MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1.1Khái lược sự hình thành và phát triển của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài: Bảo hiểm là
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng em Các kết quảnêu trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác Các số liệutrích dẫn và ví dụ trong luận văn đảm bảo tính chính xác tin cậy và trung thực Em
đã hoàn thành tất cả các môn học theo qui định của Khoa Luật – Viện Đại học Mở
Người cam đoan
Cao Thị Kim Anh
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
PGS TS: Nguyễn Trung Tín
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo,Phó Giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Trung Tín đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quátrình viết khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Luật, chuyên ngànhLuật quốc tế, Viện Đại học Mở Hà Nội đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thứccho em trong 4 năm học tập Vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập lànền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận này
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 3
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 3
1.1.1 Khái lược sự hình thành và phát triển của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài 3
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài: 6
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài: 8
1.2 NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 12
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài 12
1.2.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài: 13
1.2.3 Nội dung hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài: 17
1.2.4 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài: 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 29
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 29
2.2 MỘT SỐ THỰC TRẠNG VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 31
KẾT LUẬN CHUNG 41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Kết cấu thị trường bảo hiểm giao đoạn 1993-2005 29Biểu 1: Chi tiêu bảo hiểm đầu người 30Biểu 2: tổng số tiền đầu tư của ngành bảo hiểm 31
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài:
Trong cuộc sống luôn tồn tại nhiều rủi ro mà con người khó có thể phòngtránh được như rủi ro về thiên tai, bệnh tật,… Một trong những biện pháp chia sẻrủi ro mà con người tìm đến là bảo hiểm
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động bảo hiểm không còn bó hẹptrong mỗi quốc gia Ngày càng nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư vàoViệt Nam, cung cấp đa dạng các sản phẩm bảo hiểm Nhiều doanh nghiệp bảo hiểmViệt Nam có nhu cầu vươn ra thị trường bảo hiểm các nước trong khu vực, cũngnhư thế giới Những hoạt động này đều là những hoạt động bảo hiểm có yếu tốnước ngoài Hầu hết chúng được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm có yếu tốnước ngoài
Sự ra đời của bảo hiểm gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa.Trong đời sống và sản xuất, rủi ro luôn là nguy cơ tiềm ẩn thường xuất hiện và đưacon người vào trạng thái bất ổn về tài chính Bảo hiểm là một ngành dịch vụ tàichính nhằm khắc phục tình trạng trên cho người đã tham gia bảo hiểm trên cơ sởhuy động số đông cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm để xây dựng quỹ bảo hiểm.Bằng quỹ bảo hiểm này có thế bù đắp một phần nào thiệt hại do rủi ro gây ra đối vớingười tham gia bảo hiểm Do đó, bảo hiểm là một biện pháp hữu hiệu và chắc chắn
để góp phần khắc phục hậu quả về tài chính do rủi ro mang đến, bình ổn cuộc sống,đem lại sự yên tâm cho những người tham gia bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là những thỏa thuận có tính đặc thù
và chịu sự điều chỉnh phức tạp của pháp luật Hơn nữa, hiện nay, chưa có một vănbản pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội này Vì vậy, việc áp dụng
pháp luật trở nên khó khăn Với những lý do đó, em đã lựa chọn đề tài “ Những
vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài” làm đề tài khóa luận.
2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:
Với đề tài này, khóa luận tập trung nghiên cứu về hợp đồng bảo hiểm có yếu
tố nước ngoài trên cơ sở xem xét các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000,
Bộ luật dân sự 2005, các Điều ước quốc tế và các văn bản có liên quan khác Trên
cơ sở đó, khóa luận đưa ra những đánh giá sơ bộ về những quy định về hợp đồngbảo hiểm có yếu tố nước ngoài, qua đó, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện
hệ thống pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm có yếu
Trang 6tố nước ngoài nói riêng.
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trên nền tảng phươngpháp luận đó, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp phân tích -tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích lịch sử
4 Bố cục và nội dung cơ bản:
Ngoài phần Lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu củakhóa luận được triển khai theo 2 chương sau:
- Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài vàpháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nướcngoài
Trang 7CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1.1Khái lược sự hình thành và phát triển của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Bảo hiểm là một quan hệ xã hội giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người muabảo hiểm được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểmchấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho ngườiđược bảo hiểm hoặc trả tiền cho người thụ hưởng những tổn thất trong phạm vi bảohiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, từ số tiền mà những người mua bảo hiểm đóngphí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm
Bảo hiểm có yếu tố nước ngoài góp mặt trên thị trường Việt Nam ngay từnhững ngày đầu tiên của thị trường bằng sự tham gia của các công ty bảo hiểm củaPháp và Mỹ Cho tới nay, trên thị trường Việt Nam mở cửa, bảo hiểm có yếu tốnước ngoài đã có nhiều phát triển
Sau kháng chiến chống Pháp, tại thị trường miền Bắc, chỉ có duy nhất một đại
lý cho công ty bảo hiểm nhân dân Trung Quốc (tiền thân của Bảo Việt ngày nay).Thị trường bảo hiểm miền Nam dưới thời Mỹ - Ngụy phát triển hơn thị trường miềnBắc với sự hoạt động của hơn 50 doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau và hầu hết làcác doanh nghiệp nước ngoài Bằng Quyết định số 176/CP ngày 17/12/1964 củaThủ tướng Chính phủ, công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt)
ra đời và đi vào hoạt động, với hoạt động chủ yếu là tiến hành các hoạt động bảohiểm mang tính đối ngoại: bảo hiểm Nhà nước về hàng hóa vận chuyển bằng đườngbiển và đội tàu biển của Việt Nam Thời gian này, Bảo Việt giữ thế độc quyền trênthị trường bảo hiểm Việt Nam
Tiếp theo đó, Nghị định 100/CP ngày 19/12/1993 của Chính Phủ quy định vềkinh doanh bảo hiểm ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành một thịtrường bảo hiểm hoàn chỉnh ở Việt Nam Nghị định 100/CP đã quy định rõ về địa vịpháp lý của các doanh nghiệp bảo hiểm, chính thức mở cửa thị trường bảo hiểm chonhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đáng chú ý là cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Từ năm 1993 đến 1999 ngoài Bảo Việt
Trang 8nhà nước đã cấp phép hoạt động cho hàng loạt doanh nghiệp như Bảo Minh,VINARE, Bảo Long, PJICO, PVI, PTI Cùng thời gian này, 3 công ty liên doanhgồm VIA (Bảo Việt và công ty của Nhật), UIC (Bảo Minh và công ty của Nhật) vàcông ty môi giới BV – AON cũng được gia nhập thị trường bảo hiểm Việt Nam.Như vậy, từ thời điểm Nghị định 100/CP ra đời, hàng loạt các doanh nghiệp bảohiểm được cấp phép hoạt động, trong đó sự ra đời của các doanh nghiệp bảo hiểm
có yếu tố nước ngoài, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của bảo hiểm
có yếu tố nước ngoài nói riêng và thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung
Tuy nhiên, Nghị định 100/CP còn quy định chung chung, đặc biệt các vấn đềxung quanh hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài khôngđược đề cập chi tiết, cụ thể Thêm vào đó, Nghị định 100/CP chưa đáp ứng đượcyêu cầu với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm Việt Nam lúc này Luậtkinh doanh bảo hiểm 2000 ra đời nhằm khắc phục những hạn chế đó Một trongnhững nội dung chủ yếu của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 là quy định về hợpđồng bảo hiểm Bên cạnh đó, Luật này còn ghi nhận việc dẫn chiếu áp dụng đến BộLuật dân sự và các quy định khác có liên quan, tạo cơ sở thống nhất cho việc điềuchỉnh quan hệ bảo hiểm, trong đó có hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài Trên
cơ sở pháp lý được hoàn thiện, thị trường bảo hiểm có yếu tố nước ngoài phát triểnmạnh mẽ hơn Trong giai đoạn này, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam Việt Nam đã cấp phép cho 1 công ty bảo hiểm cổ phần ngoài quốcdoanh (Viễn Đông) và 2 công ty phi nhân thọ 100% vốn nước ngoài (Alianz, GroupPama), 4 công ty bảo hiểm nhân thọ (Bảo Minh CMG, Prudential, Manu Life, AIA)
và tiếp tục cấp phép cho các công ty liên doanh khác: Việt Úc, SVI, IAI Nhữngdoanh nghiệp bảo hiểm này tham gia vào thị trường Việt Nam không những giatăng về số lượng mà còn có hiệu quả kinh doanh cao Năm 2004, Công ty PrudentialViệt Nam (doanh nghiệp nước ngoài lớn nhất trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ) cómức lãi 61 tỷ đồng sau 5 năm hoạt động tại Việt Nam
Giai đoạn 2005 – 2006 được coi là bước đệm cho tiến trình hội nhập kinh tếthế giới của Việt Nam cũng như lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm, đón nhận sựtham gia của các nhà đầu tư nước ngoài Nhiều công ty bảo hiểm có vốn đầu tưnước ngoài được cấp phép hoạt động như AIG, QBE, ACE, Liberty, ACE Life,Prevoir, New york Life Trong giai đoạn này, thị trường bảo hiểm nhân thọ ViệtNam bị chi phối bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về cả số lượngdoanh nghiệp lẫn thị phần Trên thị trường bảo hiểm nhân thọ chỉ có duy nhất mộtcông ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là Bảo Việt Nhân Thọ, còn lại là 7 công ty bảohiểm nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài Tính đến hết năm 2005, thị phần của các
Trang 9doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trên thị trường như sau: Doanh nghiệp nhà nước37,5%, công ty liên doanh 3,5%, công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài 59%.1
Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO (2007), theothống kê từ Bộ tài chính, cho tới năm 2008, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 11doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 26 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 1 doanhnghiệp tái bảo hiểm và 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm với tổng số vốn chủ sởhữu gần 18.000 tỷ đồng; trong đó 21 doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài, baogồm: phi nhân thọ có 11 doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài (4 liên doanh),nhân thọ có 10 doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, môi giới bảo hiểm có 4doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.2 Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trườngnhân thọ năm 2010 đạt 13.792 tỉ đồng Cùng với Bảo Việt, Prudential (5.374 tỉ đồng)
và Manulife (1.460 tỉ đồng) là 3 doanh nghiệp dẫn đầu trên thị trường
Những số liệu trên cho thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam có sự phát triểnmạnh mẽ về chất lượng và số lượng doanh nghiệp bảo hiểm Sự phát triển củadoanh nghiệp bảo hiểm cũng đồng nghĩa với việc hàng loạt các hợp đồng bảo hiểmđược kí kết Trên thị trường bảo hiểm nhân thọ, Prudential và Manulife – hai doanhnghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài – luôn là những doanh nghiệp dẫn đầu Tínhđến cuối năm 2009, Prudential chiếm hơn 40% thị phần bảo hiểm nhân thọ ViệtNam Năm 2010, tổng số hợp đồng có hiệu lực đến cuối kì đạt 4.2941.040 hợpđồng Trong đó, Prudential và Manulife là những doanh nghiệp bảo hiểm có nhiềuhợp đồng bảo hiểm tính theo sản phẩm chính: Prudential 1.808.442 hợp đồng vàManulife 342.660 hợp đồng.3
Thêm vào đó, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng là lĩnh vực bảo hiểm cóyếu tố nước ngoài Lịch sử bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có
từ lâu Ngay từ khi thành lập, ngày 15/1/1965, Công ty bảo hiểm Việt Nam nay làTổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đã được giao nhiệm vụ bảo hiểm cho hàng hóaxuất nhập khẩu của nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, hai công tybảo hiểm là INGOSTRACKH của Liên Xô (cũ) và PICC Trung Quốc trong thờigian này cũng tham gia bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu vào nước ta Tuy nhiên chođến nay, hoạt động bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu do các công ty bảo hiểmViệt Nam tiến hành vẫn còn ở mức rất hạn chế, tốc độ tăng trưởng không cao, có
1 Chương trình phát triển Liên hợp quốc Báo cáo nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa thương mại dịch vụ tài chính: ngành bảo hiểm, tr 15.
2Thị trường bảo hiểm 2008: Tăng trưởng trong thách thức, khó khăn
kho-khan/ct-325079
Trang 10http://webbaohiem.net/t%E1%BB%95ng-quan-th%E1%BB%8B-tr/6364-tong-quan-thi-truong-bao-hiem-giai đoạn theo chiều hướng giảm xuống Tính đến cuối năm 2000, các nhà bảo hiểmViệt Nam mới chỉ bảo hiểm được 4,7% kim ngạch hàng xuất khẩu và 23,26% kimngạch hàng nhập khẩu Còn tính đến cuối năm 2010, Kim ngạch hàng hóa nhậpkhẩu được bảo hiểm mới chỉ chiếm khoảng 35% kim ngạch hàng nhập, kim ngạchhàng hóa xuất khẩu được bảo hiểm khoảng 5%.4
Ngoài ra, bảo hiểm có yếu tố nước ngoài còn bao gồm hoạt động bảo hiểm củacác doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài Hoạt động này được bắt đầu
từ năm 2004 với các hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án dầu khí lớntại nước ngoài của công ty bảo hiểm Dầu khí Việt Nam Cho tới nay, doanh nghiệpbảo hiểm này đã ký kết được rất nhiều hợp đồng bảo hiểm cho các đối tác tại nướcngoài với giá trị mỗi hợp đồng lên đến hàng trăm triệu USD Hiện nay, khi thịtrường bảo hiểm trong nước có sự cạnh tranh gay gắt, nhiều doanh nghiệp bảo hiểmViệt Nam đã hướng tới việc khai thác các thị trường bảo hiểm nước ngoài khác nhưLào, Campuchia…5
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có vai trò tích cực trong việc phát triển thịtrường bảo hiểm ở Việt Nam:
- Thứ nhất, bảo hiểm có yếu tố nước ngoài đã làm tăng tính cạnh tranh cho thịtrường bảo hiểm, tạo sức ép cho bảo hiểm trong nước phát triển
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác độngvới nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch
vụ trên thị trường Đặc trưng của nền kinh tế này là sự tự do cạnh tranh Sự ra đời vàphát triển của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có nhiều ý nghĩa trong việc phát triển mộtnền kinh tế thị trường ở nước ta, buộc các doanh nghiệp trong nước phải tăng khả năngcạnh tranh của mình Các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài thâm nhập vào thị trườngViệt Nam đều là các doanh nghiệp có chỉ số năng lực cạnh tranh rất cao như: tiềm lựctài chính dồi dào; nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, chuyên nghiệp; hệthống quản lý rủi ro, công nghệ khoa học, tiên tiến Với những điều kiện thuận lợi nhưvậy, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ cung cấp các dịch vụ bảo hiểm có chấtlượng cao cho thị trường Khi đó, người mua bảo hiểm có nhiều sự lựa chọn hơn.Doanh nghiệp bảo hiểm trong nước nếu không tự nâng cao năng lực của mình, đưa ra
4 nhp-khu-ngoai-tm-vi-ca-dn-&catid=20%3Atin-lien-quan&Itemid=32&lang=en
http://www.vass.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=440%3Abo-him-hang-hoa-xut-5 luu.html
Trang 11http://www.webbaohiem.net/kinh-doanh/4741-bao-hiem-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-khong-chay-theo-trao-thị trường những sản phẩm bảo hiểm tốt cho khách hàng lựa chọn thì sẽ khó có thểcạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài.
- Thứ hai, bảo hiểm nước ngoài đem đến cho thị trường bảo hiểm trong nướcnhiều sản phẩm bảo hiểm mới, làm gia tăng sự lựa chọn cho khách hàng Theothống kê, năm 2007, trên thị trường có trên 700 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ,hơn 100 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được chào bán trên thị trường, thuộc 3 loạihình bảo hiểm là: Bảo hiểm tài sản, Bảo hiểm trách nhiệm dân sự, Bảo hiểm conngười phi nhân thọ Riêng loại hình bảo hiểm nhân thọ, chủng loại sản phẩm cũngluôn được cải tiến để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân Trong đó, các sảnphẩm bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp vùa có tính tiết kiệm vừa có tình rủi ro là sự lựachọn phổ biến của người mua bảo hiểm Năm 2009 là năm bùng nổ sản phẩm bảohiểm mới, 100 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, 50 sản phẩm bảo hiểm nhân thọmới đưa ra thị trường, tạo sự lựa chọn và phục vụ chăm sóc khách hàng ngày mộttốt hơn Những tháng đầu năm 2011, thị trường bảo hiểm sôi động với việc tung rathị trường hàng loạt các gói bảo hiểm mới, lạ để thu hút khách hàng của cả doanhnghiệp bảo hiểm trong nước và nước ngoài Mới đây, Công ty Bảo hiểm Liberty –doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài đã chính thức giới thiệu sảnphẩm bảo hiểm sức khỏe mới mang tên Liberty MediCare dành cho các doanhnghiệp, tổ chức và gia đình tại Việt Nam
- Thứ ba, sự góp mặt của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Namcũng chính là cơ hội cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước học hỏi kinhnghiệm Nếu như đem so sánh với sự phát triển hàng trăm năm của lịch sử bảo hiểmthế giới nói chung và của các tập đoàn bảo hiểm quốc tế nói riêng thì sự hình thành
và phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn quá non trẻ Do vậy, thịtrường bảo hiểm Việt Nam trở thành sân chơi quốc tế cũng là cơ hội cho các doanhnghiệp bảo hiểm trong nước học tập được kinh nghiệm của các doanh nghiệp bảohiểm nước ngoài trong việc phát triển sản phẩm, phát triển kênh phân phối (qua môigiới và đại lý bảo hiểm) kinh nghiệm quản lý rủi ro, sử dụng công nghệ thông tin vàthái độ phục vụ chăm sóc khách hàng
- Thứ tư, đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, đặc biệt là đối với các hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế có sử dụng phương tiện vận tải đường biển thì bảo hiểm
có yếu tố nước ngoài có vai trò quan trọng Phần lớn các hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế có điều khoản thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tếINCOTERMS Nếu hợp đồng này có áp dụng các điều kiện CIF (tiền hàng, bảohiểm và cước) hoặc điều kiện CIP (cước phí bảo hiểm và trả tới) thì việc thực hiện
Trang 12một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đó phải kèm theo việc thực hiện một hợpđồng bảo hiểm cho hàng hóa được vận chuyển Nếu bên có nghĩa vụ trong hợp đồngmua bán hàng hóa không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với việc bảo hiểm hànghóa thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bị vi phạm.
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
a Khái niệm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Bộ luật dân sự 2005, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 cũng như các văn bảnpháp lý có liên quan đều không đưa ra định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm có yếu tốnước ngoài mà chỉ đề cập đến các khái niệm: “hợp đồng bảo hiểm” và “quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài” như sau:
Bộ luật dân sự 2005 có ghi nhận tại Điều 567: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏathuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảohiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiệnbảo hiểm” Còn Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, tại Điều 12, cũng đưa ra kháiniệm: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm, theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệpbảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ngườiđược bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Mặc dù, về hình thức câu chữ khácnhau, nhưng có thể thấy, hai khái niệm này cùng có sự thống nhất về bản chất củahợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận của bên mua bảo hiểm và bên doanh nghiệpbảo hiểm; cùng nêu ra được cơ chế thực hiện hợp đồng bảo hiểm
Tại Điều 758 Bộ Luật dân sự 2005 đã đưa ra khái niệm: “quan hệ dân sự cóyếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơquan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc làcác quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt nam nhưng căn
cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinhtại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”
Trên cơ sở sự tiếp cận trên, có thể hiểu hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nướcngoài là sự thỏa thuận giữa bên bảo hiểm (là doanh nghiệp Việt Nam hoặc doanhnghiệp nước ngoài) và bên mua bảo hiểm (có quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài)theo đó, bên bảo hiểm chấp nhận rủi ro đối với các đối tượng bảo hiểm đang tồn tại
ở Việt Nam hay ở nước ngoài để cam kết trả tiền bảo hiểm cho người được bảohiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra ở Việt Nam hay ở nước ngoài, với điều kiện bênbảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm
b Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Trang 13Hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài trước hết là một loại hợp đồng bảohiểm nên nó mang các đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm, đó là:
- Hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng song vụ:
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà trong đó các bên của hợp đồng đều cónghĩa vụ đối với nhau Quyền lợi của các bên trong hợp đồng phụ thuộc vào việcthực hiện nghĩa vụ của bên kia Trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm vàbên nhận bảo hiểm đều có nghĩa vụ với nhau: bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóngphí bảo hiểm cho bên nhận bảo hiểm Trên cơ sở số tiền phí bảo hiểm nhận được,bên nhận bảo hiểm có nghĩa vụ phải trả một khoản tiền nhất định cho bên được bảohiểm khi rủi ro bảo hiểm xảy ra
- Hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng may rủi:
Tính may rủi của hợp đồng bảo hiểm thể hiện ở chỗ: khi hợp đồng bảo hiểmđược kí kết, bên tham gia bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm.Nhưng chỉ khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, bên nhận bảo hiểm mới phải thực hiệnnghĩa vụ trả tiền cho người thụ hưởng hoặc nghĩa vụ bồi thường cho người đượcbảo hiểm Trong khi đó, sự kiện bảo hiểm có xảy ra hay không là do rủi ro ngẫunhiên, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cả hai bên tham gia bảo hiểm và bênnhận bảo hiểm Vì lí do này mà hợp đồng bảo hiểm được coi là hợp đồng có tínhmay rủi
- Nội dung của hợp đồng bảo hiểm gồm những điều khoản chủ yếu do bên doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo:
Do đặc thù của ngành bảo hiểm, dựa vào khả năng chấp nhận bảo hiểm vànhững đặc điểm kĩ thuật của mình mà trong các mỗi hợp đồng bảo hiểm, doanhnghiệp bảo hiểm cố định những điều kiện cơ bản, quyết định quyền lợi và nghĩa vụcủa hai bên Trên cơ sở đó, bên tham gia bảo hiểm chỉ có thể chấp nhận hay khôngchấp nhận Do vậy, hợp đồng bảo hiểm cũng là một loại hợp đồng soạn sẵn
Tuy nhiên, quan hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là quan hệ tưpháp quốc tế nên hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài còn có những đặc điểmsau:
- Thứ nhất, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là hợp đồng có chứa đựng yếu tố nước ngoài:
Theo lý luận tư pháp quốc tế Việt Nam, yếu tố nước ngoài của một hợp đồngdân sự trong tư pháp quốc tế được thể hiện ở một trong các dấu hiệu: các bên chủthể ký kết hợp đồng có quốc tịch khác nhau; hợp đồng ký kết ở nước ngoài (nước
Trang 14các bên chủ thể không mang quốc tịch hoặc không có trụ sở); đối tượng của hợpđồng là tài sản ở nước ngoài.6 Trong khi đó, theo quy định của pháp luật nước CộngHòa Pháp, sự tham gia của người nước ngoài không là yếu tố quyết định để chorằng có yếu tố nước ngoài Do vậy, khái niệm “yếu tố nước ngoài” theo pháp luậtViệt Nam được hiểu rộng hơn so với pháp luật của Cộng Hòa Pháp.7 Hợp đồng bảohiểm có yếu tố nước ngoài cũng là một hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài Vìvậy, nó cũng chứa đựng các yếu tố nước ngoài như trên.
Chủ thể của hợp đồng có quốc tịch khác nhau:
Trong hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài, chủ thể của hợp đồng có thểlà: bên bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm có quốc tịch nước ngoài; doanh nghiệpbảo hiểm có quốc tịch Việt Nam với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân ViệtNam; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; và tổ chức, cá nhân có quốc tịch nướcngoài Vậy ở đây có thể thấy rằng, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố chủ thể nước ngoài
sẽ là hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa:
+ Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cánhân Việt Nam;
+ Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam với bên mua bảo hiểm là người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài;
+ Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân
có quốc tịch nước ngoài
Đối tượng bảo hiểm tồn tại ở nước ngoài:
Một hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm tồn tại ở nước ngoài cũng làhợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài Ví dụ: một doanh nghiệp Việt Nam thamgia kí kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm X có quốc tịch Việt Namcho một lô hàng đang tồn tại ở Pháp Hợp đồng bảo hiểm này là hợp đồng bảo hiểm
có yếu tố nước ngoài Hoặc: bà A có quốc tịch Việt Nam kí kết hợp đồng bảo hiểmnhân thọ với doanh nghiệp bảo hiểm B có quốc tịch Việt Nam cho con gái của bà A
là C C đang sinh sống tại nước Anh Hợp đồng bảo hiểm này cũng là hợp đồng bảohiểm có đối tượng bảo hiểm ở nước ngoài
Nơi kí kết hợp đồng bảo hiểm ở nước ngoài::
Việc kí kết hợp đồng bảo hiểm chính là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồng bảo
6 Xem thêm Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại Học Luật Hà Nội Chương V Nxb Công an nhân dân ,
2008.
7 Xem thêm Ts Đỗ Văn Đại – PGS Ts Mai Hồng Quỳ (chủ biên), Tư pháp quốc tế Việt Nam., Tr 26, Nxb
Chính trị Quốc gia, 2010.
Trang 15hiểm Nếu việc kí kết diễn ra ở nước ngoài – tức là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồngbảo hiểm phát sinh ở nước ngoài thì hợp đồng này cũng là hợp đồng bảo hiểm cóyếu tố nước ngoài Ví dụ: một hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm củaViệt Nam với một công ty để bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu sang Thái Lan Haidoanh nghiệp này cùng kí kết hợp đồng bảo hiểm ở Thái Lan Đây là hợp đồng bảohiểm có sự kiện làm phát sinh hợp đồng bảo hiểm ở nước ngoài.
- Thứ hai, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài chịu sự điều chỉnh pháp luật phức tạp hơn so với hợp đồng bảo hiểm thông thường:
Hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là một quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài – hay nói cách khác là một quan hệ tư pháp quốc tế Vì thế nó có thểchịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật Đối với hợp đồng bảo hiểm có sựtham gia của nhiểu chủ thể có quốc tịch khác nhau thì trước hết, hợp đồng bảo hiểmnày phải tuân theo sự điều chỉnh pháp luật của nước mà các chủ thể mang quốc tịch.Đối với hợp đồng bảo hiểm được ký kết ở nước ngoài thì luật điều chỉnh hợp đồngkhông chỉ là luật của các bên chủ thể mang quốc tịch mà luật nơi ký kết hợp đồngcũng có thể điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp đồng Ngoài ra, trong trườnghợp các bên có cùng quốc tịch, hợp đồng được ký kết ở nước mà các bên mangquốc tịch nhưng đối tượng của hợp đồng tồn tại ở nước ngoài, thì quyền và nghĩa vụcủa các bên trong hợp đồng này vừa phải chịu sự điều chỉnh của luật của nước mà
họ mang quốc tịch và luật của nước nơi đối tượng bảo hiểm đang tồn tại
Cũng do việc có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật nên vấn
đề xung đột luật được đặt ra khi xem xét hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.Xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luậtcùng tham gia vào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế mà nội dung điều chỉnhtrong mỗi hệ thống pháp luật lại khác nhau
Có hai cách giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tốnước ngoài: đó là phương pháp thực chất hoặc phương pháp xung đột
Phương pháp xung đột được hình thành và xây dựng trên nền tảng hệ thốngcác qui phạm xung đột quốc gia Các quốc gia tự ban hành các qui phạm xung độttrong hệ thống pháp luật nước mình để hướng dẫn chọn luật áp dụng để chủ độngtrong việc điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế trong khi chưa xây dựng đượcđầy đủ các qui phạm thực chất thống nhất Ví dụ: Theo pháp luật Việt Nam, khoản
1 Điều 770 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hình thức của hợp đồng phải tuân theopháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng Trong trường hợp hợp đồng được giaokết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật nước
Trang 16đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước ngoài đóvẫn được công nhận tại Việt Nam.” Như vậy, pháp luật Việt Nam đã dẫn chiếu đếnpháp luật của nước nơi hợp đồng được ký kết để điều chỉnh về hình thức của hợpđồng có yếu tố nước ngoài cũng như hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.Phương pháp thực chất là phương pháp được xây dựng trên cơ sở hệ thống cácqui phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, điều này có ýnghĩa là nó trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng của các bên tham gia Quiphạm thực chất thống nhất có trong các Điều ước quốc tế hay tập quán quốc tế
1.2 NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng bảo hiểm có yếu
tố nước ngoài
Trước hết, phải khẳng định rằng sự tồn tại của hợp đồng bảo hiểm là kết quảtất yếu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm Và sự tồn tại của hợp đồng bảo hiểm cóyếu tố nước ngoài là khách quan và quan trọng trong điều kiện nền kinh tế hội nhậpthế giới hiện nay Hợp đồng bảo hiểm là bằng chứng và sự thể hiện của những thỏathuận giữa bên mua bảo hiểm và bên nhận bảo hiểm Trong xu thế toàn cầu hóa nềnkinh tế thế giới, hoạt động thương mại của các chủ thể cũng không bó hẹp trong thịtrường trong nước mà thường xuyên có sự hợp tác với các chủ thể nước ngoài Dovậy, nhu cầu bảo hiểm cho hàng hóa được vận chuyển từ nước này đến nước khác,bảo hiểm cho các tài sản hiện hữu ở nước ngoài cũng tăng lên Những đối tượngbảo hiểm này chính là yếu tố nước ngoài trong một hợp đồng bảo hiểm Thêm vào
đó, trong nền kinh tế mở cửa của các nước, xuất hiện ngày càng nhiều chi nhánh,văn phòng đại diện của các doanh nghiệp nước ngoài tại nước bản địa do nhu cầu
mở rộng hoạt động kinh doanh của họ Những hợp đồng bảo hiểm được kí kết giữacác doanh nghiệp nước ngoài này với một chủ thể bản địa cũng là hợp đồng bảohiểm có yếu tố nước ngoài Từ những lí do trên, có thể thấy, sự tồn tại phổ biến củahợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài trong hoạt động kinh doanh bảo hiểmngày nay là một tất yếu khách quan
Là một quan hệ phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm và tương đối cótính phức tạp, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cần thiết phải được sự điềuchỉnh của pháp luật Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là tổngthể các qui phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điềuchỉnh quan hệ xã hội hợp đồng bảo hiểm
Trang 17Trên thực tế, việc giao kết hợp đồng bảo hiểm thông qua hợp đồng mẫu dodoanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo Những điều khoản trong hợp đồng không phảibao giờ cũng đầy đủ và có lợi cho người tham gia bảo hiểm Mặt khác, nhiều thuậtngữ trong hợp đồng bảo hiểm còn khó hiểu, điều này gây bất lợi đối với người thamgia bảo hiểm, mà đặc biệt đối với hai chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm có quốctịch khác nhau, ngôn ngữ khác nhau Do vậy, cần thiết phải có các qui định phápluật để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể kí kết hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nướcngoài, đặc biệt đối với bên tham gia bảo hiểm.
Thêm vào đó, hiện nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển sôi động với
sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp nước ngoài thông qua chi nhánh và văn phòngđại diện của mình, quan hệ bảo hiểm có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều và đadạng và phức tạp Vì vậy, để thị trường phát triển bền vững, ổn định, cần phải cókhung pháp lý qui định về điều kiện chủ thể giao kết hợp đồng, nội dung, hình thức,hiệu lực, việc thực hiện và việc xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp hợp đồngbảo hiểm có yếu tố nước ngoài
1.2.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Như đã phân tích ở phần “một số vấn đề cơ bản về bảo hiểm có yếu tố nướcngoài và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài”, hợp đồng bảo hiểm có yếu tốnước ngoài là một quan hệ tư pháp quốc tế, vì thế, nó chịu sự điều chỉnh của nhiều
hệ thống pháp luật: luật trong nước, luật quốc tế và luật nước ngoài Do vậy, việcgiao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng phải tuân theocác qui định của những hệ thống luật trên
a Luật trong nước:
Trong hệ thống Luật quốc gia, các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảohiểm nói chung và điều chỉnh quan hệ hợp đồng bảo hiểm nói riêng bao gồm: Hiếnpháp 1992; Bộ luật dân sự 2005; Luật kinh doanh bảo hiểm 2000; Luật hàng hải2005; Luật hàng không dân dụng 2006
- Hiến pháp 1992:
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia, căn cứ vào các qui định củaHiến pháp mà mỗi ngành luật cụ thể hóa bằng các qui định của mình để tác động tớicác quan hệ trong lĩnh vực mà nó điều chỉnh Trong Hiến pháp nước cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam 1992, Chương II có những qui định liên quan nhiều nhấtđến quan hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Tại Điều 15, Điều 16, Hiến pháp xác định tính chất của nền kinh tế trong giai
Trang 18sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, xác nhận sự bình
đẳng của các hình thức sở hữu: toàn dân, tập thể, tư nhân; cho phép sự hoạt độngcủa các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh
tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước Tổ chức, cá nhân được lựa chọn hìnhthức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy
mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh (Điều 21).Những qui định này là cơ sở chung nhất cho sự tồn tại hợp pháp của các doanhnghiệp bảo hiểm đang tồn tại hiện nay – một bên chủ thể trong quan hệ hợp đồngbảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài nói riêng
Đặc biệt, các qui định tại Điều 22 và Điều 25 của Hiến pháp 1992 khẳng định
sự thừa nhận và cho phép sự hoạt động bình đẳng tại Việt Nam của các tổ chứcnước ngoài; cam kết bảo vệ vốn và tài sản của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Đây
là những cơ sở pháp lý cơ bản và quan trọng nhất cho những thỏa thuận hợp tác củacác bên trong hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
- Bộ luật dân sự 2005:
Bộ luật dân sự 2005, trên cơ sở nền tảng của Hiến pháp, đưa ra những qui địnhđiều chỉnh mọi quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ hợp đồng, hợp đồng bảo hiểm
và quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Mục 7 chương XVII Bộ luật dân sự 2005 nêu ra những qui định chung điềuchỉnh việc giao kết hợp, thực hiện và sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự Các quiđịnh từ Điều 567 đến Điều 580 tại Mục 11 chương XVIII điều chỉnh riêng quan hệhợp đồng bảo hiểm Trong đó, nêu lên khái niệm hợp đồng bảo hiểm, các loại hợpđồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, hình thức hợp đồng bảo hiểm, sự kiện bảohiểm và phí bảo hiểm, các nghĩa vụ cơ bản nhất của các bên giao kết hợp đồng bảohiểm Việc giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng phảituân theo những qui định này
Tại phần thứ bảy, Bộ luật dân sự 2005 đề cập đến quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, những vấn đề chung của các quan
hệ tư pháp quốc tế chủ yếu được điều chỉnh bởi những quy định này Quan hệ hợpđồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng vậy Theo đó, Bộ luật dân sự đưa ra quyđịnh: các quy định của pháp luật Việt nam được áp dụng đối với quan hệ hợp đồngbảo hiểm có yếu tố nước ngoài, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên có quy định khác thì áp dụng Điều ước quốc tế đó Trong trường hợppháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia dẫn chiếu đếnpháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng Các bên chủ thể của
Trang 19hợp đồng bảo hiểm cũng có thể thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quánquốc tế nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật ViệtNam Ngoài ra, Bộ luật dân sự cũng chỉ dẫn việc chọn luật áp dụng để xác địnhnăng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nướcngoài, pháp nhân nước ngoài Đây là quy định quan trọng trong việc xác định mộtchủ thể có đủ điều kiện giao kết hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài haykhông…
- Luật kinh doanh bảo hiểm 2000:
Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 là đạo luật trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, trong đó có quan hệ hợp đồngbảo hiểm có yếu tố nước ngoài
Chương II của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 qui định cụ thể về hợp đồngbảo hiểm, trong đó, nêu ra những qui định chung về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồngbảo hiểm được phân loại thành: hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểmtài sản, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Quyền và nghĩa vụ của các bêntrong hợp đồng bảo hiểm cũng được quy định như : doanh nghiệp bảo hiểm cóquyền thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, yêu cầu bên bảohiểm cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiệnhợp đồng bảo hiểm…; có nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điềukiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, trả tiền bảohiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khixảy ra sự kiện bảo hiểm… Ngoài ra, Luật kinh doanh bảo hiểm cũng quy định cácđiều kiện thành lập và hoạt động, phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp bảohiểm có vốn đầu tư nước ngoài…
- Luật hàng hải 2005:
Trong giao lưu thương mại quốc tế, hoạt động vận chuyển hành khách, hànghóa bằng đường biển là một hoạt động phổ biến, thiết yếu và thường xuyên diễn ra.Đặc biệt, Việt Nam là đất nước có địa hình đường bờ biển dài, biển là một kênhgiao thông quan trọng của Việt Nam với nước ngoài Nhưng vận tải đường biểncũng ẩn chứa nhiều rủi ro thiên tai, cướp biển… Vì vậy, bảo hiểm hàng hải đóng vaitrò quan trọng trong thị trường bảo hiểm Việt Nam Một phần lớn số hợp đồng bảohiểm có yếu tố nước ngoài được kí kết là hợp đồng bảo hiểm hàng hải Những quan
hệ hợp đồng này được điều chỉnh bởi chương XVI Luật hàng hải 2005
Theo Luật hàng hải, các qui định chung như khái niệm “hợp đồng bảo hiểmhàng hải”, “đối tượng bảo hiểm hàng hải” được nêu ra, qui định về đơn bảo hiểm,
Trang 20giấy chứng nhận bảo hiểm, quyền chấm dứt hợp đồng bảo hiểm,…; qui định về giátrị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm; thực hiện hợp đồng bảo hiểm hàng hải; chuyểnquyền đòi bồi thường.
- Luật hàng không dân dụng 2006:
Cũng giống như vận tải đường biển, vận tải hàng không cũng tiềm ẩn nhiều rủi
ro Vì vậy, Luật hàng không dân dụng 2006 cũng có những qui định liên quan đếnbảo hiểm cho tính mạng, sức khỏe của hành khách, bảo hiểm đối với hàng hóa,hành lý của hành khách Những quan hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
có liên quan cũng phải tuân thủ các qui định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm bồithường thiệt hại của người vận chuyển (Điều 163), của người khai thác tàu bay(Điều 176) …
b Luật quốc tế:
Ngoài các qui phạm pháp luật do quốc gia ban hành, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống các điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia) Khoản 2 Điều 2 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 qui định:
“…2 Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”
Hiện nay, hệ thống điều ước quốc tế có sự tác động lớn nhất, điều chỉnh quan
hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO Theo đó, kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết: không hạn chế tiêu dùng dịch vụ bảo hiểm ở nước ngoài, cho phép cung
cấp bảo hiểm qua biên giới cho các doanh nghiệp FDI và cá nhân người nước ngoàilàm việc tại Việt Nam, vận tải quốc tế, cho phép thành lập công ty bảo hiểm 100%vốn đầu tư nước ngoài kể từ khi gia nhập và cho phép thành lập chi nhánh của cácCông ty bảo hiểm nước ngoài sau 5 năm gia nhập đối với dịch vụ bảo hiểm phinhân thọ, không hạn chế về số lượng chi nhánh trong nước, đối tượng cung cấp dịch
vụ… Cũng theo cam kết với WTO, Việt Nam không hạn chế loại doanh nghiệp bảo hiểm có thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển đi hoặc đến Việt Nam Vì vậy, chủ hàng Việt Nam có thể kí kết hợp đồng bảo hiểm cho hàng hóa của mình tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hay doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài (dù họ không có hiện diện tại Việt Nam)
Ngoài các cam kết với WTO, các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên như Hiệp định thương mại Việt Mỹ (phụ lục G), Hiệp định khung Asean về
Trang 21dịch vụ… cũng có giá trị điều chỉnh các hợp đồng bảo hiểm tương ứng.
Bên cạnh Điều ước quốc tế, Tập quán quốc tế cũng có thể được thỏa thuận áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài Khoản 3 Điều 2 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định: “3 Các bên tham gia bảo hiểm có thể thỏa thuận
áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật Việt Nam.” Trên thực tế, hiện nay, những quy định liên quan đến bảo hiểm trong bộ quy tắc Incoterms được thỏa thuận áp dụng một cách phổ biến
c Luật nước ngoài:
Như đã phân tích ở phần trên, vì là một quan hệ tư pháp quốc tế nên hợp đồngquan hệ quốc tế còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài liên quan Hiệnnay, trên thế giới, sự tác động của pháp luật các nước phải tuân theo một số hệthuộc cơ bản:
- Luật nhân thân: điều chỉnh đối với hoạt động của các chủ thể bằng luật củanước mà người đó/ pháp nhân đó mang quốc tịch hoặc nơi người đó cư trú/ phápnhân đó đăng kí trụ sở chính
- Luật nơi có vật: áp dụng pháp luật nơi đối tượng của hợp đồng đang tồn tại
- Luật nơi thực hiện hành vi: Luật nơi giao kết hợp đồng, luật nơi vi phạm, nơithực hiện hợp đồng được áp dụng
- Luật tòa án: Luật của nước có Tòa án có thẩm quyền giải quyết được áp dụngđối với hợp đồng
- Luật do các bên kí kết hợp đồng lựa chọn
1.2.3 Nội dung hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các điềukhoản mà các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đóxác định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong hợp đồng Chúng đượcchia thành 3 loại, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên: điều khoản cơ bản, điềukhoản thông thường, điều khoản tùy nghi
- Điều khoản cơ bản: là các điều khoản chủ yếu xác định nội dung của hợpđồng Các điều khoản cơ bản của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài gồm: đốitượng bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều kiện loại trừ tráchnhiệm bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảohiểm, thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm…
- Điều khoản thông thường: là những điều khoản được pháp luật quy địnhtrước Khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận những điều kiện này thì có
Trang 22nghĩa hai bên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thực hiện như pháp luật đã quyđịnh Điều khoản thông thường của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có thể
là các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm có yếu
tố nước ngoài, thời hiệu khởi kiện…
- Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợpđồng tự ý lựa chọn và thỏa thuận với nhau để xác định quyền, nghĩa vụ của các bên:điều kiện gia hạn nộp phí, điều kiện chuyển nhượng hợp đồng, điều kiện khôi phụchiệu lực của hợp đồng…
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài bao gồm những nộidung cơ bản sau:
a Về chủ thể hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Một trong các yếu tố cơ bản cấu thành nên một hợp đồng bảo hiểm là chủ thểcủa hợp đồng Chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài gồm haibên: bên nhận bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm
- Bên nhận bảo hiểm:
Bên nhận bảo hiểm là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm
và cam kết nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình Theo qui định của pháp luật kinhdoanh bảo hiểm Việt Nam, bên nhận bảo hiểm chỉ có thể là một tổ chức có tư cáchpháp nhân và được phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm, được gọi là doanh nghiệpbảo hiểm, bao gồm các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm: doanh nghiệp bảo hiểmnhà nước, công ty cổ phần bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảohiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.8 Nhữngdoanh nghiệp này dù mang quốc tịch Việt Nam hay quốc tịch nước ngoài đều có thể
là chủ thể của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, chủ thể mangyếu tố nước ngoài trong hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài thì phải mangquốc tịch nước ngoài
Pháp luật các nước trên thế giới đều quy định về việc xác định quốc tịch củamột pháp nhân Theo pháp luật của Pháp, của Đức, pháp nhân đặt trung tâm quản lý
ở nước nào thì mang quốc tịch nước đó, không phân biệt nơi đăng kí thành lập haynơi tiến hành hoạt động của pháp nhân Còn theo pháp luật của Anh và Mỹ, quốctịch của pháp nhân tùy thuộc vào nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi thành lập,bất kể nơi đặt trụ sở chính hoặc nơi hoạt động của nó Trong khi đó, pháp luật của
Ai Cập, Xi-ri lại quy định áp dụng nguyên tắc quốc tịch tùy thuộc vào nơi trung tâmhoạt động của pháp nhân Pháp luật Việt Nam không quy định nguyên tắc xác định
8 Điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000.
Trang 23quốc tịch của pháp nhân Nhưng khi xem xét vấn đề năng lực dân sự của pháp nhânnước ngoài, khoản 1 Điều 765 của Bộ luật dân sự 2005 quy định phải căn cứ vàopháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập Như vậy, Bộ luật dân sự Việt Nam
đã gián tiếp thừa nhận nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân tùy thuộc vàonơi thành lập pháp nhân Với tinh thần này, những doanh nghiệp bảo hiểm đượcthành lập tại Việt Nam, theo pháp luật Việt Nam đều mang quốc tịch Việt Nam Kể
cả các doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tưnước ngoài thành lập tại Việt Nam cũng là doanh nghiệp bảo hiểm có quốc tịch ViệtNam Còn những doanh nghiệp bảo hiểm không mang quốc tịch Việt Nam được coi
là doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài
Theo qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, doanh nghiệp bảo hiểmnước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức: doanh nghiệp bảohiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài Những doanh nghiệpbảo hiểm này phải được thành lập, tổ chức và hoạt động theo pháp luật Việt Nam Do
đó, chúng mang quốc tịch Việt Nam Như vậy, theo Luật kinh doanh bảo hiểm 2000,trong các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam thì khôngbao gồm doanh nghiệp bảo hiểm có quốc tịch nước ngoài Tuy nhiên, do nhu cầu hộinhập kinh tế thế giới và yêu cầu về sự phù hợp của pháp luật trong nước với các cam kếttrong lĩnh vực bảo hiểm khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, năm
2010, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinhdoanh bảo hiểm 2000 Luật này có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 Theo đó, Các tổ chứckinh doanh bảo hiểm bao gồm: công ty cổ phần bảo hiểm, công ty trách nhiệm hữuhạn bảo hiểm, hợp tác xã bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ 9 Trong đó, doanhnghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam dưới các hìnhthức: công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ nước ngoài Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép cung cấp dịch
vụ bảo hiểm qua biên giới.10 Trong các chủ thể trên đây, chỉ có doanh nghiệp bảohiểm nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới và chi nhánh doanhnghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài là mang quốc tịch nước ngoài
Cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới là việc doanh nghiệp bảo hiểm nướcngoài, không cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam, không cần có hiện diện thươngmại tại Việt Nam nhưng vẫn được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Khidoanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài kí kết hợp đồng bảo hiểm cung cấp dịch vụ bảo
9 Điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000