1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn chuyên ngành bảo hiểm Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài. Thực trạng và hướng hoàn thiện

50 721 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 81,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, từ thời điểm Nghị định 100/CP ra đời, hàng loạt các doanhnghiệp bảo hiểm được cấp phép hoạt động, trong đó sự ra đời của các doanh nghiệp bảohiểm có yếu tố nước ngoài, điều này

Trang 1

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ts Phạm Văn Tuyết Bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam.Nxb Tư pháp Năm 2007

2 Ts Đỗ Văn Đại – PGS Ts Mai Hồng Quỳ Tư pháp quốc tế Việt Nam Nxb Chínhtrị Quốc gia 2010

3 Trường Đại Học Luật Hà Nội Giáo trình Tư pháp quốc tế Nxb Công an nhân dân2008

4 Ths Trần Vũ Hải Các nội dung chưa hợp lý trong luật kinh doanh bảo hiểm Tạpchí nghiên cứu lập pháp số 130 tháng 9 năm 2008

5 Tạp chí thị trường bảo hiểm – tái bảo hiểm Việt Nam số 4 năm 2010

6 Chương trình phát triển Liên hợp quốc Báo cáo nghiên cứu khả năng cạnh tranh

và tác động của tự do hóa thương mại dịch vụ tài chính: ngành bảo hiểm

7 Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam Hệ thống ngắn gọn về WTO và cáccam kết gia nhập của Việt Nam

8 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 1992

9 Bộ luật dân sự 2005

10 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

11 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2010

12 Luật hàng hải 2005

13 Luật hàng không dân dụng 2006

14 Nghị định 45/2007/NĐ – CP quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật kinhdoanh bảo hiểm

15 Nghị định 46/2007/NĐ – CP quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảohiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

16 Thị trường bảo hiểm 2008: Tăng trưởng trong thách thức, khó khănhttp://www.vinacorp.vn/news/thi-truong-bao-hiem-2008-tang-truong-trong-thach-thuc-kho-khan/ct-325079

17 http://docs.4share.vn/docs/7114/Vu_viec_tranh_chap_hop_dong_bao_hiem.html

Trang 2

18 http://www.vass.com.vn/index.php?

tm-vi-ca-dn-&catid=20%3Atin-lien-quan&Itemid=32&lang=en

option=com_content&view=article&id=440%3Abo-him-hang-hoa-xut-nhp-khu-ngoai-

http://www.webbaohiem.net/kinh-doanh/4741-bao-hiem-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-khong-chay-theo-trao-luu.html

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Trong cuộc sống luôn tồn tại nhiều rủi ro mà con người khó có thể phòng tránhđược như rủi ro về thiên tai, bệnh tật,… Một trong những biện pháp chia sẻ rủi ro mà conngười tìm đến là bảo hiểm

Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động bảo hiểm không còn bó hẹp trongmỗi quốc gia Ngày càng nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư vào Việt Nam,cung cấp đa dạng các sản phẩm bảo hiểm Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cónhu cầu vươn ra thị trường bảo hiểm các nước trong khu vực, cũng như thế giới Nhữnghoạt động này đều là những hoạt động bảo hiểm có yếu tố nước ngoài Hầu hết chúngđược thực hiện trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài

Sự ra đời của bảo hiểm gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa Trongđời sống và sản xuất, rủi ro luôn là nguy cơ tiềm ẩn thường xuất hiện và đưa con ngườivào trạng thái bất ổn về tài chính Bảo hiểm là một ngành dịch vụ tài chính nhằm khắcphục tình trạng trên cho người đã tham gia bảo hiểm trên cơ sở huy động số đông cánhân, tổ chức tham gia bảo hiểm để xây dựng quỹ bảo hiểm Bằng quỹ bảo hiểm này cóthế bù đắp một phần nào thiệt hại do rủi ro gây ra đối với người tham gia bảo hiểm Do

đó, bảo hiểm là một biện pháp hữu hiệu và chắc chắn để góp phần khắc phục hậu quả vềtài chính do rủi ro mang đến, bình ổn cuộc sống, đem lại sự yên tâm cho những ngườitham gia bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là những thỏa thuận có tính đặc thù vàchịu sự điều chỉnh phức tạp của pháp luật Hơn nữa, hiện nay, chưa có một văn bản phápluật nào trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội này Vì vậy, việc áp dụng pháp luật trở nênkhó khăn Với những lý do đó, em đã lựa chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồngbảo hiểm có yếu tố nước ngoài Thực trạng và hướng hoàn thiện” làm đề tài khóa luận

2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:

Trang 4

Với đề tài này, khóa luận tập trung nghiên cứu về hợp đồng bảo hiểm có yếu tốnước ngoài trên cơ sở xem xét các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, Bộ luậtdân sự 2005, các Điều ước quốc tế và các văn bản có liên quan khác Trên cơ sở đó, khóaluận đưa ra những đánh giá sơ bộ về những quy định về hợp đồng bảo hiểm có yếu tốnước ngoài, qua đó, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợpđồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài nói riêng.

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài:

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin,quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trên nền tảng phương pháp luận đó, tácgiả sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp phân tích -tổng hợp, phương pháp

so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích lịch sử

4 Bố cục và nội dung cơ bản:

Ngoài phần Lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của khóaluận được triển khai theo 2 chương sau:

- Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài và phápluật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài và một sốgiải pháp nhằm hoàn thiện chế định hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài

Trang 5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀHỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

1.1.1Khái lược sự hình thành và phát triển của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:

Bảo hiểm là một quan hệ xã hội giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảohiểm được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi

ro của người được bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm hoặc trảtiền cho người thụ hưởng những tổn thất trong phạm vi bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểmxảy ra, từ số tiền mà những người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệpbảo hiểm

Bảo hiểm có yếu tố nước ngoài góp mặt trên thị trường Việt Nam ngay từ nhữngngày đầu tiên của thị trường bằng sự tham gia của các công ty bảo hiểm của Pháp và Mỹ.Cho tới nay, trên thị trường Việt Nam mở cửa, bảo hiểm có yếu tố nước ngoài đã cónhiều phát triển

Sau kháng chiến chống Pháp, tại thị trường miền Bắc, chỉ có duy nhất một đại lýcho công ty bảo hiểm nhân dân Trung Quốc (tiền thân của Bảo Việt ngày nay) Thịtrường bảo hiểm miền Nam dưới thời Mỹ - Ngụy phát triển hơn thị trường miền Bắc với

sự hoạt động của hơn 50 doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau và hầu hết là các doanhnghiệp nước ngoài Bằng Quyết định số 176/CP ngày 17/12/1964 của Thủ tướng Chínhphủ, công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) ra đời và đi vào hoạtđộng, với hoạt động chủ yếu là tiến hành các hoạt động bảo hiểm mang tính đối ngoại:bảo hiểm Nhà nước về hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và đội tàu biển của ViệtNam Thời gian này, Bảo Việt giữ thế độc quyền trên thị trường bảo hiểm Việt Nam

Trang 6

Tiếp theo đó, Nghị định 100/CP ngày 19/12/1993 của Chính Phủ quy định về kinhdoanh bảo hiểm ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành một thị trường bảohiểm hoàn chỉnh ở Việt Nam Nghị định 100/CP đã quy định rõ về địa vị pháp lý của cácdoanh nghiệp bảo hiểm, chính thức mở cửa thị trường bảo hiểm cho nhiều doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đáng chú ý là các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Từ năm 1993 đến 1999 ngoài Bảo Việt nhà nước đã cấp phép hoạt động chohàng loạt doanh nghiệp như Bảo Minh, VINARE, Bảo Long, PJICO, PVI, PTI Cùng thờigian này, 3 công ty liên doanh gồm VIA (Bảo Việt và công ty của Nhật), UIC (Bảo Minh

và công ty của Nhật) và công ty môi giới BV – AON cũng được gia nhập thị trường bảohiểm Việt Nam Như vậy, từ thời điểm Nghị định 100/CP ra đời, hàng loạt các doanhnghiệp bảo hiểm được cấp phép hoạt động, trong đó sự ra đời của các doanh nghiệp bảohiểm có yếu tố nước ngoài, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của bảo hiểm

có yếu tố nước ngoài nói riêng và thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung

Tuy nhiên, Nghị định 100/CP còn quy định chung chung, đặc biệt các vấn đề xungquanh hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài không được đềcập chi tiết, cụ thể Thêm vào đó, Nghị định 100/CP chưa đáp ứng được yêu cầu với sựphát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm Việt Nam lúc này Luật kinh doanh bảo hiểm

2000 ra đời nhằm khắc phục những hạn chế đó Một trong những nội dung chủ yếu củaLuật kinh doanh bảo hiểm 2000 là quy định về hợp đồng bảo hiểm Bên cạnh đó, Luậtnày còn ghi nhận việc dẫn chiếu áp dụng đến Bộ Luật dân sự và các quy định khác cóliên quan, tạo cơ sở thống nhất cho việc điều chỉnh quan hệ bảo hiểm, trong đó có hợpđồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài Trên cơ sở pháp lý được hoàn thiện, thị trường bảohiểm có yếu tố nước ngoài phát triển mạnh mẽ hơn Trong giai đoạn này, nhiều doanhnghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Việt Nam đã cấp phép cho 1 công tybảo hiểm cổ phần ngoài quốc doanh (Viễn Đông) và 2 công ty phi nhân thọ 100% vốnnước ngoài (Alianz, Group Pama), 4 công ty bảo hiểm nhân thọ (Bảo Minh CMG,Prudential, Manu Life, AIA) và tiếp tục cấp phép cho các công ty liên doanh khác: Việt

Úc, SVI, IAI Những doanh nghiệp bảo hiểm này tham gia vào thị trường Việt Namkhông những gia tăng về số lượng mà còn có hiệu quả kinh doanh cao Năm 2004, Công

Trang 7

ty Prudential Việt Nam (doanh nghiệp nước ngoài lớn nhất trong lĩnh vực bảo hiểm nhânthọ) có mức lãi 61 tỷ đồng sau 5 năm hoạt động tại Việt Nam

Giai đoạn 2005 – 2006 được coi là bước đệm cho tiến trình hội nhập kinh tế thếgiới của Việt Nam cũng như lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm, đón nhận sự tham giacủa các nhà đầu tư nước ngoài Nhiều công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài đượccấp phép hoạt động như AIG, QBE, ACE, Liberty, ACE Life, Prevoir, New york Life.Trong giai đoạn này, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam bị chi phối bởi các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về cả số lượng doanh nghiệp lẫn thị phần Trên thịtrường bảo hiểm nhân thọ chỉ có duy nhất một công ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam làBảo Việt Nhân Thọ, còn lại là 7 công ty bảo hiểm nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài.Tính đến hết năm 2005, thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trên thị trườngnhư sau: Doanh nghiệp nhà nước 37,5%, công ty liên doanh 3,5%, công ty 100% vốn đầu

tư nước ngoài 59%.1

Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO (2007), theo thống

kê từ Bộ tài chính, cho tới năm 2008, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 11 doanh nghiệpbảo hiểm nhân thọ, 26 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm

và 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm với tổng số vốn chủ sở hữu gần 18.000 tỷ đồng;trong đó 21 doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài, bao gồm: phi nhân thọ có 11doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài (4 liên doanh), nhân thọ có 10 doanh nghiệpbảo hiểm 100% vốn nước ngoài, môi giới bảo hiểm có 4 doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài.2 Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường nhân thọ năm 2010 đạt 13.792 tỉđồng Cùng với Bảo Việt, Prudential (5.374 tỉ đồng) và Manulife (1.460 tỉ đồng) là 3doanh nghiệp dẫn đầu trên thị trường

Những số liệu trên cho thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam có sự phát triển mạnh

mẽ về chất lượng và số lượng doanh nghiệp bảo hiểm Sự phát triển của doanh nghiệpbảo hiểm cũng đồng nghĩa với việc hàng loạt các hợp đồng bảo hiểm được kí kết Trên

1 Chương trình phát triển Liên hợp quốc Báo cáo nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa thương mại dịch vụ tài chính: ngành bảo hiểm, tr 15.

2Thị trường bảo hiểm 2008: Tăng trưởng trong thách thức, khó khăn

http://www.vinacorp.vn/news/thi-truong-bao-hiem-2008-tang-truong-trong-thach-thuc-kho-khan/ct-325079

Trang 8

thị trường bảo hiểm nhân thọ, Prudential và Manulife – hai doanh nghiệp bảo hiểm 100%vốn nước ngoài – luôn là những doanh nghiệp dẫn đầu Tính đến cuối năm 2009,Prudential chiếm hơn 40% thị phần bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Năm 2010, tổng số hợpđồng có hiệu lực đến cuối kì đạt 4.2941.040 hợp đồng Trong đó, Prudential và Manulife

là những doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều hợp đồng bảo hiểm tính theo sản phẩm chính:Prudential 1.808.442 hợp đồng và Manulife 342.660 hợp đồng.3

Thêm vào đó, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng là lĩnh vực bảo hiểm cóyếu tố nước ngoài Lịch sử bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có từ lâu.Ngay từ khi thành lập, ngày 15/1/1965, Công ty bảo hiểm Việt Nam nay là Tổng Công tyBảo hiểm Việt Nam đã được giao nhiệm vụ bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu củanước ta với các nước xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, hai công ty bảo hiểm làINGOSTRACKH của Liên Xô (cũ) và PICC Trung Quốc trong thời gian này cũng thamgia bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu vào nước ta Tuy nhiên cho đến nay, hoạt động bảohiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu do các công ty bảo hiểm Việt Nam tiến hành vẫn còn

ở mức rất hạn chế, tốc độ tăng trưởng không cao, có giai đoạn theo chiều hướng giảmxuống Tính đến cuối năm 2000, các nhà bảo hiểm Việt Nam mới chỉ bảo hiểm được4,7% kim ngạch hàng xuất khẩu và 23,26% kim ngạch hàng nhập khẩu Còn tính đếncuối năm 2010, Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu được bảo hiểm mới chỉ chiếm khoảng35% kim ngạch hàng nhập, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu được bảo hiểm khoảng 5%.4

Ngoài ra, bảo hiểm có yếu tố nước ngoài còn bao gồm hoạt động bảo hiểm của cácdoanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài Hoạt động này được bắt đầu từ năm

2004 với các hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án dầu khí lớn tại nướcngoài của công ty bảo hiểm Dầu khí Việt Nam Cho tới nay, doanh nghiệp bảo hiểm này

đã ký kết được rất nhiều hợp đồng bảo hiểm cho các đối tác tại nước ngoài với giá trị mỗihợp đồng lên đến hàng trăm triệu USD Hiện nay, khi thị trường bảo hiểm trong nước có

3 nam-2010.html

http://webbaohiem.net/t%E1%BB%95ng-quan-th%E1%BB%8B-tr/6364-tong-quan-thi-truong-bao-hiem-viet-nam-4 khu-ngoai-tm-vi-ca-dn-&catid=20%3Atin-lien-quan&Itemid=32&lang=en

Trang 9

http://www.vass.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=440%3Abo-him-hang-hoa-xut-nhp-sự cạnh tranh gay gắt, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã hướng tới việc khaithác các thị trường bảo hiểm nước ngoài khác như Lào, Campuchia…5

1.1.2Vai trò của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:

Bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có vai trò tích cực trong việc phát triển thị trườngbảo hiểm ở Việt Nam:

- Thứ nhất, bảo hiểm có yếu tố nước ngoài đã làm tăng tính cạnh tranh cho thịtrường bảo hiểm, tạo sức ép cho bảo hiểm trong nước phát triển

Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động vớinhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trênthị trường Đặc trưng của nền kinh tế này là sự tự do cạnh tranh Sự ra đời và phát triểncủa bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có nhiều ý nghĩa trong việc phát triển một nền kinh tếthị trường ở nước ta, buộc các doanh nghiệp trong nước phải tăng khả năng cạnh tranhcủa mình Các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Namđều là các doanh nghiệp có chỉ số năng lực cạnh tranh rất cao như: tiềm lực tài chính dồidào; nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, chuyên nghiệp; hệ thống quản lý rủi ro,công nghệ khoa học, tiên tiến Với những điều kiện thuận lợi như vậy, các doanh nghiệpbảo hiểm nước ngoài sẽ cung cấp các dịch vụ bảo hiểm có chất lượng cao cho thị trường.Khi đó, người mua bảo hiểm có nhiều sự lựa chọn hơn Doanh nghiệp bảo hiểm trongnước nếu không tự nâng cao năng lực của mình, đưa ra thị trường những sản phẩm bảohiểm tốt cho khách hàng lựa chọn thì sẽ khó có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệpnước ngoài

- Thứ hai, bảo hiểm nước ngoài đem đến cho thị trường bảo hiểm trong nước nhiềusản phẩm bảo hiểm mới, làm gia tăng sự lựa chọn cho khách hàng Theo thống kê, năm

2007, trên thị trường có trên 700 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, hơn 100 sản phẩm bảohiểm nhân thọ được chào bán trên thị trường, thuộc 3 loại hình bảo hiểm là: Bảo hiểm tàisản, Bảo hiểm trách nhiệm dân sự, Bảo hiểm con người phi nhân thọ Riêng loại hình bảo

5 http://www.webbaohiem.net/kinh-doanh/4741-bao-hiem-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-khong-chay-theo-trao-luu.html

Trang 10

hiểm nhân thọ, chủng loại sản phẩm cũng luôn được cải tiến để đáp ứng nhu cầu đa dạngcủa người dân Trong đó, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp vùa có tính tiết kiệmvừa có tình rủi ro là sự lựa chọn phổ biến của người mua bảo hiểm Năm 2009 là nămbùng nổ sản phẩm bảo hiểm mới, 100 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, 50 sản phẩm bảohiểm nhân thọ mới đưa ra thị trường, tạo sự lựa chọn và phục vụ chăm sóc khách hàngngày một tốt hơn Những tháng đầu năm 2011, thị trường bảo hiểm sôi động với việctung ra thị trường hàng loạt các gói bảo hiểm mới, lạ để thu hút khách hàng của cả doanhnghiệp bảo hiểm trong nước và nước ngoài Mới đây, Công ty Bảo hiểm Liberty – doanhnghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài đã chính thức giới thiệu sản phẩm bảohiểm sức khỏe mới mang tên Liberty MediCare dành cho các doanh nghiệp, tổ chức vàgia đình tại Việt Nam

- Thứ ba, sự góp mặt của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam cũngchính là cơ hội cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước học hỏi kinh nghiệm Nếu nhưđem so sánh với sự phát triển hàng trăm năm của lịch sử bảo hiểm thế giới nói chung vàcủa các tập đoàn bảo hiểm quốc tế nói riêng thì sự hình thành và phát triển của các doanhnghiệp bảo hiểm Việt Nam còn quá non trẻ Do vậy, thị trường bảo hiểm Việt Nam trởthành sân chơi quốc tế cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước học tậpđược kinh nghiệm của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài trong việc phát triển sảnphẩm, phát triển kênh phân phối (qua môi giới và đại lý bảo hiểm) kinh nghiệm quản lýrủi ro, sử dụng công nghệ thông tin và thái độ phục vụ chăm sóc khách hàng

- Thứ tư, đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, đặc biệt là đối với các hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế có sử dụng phương tiện vận tải đường biển thì bảo hiểm có yếu tốnước ngoài có vai trò quan trọng Phần lớn các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cóđiều khoản thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế INCOTERMS Nếu hợpđồng này có áp dụng các điều kiện CIF (tiền hàng, bảo hiểm và cước) hoặc điều kiện CIP(cước phí bảo hiểm và trả tới) thì việc thực hiện một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

đó phải kèm theo việc thực hiện một hợp đồng bảo hiểm cho hàng hóa được vận chuyển.Nếu bên có nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa không thực hiện nghĩa vụ củamình đối với việc bảo hiểm hàng hóa thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bị vi phạm

Trang 11

1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:

a Khái niệm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:

Bộ luật dân sự 2005, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 cũng như các văn bản pháp lý

có liên quan đều không đưa ra định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài màchỉ đề cập đến các khái niệm: “hợp đồng bảo hiểm” và “quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài” như sau:

Bộ luật dân sự 2005 có ghi nhận tại Điều 567: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuậngiữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phảitrả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” CònLuật kinh doanh bảo hiểm 2000, tại Điều 12, cũng đưa ra khái niệm: “Hợp đồng bảohiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó, bênmua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm chongười thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.Mặc dù, về hình thức câu chữ khác nhau, nhưng có thể thấy, hai khái niệm này cùng có

sự thống nhất về bản chất của hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận của bên mua bảo hiểm

và bên doanh nghiệp bảo hiểm; cùng nêu ra được cơ chế thực hiện hợp đồng bảo hiểm.Tại Điều 758 Bộ Luật dân sự 2005 đã đưa ra khái niệm: “quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức,

cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sựgiữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi,chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liênquan đến quan hệ đó ở nước ngoài”

Trên cơ sở sự tiếp cận trên, có thể hiểu hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là

sự thỏa thuận giữa bên bảo hiểm (là doanh nghiệp Việt Nam hoặc doanh nghiệp nướcngoài) và bên mua bảo hiểm (có quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài) theo đó, bên bảohiểm chấp nhận rủi ro đối với các đối tượng bảo hiểm đang tồn tại ở Việt Nam hay ởnước ngoài để cam kết trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểmxảy ra ở Việt Nam hay ở nước ngoài, với điều kiện bên bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm

Trang 12

b Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:

Hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài trước hết là một loại hợp đồng bảo hiểmnên nó mang các đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm, đó là:

- Hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng song vụ:

Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà trong đó các bên của hợp đồng đều có nghĩa vụ đốivới nhau Quyền lợi của các bên trong hợp đồng phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa vụcủa bên kia Trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm và bên nhận bảo hiểm đều cónghĩa vụ với nhau: bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho bên nhận bảohiểm Trên cơ sở số tiền phí bảo hiểm nhận được, bên nhận bảo hiểm có nghĩa vụ phải trảmột khoản tiền nhất định cho bên được bảo hiểm khi rủi ro bảo hiểm xảy ra

- Hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng may rủi:

Tính may rủi của hợp đồng bảo hiểm thể hiện ở chỗ: khi hợp đồng bảo hiểm được kí kết,bên tham gia bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Nhưng chỉ khi sự kiệnbảo hiểm xảy ra, bên nhận bảo hiểm mới phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho người thụhưởng hoặc nghĩa vụ bồi thường cho người được bảo hiểm Trong khi đó, sự kiện bảohiểm có xảy ra hay không là do rủi ro ngẫu nhiên, không phụ thuộc vào ý chí chủ quancủa cả hai bên tham gia bảo hiểm và bên nhận bảo hiểm Vì lí do này mà hợp đồng bảohiểm được coi là hợp đồng có tính may rủi

nghiệp bảo hiểm soạn thảo:

Do đặc thù của ngành bảo hiểm, dựa vào khả năng chấp nhận bảo hiểm và những đặcđiểm kĩ thuật của mình mà trong các mỗi hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cốđịnh những điều kiện cơ bản, quyết định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên Trên cơ sở

đó, bên tham gia bảo hiểm chỉ có thể chấp nhận hay không chấp nhận Do vậy, hợp đồngbảo hiểm cũng là một loại hợp đồng soạn sẵn

Tuy nhiên, quan hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là quan hệ tư phápquốc tế nên hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài còn có những đặc điểm sau:

Trang 13

- Thứ nhất, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là hợp đồng có chứa đựng yếu

tố nước ngoài:

Theo lý luận tư pháp quốc tế Việt Nam, yếu tố nước ngoài của một hợp đồng dân sựtrong tư pháp quốc tế được thể hiện ở một trong các dấu hiệu: các bên chủ thể ký kết hợpđồng có quốc tịch khác nhau; hợp đồng ký kết ở nước ngoài (nước các bên chủ thể khôngmang quốc tịch hoặc không có trụ sở); đối tượng của hợp đồng là tài sản ở nước ngoài.6Trong khi đó, theo quy định của pháp luật nước Cộng Hòa Pháp, sự tham gia của ngườinước ngoài không là yếu tố quyết định để cho rằng có yếu tố nước ngoài Do vậy, kháiniệm “yếu tố nước ngoài” theo pháp luật Việt Nam được hiểu rộng hơn so với pháp luậtcủa Cộng Hòa Pháp.7 Hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng là một hợp đồngdân sự có yếu tố nước ngoài Vì vậy, nó cũng chứa đựng các yếu tố nước ngoài như trên

Chủ thể của hợp đồng có quốc tịch khác nhau:

Trong hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài, chủ thể của hợp đồng có thể là: bênbảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm có quốc tịch nước ngoài; doanh nghiệp bảo hiểm cóquốc tịch Việt Nam với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân Việt Nam; người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài; và tổ chức, cá nhân có quốc tịch nước ngoài Vậy ở đây có thể thấyrằng, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố chủ thể nước ngoài sẽ là hợp đồng bảo hiểm được kýkết giữa:

+ Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân ViệtNam;

+ Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam với bên mua bảo hiểm là người Việt Nam định cư ởnước ngoài;

+ Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có quốctịch nước ngoài

Đối tượng bảo hiểm tồn tại ở nước ngoài:

Một hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm tồn tại ở nước ngoài cũng là hợpđồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài Ví dụ: một doanh nghiệp Việt Nam tham gia kí kết

6 Xem thêm Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại Học Luật Hà Nội Chương V Nxb Công an nhân dân , 2008.

7 Xem thêm Ts Đỗ Văn Đại – PGS Ts Mai Hồng Quỳ (chủ biên), Tư pháp quốc tế Việt Nam., Tr 26, Nxb Chính trị

Quốc gia, 2010.

Trang 14

hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm X có quốc tịch Việt Nam cho một lô hàngđang tồn tại ở Pháp Hợp đồng bảo hiểm này là hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.Hoặc: bà A có quốc tịch Việt Nam kí kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với doanh nghiệpbảo hiểm B có quốc tịch Việt Nam cho con gái của bà A là C C đang sinh sống tại nướcAnh Hợp đồng bảo hiểm này cũng là hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm ở nướcngoài.

Nơi kí kết hợp đồng bảo hiểm ở nước ngoài::

Việc kí kết hợp đồng bảo hiểm chính là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồng bảo hiểm.Nếu việc kí kết diễn ra ở nước ngoài – tức là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồng bảo hiểmphát sinh ở nước ngoài thì hợp đồng này cũng là hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nướcngoài Ví dụ: một hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam với mộtcông ty để bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu sang Thái Lan Hai doanh nghiệp này cùng kíkết hợp đồng bảo hiểm ở Thái Lan Đây là hợp đồng bảo hiểm có sự kiện làm phát sinhhợp đồng bảo hiểm ở nước ngoài

phức tạp hơn so với hợp đồng bảo hiểm thông thường:

Hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là một quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài – hay nói cách khác là một quan hệ tư pháp quốc tế Vì thế nó có thể chịu sự điềuchỉnh của nhiều hệ thống pháp luật Đối với hợp đồng bảo hiểm có sự tham gia của nhiểuchủ thể có quốc tịch khác nhau thì trước hết, hợp đồng bảo hiểm này phải tuân theo sựđiều chỉnh pháp luật của nước mà các chủ thể mang quốc tịch Đối với hợp đồng bảohiểm được ký kết ở nước ngoài thì luật điều chỉnh hợp đồng không chỉ là luật của các bênchủ thể mang quốc tịch mà luật nơi ký kết hợp đồng cũng có thể điều chỉnh các vấn đềliên quan đến hợp đồng Ngoài ra, trong trường hợp các bên có cùng quốc tịch, hợp đồngđược ký kết ở nước mà các bên mang quốc tịch nhưng đối tượng của hợp đồng tồn tại ởnước ngoài, thì quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng này vừa phải chịu sự điềuchỉnh của luật của nước mà họ mang quốc tịch và luật của nước nơi đối tượng bảo hiểmđang tồn tại

Trang 15

Cũng do việc có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật nên vấn đềxung đột luật được đặt ra khi xem xét hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài Xung độtpháp luật là hiện tượng pháp lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham giavào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ thốngpháp luật lại khác nhau.

Có hai cách giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nướcngoài: đó là phương pháp thực chất hoặc phương pháp xung đột

Phương pháp xung đột được hình thành và xây dựng trên nền tảng hệ thống các quiphạm xung đột quốc gia Các quốc gia tự ban hành các qui phạm xung đột trong hệ thốngpháp luật nước mình để hướng dẫn chọn luật áp dụng để chủ động trong việc điều chỉnhcác quan hệ tư pháp quốc tế trong khi chưa xây dựng được đầy đủ các qui phạm thực chấtthống nhất Ví dụ: Theo pháp luật Việt Nam, khoản 1 Điều 770 Bộ luật dân sự 2005 quyđịnh: “Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng.Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hìnhthức hợp đồng theo pháp luật nước đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợpđồng theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng đượcgiao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam.” Như vậy, pháp luật ViệtNam đã dẫn chiếu đến pháp luật của nước nơi hợp đồng được ký kết để điều chỉnh vềhình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài cũng như hợp đồng bảo hiểm có yếu tốnước ngoài

Phương pháp thực chất là phương pháp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quiphạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, điều này có ý nghĩa là nótrực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng của các bên tham gia Qui phạm thực chấtthống nhất có trong các Điều ước quốc tế hay tập quán quốc tế

1.2 NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI:

Trang 16

1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:

Trước hết, phải khẳng định rằng sự tồn tại của hợp đồng bảo hiểm là kết quả tất yếucủa hoạt động kinh doanh bảo hiểm Và sự tồn tại của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nướcngoài là khách quan và quan trọng trong điều kiện nền kinh tế hội nhập thế giới hiện nay.Hợp đồng bảo hiểm là bằng chứng và sự thể hiện của những thỏa thuận giữa bên mua bảohiểm và bên nhận bảo hiểm Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, hoạt độngthương mại của các chủ thể cũng không bó hẹp trong thị trường trong nước mà thườngxuyên có sự hợp tác với các chủ thể nước ngoài Do vậy, nhu cầu bảo hiểm cho hàng hóađược vận chuyển từ nước này đến nước khác, bảo hiểm cho các tài sản hiện hữu ở nướcngoài cũng tăng lên Những đối tượng bảo hiểm này chính là yếu tố nước ngoài trong mộthợp đồng bảo hiểm Thêm vào đó, trong nền kinh tế mở cửa của các nước, xuất hiện ngàycàng nhiều chi nhánh, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp nước ngoài tại nước bảnđịa do nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh của họ Những hợp đồng bảo hiểm được kíkết giữa các doanh nghiệp nước ngoài này với một chủ thể bản địa cũng là hợp đồng bảohiểm có yếu tố nước ngoài Từ những lí do trên, có thể thấy, sự tồn tại phổ biến của hợpđồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày nay làmột tất yếu khách quan

Là một quan hệ phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm và tương đối có tínhphức tạp, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cần thiết phải được sự điều chỉnh củapháp luật Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là tổng thể các qui phạmpháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh quan hệ xã hội hợpđồng bảo hiểm

Trên thực tế, việc giao kết hợp đồng bảo hiểm thông qua hợp đồng mẫu do doanhnghiệp bảo hiểm soạn thảo Những điều khoản trong hợp đồng không phải bao giờ cũngđầy đủ và có lợi cho người tham gia bảo hiểm Mặt khác, nhiều thuật ngữ trong hợp đồngbảo hiểm còn khó hiểu, điều này gây bất lợi đối với người tham gia bảo hiểm, mà đặc biệtđối với hai chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm có quốc tịch khác nhau, ngôn ngữ khácnhau Do vậy, cần thiết phải có các qui định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của các chủ

Trang 17

thể kí kết hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài, đặc biệt đối với bên tham gia bảohiểm.

Thêm vào đó, hiện nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển sôi động với sựgóp mặt của nhiều doanh nghiệp nước ngoài thông qua chi nhánh và văn phòng đại diệncủa mình, quan hệ bảo hiểm có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều và đa dạng và phứctạp Vì vậy, để thị trường phát triển bền vững, ổn định, cần phải có khung pháp lý quiđịnh về điều kiện chủ thể giao kết hợp đồng, nội dung, hình thức, hiệu lực, việc thực hiện

và việc xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài

1.2.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:

Như đã phân tích ở phần “một số vấn đề cơ bản về bảo hiểm có yếu tố nước ngoài

và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài”, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài làmột quan hệ tư pháp quốc tế, vì thế, nó chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật:luật trong nước, luật quốc tế và luật nước ngoài Do vậy, việc giao kết và thực hiện hợpđồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng phải tuân theo các qui định của những hệ thốngluật trên

a Luật trong nước:

Trong hệ thống Luật quốc gia, các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hiểmnói chung và điều chỉnh quan hệ hợp đồng bảo hiểm nói riêng bao gồm: Hiến pháp 1992;

Bộ luật dân sự 2005; Luật kinh doanh bảo hiểm 2000; Luật hàng hải 2005; Luật hàngkhông dân dụng 2006

Tại Điều 15, Điều 16, Hiến pháp xác định tính chất của nền kinh tế trong giai đoạn

hiện nay là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý

Trang 18

của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, xác nhận sự bình đẳng của các hình

thức sở hữu: toàn dân, tập thể, tư nhân; cho phép sự hoạt động của các thành phần kinhtế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tưbản Nhà nước Tổ chức, cá nhân được lựa chọn hình thức sản xuất, kinh doanh, đượcthành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề

có lợi cho quốc kế dân sinh (Điều 21) Những qui định này là cơ sở chung nhất cho sựtồn tại hợp pháp của các doanh nghiệp bảo hiểm đang tồn tại hiện nay – một bên chủ thểtrong quan hệ hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoàinói riêng

Đặc biệt, các qui định tại Điều 22 và Điều 25 của Hiến pháp 1992 khẳng định sựthừa nhận và cho phép sự hoạt động bình đẳng tại Việt Nam của các tổ chức nước ngoài;cam kết bảo vệ vốn và tài sản của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Đây là những cơ sởpháp lý cơ bản và quan trọng nhất cho những thỏa thuận hợp tác của các bên trong hợpđồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài

- Bộ luật dân sự 2005:

Bộ luật dân sự 2005, trên cơ sở nền tảng của Hiến pháp, đưa ra những qui định điềuchỉnh mọi quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ hợp đồng, hợp đồng bảo hiểm và quan hệdân sự có yếu tố nước ngoài

Mục 7 chương XVII Bộ luật dân sự 2005 nêu ra những qui định chung điều chỉnhviệc giao kết hợp, thực hiện và sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự Các qui định từ Điều

567 đến Điều 580 tại Mục 11 chương XVIII điều chỉnh riêng quan hệ hợp đồng bảohiểm Trong đó, nêu lên khái niệm hợp đồng bảo hiểm, các loại hợp đồng bảo hiểm, đốitượng bảo hiểm, hình thức hợp đồng bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm và phí bảo hiểm, cácnghĩa vụ cơ bản nhất của các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm Việc giao kết, thực hiệnhợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng phải tuân theo những qui định này

Tại phần thứ bảy, Bộ luật dân sự 2005 đề cập đến quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, những vấn đề chung của các quan hệ tư phápquốc tế chủ yếu được điều chỉnh bởi những quy định này Quan hệ hợp đồng bảo hiểm cóyếu tố nước ngoài cũng vậy Theo đó, Bộ luật dân sự đưa ra quy định: các quy định của

Trang 19

pháp luật Việt nam được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nướcngoài, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác thì

áp dụng Điều ước quốc tế đó Trong trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc

tế mà Việt Nam tham gia dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đóđược áp dụng Các bên chủ thể của hợp đồng bảo hiểm cũng có thể thỏa thuận áp dụngpháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc

cơ bản của pháp luật Việt Nam Ngoài ra, Bộ luật dân sự cũng chỉ dẫn việc chọn luật ápdụng để xác định năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là ngườinước ngoài, pháp nhân nước ngoài Đây là quy định quan trọng trong việc xác định mộtchủ thể có đủ điều kiện giao kết hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài hay không…

- Luật kinh doanh bảo hiểm 2000:

Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 là đạo luật trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, trong đó có quan hệ hợp đồng bảo hiểm cóyếu tố nước ngoài

Chương II của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 qui định cụ thể về hợp đồng bảohiểm, trong đó, nêu ra những qui định chung về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểmđược phân loại thành: hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợpđồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảohiểm cũng được quy định như : doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu phí bảo hiểm theothỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, yêu cầu bên bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thựcthông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm…; có nghĩa vụ giảithích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụcủa bên mua bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thườngcho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm… Ngoài ra, Luật kinh doanh bảohiểm cũng quy định các điều kiện thành lập và hoạt động, phạm vi hoạt động của cácdoanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài…

- Luật hàng hải 2005:

Trong giao lưu thương mại quốc tế, hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hóabằng đường biển là một hoạt động phổ biến, thiết yếu và thường xuyên diễn ra Đặc biệt,

Trang 20

Việt Nam là đất nước có địa hình đường bờ biển dài, biển là một kênh giao thông quantrọng của Việt Nam với nước ngoài Nhưng vận tải đường biển cũng ẩn chứa nhiều rủi rothiên tai, cướp biển… Vì vậy, bảo hiểm hàng hải đóng vai trò quan trọng trong thị trườngbảo hiểm Việt Nam Một phần lớn số hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài được kíkết là hợp đồng bảo hiểm hàng hải Những quan hệ hợp đồng này được điều chỉnh bởichương XVI Luật hàng hải 2005

Theo Luật hàng hải, các qui định chung như khái niệm “hợp đồng bảo hiểm hànghải”, “đối tượng bảo hiểm hàng hải” được nêu ra, qui định về đơn bảo hiểm, giấy chứngnhận bảo hiểm, quyền chấm dứt hợp đồng bảo hiểm,…; qui định về giá trị bảo hiểm, sốtiền bảo hiểm; thực hiện hợp đồng bảo hiểm hàng hải; chuyển quyền đòi bồi thường

- Luật hàng không dân dụng 2006:

Cũng giống như vận tải đường biển, vận tải hàng không cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro

Vì vậy, Luật hàng không dân dụng 2006 cũng có những qui định liên quan đến bảo hiểmcho tính mạng, sức khỏe của hành khách, bảo hiểm đối với hàng hóa, hành lý của hànhkhách Những quan hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có liên quan cũng phảituân thủ các qui định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại của ngườivận chuyển (Điều 163), của người khai thác tàu bay (Điều 176) …

b Luật quốc tế:

Ngoài các qui phạm pháp luật do quốc gia ban hành, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống các điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia) Khoản 2 Điều 2 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 qui định:

“…2 Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”

Hiện nay, hệ thống điều ước quốc tế có sự tác động lớn nhất, điều chỉnh quan hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO Theo đó, kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết: không hạn chế tiêu dùng dịch vụ bảo hiểm ở nước ngoài, cho phép cung cấp bảo hiểm

qua biên giới cho các doanh nghiệp FDI và cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt

Trang 21

Nam, vận tải quốc tế, cho phép thành lập công ty bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài

kể từ khi gia nhập và cho phép thành lập chi nhánh của các Công ty bảo hiểm nước ngoàisau 5 năm gia nhập đối với dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ, không hạn chế về số lượng chi

nhánh trong nước, đối tượng cung cấp dịch vụ… Cũng theo cam kết với WTO, Việt Nam

không hạn chế loại doanh nghiệp bảo hiểm có thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển đi hoặc đến Việt Nam Vì vậy, chủ hàng Việt Nam

có thể kí kết hợp đồng bảo hiểm cho hàng hóa của mình tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hay doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài (dù họ không có hiện diện tại Việt Nam)

Ngoài các cam kết với WTO, các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên như Hiệp định thương mại Việt Mỹ (phụ lục G), Hiệp định khung Asean về dịch vụ… cũng có giá trị điều chỉnh các hợp đồng bảo hiểm tương ứng.

Bên cạnh Điều ước quốc tế, Tập quán quốc tế cũng có thể được thỏa thuận áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài Khoản 3 Điều 2 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định: “3 Các bên tham gia bảo hiểm có thể thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật Việt Nam.” Trên thực tế, hiện nay, những quy định liên quan đến bảo hiểm trong bộ quy tắc Incoterms được thỏa thuận áp dụng một cách phổ biến

c Luật nước ngoài:

Như đã phân tích ở phần trên, vì là một quan hệ tư pháp quốc tế nên hợp đồng quan

hệ quốc tế còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài liên quan Hiện nay, trên thếgiới, sự tác động của pháp luật các nước phải tuân theo một số hệ thuộc cơ bản:

- Luật nhân thân: điều chỉnh đối với hoạt động của các chủ thể bằng luật của nước

mà người đó/ pháp nhân đó mang quốc tịch hoặc nơi người đó cư trú/ pháp nhân đó đăng

kí trụ sở chính

- Luật nơi có vật: áp dụng pháp luật nơi đối tượng của hợp đồng đang tồn tại

- Luật nơi thực hiện hành vi: Luật nơi giao kết hợp đồng, luật nơi vi phạm, nơi thựchiện hợp đồng được áp dụng

Trang 22

- Luật tòa án: Luật của nước có Tòa án có thẩm quyền giải quyết được áp dụng đốivới hợp đồng.

- Luật do các bên kí kết hợp đồng lựa chọn

1.2.3 Nội dung hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:

Nội dung của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các điều khoản

mà các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác địnhnhững quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong hợp đồng Chúng được chia thành 3loại, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên: điều khoản cơ bản, điều khoản thôngthường, điều khoản tùy nghi

- Điều khoản cơ bản: là các điều khoản chủ yếu xác định nội dung của hợp đồng.Các điều khoản cơ bản của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài gồm: đối tượng bảohiểm, số tiền bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều kiện loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, thờihạn bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm, thời hạn, phương thứctrả tiền bảo hiểm…

- Điều khoản thông thường: là những điều khoản được pháp luật quy định trước.Khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận những điều kiện này thì có nghĩa haibên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thực hiện như pháp luật đã quy định Điều khoảnthông thường của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có thể là các quy định vềquyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài, thời hiệukhởi kiện…

- Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng

tự ý lựa chọn và thỏa thuận với nhau để xác định quyền, nghĩa vụ của các bên: điều kiệngia hạn nộp phí, điều kiện chuyển nhượng hợp đồng, điều kiện khôi phục hiệu lực củahợp đồng…

Nội dung của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài bao gồm những nội dung cơbản sau:

a Về chủ thể hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:

Trang 23

Một trong các yếu tố cơ bản cấu thành nên một hợp đồng bảo hiểm là chủ thể củahợp đồng Chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài gồm hai bên: bênnhận bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm.

- Bên nhận bảo hiểm:

Bên nhận bảo hiểm là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm vàcam kết nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình Theo qui định của pháp luật kinh doanh bảohiểm Việt Nam, bên nhận bảo hiểm chỉ có thể là một tổ chức có tư cách pháp nhân vàđược phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm, được gọi là doanh nghiệp bảo hiểm, bao gồmcác loại hình doanh nghiệp bảo hiểm: doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, công ty cổ phầnbảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệpbảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.8 Những doanh nghiệp này dù mang quốc tịchViệt Nam hay quốc tịch nước ngoài đều có thể là chủ thể của hợp đồng bảo hiểm có yếu

tố nước ngoài Tuy nhiên, chủ thể mang yếu tố nước ngoài trong hợp đồng bảo hiểm cóyếu tố nước ngoài thì phải mang quốc tịch nước ngoài

Pháp luật các nước trên thế giới đều quy định về việc xác định quốc tịch của mộtpháp nhân Theo pháp luật của Pháp, của Đức, pháp nhân đặt trung tâm quản lý ở nướcnào thì mang quốc tịch nước đó, không phân biệt nơi đăng kí thành lập hay nơi tiến hànhhoạt động của pháp nhân Còn theo pháp luật của Anh và Mỹ, quốc tịch của pháp nhântùy thuộc vào nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi thành lập, bất kể nơi đặt trụ sở chínhhoặc nơi hoạt động của nó Trong khi đó, pháp luật của Ai Cập, Xi-ri lại quy định ápdụng nguyên tắc quốc tịch tùy thuộc vào nơi trung tâm hoạt động của pháp nhân Phápluật Việt Nam không quy định nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân Nhưng khixem xét vấn đề năng lực dân sự của pháp nhân nước ngoài, khoản 1 Điều 765 của Bộ luậtdân sự 2005 quy định phải căn cứ vào pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập.Như vậy, Bộ luật dân sự Việt Nam đã gián tiếp thừa nhận nguyên tắc xác định quốc tịchcủa pháp nhân tùy thuộc vào nơi thành lập pháp nhân Với tinh thần này, những doanhnghiệp bảo hiểm được thành lập tại Việt Nam, theo pháp luật Việt Nam đều mang quốctịch Việt Nam Kể cả các doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm

8 Điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000.

Trang 24

100% vốn đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam cũng là doanh nghiệp bảo hiểm cóquốc tịch Việt Nam Còn những doanh nghiệp bảo hiểm không mang quốc tịch Việt Namđược coi là doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.

Theo qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, doanh nghiệp bảo hiểm nướcngoài được phép hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức: doanh nghiệp bảo hiểm liêndoanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài Những doanh nghiệp bảo hiểm nàyphải được thành lập, tổ chức và hoạt động theo pháp luật Việt Nam Do đó, chúng mangquốc tịch Việt Nam Như vậy, theo Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, trong các loại hình doanhnghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam thì không bao gồm doanh nghiệp bảohiểm có quốc tịch nước ngoài Tuy nhiên, do nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới và yêu cầu về

sự phù hợp của pháp luật trong nước với các cam kết trong lĩnh vực bảo hiểm khi Việt Namgia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, năm 2010, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 Luật này có hiệu lực từ ngày1/7/2011 Theo đó, Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm bao gồm: công ty cổ phần bảo hiểm,công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, hợp tác xã bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ

9 Trong đó, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Namdưới các hình thức: công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ nước ngoài Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép cung cấpdịch vụ bảo hiểm qua biên giới.10 Trong các chủ thể trên đây, chỉ có doanh nghiệp bảohiểm nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới và chi nhánh doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ nước ngoài là mang quốc tịch nước ngoài

Cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới là việc doanh nghiệp bảo hiểm nướcngoài, không cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam, không cần có hiện diện thương mạitại Việt Nam nhưng vẫn được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Khi doanh nghiệp bảohiểm nước ngoài kí kết hợp đồng bảo hiểm cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới vớidoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì hợp đồng này là hợp đồng có

9 Điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

10 Điều 12 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Trang 25

yếu tố chủ thể là yếu tố nước ngoài Hoặc khi doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài kí kếthợp đồng bảo hiểm cung cấp dịch bảo hiểm qua biên giới với cá nhân là người nướcngoài làm việc tại Việt Nam, mà hợp đồng được ký kết tại Việt Nam hoặc hợp đồng cóđối tượng bảo hiểm tồn tại ở Việt Nam thì hợp đồng này cũng là hợp đồng bảo hiểm cóyếu tố nước ngoài.

Đối với chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài: Theo pháp luậtViệt Nam, chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn

bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền 11

Do vậy, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm được quyền ký kết hợp đồng bảo hiểm theo ủyquyền của doanh nghiệp bảo hiểm Tuy nhiên, căn cứ theo Ðiều 84 Bộ Luật dân sự 2005thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Ðược thành lập hợp pháp;

- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sảnđó;

- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

Do đó, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm không có tư cách pháp nhân Chủ thể của hợpđồng bảo hiểm do chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài kí kết theo

ủy quyền là doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, mang quốc tịch nước ngoài Do đó,những hợp đồng bảo hiểm mà chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài

kí kết tại Việt Nam, hoặc kí kết với cá nhân, pháp nhân có quốc tịch Việt Nam, hoặcđược kí kết để bảo hiểm cho tài sản tại Việt Nam đều là những hợp đồng bảo hiểm có yếu

tố chủ thể là yếu tố nước ngoài

Như vậy, bên nhận bảo hiểm – một bên chủ thể của hợp đồng bảo hiểm có yếu tốnước ngoài có thể là doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hoặc doanh nghiệp bảo hiểm nướcngoài Trong đó, chủ thể mang yếu tố nước ngoài có thể là doanh nghiệp bảo hiểm nướcngoài trong hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới hoặc doanh nghiệp bảo

11 Điều 37 Luật doanh nghiệp 2005.

Ngày đăng: 21/05/2015, 16:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết cấu thị trường bảo hiểm giao đoạn 1993-2005. - luận văn chuyên ngành bảo hiểm Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài. Thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 1 Kết cấu thị trường bảo hiểm giao đoạn 1993-2005 (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w