1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

đề cương ôn TH- 2011

33 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 304,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Những bài thơ sáng tác trong thời kì Người ở Việt Bắc năm 1945 và tròng chín nămkháng chiến chống thực dân Pháp: có sự kết hợp chất trỡ tình đằm thắm với cảm hứng anh hùng ca.. Hồ Chí

Trang 1

NGUYỄN ÁI QUỐC- HỒ CHÍ MINH

* Hồ Chí Minh quan niệm tác phẩm văn chương phải có thính chân thực Người yêu cầucác nhà văn phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn sự phong phú của đời sống cm,phải ca ngợi, khẳng định cái cao đẹp, phê phán và phủ nhận cái xấu trong cuộc đời Mặt khácnhà văn phải chú ý đến hình thức biểu hiện sao cho hấp dẫn, tránh lối viết cầu kì, xa lạ, nặng

nề Tác phẩm văn chương phải thể hiện được tinh thần dân tộc của nhân dân

2 Sự nghiệp sáng tác.

Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ cm đồng thời là một nhà văn, nhà thơ lớn Người đã để lạicho nhân dân ta một sự nghiệp văn chương lớn lao về tầm vóc, phong phú và đa dạng về thểloại và đặc sắc trong phong cách sáng tạo

a Văn chính luận:

- Đây là những tác phẩm được viết với mục đích đấu tranh chính trị nhằm tiến công trựcdiện kể thù hoặc thể hiện nhiệm vụ cm của dân tộc Có những tác phẩm của Bác được coi làáng văn chính luận mẫu mực

- Những tác phẩm tiêu biểu:

+ Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) là bản án tố cáo trực diện chế độ TDP, và nói lên

nỗi khổ đau của người dân xứ thuộc địa

+ Tuyên ngôn Độc lập (1945) là áng văn hùng hồn, là văn kiện chính trị có giá trị lịch sử

lớn lao tuyên bố quyền độc lập của dân tộc Việt Nam

+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946) là tiếng gọi non sông trong giờ phút thử

- Nhật kí trong tù: gồm 133 bài thơ chữ Hán viết trong nhà tù Tưởng Giới Thạch Tập thơ

phản ánh sâu sắc, sinh động và tài hoa, tâm hồn, nhân cách cao đẹp của Hồ Chí Minh

- Những bài thơ sáng tác trong thời kì Người ở Việt Bắc năm 1945 và tròng chín nămkháng chiến chống thực dân Pháp: có sự kết hợp chất trỡ tình đằm thắm với cảm hứng anh hùng

ca Các bài thơ tiêu biểu: Pác Pó hùng vĩ, Tức cảnh Pác Pó, Rằm tháng giêng, Tin thắng trận,

- Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (1990) tập hợp 36 bài thơ chữ Hán viết ở nhiều thời điểm,thể hiện nhiều đề tài khác nhau

d Kết luận:

Trang 2

Hồ Chí Minh để lại một di sản văn chương phong phú, độc đáo, có giá trị về nhiều mặt.Văn thơ Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc tâm hồn và khí phách cao đẹp của nhười anh hùng giảiphóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.

3 Phong cách nghệ thuật:

Văn chương của Hồ Chí Minh có phong cách đa dạng mà thống nhất, đã kết hợp được

sâu sắc tự bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữatruyền thống và hiện đại Ở mỗi thể laọi văn học Người đều có phong cách riêng, độc đáo, hấpdẫn và có giá trị bền vững

- Văn chính luận của Hồ Chí Minh bộc lộ tư duy sâu sắc, giàu tri thức văn học, gắn lí

luận với thực tiễn, giàu tính luận chiến, vận dụng có hiệu quả nhiều phương thức biều hiện.Viết thành công những mẩu chuyện nhỏ là một nét độc đáo cảu tài năng tác giả trong văn xuôi

- Truyện và kí của Nguyễn Ái Quốc là những tác phẩm mở đầu và góp phần đặt nền

móng đầu tiên cho nền văn xuôi cm Ngòi bút của Người trong truyện ngắn rất chủ động vàsáng tạo: có khi là giọng điệu sâu sắc, châm biếm thâm thuý và tinh tế Chất trí tuệ và tính hiệnđại là những nét đặc sắc trong truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc

- Về thơ ca: phong cách sáng tạo của Người rất đa dạng Nhiều bài viết theo hình thức cổ

thi hàm súc, uyên thâm, đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật Thơ của Hồ Chí Minh mang đặcđiểm của thơ cổ phương Đông những bài thơ hiện đại được vận dụng qua nhiều thể loại, phục

vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ cm Thơ ca của Người gợi cảm, chứa chan nhiệt tình cm

- Địch đưa ra luận điệu khai hoá, bảo hộ-> yêu cầu lịch sử: phải có hệ thống lí lẽ để bác

bỏ, bóc trần luận điệu xảo trá ấy của Pháp trước nhân dân tiến bộ thế giới

-> Lịch sử cần một tiếng nói vào thời điểm quan trọng ấy Đó là lí do ra đời của TNĐL.Cuối tháng 8/ 1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, lãnh tụ HCM soạn thảo bảnTNĐL Và ngày 2-9-45; tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thờinước VN Dân chủ Cộng hoà, mở ra một kỉ nguyên mới Độc lập, Tự do

2 Đối tượng và mục đích sáng tác:

* Đối tượng:

- Đồng bào cả nước và nhân dân thế giới

- Thực dân Pháp và các nước đồng minh với Pháp

* Mục đích:

Khẳng định và tuyên bố độc lập

Bác bỏ lí lẽ điêu toa, cướp nước của TDP

-> Hai mục đích này có quan hệ chặt chẽ: Muốn tuyên bố độc lập phải bác bỏ được luậnđiệu của Pháp và ngược lại

3 Nội dung và cách lập luận:

* Cơ sở pháp lí của nền độc lập của dân tộc Việt Nam.

- Trích dẫn tuyên ngôn: Đều là những chân lí kđ những quyền cơ bản của con người nớichung

- Mục đích, ý nghĩa của việc trích dẫn:

+ Khẳng định hùng hồn: nhân dân Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, quyền bìnhđẳng và quyền hạnh phúc như tất cả các dân tộc khác trên thế giới

Trang 3

+ Từ quyền con người, Bác nâng lên kđ quyền tự do độc lập của các dân tộc, trong đó códân tộc VN.

Tiếu kết:

- Cách lập luận vừa khéo léo vừa kiên quyết, tạo sức thuyết phục cao:

+ Khéo léo: Đồng tình, trân trọng tuyên ngôn của dân tộc Pháp Mĩ (kẻ thù)

+ Kiên quyết: Lấy chính lí lẽ của họ để thuyết phục (khoá miệng) họ- lấy gậy ông đậplưng ông

- Thể hiện rõ niềm tự hào dân tộc

* Cơ sở thực tiễn nền độc lập của VN dưới sự bảo hộ, khai hoá của Pháp.

+ Về quân sự: Bán nước ta hai lần cho Nhật

-> Nước ta không phải là thuộc địa của Pháp kể từ khi chúng bán nước ta cho Nhật Pháphèn nhát, không bảo vệ được nhân dân ta khỏi thảm hoạ phát xít Nhật; phản bội đồng minh

* Tóm lại: các luận điểm đưa ra nhằm tố cáo chính sách cai trị vô nhân đạo của pháp ở

VN: vơ vét của cải, khủng bố giết chóc, bán nước Chúng không có quyền tiếp tục khai hoá,bảo hộ nước ta

- Về phía nhân dân ta:

+ Nổi dậy giành chính quyền từ tay Nhật

+ Đứng về phía đồng minh đánh phát xít

* Tóm lại:Nhân dân ta chứ không phải Pháp, đã giành độc lập từ tay Nhật bằng chính sức

lực và sương máu của mình Nhân dân ta phải là chủ nhân chân chính của nước VN

- Về phía các nước đồng minh:

+ Đã công nhận nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở Hội nghị Tê-hê-răng

-> Phải đương nhiên công nhận quyền của dân tộc VN

Tiểu kết:

- Thực dân Pháp không có quyền gì ở VN

- Chúng ta có quyền được hưởng độc lập, là chủ nhân chân chính, duy nhất của nướcVN

- Các dẫn chứng đều là các sự thật lịch sử khách quan-> làm cho lập luận trở nên chặtchẽ, thuyết phục, tạo tính chiến đấu mạnh mẽ cho tác phẩm

* Lời tuyên bố với thế giới:

- Nước VN có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập

- Nhân dân ta đã và sẽ quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy

4 Kết luận:

Vừa mang giá trị lịch sử vừa mang giá trị văn học

- Ghi dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc: khẳng định và tuyên bố chủ quyền, độc lậpcủa VN trớưc nhân dân thế giới; bác bỏ những quyền lợi của Pháp ở VN

- TNĐL như là một áng văn chính luận mẫu mực với hệ thống lập luận chặt chẽ, giàu sứcthuyết phục

****************************************

TÂY TIẾN

(Quang Dũng)

A Hoàn cảnh, xuất xứ:

Trang 4

- Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, QD gia nhập đoàn quân Tây Tiến Đây là một đơn vịthành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Lào- Việt, đồng thờiđánh tiêu hao địch và tuyên truyền đồng bào kháng chiến Địa bàn hoạt động của đoàn khárộng: từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hoá Lính TâyTiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có nhiều họcsinh, trí thức Sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn, gian khổ: trèo đèo luồn rừng, lội suối, ănuống kham khổ, ốm đau không có thuốc men,

- Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về thành lập trung đoàn

52 Cuối năm 1948, QD chuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh

(một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), ông viết bài thơ Nhớ Tây Tiến (Năm 1957, khi in lại QD bỏ

chữ “nhớ”, có lẽ vì cho là thừa)

- Bài Tây Tiến rút trong tập Mây đầu ô (NXB Tác phẩm mới, 1986).

B Phân tích bài thơ.

Đoạn 1(Từ câu 1- C14)

Đoạn thơ đầu gồm 14 câu như những thước phim quay chậm tái hiện địa bàn chiến đấu

của người lính TT Đó là thiên nhiên TT, là những người lính TT cùng những kỉ niệm ám tình

quân dân

1 Nhà thơ nhớ về những miền đất trong nỗi nhớ “chơi vơi”.“Chơi vơi” là nỗi nhớ không

có hình, không có lượng, không ai cân đo đong đếm được, nó ám ảnh tâm trí con người Chữ

“chơi vơi” hiệp vần với chữ “ơi” ở câu thơ trên khiến cho lời thơ thêm vang vọng

2 Trong nỗi nhớ “chơi vơi” ấy hiện lên cả một không gian xa xôi, heo hút, hiểm trở, vớinhững tên đất xa lạ: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu

3 Câu thơ Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm với điệp từ dốc gối lên nhau cộng với từ

láy tạo hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” làm sống dậy con đường hành quân hiểm trở gậpghềnh, dài vô tận Âm điệu câu thơ như cũng khúc khuỷu như bị cắt đoạn như đường núi khúckhuỷu, có đoạn lên cao chót vót có đoạn xuống thăm thẳm Những câu thơ phần lớn là thanhtrắc càng gợi cái trúc trắc, trục trặc, tạo cảm giác cho độc giả về hơi thở nặng nhọc, mệt mỏicủa người lính trên đường hành quân

4 Heo hút cồn mây súng ngửi trời Đây là cách nói thậm xưng thể hiện sự độc đáo của

QD Nếu chỉ thấy súng chạm trời thì ta mới chỉ thấy cái độ cao của dốc còn hình ảnh “súngngửi trời” hàm chứa một ý nghĩa khác Đó là vẻ tinh nghịch, chất lính ngang tàng như tháchthức cùng gian khổ của người lính TT Câu thơ còn gợi cho ta cảm giác về độ cao, độ sâu

không cùng của dốc Ta bắt gặp ý thơ này ở câu thơ: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.

Cả hai câu đều ngắt nhịp 4/3 Ý thơ gấp khúc giữa hai chiều cao thăm thẳm, sâu vòi vọi, dốctiếp dốc, vực tiếp vực nhấn mạnh địa bàn hoạt động của những người lính vô cùng khó khăn,hiểm trở đó đã là một kì tích của những người lính

5 Vùng đất xa xôi hiểm trở với những nét dữ dội hoang dã:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Cảnh hiểm trở cheo leo nhưng đâu có tĩnh lặng thanh bình Với những từ oai linh, gầm thét thác nước như một sức mạnh thiêng liêng, đầy uy quyền, đầy đe doạ, và những con hổ

hoành hành ngang dọc coi mình là chúa tể của núi rừng làm cho cảnh càng thêm rùng rợn ghê

sợ Các từ láy chiều chiều, đêm đêm càng tô đậm cái hiểm nguy: rình rập người lính không chỉ

ở mọi nơi, mà còn ở mọi lúc trên con đường hành quân

6 Giữa những âm tiết toàn thanh trắc ấy chen vào câu thơ gần cuối đoạn thơ dài man

mác toàn thanh bằng: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Đây chính là hình ảnh thơ mộng mà

hoang dã về thiên nhiên Tây Bắc Câu thơ tạo nên nét thứ hai cho bức tranh về thiên nhiên TB:

Trang 5

vừa hùng vĩ, hoang sơ, hiểm trở vừa đầy thơ mộng Cứ một nét bút gân guốc lại xen vào mộtnét bút mềm mại, trữ tình tạo cho bức tranh về thiên nhiên TB cân đối hài hoà.

7 Nhắc lại những thử thách khắc nghiệt cũng là để nói đến sức chịu đựng của con người.

Từ đây QD vụt nhớ đến hình ảnh những đồng đội, dù can trường trong dãi dầu nhưng có khigian khổ đã vượt quá sức chịu đựng khiến cho người lính gục ngã, nhưng gục ngã trong tư thếhành quân Nói đến cái chết mà lời thơp cứ nhẹ như không, chẳng hề vương chút bi luỵ QDkhông khoa trương tính cách anh hùng dũng cảm, cũng không nói đến cảnh bách chiến báchthắng Nhà thư chỉ tả một tư thế: Cái gian khổ ở trong đấy, cái anh hùng cũng ở trong đấy

8 Đang nói đến cái rùng rợn bí hiểm của rừng già nhà thơ bỗng nhớ lại một kỉ niệm ấm

9 Đoạn thơ là sợ phối kết hợp hài hoà giữa hai bút pháp hiện thực và lãng mạn-> bứctranh của thiên nhiên TB hùng vĩ, hoang dại, hiểm trở và người lính TT với cuộc sống giankhổ,tinh thần anh dũng

Đoạn 2: Con người TB duyên dáng, tài hoa và tâm hồnlãng mạn, trẻ trung của người lính TT

Cả đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên diễm lệ có sức hoà hợp diệu kì giữa thiên nhiên và conngười Đoạn này được xem là đoạn thơ tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của QD

- Câu mở đầu đoạn tạo cảm giác đột ngột bừng sáng Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

“Bừng lên” vừa đột ngột, bất ngờ vừa thú vị Cả cảnh vật và lòng người đều bừng sáng lên.Chất hào hoa trong bút pháp thể hiện của QD đã bộc lộ ngay từ câu thơ đầu “Hội đước hoa”đây là cảnh thực Đêm liên hoan văn nghệ diễn ra dưới những cánh rừng, người đến dự đều cầmtrên tay ngọn đuốc, gió thổi làm những ngọn đuốc lung linh phát ra những tia lửa Cảnh tượngnày trong đêm quả thật nhìn như hoa đuốc Cảm nhận của QD vừa tinh tế vừa lãng mạn, câuthơ gợi sức liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc

- Kìa em xiêm áo tự bao giờ: “Kìa em” lời chào đón đầy ngạc nhiên sung sướng đến ngỡ

ngàng lời chào đón mang tính phát hiện Em lạ mà quen, quen mà lạ QD phát hiện ra vẻ đẹprực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục

- Khèn lên man điệu nàng e ấp: Những âm thanh phát ra từ nhạc cụ của đồng bào TB đối

với người lính TT vừa lạ vừa có vẻ hoang dại mang tính sơ khai mà đậm bản sắc văn hoá dântộc Chính cái lạ ấy làm đắm say tâm hồn những chàng trai TT gốc Hà Nội hào hoa Âm điệu ấy

đã chắp cánh cho tâm hồn những người lính TT ngất ngây trước người và cảnh

- Bốn câu là cảnh sắc TB gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Không gian dòng sông, bến bờ hoang dại giăng mắc một màu sương Những cây laukhông còn vô tri vô giác mà có linh hồn Phải là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, tài hoa và lãngmạn mới cảm nhận được hồn lau đang lảng bảng dọc nẻo bến bờ Không gian nên thơ ấy làmnền cho người thơ xuất hiện:

Có nhớ dáng người trên độc mộc.

Câu thơ không tả mà gợi, gợi cái dáng mềm mại uyển chuyển của cô gái trên chiếcthuyền độc mộc Cảnh rất thơ mà người cũng rất tình Bởi vậy tác giả như ngây ngất đắm saytrước cảnh và người Ở đây cảnh như làm duyên với người

Trang 6

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Cảnh và người hoà quyện đồng điệu, tình tứ đến mê say trong cái nhìn lãng mạn của QD.Đoạn thơ bộc lộ chất trẻ trung, tài hoa, chất lãng mạn của QD đến tuyệt vời

Đoạn 3: Người lính TT hào hùng và hào hoa

Chân dung người lính hiện lên ở khổ thơ thứ 3 có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹptâm hồn, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất hy sinh anh dũng Có thể nói cả bài thơ là một tượngđài đầy màu sắc bi tráng về một đoàn quân trên một nền cảnh khác thường

- Chân dung đoàn binh TT được chạm khắc bằng nét bút vừa hiện thực vừa lãng mạn.Dọc theo hành trình, vẻ đẹp hào hùng kiêu dũng cứ lấp lánh dần lên, đến khi người lính TT đốimặt với dịch bệnh, đối mặt với cái chết thì nó thật chói ngời, nét nào cũng sắc sảo lạ lùng vàđầy lãng mạn:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá giữ oai hùm.

- Chữ dùng của QD ở đây thật lạ Nếu mở đầu đoạn thơ tg’ dùng từ “Đoàn quân” thì ởđây tg’ dùng từ “Đoàn binh” Cũng đoàn quân ấy thôi nhưng khi dùng “đoàn binh” thì gợi hìnhảnh đoàn chiến binh có vũ khí, có khí thế xung trận át đi vẻ ốm yếu của bệnh tật Ba chữ

“không mọc tóc” là đảo thế bị động thành chủ động Không còn đoàn quân bị sốt rét rừng lâmtiều tuỵ bị rụng hết cả tóc Giọng điệu của câu thơ cứ y như là họ cố tình không mọc tóc vậy.Nghe ngang tàng kiên bạc và thấy rõ sự bốc tếu rất lính tráng Các chi tiết “không mọc tóc,quân xanh màu lá” diễn tả cái gian khổ khác thường của cuộc đời người lính trên một địa bànhoạt động đặc biệt Di chứng của những trận sốt rét rừng triền miên là “tóc không mọc” da xanhtái Nhưng đối lập với ngoại hình tiều tuỵ ấy là sức mạnh phi thường tự bên trong phát ra từ tưthế “dữ oai hùm” Với nghệ thuật tương phản chỉ 2 dòng thơ QD làm nổi bật vẻ khác thườngcủa đoàn quân TT

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

- “Mắt trừng” biểu thị sự dồn nén căm uất đến cao độ như có khả năng thiêu đốt quân

thù qua ánh sáng của đôi mắt Hình ảnh thơ làm nổi bật ý chí của đoàn binh TT Ở đây người

lính TT được đề cập đến với tất cả thực trạng mệt mỏi, vất vả qua các từ không mọc tóc, quân xanh màu lá Chính từ thực trạng này mà chân dung người lính sinh động chân thực.

Thế nhưng vượt lên trên khó khăn thiếu thốn, tâm hồn người lính vẫn cất cánh Đêm mơ

Hà Nội dáng kiều thơm Câu thơ ánh lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính TT Ban ngày Mắt trừng gửi mộng giấc mộng chinh phu hướng về phía trận mạc nhưng khi bom đạn yên rồi giấc

mộng ấy lại hướng về phía sau, cũng là hướng về phía trước, phía tương lai hẹn ước Một ngày

về trong chiến thắng để nối lại giấc mơ xa Ý chí thì mãnh liệt, tình cảm thì say đắm Hai nétđẹp hai hoà trong tính cách của những chàng trai TT

- QD đã dùng hình ảnh đối lập: một bên là nấm mồ, một bên là ý chí của những ngườichiến binh:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

“Mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng hoang lạnh Những nấm mồ rải ráctrên đường hành quân, nhưng không thể cản được ý chí quyết ra đi của người lính Câu thơ sauchính là câu trả lời dứt khoát của những con người đứng cao hơn cái chết Chính ty quê hươngđất nước sâu nặng đã giúp người lính coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Khi cần họ sẵn sàng hisinh cho nghĩa lớn một cách thanh thản bình yên như giấc ngủ quên Câu thơ vang lên như mộtlời thề đúng là cái chết của bậc trượng phu

Trang 7

Áo bào thay chiếu anh về đất.

Hình ảnh “áo bào” làm tăng không khí cổ kính trang trọng cho cái chết của người lính.Hai chữ “áo bào” lấy từ văn học cổ tái tạo vể đẹp của một tráng sĩ và nó làm mờ đi thực tạithiếu thốn gian khổ ở chiến trường Nó cũng gợi được hào khí của chí trai “thời loạn sẵn sàngchết giữa sa trường lấy da ngựa bọc thầy” Chữ “về” nói được thái độ nhẹ nhõm, ngạo nghễ

của người tráng sĩ đi vào cái chết “Anh về đất” là hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca Sau khi

hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng, người lính TT trở về trong niềm chở che của đất mẹ quêhương, của đồng đội Trở về với nơi đã sinh dưỡng ra mình Đoạn thơ kết thúc bằng khúc ca bitráng của Sông Mã

Câu thơ có cái không khí chiến trận của bản anh hùng ca thời cổ Nó nói đến mất mát đauthương mà vẫn hùng tráng

Ai lên TT mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

- Dù đã ngã xuống trên đường hành quân nhưng hồn(tinh thần của các anh) vẫn đi cùng

với đồng đội, vẫn sống trong lòng đồng đội và thực hiện lí tưởng đến cùng Nói như Nguyễn

Đình Chiểu: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc.

C Kết luận:

Đã có một thời lớp lớp người ra đi với tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh như thế.

Bài thơ TT của QD tạo dựng được bức tượng đài bằng ngôn từ về những chàng trai TT vàotrong lòng dân tộc cho đến mãi muôn đời

D Đề luyện tập

**************************

TỐ HỮU(1920-2002)

1 Những nhân tố tác động đến con đường thơ của Tố Hữu:

- Quê hương: sinh ra và lớn lên ở xứ Huế, một vùng đất nổi tiếng đẹp, thơ mộng, trầmmặc với sông Hương, núi Ngự, đền đài lăng tẩm cổ kính và giàu truyền thống văn hoá, vănhọc bao gồm cả văn hoá cung đình và văn hoá dân gian mà nổi tiếng nhất là những điệu ca,điệu hò như nam ai nam bình, mái nhì mái đẩy

- Gia đình: ông thân sinh ra nhà thơ là một nhà nho không đỗ đạt nhưng rất thích thơ phú

và ham sưu tầm văn học dân gian mẹ nhà thơ cũng là người biết và thuộc nhiều ca dao, tụcngữ Từ nhỏ TH đã sống trong thế giới dân gian cùng cha mẹ Phong cách nghệ thuật và giọngđiệu sau này chịu ảnh hưởng của thơ ca dân gian xứ Huế

- Bản thân TH: là người sớm giác ngộ lí tưởng cách mạng, tham gia CM từ năm 18t, bịbắt và bị tù đày từ năm 1939 đến năm 1942, sau đó vượt ngục trốn thoát và tiếp tục hoạt độngcho đến cm tháng Tám, làm chủ tịch uỷ ban khởi nghĩa ở Huế Sau cm ông giữ nhiều trọngtrách ở nhiều cương vị khác nhau, nhưng vẫn tiếp tục làm thơ

2 Con đường thơ của Tố Hữu:

Thơ TH gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cm VN từ những năm 1940 ch đến sau này

a, Tập thơ Từ ấy (1936-1946), gồm 71 bài sáng tác trong 10 năm Tác phẩm được chia

làm ba phần;

- Máu lửa (27 bài) được viết trong thời kì đấu tranh của Mặt trận dân chủ Đông Dương,

chống phát xít, phong kiến, đòi cơm áo, hoà bình

- Xiềng xích (30 bài) được viết trong nhà giam thể hiện nỗi buồn đau và ý chí, khí phách

của người chiến sĩ cm

- Giải phóng (14 bài) viết từ lúc vượt ngục đến một năm sau ngày độc lập nhằm ngợi ca

lí tưởng, quyết tâm đuổi giặc cứu nước và thể hiện niềm vui chiến thắng

Trang 8

Những bài thơ tiêu biểu: Mồ côi, Hai đứa bé, Từ ấy, Tiếng hát sông Hương

b, Tập thơ Việt Bắc (1954), gồm 24 bài sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

- Việt Bắc là bức tranh tâm tình của con người VN trong kháng chiến với hững cung bậccảm xúc tiêu biểu: tình yêu quê hương đất nước, tình đồng chí đồng đội, tình quân dân, lòngthuỷ chung cm Đồng thời thể hiện quyết tâm bảo vệ sự toàn vẹn của đất nước

- Những bài thơ tiêu biểu: Việt Bắc, Bầm ơi,Phá đường, Ta đi tới

c, Gió lộng (1961):

- Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

- Phong trào đấu tranh Mĩ- Nguỵ ở miền Nam

- Tập thơ thể hiện niềm vui chiến thắng, cuộc sống mới với những quan hệ xã hội tốt đẹp.Còn là lòng tri ân nghĩa tình đối với Đảng, Bác Hồ và nhân dân

- Những bài thơ tiêu biểu: Trên miền Bắc mùa xuân, Thù muôn đời muôn kiếp khôngtan, Mẹ tơm, Bài ca mùa xuân 1961

d, Ra trận (1971), Máu và Hoa (1977);

Phản ánh cuộc đấu tranh của dân tộc kêu gọi cổ vũ tinh thần chiến đấu của dân tộc Cangợi Bác Hồ, tổng kết lịch sử đấu tranh

3 Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu

- TH là nhà thơ trữ tình chính trị thể hiện nồng nhiệt tự hào lí tưởng cm, đời sống cm.

- TH là nhà thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn Khuynh hướng sử thi, cái tôi trữ tình- cái tôi chiến sĩ mang tầm vóc hoành tráng, màu sắc lịch sử được diễn tả bằng bút pháp

*****************************************

VIỆT BẮC (Tố Hữu)

- Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cm được mở ra Nhân sự kiện

trọng đại này, TH viết bài thơ VB.

- Bài thơ được trích trong tập Việt Bắc (1947- 1954)

2 Lời VB đối với người cán bộ cm:

Mở đầu là một câu hỏi bâng khuâng:

Mình về mình nhìn sông nhớ nguồn.

TH đã khơi rất sâu vào nguồn mạch đạo lí ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc để thể hiệntình cảm cm Mười lăm năm ấy là trở về với cội nguồn những năm tiền khởi nghĩa sâu nặng

biết bao ân tình Bốn câu thơ điệp lại bốn chữ mình, bốn chữ nhớ, 1 chữ ta hoà quyện 1 câu hỏi

về thời gian (10 năm) một câu hỏi về không gian (nhìn cây) Khổ thơ ngắn nhưng đã dồn góplại cả một thời cm Tấm lòng người ở đã tỏ lộ giãi bày trong không gian, theo thời gian

Tiếng ai tha thiết nói gì hôm nay

Trang 9

Quyến luyến không nỡ rời, xúc động nghẹn ngào nói không nên lời, tình cảm cồn cào bốirối ấy làm thay đổi cả nhịp thơ Tiết tấu 2/2 của nhịp lục bát bỗng xao động trong nhịp 3/3/2diến tả thật đắt tấm lòng người đi với người ở lại Dấu chấm lửng như khoảng trống khó lấpđầy, sự im lặng hàm chứa bao xao xuyến không lời.

Mình đi có nhớ những ngày Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa

Có câu hỏi cụ thể: nhớ Tân Trào, Hồng Thái, trám bùi, măng mai; có câu hỏi trừu tượng: chiến khu, mối thù, lòng son ; phép tiểu đối 4/4 (hắt hiu lau xám>< đậm đà lòng son) Tất cả,

đã giúp TH diễn tả thật đắt nỗi xao xuyến nhớ thương của người ở với người đi Đặc biệt câuthơ lục bát cuối khổ:

Mình đi mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.

Ba chữ mình trong câu thơ 6 chữ đồng nhất tâm sự người đi, người ở đã tạo ra sự hô ứng

đồng vọng giữa người hỏi, người đáp, hoà thành bản hợp ca ngân vang những hoà âm tâm hồn

12 câu cấu tạo thành 6 câu hỏi, mỗi câu thơ đều khắc khoải tâm tình da diết, khắc khảm vào

lòng người đi những kỉ niệm từ ngày đầu cm Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào được chuyển vế thành Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa mang đến cho ta một liên tưởng: VB đã trở thành quê hương thứ hai của người cán bộ miền xuôi Bởi hình ảnh mái đình, cây đa ở đâu

và khi nào cũng khơi gợi trong tâm hồn người Việt hình ảnh quê hương

3 Lời người cán bộ cách mạng:

Ta với mình, mình với ta Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu.

Cách nói mình - ta của ca dao dân ca, điệp từ mình cùng với biện pháp nghệ thuật so sánh nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu khẳng định lòng thuỷ chung son sắt với cách mạng,

với quê hương kháng chiến của người cán bộ về xuôi

Nhớ gì như nhớ người yêu Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

- Hình ảnh so sánh như nhớ người yêu thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.

- Hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: bản khói cùng sương, bếp lửa, trăng lên đầu núi gợi nhớ

những nét mang đậm hồn người

Ta đi ta nhớ những ngày Chày đêm nện cối đều đều suối xa.

- Hình ảnh cay đắng ngọt bùi, thương nhau chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng là hình ảnh đậm đà giai cấp (Người VB trong nỗi nhớ người về thật đáng yêu, đáng quý,

nặng tình nặng nghĩa, biết chia sẻ ngọt bùi)

* Bức tranh tứ bình:

Ta về mình có nhớ ta Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

a, Đoạn này được xem là đặc sắc nhất VB 10 câu lục bát thu gọn cả sắc màu bốn mùa,

cả âm thanh cuộc sống, cả thiên nhiên con người VB

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người.

TH lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng: hoa- người là vẻ đẹp tinh tuý nhất của thiênnhiên, kết tinh từ hương đất sắc trời, tương ứng với con người là hoa của đất Bởi vậy đoạn thơđược cấu tạo: câu lục nói đến thiên nhiên, câu bát nói tới con người Nói đến hoa hiển hiện hìnhngười, nói đến người lại lấp loá bóng hoa Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hoà quyện vớinhau toả sáng bức tranh thơ Bốn cặp lục bát tạo thành bộ tứ bình đặc sắc

Trang 10

b, Trước hết đó là nỗi nhớ mùa đông VB- cái mùa đông thuở gặp gỡ ban đầu, đến hômnay vẫn bừng trong kí ức:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Câu thơ truyền thẳng đến người đọc cảm nhận về một màu xanh lặng lẽ, trầm tĩnh củarừng già Cái màu xanh ngằn ngặt đầy sức sống ngay giữa mùa đông tháng giá Cái màu xanhchứa chất bao sức mạnh bí ẩn “Nới thiêng liêng rừng núi hoá anh hùng” Màu xanh núi rừngVB:

Rừng giăng thành luỹ thép dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù.

Trên cái nền xanh ấy nở bùng bông hoa chuối đỏ tươi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngànlàm ấm cả không gian, ấm cả long người Hai chữ “đỏ tươi” không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu,

mà chứa đựng cả một sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung đọng rất thi nhân

Có thể thấy cái màu đỏ trong câu thơ TH như điểm sáng hội tụ sức mạnh tiềm tàng chốn rừngxanh đại ngàn, lấp loá một niềm tin rất thật, rất đẹp, Trên cái phông nền hùng vĩ và thơ mộng

ấy, hình ảnh con người xuất hiện thật vững trài tự tin Đó là vẻ đẹp của con người làm chủ núi

rừng, đứng trên đỉnh trời cùng toả sáng với thiên nhiên, Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

c, Cùng với sự chuyển mùa (mùa đông sang mùa xuân) là sự chuyển màu trong bức tranhthơ: màu xanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùaxuân đến Cả không gian sáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang xuân

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Cái sắc trắng tinh khôi bừng nở mỗi độ xuân về làm ngơ ngẩn người ở, thẫn thờ kẻ đi.Người đi không thể không nhớ sắc trắng hoa mơ nơi xuân rừng VB, và lại càng không thểkhông nhớ đến con người VB, cần cù uyển chuyển trong vũ điệu nhịp nhàng của công việc laođộng thầm lặng mà cần mẫn tài hoa:

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Hai chữ “chuốt từng” gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa, dường như bao yêu thương đợichờ mong ngóng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thương kết nên vành nón Cảnh thì mơ mộng,tình thì đượm nồng Hai câu thơ lưu giữ lại cả khí xuân, tình xuân vậy Tài tình như thế thậthiếm thấy

d Bức tranh thơ thứ 3 chuyển qua rừng phách- một loại cây rất thường gặp ở VB hơn bất

cứ nơi đâu Chọn phách cho cảnh hè là sự lựa chọn đặc sắc, bởi trong rừng phách nghe tiếng veran, ngắm sắc phấn vàng giữa những hàng cây cao vút, ta như cảm thấy sự hiện diện rõ rệt củamùa hè Thơ viết mùa hè xưa nay hiếm, nên ta càng thêm quý câu thơ của TH:

Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình

Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị: tiếng ve kêu- ấn tượng của thính giác đã đemlại ấn tượng thị giác thật mạnh Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảomộc cỏ cây: những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh, những nụ hoa còn náu kíntrong kẽ lá, khi tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, những nụ hoa nhất tề đồng loạt trổ bông,

động loạt tung phấn, cả rừng phách lai láng sắc vàng, Chữ đổ được dùng thật chính xác, tinh

tế.Nó vừa gợi sự biến chuyển mau lẹ của sắc màu, vừa diễn tả tài tình từng đợt mưa hoảừngphách khi có ngọn gió thoảng qua, vừa thể hiện chính xác khoảnh khắc hè sang Tác giả sdnghệ thuật lấy âm thanh để gọi dậy màu sắc, dùng không gian để miêu tả thời gian Bởi vậycảnh thực mà vô cùng huyền ảo

Trên nền cảnh ấy, hình ảnh cô em gái hiện lên xiết bao thơ mộng, lãng mạn: “Cô em gáihái măng một mình” nghe ngọt ngào thân thương trìu mến Nhớ về em, là nhớ cả một khônggian đầy hương sắc Người em gái trong công việc lao đông hàng ngày giản dị: hái măng Vẻ

Trang 11

đẹp lãng mạn thơ mộng ấy còn được tô đậm ở hai chữ “một mình” nghe cứ xao xuyến lạ, nhưbộc lộ thầm kín niềm mến thương của tg’ Nhớ về em, nhớ về một mùa hoa

e Khép lại bộ tứ bình là cảnh thu Đây là cảnh đêm thật phù hợp với khúc hát giao duyêntrong thời điểm chia tay giã bạn Hình ảnh ánh trăng dọi qua kẽ lá dệt lên mặt đất một thảm hoatrăng lung linh huyền ảo

Dưới ánh trăng thu, tiếng hát ân tình càng làm cho cảnh thêm ấm áp tình người Đại từ

phiếm chỉ ai đã gộp chung người hát đối đáp với mình làm một, tạo một hoà âm tâm hồn đầy

bâng khuâng lưu luyến giữa kẻ ở, người đi, giữa con người và thiên nhiên

g Mỗi câu lục bát làm thành một bức tranh trong bộ tứ bình Mỗi bức tranh có vẻ đẹpriêng hoà kết bên nhau tạo vẻ đẹp chung Đó là sự hài hoà giữa âm thanh, màu sắc Tiếng vecủa mùa hè, tiếng hát của đêm thu, màu xanh của rừng già, sắc đỏ của hoa chuối, trắng tinhkhôi của rừng mơ, vàng ửng của hoa phách Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con ngườihiện lên thật bình dị, thơ mộng trong công việc lao động hàng ngày

2 Con người Nguyễn Tuân:

- Nguyễn Tuân là một tri thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, lòng yêu nướccủa ông gắn liền với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc

- Ở Nguyễn Tuân ý thức cá nhân phát triển rất cao

- Nguyễn Tuân con là người rất mực tài hoa, am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác nhau:hội họa, điêu khắc, sân khấu điện ảnh

- Nguyễn Tuân là nhà văn thật sự biết quý trọng nghề nghiệp của mình

- Nguyễn Tuân luôn xem trọng việc sáng tác: Tài phải gắn liền với tâm Đó chính là thiênlương trong sạch của con người Ông vừa có tài vưa có nhân cách cao quý

Trang 12

3 Sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân:

* Trước cách mạng tháng tám xoay quanh 3 đề tài chính:

- Chủ ngghiax xê dịch: Viết về bước chân của cái tôi lãng tử qua những miền quê, trong

đó hiện ra cảnh sắc và phong vị quê hương cùng một tấm lòng yêu nước tha thiết Tác phẩmchính: Một chuyến đi (1938); Thiếu quê hương(1940)

- Đời sống trụy lạc: Ghi lại những quãng đời do hoang mang bế tắc, cái tôi lãng tử đã laovào rựou, thuốc phiện và hát cô đào, qua đó thấy hiện lên tâm trạng khủng hoảng của lớp thanhniên đương thời Tác phẩm chinh: Chiếc lưu đồng mắt cua (1939)

- Vẻ đẹp vang bóng một thời: Là nững vẻ đẹp còn vương sót lại của một thời đã lùi vào

dĩ vãng với lớp nho sĩ cuối mùa Tác phẩm: Vang bóng một thời; Tóc chị Hoài

* Sau cách mạng tháng tám xoay quanh những đề tài chính: Ca ngợi đất nước, con ngườiViệt Nam thể hiện lòng yêu nước, thiên nhiên dân tộc

- Tác phẩm: Dường vui, Tình chiến dịch, Sông đà…

4 Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân:

a Trước cách mạng tháng tám:

- Thích chơi ngông bằng văn chương, thứ văn chương mang tính tài hoa uyên bác:

+ Vận dụng kiến thức kiểu lĩnh vực, khám phá đối tượng ở nhiều góc cạnh

+ Ngòi bút Nguyễn Tuân thường tìm đến những cái gì đặc biệt, dữ dội khác thường.Những cái tuyệt vời cái tuyệt mĩ gây cảm giác mạnh

+ Ngòi bút Nguyễn Tuân thường nhìn con người và sự vật dưới góc độ thẩm mĩ và vănhóa

+ Nguyễn Tuân có một vốn từ vựng rất là phong phú, khả năng sử dụng ngôn ngữ mộtcách biến hóa tài tình

+ Ngòi bút Nguyễn Tuân tìm đến thể tùy bút như một sở trường đặc biệt thích hợp

b Sau cách mạng tháng tám:

- Giọng văn kinh bạc dành cho kẻ thù và những hiện tượng tiêu cực trong xã hội mới,giọng tin yêu đôn hậu ca ngợi tinh thần dân tộc và lòng yêu nước

- Thể loại: Chủ yếu là tùy bút, nhân vật thường là cái tôi nghệ thuật

- Văn xuôi giàu hình ảnh từ vựng phong phú, chính xác mang tính trí tuệ cao

5 Kết luận: Nuyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm kiếm và khẳng định những giá trị nhân văncao quý, với những nét phong cách nổi bật: tài hoa, uyên bác, hiện đại mà cổ điển, Ông cónhiều đóng góp cho sự phat triển của thể tùy bút và Tiếng Việt

2 Con sông đà dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân trở thành một sinh thể vừa hùng bạo vừatrữ tình

a Sông đà con sông hung bạo, nham hiểm

- Cảnh bờ sông: Đá bờ sông dựng vách thành, chẹt dòng sông như cái yết hầu,… Gợi sựhùng vĩ của núi non sông đà

- Thác và nước sông đà:

Trang 13

Hình ảnh từ ngữ: Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió/ cuồn cuộn,dùn ghè gợi hình

dung về sự va đập, chuyển động liên tiếp, dữ dội của nước, của sóng, của gió sông Đà

Hình ảnh:

+ Thính giác: réo/ réo to mãi lên/ rống lên, gầm thét+ Thị giác: lồng lộn/ phá tuông

So sánh tầng tầng lớp lớp: như là oán trách, như là van xin,…khiêu khích,… chế nhạo;

như tiếng một ngàn con tâu mộng

 Sự hoành tráng, mãnh liệt, điên cuồng đến hung bạo của con sông dữ

- Đá sông Đà:

Hình ảnh: Cả một chân trời đá hùng vĩ Nhân hóa: Có tính cách như một con người + Có hành động: nhổm dậy, vồ, đá trái, thúc gối, túm, lật ngửa, đánh, bóp…

+ Có diện mạo, tư thế, thái độ của kẻ du côn: ngỗ ngược, nhăm nhúm, méo mó/ bệ

vệ, oai phong, hất hàm, thách thức

+ Có thủ đoạn: bày thạch trận, của sinh, cửa tử; tiền vệ, hậu vệ

 Con sông độc dữ, chẳng khác loài thủy quái khôn ngoan, nham hiểm

Tóm lại: Con sông mang vẻ đẹp hùng vĩ trong sự hung bạo, dữ dội Nó trở thành kẻ thù

số một của người Tây Bắc

b Sông Đà cũng có vẻ đẹp trữ tình đầy chất thơ của mình:

- Hình dáng: tuôn dài tuôn dài như… mềm mại, duyên dáng, kiều diễm

- Màu sắc: biến đổi theo màu rất sinh động:

Xuân: xanh ngọc bích

Thu: lừ lừ chín đỏ

- Không gian:

Lặng tờ / tịnh không một bóng người

Bờ sông hoang dại như…

- Cảnh vật: ngô non/ cỏ gianh đồi búp đãm sương đêm/ đàn hươu thơ ngộ/ đàn cá vọtlên bụng trắng như thoi

Tóm lại: Con sông mang vẻ đệp thơ mộng, kì thú, tự nhiên như chẳng vướng tràn, khơinhiều cảm xúc cho con người > như một cố nhân

*Kết luận:

- Đặc điểm sông Đà: vừa hung bạo nham hiểm, vừa thơ mộng trữ tình

- Kết tinh phong cách Nguyễn Tuân: Khám phá sông Đà bằng kiến thức của nhiều lĩnhvực; tài hoa trong sử dụng ngôn ngữ Có thể thấy nhà văn đã sử dụng một loạt biện pháp nghệthuật để mô tả thiên nhiên: nới rộng cấu trúc câu văn, nghệ thuật so sánh độc đáo, biện phápnhân hóa tài tình Đặc biệt cách liên tưởng đẹp, bất ngờ, táo bạo cùng với nhiều chi tiết gợicảm

- Con người nhà văn: tình yêu với thiên nhiên, non sông đát nước

3 Hình tượng người lái đò được Nguyễn Tuân miêu tả vừa có tư thế một người anhhùng, vừa có phong cách của một nghệ sĩ tài hoa, tài tử Đua con thuyền vượt dàng sông dữ là

cá một nghệ thuậ cao cường, đầy tài hoa trí dũng Chỉ một chút lỡ tay, láo mắt là phải trả giábằng mạng sống của mình

- Ông lái đò coa ngoại hình và tố chất khá đặc biệt: tay ông lêu ngêu như chiếc sào, chânông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào àonhư tiếng nước trước mặt ghềnh, nhỡn giới vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào

đó Trên ngục vai ông lái có những vết chai như những củ nâu mà Nguyễn Tuân gọi đó là thứ “huân chương lao động siêu hạng”

Trang 14

- Trên dòng thác dữ, ông đò hiện lên hiên ngang, mưu trí, ngoan cường “Ông đã chắcbinh pháp của thần sông, thần đá”, “ông đã thuộc lòng con sông như lòng bàn tay mình” Thật

là một nghệ sĩ sông nước

- Ông đò đối đầu với thác ghềnh hung bạo mà bình tĩnh, ung dung Xử lí các tình huốngnguy hiểm vừa dũng cảm, quyết liệt, vừa thông minh táo bạo… Vậy mà sau khi vượt thác,ngừng chèo, lại ung dung “đột lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anhvũ…”

- Lưu ý những nét riêng của ông lái đò bị tỉnh lược gần hết: không tên, không tiểu sử, rất

ít nét ngoại hình… Điều này không phải ngẫu nhiên Nhà văn muốn dựng lên một chân dung vôdanh để chứng tỏ rằng những con người như thế không phải là đặc biệt, có thể tìm thấy noi đâutrong cuộc sống hàng ngày

- nét khác biệt: trước cách mạng, ngòi bút Nguyễn Tuân hường hướng tới những conngười đặc tuyển, nững tính cách phi thường Sâu cách mạng, những con người tài hoa nghệ sĩcủa ông có thể tìm thấy trong cuộc sống lao động thường ngày, trong nhân dân đại chúng.Trước cách mạng nhà văn thường khám phá vẻ đẹp thiên lương, thú chơi cao sang, đài các củacon người Sau cách mạng, ông đi sâu phản ánh vẻ đẹp thể chất và tâm hồn – “ chất vàng mời”của những người lao động bình dị

5 Kết luận: Người lái đò sông đà thật sự là một bài ca về non sông đát nước, về lao động

và về con người trong lao động Người lái đò sông Đà cho ta thấy một Nguyễn Tuân tài hoa,

uyên bác, độc đáo, có tấm lòng sâu nặng với thiên nhiên, con người nơi miền Tây Tổ quốc

*************

RỪNG XÀ NU ( Nguyễn Trung Thành)

A Tác giả:

- Nguyên Ngọc – Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyễn Văn Báu Ông vốn là nhà văntrưởng thành trong kháng chiến chống Pháp với tiểu thuyết nổi tiếng Đất nước đứng lên Đó làngòi bút gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên, coa nhiều thành tựu nhất khi viết về Tây Ngyên

B Kiến thức cơ bản:

1 Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn rừng xà nu được viết vào mùa hè năm 1965, khi đế quốc

Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam nước ta Tác phẩm in lần đầutrên tạp chí văn nghệ giải phóng( số 2 – 1965) Sau in trong tập Truyện và Kí trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc(1969) Rừng Xà nu mang đậm chất sử thi, viết về những vấn đề trọng đại của dân tộc; nhân vậttrung tâm mang nững phẩm chất chung tiêu biểu cho cộng đồng; giọng điệu ngợi ca, trangtrọng, hào hùng

2 Hình tượng cây xà nu – Rừng xà nu:

Đây là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn Hình tượng cây xà nu – rừng xà nunổi bật, xuyên suốt tác phẩm, vừa mang ý nghĩa thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng

a Cây xà nu được miêu tả cụ thể, gắn bó với con người Tây Nguyên:

Trang 15

- Cây xà nu hiện lên trong tác phẩm trước hết như một loài cây đặc thù, tiêu biểu củamiền đất Tây Nguyên Mở đầu và kết thúc tác phẩm cũng bằng hình ảnh cây xà nu ->Cây xà

nu, rừng xà nu như chính dân làng xô man, như người Tây Nguyên nơi núi rừng trùng điệp

- Cây xà nu gắn bó thân thiết với cuộc sống nguwoif dân Tây nguyên trong sinh hoạthằng ngày, trong kí ức của người đân Xô Man, trong đấu tranh chống giặc; là lá chắn bảo vệlàng Xô Man trước đạn pháo giặc

b Cây xà nu tượng trưng cho phẩm chất và số phận con người Tây Nguyên trong kháng chiếnchống Mĩ

- Thương tíh mà rừng xà nu phải gáng chịu do đại bác của kẻ thù gợi nghĩ đến những mấtmát đau thương mà đồng bào Xô man đã trải qua trong thời kì cách mạng Miền Nam bị khúng

- Rừng xà nu tạo thành một bức tường vững chắc hiên ngang trước bom đạn là biểu trưngcho sức mạnh đoàn kết của người dân Tây Nguyên khiến kẻ thù phải khiếp sợ (0,5 điểm)

c Kết luận

- Cây xà nu tượng trưng cho số phận đau thương và phẩm chất anh hùng của dân làng Xôman nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ

- Được xây dựng với cảm hứng sử thi hoành tráng, bút pháp lãng mạn

- Kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tp’

3 Hình tượng dân làng Xô Man : Được miêu tả tương ứng với rừng cây xà nu qu nhiều thế hệ,thể hiện sự nối tiếp và trưởng thành của nhân dân Tây Nguyên trong sự nghiệp chống Mĩ cứunước

a) Cụ Mết: Là thế hệ đi trước, tham gia chống giặc từ thời chống Pháp

- Là cây xà nu đại thụ của làng Xô Man ( được m/tả qua dáng vể, cách nói, bản lĩnh, tấmlòng yêu thương đối với dân làng, đối với quê hương …)

-> Hình ảnh biểu tượng tượng trưng cho sức mạnh tinh thần có tính truyền thống, cộinguồn của các dt Tây Nguyên

- Là linh hồn của cuộc chiến đấu, là gạch nối giữa Đảng và dân làng đến với cách mạng;vững vàng, gan góc trong đấu tranh; yêu thương chăm sóc thế hệ tương lai; yêu quê hương, tựhào về quê hương của mình…-> cụ Mết tiêu biểu cho thế hệ già làng trong cuộc đáu tranh củadt

b) Nhân vật T nú: Được tg’ tập trung khắc họa tính cách lẫn số phận, mang ý nghĩa tiêubiểu cho số phận và con đường giải phóng của nhân dân Tây Nguyên

* Số phận:

- Lúc nhỏ: mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống nhờ vào sự cưu mang đùm bọc của dân làng

- Trưởng thành: số phận của T nú giống như số phận của dân làng Xô man

Có gia đình, vợ, con nhưng đều bị giặc sát hại giã man Bản thân T nú cũng mang thươngtích trên thân thể- hậu quả của những đòn tra tấn của kẻ thù: Tấm lưng lằn ngang dọc, bàn taycụt mười ngón

- Phẩm chất: Là một chú bé gan goc, táo bạo, trung thực, trung thành với cách mạng( Giặc khủng bố giã man vẫn cùng Mai hăng hái vào rừng nuôi cán bộ, quyết tâm học tập để

Trang 16

làm cán bộ, gan dạ dũng cảm khi làm giao liên, bị giặc bắt, bị tra tấn, quyết ko khai, chỉ tay vàobụng cộng sản ở đây).

Khi lớn lên, T nú trở thành người lãnh đạo dân làng Xô man bình tĩnh vững vàng chóng MĩDiệm yêu thương vợ con, dân làng và quê hương ( chứng kiến cảnh vợ con bị kẻ thù hành hạ,biết là thất bại, anh vẫn xông ra cứu Xa làng T nú nhớ làng, nhớ âm thanh và nhịp điệu sinhhoạt của làng; khi về anh nhớ tất cả mọi người)

Biết vượt lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân đẻ dũng càm chiến đấu, trả thù cho quêhương và gia đình ( khi xông ra cứu vợ con anh bị bắt, bị đốt mười đầu ngón tay, T nú quyết

ko kêu van-> tiếng thét của anh trở thành hiệu lệnh cho dân làng giết giặc Dù mất vợ con, dùhai bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt, T nú vẫn nén đau thương, tham gia lực lượng vũ trang đểgóp phần giải phóng quê hương)

Có tinh thần kỉ luật cao: ba năm đi bộ đội, dù nhớ làng nhưng được phép cấp trên mớidám về thăm làng Khi được về thăm làng, dù rất lưu luyến xong anh chấp hành đúng quy định,

ở lại một đêm rối ra đi

Tác giả đặc biệt m/tả đôi bàn tay của T nú, gây ấn tượng sâu sắc và đậm nét, qua đó hiệnlên cả cuộc đời và tính cách nhân vật (Bàn tay khi còn lành lặn là bàn tay trung thực, tình nghĩa:cầm phấn học chữ, cầm đá mài giáo, đặt lên bụng khi bị tra tấn, cầm tay Mai; với hai bàn tay koxông ra cứu vợ con- bàn tay bị giặc đốt cụt, trở thành mười ngọn đuốc trở thành chứng tích tội

ác của kẻ thù- bàn tay còn hai đốt vẫn cầm được súng để bảo vệ quê hương)

Tóm lại; T nú là nhân vật có tính chất sử thi; số phận và phẩm chất của anh tiêu biểu chocon người Xô man nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chung

Cảm hứng, giọng điệu chủ đạo là ca ngợi:

Làm phong phú thêm chân dung người Việt Nam anh hùng trong kháng chiến chống Mĩ

c Dít: cùng với T nú là đại diện cho thế hệ thanh niên, là lực lượng chiến đấu chính củadân làng- những cây xà nu đã trưởng thành Phẩm chất gan dạ dũng cảm Tôn trọng kỉ luật

d Bé Heng: đại diện cho thế hệ măng non sẵn sàng tiếp bước cha anh, rất háo hức thamgia đánh giặc, rất thông thuộc, tự hào về trận địa của dân làng

Mai, Dít,bé Heng… là (sự dũng cảm của Mai, sự bình tĩnh, vững vàng của Dít và sự lạc quantrong sáng của bé Heng.)

Tóm lại: các thế hệ nhân dân Xô Man tiếp nối trong cuộc chiến đáu, càng về sau càng lớnmạnh Nhà văn đã xd được hệ thống nhân vật t/ biểu, có t/dụng làm nổi bật chủ nghĩa anh hùngcách mạng của nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mĩ

4 Nghệ thuật: Đặc sắc, đậm đà chất sử thi hùng tráng Chất sử thi toát lên qua đề tài, chủ đề,cốt truyện, nhân vật, hình ảnh thiên nhiên, các chi tiết nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ của tp’;

Đề tài, xung đột có ý nghĩ lịch sử, sự vùng dậy của dân làng Xô Man chống Mĩ Diệm.Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng Rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộcđấu tranh chống giặc (cả rừng…ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng.)

Các nhân vật t.biểu được m.tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phongcách tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại

Giọng điệu, cảm hứng: chuyện về sự nổi dậy của dân làng và cuộc đời T nú được kể lạitrong một đem anh về thăm làng qua lời cụ Mết, bên bếp lửa bập bùng- giọng kể trang trọngnhư truyền cho thế hệ con cháu những trang sử bi thương và anh hùng của cộng đồng Chuyện

về thời hiện tại được kể bằng giọng điệu và cảm hứng ngợi ca

C Kết luận; tp’ đã khắc họa được tập thể nhân dân anh hùng gắn bó với nhau trong thời đại

anh hùng, vừa mang dấu ấn của thời đại chống Mĩ, vừa mang phong cách của núi rừng TâyNguyên

D Các dạng đề.

Đề 1: Phân tích hính tượng cây xà nu?

Ngày đăng: 22/05/2015, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w