HNO3 H+ + NO3
GV : Nhờ hiện tượng này, hàng năm làm tăng 6 – 7kg N cho mỗi mẫu đất.
Ngày nay, người ta đã điều chế Ure [(NH2)2CO] từ không khí để chủ động bón cho cây trồng Trong nền nông nghiệp hiện đại, cần phải dùng nhiều phân bón và nhiệm vụ của ngành công nghiệp hóa chất “hướng về không khí đòi lương thực” là càng lớn
Ví dụ 2 : Sau khi học xong bài TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI (ở lớp 12), giáo
viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tại sao nhôm lại được dùng làm dây dẫn điện cao thế ? Còn dây
đồng lại được dùng làm dây dẫn điện trong nhà
- HS : Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng riêng của
nhôm là 2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là 9,1) Do đó, nếu như dùng dây đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây các cột điện sao cho chịu được trọng lực của dây điện Việc làm đó không có lợi về mặt kinh tế Còn trong nhà việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh hưởng lớn lắm Vì vậy, ở trong nhà thì ta dùng dây dẫn điện bằng đồng
Ví dụ 3 : Sau khi học xong bài OZON, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Vai trò của ozon trong đời sống và công nghiệp như thế nào ?
- HS : Suy nghĩ trả lời
- GV củng cố : Ozon có khả năng “cải tạo” nước thải, có thể khử các chất
độc như : phenol, hợp chất xianua, nông dược, chất trừ cỏ, các hợp chất hữu cơ gây bệnh… có trong nước thải và ozon có thể tác dụng với các ion kim loại (sắt, thiếc, chì, mangan…) biến nước thải thành nước sạch vô hại
Trên tầng cao khí quyển 10 – 30km quanh trái đất, ozon tồn tại thành một tầng khí quyển riêng, có khả năng hấp thụ các tia tử ngoại phát ra từ mặt trời Vì các tia tử ngoại làm cho con người, động thực vật bị đột biến gen, gây bệnh nan y… Gần đây do công nghiệp phát triển, các nhà máy xuất hiện khí thải, động cơ phản lực… thải vào khí quyển một lượng bụi và khí ô nhiễm, thì ozon lại góp phần oxi hóa chất gây ô nhiễm, cũng chính vì vậy mà tầng ozon bị mỏng dần Trong vòng 50 năm gần đây, lượng ozon bị thủng và gây ra không ít hiện tượng như : bão, lũ lụt, cháy rừng, bệnh nan y…
Ví dụ 4 : Sau khi học xong bài TINH BỘT (ở lớp 12), giáo viên có thể liên hệ thực
tế như sau :
- GV : Vì sao ban đêm không để nhiều cây xanh trong nhà ?
- HS : Ban ngày, do có ánh sáng mặt trời nên cây xanh tiến hành quá trình
quanh hợp, hấp thụ CO2 trong không khí và giải phóng khí oxi
6nCO2 + 5nH2O clorophin as (C6H10O5)n + 6nO2 ↑