MỤC LỤC TrangMỞ ĐẦU1Chơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ PHƠNG HỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM 101.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam 101.2. Vai trò và tiêu chí đánh giá pháp luật cán bộ, công chức 191.3. Pháp luật cán bộ, công chức của một số nớc trên thế giới và những thành tựu có thể vận dụng đợc ở Việt Nam 29Chơng 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN, THỰC TRẠNG VÀ PHƠNG HỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM 492.1. Quá trình phát triển của pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam 492.2. Đánh giá thực trạng pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay762.3. Quan điểm và phơng hớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay84KẾT LUẬN101DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO103
Trang 1Mục lục
Trang
Chơng 1: những vấn đề lý luận về quá trình phát triển
và phơng hớng hoàn thiện pháp luật cán bộ,
1.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam 101.2 Vai trò và tiêu chí đánh giá pháp luật cán bộ, công chức 191.3 Pháp luật cán bộ, công chức của một số nớc trên thế giới và
những thành tựu có thể vận dụng đợc ở Việt Nam 29
2.3 Quan điểm và phơng hớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật cán
Trang 2Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n
UBND : Uû ban nh©n d©n
UBTVQH : Uû ban Thêng vô Quèc héi
VBQPPL : V¨n b¶n quy ph¹m ph¸p luËt XHCN : X· héi chñ nghÜa
Trang 3Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những vấn đề cơ bản và cấp bách đang đợc Đảng và Nhà nớc
ta đặc biệt quan tâm trong công cuộc đổi mới hiện nay đó là việc tiếp tục xâydựng và hoàn thiện nhà nớc XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả Trong bộ máy Nhà nớc, cán bộ, công chức phảithật sự là công bộc tận tuỵ phục vụ nhân dân
Pháp luật cán bộ, công chức là một hệ thống những QPPL điều chỉnhcác quan hệ xã hội về cán bộ, công chức Quy định vị trí vai trò của cán bộ,công chức trong bộ máy Nhà nớc; quy định chức, nhiệm vụ, quyền hạn củacán bộ, công chức; quy định việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dỡng cán bộ, côngchức Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ sẽ phát sinh cả quyền lợi vànghĩa vụ từ hai phía là nhà nớc và cán bộ công chức Để điều chỉnh đợc mốiquan hệ này thì phải có pháp luật cán bộ, công chức Do đó, pháp luật cán bộ,công chức có vai trò hết sức quan trọng trong cả quá trình xây dựng, phát triển
và hoàn thiện bộ máy Nhà nớc Đặc biệt, trong quá trình chúng ta đang xâydựng Nhà nớc pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Pháp luật cán bộ,công chức là phơng tiện để thể chế hoá đờng lối, chủ trơng, chính sách của
Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần quan trọng vào việcphát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy Nghị quyết Đại hội đại biều toàn quốclần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:
Xây dựng và ban hành văn bản pháp quy về chế độ công vụ,công chức Định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm thẩm quyền, quyền lợi và
kỷ luật công chức hành chính Quy định các chế độ đào tạo, tuyểndụng, sử dụng công chức Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhànớc vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, vừagiác ngộ về chính trị có tinh thần trách nhiệm, tận tuỵ, công tâm,vừa có đạo đức liêm khiết khi thi hành công vụ [13, tr.132]
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX lại tiếp tục khẳng định:
Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, bảo đảm tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ, công chứctrớc hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về đờng lối, chính sách,
về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nớc Sắp xếp độingũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh tiêu chuẩn Định kỳ
Trang 4kiểm tra, đánh giá chất lợng cán bộ, công chức kịp thời thay thế cán
bộ, công chức yếu kém, thoái hoá Tăng cờng cán bộ, có chế độchính sách đào tạo, bồi dỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phờng, thịtrấn [14, tr.135]
Điều đó khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của pháp luậtCBCC Trên cơ sở định hớng từ các văn bản, nghị quyết của Đảng, nhà nớc ta
đã ban hành nhiều VBQPPL tạo thành một hệ thống pháp luật CBCC mà bớc
đột phá đầu tiên là việc UBTVQH ban hành pháp lệnh CBCC ngày26/02/1998 Sau một thời gian thực hiện pháp lệnh CBCC năm 1998 bộc lộmột số hạn chế trong quá trình quản lý, sử dụng đội ngũ CBCC Do đó,UBTVQH đã ban hành pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2002 và hiện nay làpháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003
Trong suốt cả quá trình từ khi thành lập nớc VNDCCH cho đến hiệnnay pháp luật CBCC nói chung và pháp lệnh CBCC nói riêng đã phần nào bámsát các nhiệm vụ chính trị, đã cụ thể hoá đợc chủ trơng, đờng lối, chính sáchcủa Đảng và nhà nớc về công tác cán bộ
Ngay sau khi thành lập nớc VNDCCH Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắclệnh 76/SL ban hành quy chế công chức Việt Nam mặc dù do hoàn cảnh chiếntranh, quy chế không đợc áp dụng nhng nó vẫn có giá trị cho việc hoàn thiện
hệ thống pháp luật cán bộ, công chức sau này Trong điều kiện đất nớc vừa cóhoà bình, vừa có chiến tranh các VBQPPL về cán bộ, công chức là cơ sở pháp
lý quan trọng để nhà nớc quản lý có hiệu quả đối với đội ngũ cán bộ, côngnhân, viên chức Do đó, pháp luật cán bộ, công chức thời kỳ này có tác dụnghuy động đợc đông đảo cán bộ, công chức tham gia vào công cuộc xây dựngcơ sở vật chất cho CNXH đồng thời đóng góp công sức vào công cuộc giảiphóng miền Nam
Trong hơn 20 năm đổi mới, pháp luật cán bộ, công chức đã có bớc pháttriển nhất định xuất phát từ đờng lối đổi mới và yêu cầu xây dựng Nhà nớcpháp quyền Có thể khẳng định rằng, pháp luật cán bộ, công chức qua các thời
kỳ lịch sử đã theo kịp tiến trình đổi mới toàn diện của đất nớc tạo ra một độingũ cán bộ, công chức cán bộ, công chức ngày càng trởng thành, có phẩmchất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ góp phần vào công cuộc cảicách hành chính và xây dựng BMNN Việt Nam trong sạch vững mạnh
Trang 5Tuy nhiên, pháp luật cán bộ, công chức trong các thời kỳ lịch sử cũng
nh hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế nh: Số lợng các VBQPPL về cán bộ,công chức đợc ban hành khá nhiều nhng hiệu lực pháp lý không cao; pháp luậtcòn thiếu tính ổn định cha tơng xứng với yêu cầu của một nền công vụ hiện
đại; pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 dù đã đợc sửa đổi, bổ sung nhiềulần nhng vẫn còn tản mạn, chắp vá; hệ thống các VBQPPL còn thiếu tính đồng
bộ, nhiều chồng chéo, không thống nhất Vì vậy, pháp luật cán bộ, công chứcqua các giai đoạn lịch sử vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu là cơ sở pháp lý vữngchắc cho việc xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức vừa hồng, vừa chuyên
Mục tiêu chung của chơng trình tổng thể cải cách hành chính nhà nớcgiai đoạn 2001-2010 là: “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch,vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theonguyên tắc của Nhà nớc pháp quyền XHCN dới sự lãnh đạo của Đảng, xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầucủa công cuộc xây dựng, phát triển đất nớc”
Một trong những mục tiêu cụ thể của chơng trình là hoàn thiện hệ thốngthể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nớc Vì thế, việc đổi mới hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chínhsách về cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách nền hànhchính nhà nớc là một yêu cầu cần thiết Mặt khác, chúng ta đang trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế, là thành viên của tổ chức thơng mại Thế giới
đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức ngoài phẩm chất, năng lực chuyên mônnghiệp vụ còn phải có trình độ quản lý nhà nớc, ngoại ngữ, tin học, am hiểuluật pháp và thông lệ quốc tế đợc trang bị kiến thức về hội nhập đòi hỏi phápluật cán bộ, công chức phải đợc hoàn thiện theo xu hớng đó
Xuất phát từ những lý do nh trên mà tác giả đã chọn đề tài “Lịch sử phát triển và phơng hớng hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay”, để nghiên cứu, viết luận văn thạc sĩ luật học.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề pháp luật CBCC, hoàn thiện pháp luật CBCC đã đợc một số tácgiả quan tâm nghiên cứu Trên thực tế hiện nay đã có các công trình khoa họcnghiên cứu và đề cập đến vấn đề này nh sau:
Trang 6- Đổi mới và hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức nhà n“ ớc ở nớc ta’’
của tác giả Nguyễn Văn Tâm, luận án PTS luật học, Học viện Chính trị quốcgia Hồ Chí Minh, 1997
Đây là một công trình khoa học tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận vàthực tiễn của việc đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức nhà nớc nhằmtạo môi trờng pháp lý ổn định cho chế độ công chức nhà nớc phù hợp với tìnhhình, đặc điểm của hệ thống chính trị nớc ta
- “Pháp luật về công chức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, luận văn
thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh, bảo vệ tại Viện Nhà nớc pháp luậtnăm 2005
Đây là một công trình trình bày cơ sở lý luận về công chức, pháp luật vềcông chức Việt Nam; nghiên cứu thực trạng pháp luật công chức Việt Nam;những điểm mạnh và những vấn đề còn tồn tại của pháp luật công chức ViệtNam và tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm từng bớc hoàn thiện phápluật về công chức
- “Hoàn thiện pháp luật về công chức hành chính ở Việt Nam hiện nay”,
luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Minh Triết bảo vệ tại học viện Chính trịguốc gia Hồ Chí Minh, năm 2003
Công trình này đã đa ra một số vấn đề cơ bản có tính lý luận về côngchức hành chính nhà nớc đồng thời có phân tích đánh giá tổng quát thực trạngpháp luật đa ra kiến nghị giải pháp hoàn thiện
- Đổi mới và hoàn thiện chế độ công chức Việt Nam trong giai đoạn“
hiện nay”, của tác giả Trịnh Xuân Toản, luận án thạc sĩ luật học bảo vệ tại
Viện Nghiên cứu nhà nớc và pháp luật, năm 1997
- “Hoàn thiện pháp luật công chức ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay”
của tác giả Mai Lan Hơng, luận án thạc sĩ luật học bảo vệ tại Học viện Hànhchính quốc gia, năm 1999
Công trình đã nêu những nội dung cơ bản về pháp luật công chức nhà
n-ớc, trọng tâm là đánh giá chế độ công chức cũng nh pháp luật công chức hiệnhành trên cơ sở pháp lệnh cán bộ công chức mới ban hành năm 1998 Đồngthời có đề xuất phơng hớng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật côngchức nhà nớc
Ngoài ra còn có các công trình khoa học có liên quan trực tiếp hoặc giántiếp đến vấn đề pháp luật cán bộ công chức và hoàn thiện pháp luật cán bộcông chức
Trang 7- “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của tác giả PGS, TS Nguyễn
Phú Trọng và PGS, TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốcgia, Hà Nội, 2001
- “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức” của TS
Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phơng (đồng chủ biên) Nxb Chính trịguốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005
- “Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay”
của tác giả Tô Tử Hạ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
- “Tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ, công chức nhà nớc” của
Thang Văn Phúc, Tạp chí Cộng sản, số 22+23 - 2003
- Đổi mới, hoàn thiện về cán bộ, công chức nhà n“ ớc” của tác giả Trịnh
Xuân Toản, Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, số 4 - 2003
- “Vài suy nghĩ về công tác quản lý đội ngũ, cán bộ công chức trong bộ máy
nhà nớc” của Ngọc Giang và Phạm Thắng của Tạp chí Quản lý nhà nớc.
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu của Nhà nớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của TS Nguyễn Minh Phơng, Tạp chí Lý luận
chính trị, tháng 1 - 2006
- Đội ngũ cán bộ, công chức ở n“ ớc ta” của tác giả Nguyễn Văn Vinh.
Tạp chí Hoạt động khoa học, số 4 - 2002
- “Về xây dựng cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan hành chính
nhà nớc” của tác giả Vũ Đăng Minh, Tạp chí Quản lý nhà nớc.
- “Hoàn thiện pháp luật về công vụ, công chức và trách nhiệm pháp lý
của công chức” của tác giả Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
2 - 2005
- “Công tác kế hoạch, đào tạo bồi dỡng cán bộ công chức hiện nay” của
tác giả Ngô Thành Can, Tạp chí Tổ chức nhà nớc, số 12 - 2002
- “Những điểm mới của pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp
lệnh cán bộ cán bộ, công chức” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, Tạp chí Quản
lý nhà nớc
- “Những quan điểm cơ bản xây dựng đội ngũ công chức hành chính Nhà
nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của tác giả Chu Văn Thành và Hà Quang
Ngọc, Tạp chí Cộng sản, số 19 - 2003
Trang 8Trên đây là những công trình, tài liệu làm nguồn t liệu tham khảo có giátrị mang tính lý luận và thực tiễn cao Nhng các công trình chỉ dừng lại nghiêncứu ở góc độ lý luận chung các vấn đề về pháp luật cán bộ, công chức; vấn đềxây dựng, hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức mà cha có công trình nào đềcập đến vấn đề về lịch sử pháp triển của pháp luật cán bộ, công chức qua cácthời kỳ lịch sử ở nớc ta Vì vậy, chúng tôi mong muốn việc nghiên cứu đề tàinày góp phần nhỏ bé vào việc tổng kết các giai đoạn lịch sử của pháp luật cán
bộ, công chức để giải quyết những vấn đề mà thực tiễn hiện nay đang đặt ra
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Nhiệm vụ:
Để đạt đợc mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Xem xét giải quyết một số vấn đề có tính lý luận cơ bản về pháp luậtCBCC nh: Khái niệm pháp luật cán bộ, công chức; đặc điểm; những tiêu chí đánhgiá pháp luật cán bộ, công chức qua các giai đoạn; những thành tựu của pháp luậtCBCC trên thế giới Việt Nam có thể tham khảo
- Làm rõ quá trình hình thành phát triển và thực trạng pháp luật cán bộ côngchức qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam
- Đa ra các quan điểm, giải pháp để hoàn thiện pháp luật CBCC ở nớc tahiện nay
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật về cán bộ, công chức là một lĩnh vực rộng, liên ngành, có sựtham gia điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau, nhng trong khuôn khổcủa luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu pháp luật CBCC dới góc độ lý luận lịch
sử nhà nớc và pháp luật
CBCC theo quy định hiện nay có phạm vi rất rộng, không chỉ trong bộmáy hành chính nhà nớc mà cả trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xãhội, trong các tổ chức đảng, đoàn thể Luận văn đề cập đến các vấn đề có liênquan đến CBCC ở tất cả các cơ quan hành chính nhà nớc từ Trung ơng đến cơ
Trang 9sở trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức đảng,
đoàn thể
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài đợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về nhà nớc và pháp luật Cùng với các quan điểmcủa Đảng và nhà nớc ta về xây dựng, hoàn thiện nhà nớc và pháp luật nóichung và pháp luật về CBCC nói riêng
-Các phơng pháp đợc sử dụng trong luận văn là các phơng pháp củatruyền thống của khoa học xã hội: Phơng pháp kết hợp lý luận và thực tiễn,phơng pháp phân tích và tổng hợp, phơng pháp lịch sử cụ thể, phơng pháp hệthống, phơng pháp so sánh, phơng pháp xã hội học
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật CBCC ở Việt Nam
- Khái quát đợc quá trình phát triển của pháp luật CBCC qua các thời kỳcách mạng ở Việt Nam, đồng thời đa ra những nhận xét, đánh giá về hệ thốngpháp luật CBCC hiện hành
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật CBCC Việt Namtrong giai đoạn hiện nay
7 ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lýluận có liên quan đến pháp luật CBCC nh: Phân tích để làm rõ khái niệm phápluật CBCC; phân tích các đặc điểm cũng nh đa ra tiêu chí đánh giá pháp luậtCBCC đồng thời, tổng kết đánh giá pháp luật CBCC qua các thời kỳ lịch sử ởViệt Nam cũng nh pháp luật CBCC hiện hành trên cơ sở đó để đa ra phơng h-ớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật CBCC Kết quả nghiên cứu của luận văn
có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, giúp các cơquan Nhà nớc có thẩm quyền trong việc nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện phápluật CBCC ở Việt Nam hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 2 chơng, 6 tiết
Trang 10Chơng 1
những vấn đề lý luận về quá trình phát triển
và phơng hớng hoàn thiện pháp luật cán bộ,
công chức ở Việt Nam
1.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm pháp luật cán bộ, công chức
Nhà nớc XHCN ra đời đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ CBCC nhằmthực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nớc, đápứng cho sự vận hành của BMNN Cùng với quá trình tổ chức nhân sự là việcban hành các VBQPPL, điều chỉnh các quan hệ công vụ, quy định các vấn đềliên quan đến việc thiết lập các chức vụ, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm củaCBCC và nhiều vấn đề khác có liên quan đến hoạt động công vụ của Nhà nớc
Pháp luật CBCC là hệ thống các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngànhluật khác nhau do các cơ quan nhà nớc ở Trung ơng, ở địa phơng ban hành
Nó là một hệ thống những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội
về CBCC, gọi là quan hệ công vụ, là quan hệ của các cơ quan nhà nớc trongviệc lựa chọn con ngời để uỷ thác, trao quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ vàcông vụ nhân danh nhà nớc Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ thìphát sinh cả quyền lợi và nghĩa vụ từ hai phía là nhà nớc và CBCC Để bảo vệ
đợc mối quan hệ này hay nói cách khác là bảo vệ quyền và nghĩa vụ của haibên thì phải có pháp luật điều chỉnh nó Pháp luật CBCC có vai trò quan trọngtrong quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện chế độ công vụ của Nhà n -
ớc Chúng ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN củadân, do dân, vì dân điều đó đặt ra cho chúng ta những nhiệm vụ to lớn và cấpbách trong tổ chức và hoạt động của BMNN Đó là cải cách nền hành chínhtheo hớng xây dựng một nền hành chính dân chủ trong sạch, vững mạnhchuyên nghiệp, hiện đại hoá hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Muốn thực hiện
đợc điều đó, chúng ta phải xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt
động của đội ngũ CBCC và xây dựng thể chế, cơ chế để quản lý CBCC phùhợp với xu hớng cải cách, hoàn thiện BMNN hiện nay thông qua các quyphạm pháp luật về CBCC
Pháp luật CBCC có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho việc xâydựng, phát triển và vận hành của chế độ CBCC Vì vậy, hầu hết các nớc trênthế giới đều quan tâm, coi trọng việc xây dựng pháp luật CBCC Sự ra đời của
Trang 11Nhà nớc gắn liền với chức năng tổ chức nhân sự, phải có một lớp ngời đặc biệtchuyên làm chức năng quản lý và thực thi quyền lực để duy trì cho hoạt độngcủa BMNN.
Hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau về pháp luật CBCC Có ýkiến cho rằng: Pháp luật CBCC là những chính sách về CBCC của Nhà nớc Cóngời lại cho rằng: Pháp luật CBCC bao gồm các văn kiện có tính quy phạm liênquan đến việc quản lý nhân sự trong chính sách của chế độ công chức nhà nớc[8, tr.41]
Theo một số tác giả các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây do đặc điểm vềchính trị, một số văn bản của Đảng quy định về vấn đề CBCC cũng có hiệu lực
nh các quy phạm pháp luật CBCC mà các cơ quan Đảng, chính quyền nhà nớccấp dới có trách nhiệm phải thi hành trong thực tiễn quản lý nhà nớc
Các quan điểm trên cha đi sâu nghiên cứu ý nghĩa, nội dung, bản chấtcũng nh hình thức của pháp luật CBCC nên cha đa ra đợc quan niệm có tínhkhái quát nhất về vấn đề này
Trên thực tế, đội ngũ CBCC là những con ngời, những nhân vật đợc nhànớc lựa chọn, giao cho họ một nhiệm vụ cụ thể để họ hoàn thành chức năngquản lý nhà nớc Đội ngũ này nhận sự "uỷ thác", "uỷ quyền" của Nhà nớc, họ
đợc lấy danh nghĩa nhà nớc để thi hành chức trách, nhiệm vụ vì thế, mà nảysinh quan hệ xã hội về CBCC nhà nớc
PGS,TS Phạm Hồng Thái đa ra định nghĩa:
Pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức nhà nớc là tổng thể cácquy phạm pháp luật thể hiện dới hình thức văn bản quy phạm phápluật do các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành quy định cácnguyên tắc của chế độ công vụ, trật tự hoạt động công vụ, điềuchỉnh các hoạt động về công vụ, cán bộ, công chức bao gồm: Thiếtlập các chức vụ cán bộ, công chức; các quyền nghĩa vụ của cán bộ,công chức trong quá trình thực thi công vụ; việc tuyển dụng, sửdụng, quản lý, khen thởng, kỷ luật cán bộ, công chức và các vấn đềkhác trong chính sách cán bộ, công chức nhà nớc [51, tr.115]
Do pháp luật CBCC là lĩnh vực pháp luật liên ngành bao gồm các quyphạm pháp luật trong các ngành luật nh: Luật Lao động, Luật Hình sự, LuậtHành chính Trong đó, điều chỉnh các quan hệ xã hội trực tiếp liên quan tớiCBCC ở các vấn đề nh: chế độ làm việc, chế độ nghỉ ngơi, chế độ trợ cấp bảo
Trang 12hiểm xã hội, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ thai sản, chế
độ hu trí, chế độ tử tuất do Luật Lao động điều chỉnh Luật Hình sự thì quy
định một số tội danh chỉ do chủ thể là CBCC thực hiện trong khi thi hành công
vụ và một số quy phạm pháp luật quy định về vấn đề tội phạm chức vụ LuậtDân sự điều chỉnh, quy định về vấn đề bồi thờng thiệt hại do CBCC nhà nớcgây ra Nh vậy, các quy phạm pháp luật về CBCC ở nớc ta nằm trong nhiềungành luật khác nhau
Nh vậy, thực chất pháp luật CBCC là một hệ thống các VBQPPL quy
định những vấn đề sau đây:
- Những quy định về địa vị pháp lý của CBCC: Địa vị pháp lý củaCBCC thể hiện rõ mối quan hệ của Nhà nớc và vị trí của bản thân CBCC thôngqua quyền hạn và trách nhiệm của họ đợc quy định trong pháp luật
Quyền lợi của CBCC là những gì mà nhà nớc quy định cho họ đợc hởng
do hoạt động nhiệm vụ, công vụ của họ mang lại nh: CBCC đợc hởng tiền
l-ơng và các chế độ chính sách khác; Có quyền tham gia các hoạt động chính trị
- xã hội; Đợc tạo điều kiện để học tập nâng cao trình độ Xét ở một góc độnhất định quyền hạn của CBCC bao gồm các quyền gắn với nghĩa vụ củaCBCC, nhng không phải bất cứ quyền và nghĩa vụ nào cũng là quyền hạn màquyền hạn của CBCC chỉ bao hàm những quyền và nghĩa vụ mang tính chấtquyền lực và có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể khác CBCC không đợc tự
ý mở rộng, thu hẹp hay không thực hiện quyền hạn đó mà buộc phải thực hiệnquyền hạn của mình một cách tích cực để hoàn thành tốt nhiệm vụ, công vụ đ-
ợc giao
- Các quy định về điều kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ vềquyền hạn, trách nhiệm của CBCC Đó là các vấn đề về tuyển dụng, bổ nhiệmCBCC, thăng chức, cách chức, thuyên chuyển, điều động CBCC, khen thởng,
kỷ luật, hu trí và sa thải
Đây là những vấn đề rất quan trọng trong pháp luật CBCC vì nó lànhững yếu tố để nhà nớc có thể lựa chọn đợc những CBCC có đủ điều kiện,tiêu chuẩn theo quy định và bố trí họ vào một vị trí công việc thích hợp mà họ
có đủ khả năng để hoàn thành những nhiệm vụ mà nhà nớc giao phó
- Các quy định về tổ chức quản lý, sử dụng CBCC, cơ quan quản líCBCC, các quy định về chế độ đào tạo, bồi dỡng phân loại, xếp hạng, đánh giáCBCC
Trang 13Trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN dới sự lạnh đạocủa Đảng thì vấn đề quản lý sử dụng CBCC là một vấn đề quan trọng nhằmxây dựng đợc một đội ngũ CBCC trong sạch vững mạnh Sử dụng CBCCkhông chỉ là vấn đề có tính kỹ thuật, khoa học mà là cả một nghệ thuật Việc
sử dụng CBCC có hiệu quả đòi hỏi các nhà tổ chức, quản lý phải thực sự sángtạo vì tiềm năng của con ngời, của nhân loại là vô hạn còn khả năng của mỗicá nhân lại là hữu hạn Đây là vấn đề quan trọng trong công tác cán bộ của
Đảng và Nhà nớc ta, việc sử dụng CBCC cần kết hợp hai yếu tố đó là các tiêuchuẩn do nhà nớc quy định và phẩm chất, năng lực của CBCC Ngoài ra, sửdụng CBCC phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa sự đóng góp của CBCC vàcác chế độ vật chất mà họ đợc hởng
- Những quy định về đãi ngộ nh chế độ tiền lơng, phúc lợi, chế độ bảohiểm, những bảo đảm về danh dự nhân phẩm cho CBCC khi thi hành công vụ
Những quy định này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của CBCC
đồng thời thể hiện trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong quản lý sử dụngCBCC tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xử lýCBCC vi phạm kỷ luật và pháp luật trong quá trình thực thi công vụ
- Những quy định về vấn đề truy cứu trách nhiệm đối với CBCC khi họ
có hành vi vi phạm pháp luật
CBCC có nghĩa vụ thực thi công vụ, nhiệm vụ của mình; Phải chịu tráchnhiệm trớc pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình; Cán bộlãnh đạo còn phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ củaCBCC thuộc quyền Đây là cơ sở, phơng tiện để nhân dân tham gia kiểm tragiám sát đối với CBCC khi thi hành công vụ góp phần ngăn chặn kịp thời cáchành vi lạm quyền, tham nhũng
- Các quy định về hiệu lực của VBQPPL và thẩm quyền giải thích, hớngdẫn thi hành pháp luật về CBCC Từ sự phân tích có thể đi tới khái niệm phápluật CBCC nh sau:
Pháp luật CBCC bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành theo trình tự luật định nhằm quy định
vị trí, vai trò, chức năng của cán bộ, công chức; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay.
1.1.2 Đặc điểm của pháp luật cán bộ, công chức
Trang 14Pháp luật CBCC có những đặc điểm chung bắt nguồn từ bản chất củapháp luật và bản chất của nhà nớc, nhng nó có những dấu hiệu đặc trng bị quy
định bởi chính hệ thống những quy phạm pháp luật về CBCC Do đó, phápluật CBCC có các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Pháp luật CBCC ra đời từ rất sớm và không ngừng phát triển theo sự phát triển của xã hội.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta đã đập tan bộmáy thực dân phong kiến và bãi bỏ những trật tự bất công, vô lý đồng thờicũng thực hiện sự tách biệt giữa CBCC với các tầng lớp lao động khác Mặc dùtrong những năm đầu chính quyền còn non trẻ, đứng trớc vô vàn khó khăn nh-
ng quán triệt t tởng của Bác Hồ là “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc’’, Chínhphủ cách mạng lâm thời đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu đểthiết lập một chế độ công chức mới bắt nguồn từ hiến pháp 1946 và các vănbản pháp luật khác Đây chính là cơ sở pháp luật CBCC đầu tiên ở nớc ta và
nó là cơ sở cho việc hình thành các VBQPPL CBCC về sau
Trong giai đoạn “vừa kháng chiến vừa kiến quốc” Chính phủ cũng đãban hành các VBQPPL làm cơ sở để quản lý đội ngũ CBCC Trong giai đoạnnày tuy PLCBCC mới hình thành nhng đã thực sự góp phần làm tăng thêmhiệu lực hoạt động của BMNN, củng cố chính quyền cách mạng, thúc đẩycông cuộc “kháng chiến kiến quốc” đi đến thắng lợi
Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất nớc nhàdới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta tiến hành công cuộc xây dựng CNXHtrên phạm vi cả nớc Nh vậy, khi cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới,pháp luật CBCC đã tạo thành một hệ thống VBQPPL điều chỉnh các nội dung
có liên quan đến: Quyền lợi, trách nhiệm, kỷ luật cho toàn bộ cán bộ, côngnhân, viên chức là lực lợng lao động thờng xuyên Do đó, tạo nên một đội ngũcán bộ, công nhân, viên chức đông đảo phấn đấu cho mục tiêu chiến lợc củacách mạng cả nớc
Có thể khẳng định rằng, pháp luật CBCC ở nớc ta ra đời từ rất sớm, pháttriển cùng thời gian đã có những đổi mới nhất định Qua các thời kỳ khácnhau của lịch sử pháp luật CBCC đã kịp thời thể chế hoá đờng lối, chủ trơngchính sách của Đảng và Nhà nớc phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xãhội của đất nớc Pháp luật CBCC hiện hành đã theo kịp tiến trình đổi mới toàndiện của đất nớc Do đó, pháp luật CBCC thờng đợc sửa đổi, bổ sung thờng
Trang 15xuyên để phù hợp với thực tiễn hoặc theo nhận thức của giai cấp cầm quyềntrong từng thời điểm nhất định.
Thứ hai: Pháp luật CBCC có số lợng QPPL lớn và nằm trong nhiều văn bản khác nhau.
Pháp luật CBCC là lĩnh vực pháp luật liên ngành, do đó các QPPL đợcquy định trong nhiều văn bản nh: Hiến pháp, các luật, bộ luật, pháp lệnh, cácnghị định của Chính phủ trong đó pháp lệnh CBCC, các nghị định của Chính phủ
về CBCC có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với vị trí là những văn bản chung
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là cơ sở cho việc hình thành pháp luậtCBCC Hiến pháp quy định các nguyên tắc có tính chính trị - xã hội thông quaviệc quy định nghĩa vụ quyền lợi cho CBCC cũng nh quy định trình tự pháp lýcủa việc thiết lập các chức vụ của CBCC đề thực hiện các nhiệm vụ, quyềnhạn, chức năng của các cơ quan nhà nớc
Pháp lệnh CBCC là văn bản trực tiếp và quan trọng nhất liên quan tớimọi mặt đời sống của CBCC Pháp lệnh xác định phạm vi CBCC; các quyềnnghĩa vụ của CBCC; các quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đào tạo,bồi dỡng, khen thởng, kỷ luật đối với CBCC…
Các nghị định của Chính phủ điều chỉnh các mặt cụ thể của chế độ công
vụ, hoạt động của CBCC nh: tuyển dụng, sử dụng, quản lý, khen thởng, kỷluật, trách nhiệm bồi thờng vật chất
Ngoài các luật, pháp lệnh và các VBQPPL dới luật khác có tính chấtchuyên ngành quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chức danh côngchức, chế độ công vụ của CBCC trong các ngành, lĩnh vực cụ thể
Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ giúp Chính phủ thực hiện chứcnăng quản lý nhà nớc đối với CBCC, ban hành các văn bản quy định tiêuchuẩn chung các ngạch công chức, viên chức
Các bộ, cơ quan ngang bộ trực tiếp ban hành các VBQPPL quy định chế
độ, trách nhiệm, tiêu chuẩn cụ thể của từng CBCC trong từng ngạch côngchức, viên chức áp dụng trong cơ quan, đơn vị
Nh vậy, pháp luật CBCC nằm trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau
do cơ quan lập pháp, hành pháp, cơ quan nhà nớc ở Trung ơng cũng nh địa
ph-ơng ban hành
Thứ ba: Phạm vi điều chỉnh của pháp luật CBCC rất rộng.
Trang 16Do đặc điểm của hệ thống chính trị nớc ta, hoạt động do các cán bộ,công chức, viên chức thực hiện không chỉ trong bộ máy của nhà nớc mà cảtrong các tổ chức Đảng, trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
và nhiều tổ chức xã hội khác thực hiện Do đó, phạm vi điều chỉnh của phápluật CBCC là rất rộng, điều chỉnh hoạt động của các đối tợng “làm việc công”nghĩa là hoạt động của mọi cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các tổchức cấu thành của hệ thống chính trị phục vụ các công việc chung của xã hội
Pháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003 đã phân định rõ đối tợng
điều chỉnh là cán bộ công chức hành chính, cán bộ viên chức sự nghiệp, bổsung cán bộ chuyên trách cấp xã và quy định thêm đối tợng là công chức dự bịtrong các cơ quan nhà nớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
Thứ t: Pháp luật CBCC có nội dung phong phú, quy định nhiều vấn đề
về CBCC.
Nội dung của pháp luật CBCC bao gồm rất nhiều các quy định có liênquan đến hoạt động công vụ của CBCC nh: Tổ chức, tuyển dụng, sử dụng,quản lý CBCC; quy định về điều kiện phát sinh thay đổi, chấm dứt quan hệ vềquyền nghĩa vụ, trách nhiệm của CBCC; địa vị pháp lý của CBCC; các chế độ
đãi ngộ, khen thởng, kỷ luật, truy cứu trách nhiệm CBCC
Tuyển dụng CBCC đợc coi là nội dung quan trọng, là khâu đầu tiên xáclập mối quan hệ giữa CBCC với nhà nớc Do đó, vấn đề tuyển dụng phải baoquát hết các nội dung: Điều kiện tuyển dụng, hình thức tuyển dụng và nộidung tuyển dụng Thông qua tuyển dụng lựa chọn đợc những ngời có đủ điềukiện, tiêu chuẩn theo quy định để bố trí cho CBCC vào một vị trí công việcthích hợp
Quản lý CBCC: Trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCNdới sự lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi phải đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, sửdụng CBCC nhằm xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, vững mạnh, bảo đảmtính hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nớc trong quản lý mọi mặt của
đời sống xã hội
Nội dung quản lý CBCC đợc quy định tại điều 34 pháp lệnh CBCC năm
2003 và đợc cụ thể hoá tại điều 40 NĐ117/2003/CP của Chính phủ về tuyểndụng, sử dụng và quản lý CBCC
Quyền và nghĩa vụ của CBCC: Đợc quy định trong các văn bản quyphạm pháp luật về CBCC, những quy định về nghĩa vụ, quyền lợi của CBCC là
“chuẩn mực” để điều chỉnh hoạt động công vụ của CBCC Quyền lợi của
Trang 17CBCC thờng đi đôi với nghĩa vụ là yếu tố bảo đảm cho việc thực hiện tốt cácnghĩa vụ Quyền lợi là cơ sở bảo đảm tốt, là điều kiện phơng tiện để CBCChoàn thành các nghĩa vụ đợc giao Quyền lợi của CBCC còn là yếu tố bảo đảmcho CBCC có sự thăng tiến, vơn lên trong công việc vì nó bao gồm cả quyềnlợi về chính trị, tinh thần và vật chất Cùng với quyền lợi CBCC còn thực hiệncác nghĩa vụ trong khi thi hành công vụ Các nghĩa vụ chính là các quy địnhpháp lý mà CBCC phải thực hiện hoặc không đợc thực hiện một hành vi nào
đó Pháp luật CBCC cũng quy định trách nhiệm pháp lý trong trờng hợp CBCClợi dụng chức vụ quyền hạn, lạm quyền
Ngoài những vấn đề trên pháp luật CBCC còn có những nội dung nh:Quy định về bộ máy quản lý CBCC, vấn đề nâng ngạch, chuyển ngạch, quy định
về thời hiệu của các VBQPPL và thẩm quyền giải thích hớng dẫn thi hành
Tóm lại, pháp luật về CBCC điều chỉnh rất nhiều các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình quản lý nhà nớc, quá trình tuyển chọn bổ nhiệm vàcác vấn đề khác có liên quan đến hoạt động của CBCC
1.2 Vai trò và tiêu chí đánh giá pháp luật cán bộ, công chức
1.2.1 Vai trò của pháp luật cán bộ, công chức
Một trong những vấn đề cơ bản và cấp bách đang đợc Đảng và Nhà nớc
ta đặc biệt quan tâm trong công cuộc đổi mới hiện nay đó là việc tiếp tục xâydựng và hoàn thiện nhà nớc XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả Trong BMNN, CBCC phải thật sự là công bộc, tậntụy phục vụ nhân dân Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đãkhẳng định: "Phải xây dựng và ban hành văn bản pháp quy về chế độ công vụ
và công chức" Điều đó khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của phápluật CBCC vì nó là một trong những phơng tiện để tổ chức và quản lý nhà nớc
Đặc biệt, trong điều kiện chúng ta đang xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCNcủa dân, do dân, vì dân, Nhà nớc lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu để điềuhành và quản lý đất nớc Trong đó, CBCC đóng vai trò rất quan trọng là thựcthể và yếu tố cấu thành của BMNN và CBCC trong quá trình hoạt động cũngphải dựa trên cơ sở pháp luật Do đó, pháp luật CBCC đóng vai trò hết sứcquan trọng trong đời sống xã hội ở nớc ta hiện nay
* Pháp luật CBCC là một phơng tiện quan trọng trong tổ chức và hoạt
động quản lý nhà nớc
Trang 18Quản lý nhà nớc là lĩnh vực có quy mô và phạm vi hoạt động rất rộng,bao gồm nhiều mối quan hệ cần điều chỉnh, trong đó quan hệ nhân sự là mộttrong những vấn đề quan trọng Pháp luật CBCC là tổng hợp các quy phạmpháp luật liên quan đến hoạt động công vụ của BMNN
Đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng trong xâydựng, hoàn thiện bộ máy nhà nớc, trong hoạt động công vụ Hiệuquả của bộ máy nhà nớc nói riêng và của toàn bộ hệ thống chính trịnói chung xét đến cùng đợc quyết định bởi phẩm chất, năng lực,hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức Có thể nói đây làvấn đề cực kỳ quan trọng đợc Đảng và Nhà nớc ta quan tâm trongsuốt quá trình từ khi xây dựng nhà nớc dân chủ nhân dân cho đếnnay [41, tr.33]
Các VBQPPL về CBCC quy định phạm vi, quyền hạn, nghĩa vụ và tráchnhiệm của CBCC, điều đó nói lên rằng, pháp luật CBCC đã tạo ra một hànhlang pháp lý để trong phạm vi đó CBCC hoạt động, thực thi nhiệm vụ củamình trên cơ sở pháp luật
Đội ngũ cán bộ, công chức là lực lợng lao động nòng cốt có vaitrò quan trọng trong quản lý và tổ chức của Nhà nớc, nói cách khác,công chức và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc có vai trò to lớntrong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của Nhà nớc pháp quyền xã hộichủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Nhiệm vụ của họ là thực thi công
vụ, thực thi pháp luật, thực thi quyền lực nhà nớc Đồng thời chính
họ đóng vai trò sáng tạo pháp luật, tham mu đề xuất, xây dựng hệthống pháp luật hoàn chỉnh và tiến bộ của Nhà nớc pháp quyền củadân, do dân, vì dân [41, tr.35]
Pháp luật CBCC quy định những việc mà CBCC không đợc làm đồngthời cũng quy định những việc mà CBCC phải làm trong quá trình hoạt độngcông vụ, phục vụ nhà nớc, phục vụ nhân dân, đây là những quy định vừa bảo
vệ đợc quyền, lợi ích hợp pháp của CBCC lại vừa bảo đảm cho các quyết địnhquản lý nhà nớc đợc thực hiện một cách nghiêm chỉnh, phát huy cao độ tráchnhiệm, sự nghiêm minh trong hoạt động của CBCC, bảo đảm hoạt động quản
lý nhà nớc có hiệu lực, hiệu quả
Trang 19* Pháp luật CBCC là phơng tiện quan trọng bảo đảm quyền lực nhà
n-ớc đợc thực hiện, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân:
BMNN là một tổ chức công quyền quản lý mọi mặt đời sống xã hộibằng pháp luật, việc thực thi nhiệm vụ đó đợc trao cho đội ngũ CBCC Trongphạm vi chức năng, nhiệm vụ đợc nhà nớc giao và thông qua hệ thống quyphạm pháp luật CBCC, họ đợc quyền giải quyết mọi công việc theo đúngnhiệm vụ, quyền hạn do luật định Nên pháp luật CBCC bảo đảm cho quyềnlực Nhà nớc đợc thực hiện trong đời sống xã hội CBCC thực hiện nghiêm chỉnh,các mệnh lệnh, quyết định của pháp luật, hoàn thành tốt chức trách của mình làbảo đảm đợc cho quyền lực nhà nớc đợc thực thi trong thực tế
Trong khi thực thi nhiệm vụ, công vụ phải đề cao trách nhiệm trong bảo
vệ quyền tự do, lợi ích chính đáng của công dân, không đợc xâm phạm đếnquyền tự do, lợi ích hợp pháp nào của công dân, phải tôn trọng, lắng nghe ýkiến của nhân dân, không quan liêu cửa quyền, có trách nhiệm Các quy định củapháp luật CBCC cũng nh các quy định của các ngành luật khác đều nhằm bảo
đảm các quyền tự do của con ngời Đội ngũ CBCC thực thi công vụ, thực thipháp luật suy đến cùng là để bảo đảm công bằng, tự do hợp pháp của con ngời
Pháp luật CBCC trao quyền hạn, nghĩa vụ cho CBCC thể hiện ở hai
ph-ơng diện là:
- Quan hệ giữa CBCC với Nhà nớc.
Pháp luật quy định các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, các bảo đảm pháp
lý, các việc CBCC không đợc làm là tạo hành lang pháp lý, điều kiện choCBCC hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình Khi đợc xác định rõ ràngbằng pháp luật các nghĩa vụ của mình thì ngời CBCC có trách nhiệm phải thựchiện các chức trách và bổn phận để bảo vệ danh dự, uy tín của Nhà nớc Quan
hệ giữa CBCC với Nhà nớc thể hiện nghĩa vụ trung thành, phục vụ nhà nớc,phục vụ nhân dân đều đợc quy định trong các văn bản pháp luật có tầm quantrọng Ngợc lại để CBCC hoàn thành tốt nhiệm vụ pháp luật phải bảo đảm cácquyền cho CBCC để họ có thể yên tâm hoàn thành nhiệm vụ của mình Tómlại, trong mối quan hệ này pháp luật có vai trò xác định trách nhiệm củaCBCC đối với nhà nớc
- Quan hệ giữa CBCC với công dân.
Trong Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân, nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nớc, nhân dân là chủ thể
Trang 20tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nớc Khi dân là chủ, dân làmchủ địa vị cao nhất trong xã hội là dân, quyền lực nhà nớc thuộc vềnhân dân thì cán bộ, công chức nhà nớc không còn là phụ mẫu chi dân(cha mẹ của dân) mà là những công bộc của dân [41, tr.50].
Trong mối quan hệ này pháp luật xác định CBCC là công bộc của dân,
có nghĩa vụ tận tụy phục vụ nhân dân CBCC là ngời đại diện cho nhà nớc đợcxác định trên cơ sở pháp luật trực tiếp giải quyết các yêu cầu có liên quan đếnquyền lợi ích hợp pháp của công dân Dù đợc nhà nớc trao quyền, uỷ quyềnnhng CBCC phải tuân thủ pháp luật CBCC khác với những ngời dân bình th-ờng đó là họ chỉ đợc làm những điều mà pháp luật cho phép, còn ngời dân đợclàm tất cả những điều mà pháp luật không cấm Khi giải quyết những vấn đề
có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, CBCC có nghĩa vụtôn trọng, bảo vệ quyền lợi ích, tài sản của nhân dân, không đợc vi phạm đếnquyền tự do và bất cứ lợi ích hợp pháp nào nhân dân tôn trọng lắng nghe ýkiến của nhân dân, không quan liêu, cửa quyền vô trách nhiệm
Quan hệ giữa nhà nớc và CBCC, giữa CBCC với nhân dân là mối quan
hệ giữa ngời phục vụ và ngời đợc phục vụ nhng đó là mối quan hệ bình đẳngCBCC không đứng trên quần chúng, ban phát quyền cho dân Điều chỉnh mốiquan hệ này nói lên vai trò của pháp luật CBCC trong việc bảo vệ lợi ích nhànớc, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân
* Pháp luật CBCC là phơng tiện thể chế hoá đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng về xây dựng đội ngũ CBCC
Nớc ta khác với các nớc trên thế giới, thể chế quản lý CBCC là một bộphận của hệ thống thể chế nhà nớc, là luật pháp hoá các nghị quyết, chiến lợccán bộ cũng nh các quyết định, quy định, hớng dẫn của Đảng về đề bạt, bổnhiệm cán bộ, đánh giá, sử dụng, phân cấp quản lý cán bộ Đây là sự thể hiệnnguyên tắc Đảng thống nhất, lãnh đạo công tác cán bộ, từ việc tuyển dụng sửdụng, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định:
Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức coitrọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tính nghiêm túc, trung thựctrong thi tuyển cán bộ, công chức Đào tạo, bồi dỡng cán bộ, côngchức, trớc hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về đờng lối, chínhsách về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nớc Sắp xếp
Trang 21lại đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn.
Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lợng CBCC, kịp thời thay thế nhữngCBCC yếu kém và thoái hoá Tăng cờng cán bộ cho cơ sở Có chế
độ chính sách đào tạo, bồi dỡng đãi ngộ đối với cán bộ xã, phờng,thị trấn [14, tr.135]
Nh vậy, đờng lối, chính sách của Đảng muốn đi vào thực tiễn cuộc sốngphải thông qua việc nhà nớc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các VBQPPL vềCBCC Việc thể chế hoá các quan điểm, đờng lối, chính sách của Đảng vềcông tác cán bộ tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũ CBCC có phẩmchất và năng lực, thực sự là công bộc của dân, tận tụy phục vụ nhân dân đápứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc và xây dựngNhà nớc pháp quyền XHCN Việt Nam
Trên cơ sở định hớng từ các văn bản, nghị quyết của Đảng, Nhà nớc ta
đã ban hành nhiều VBQPPL Bớc đột phá đầu tiên là việc UBTVQH ban hànhpháp lệnh CBCC ngày 26/2/1998 Đây là sự thể chế hoá đờng lối của Đảngtrong tình hình mới, là cơ sở pháp luật để xây dựng đội ngũ CBCC Sau đóChính phủ ban hành các nghị định điều chỉnh các vấn đề cụ thể Nh vậy,chính hệ thống các VBQPPL CBCC đã đóng góp vai trò trong việc đa các chủtrơng, đờng lối của Đảng vào thực tiễn của cuộc sống, góp phần vào việc nângcao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ, đồng thời góp phần xâydựng đợc một đội ngũ CBCC có phẩm chất, năng lực, có bản lĩnh chính trịvững vàng đủ về số lợng, đồng bộ về cơ cấu
Chúng ta đang tiến hành cải cách nền HCNN cho nên đòi hỏi phải pháthuy tốt vai trò của pháp luật nói chung và pháp luật CBCC nói riêng trong việcduy trì, bảo vệ sự thông suốt của nền hành chính hiện đại Pháp luật CBCCgóp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trongquá trình quản lý nhà nớc và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động công
vụ Pháp luật CBCC tạo hành lang pháp lý cho CBCC thông qua việc quy định
cụ thể trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ cho CBCC thông qua đó góp phầnbảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý nhà nớc
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá pháp luật cán bộ, công chức qua các giai đoạn
Để đánh giá đợc hệ thống pháp luật CBCC qua các giai đoạn cần phải
có những tiêu chí cụ thể Mỗi một tiêu chí đợc xem nh là một căn cứ để xác
Trang 22định, xem xét về tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật CBCC ở những phơngdiện khác nhau Vì pháp luật CBCC là một lĩnh vực pháp luật liên ngành (liênquan tới nhiều ngành luật) nh đã phân tích cho nên, việc xác định các tiêu chí
để đánh giá hệ thống pháp luật CBCC là một việc không dễ dàng, tuy nhiênxin nêu một số tiêu chí để đánh giá pháp luật CBCC nh sau:
* Tính toàn diện:
Để đánh giá hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật CBCC nói riêngtrớc hết phải xem xét hệ thống pháp luật đó đã toàn diện cha Đây có thể coi làtiêu chí đầu tiên để xem xét đánh giá pháp luật CBCC Tính toàn diện nghĩa làtất cả những vấn đề gì có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến CBCC đều phải
đợc quy định trong các VBQPPL Chừng nào mà các vấn đề có liên quan đếnviệc: sử dụng, quản lý CBCC; chế độ chính sách, khen thởng, kỷ luật; tráchnhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn; tiêu chuẩn, chức danh; đào tạo bồi dỡng cònthiếu vắng nghĩa là pháp luật CBCC vẫn còn lỗ hổng cha toàn diện, cha baoquát đợc hết các vấn đề thì khi đó hệ thống pháp luật CBCC vẫn cha đợc coi làhoàn chỉnh và hoàn thiện
Pháp luật CBCC phải xác định rõ đối tợng và phạm vi điều chỉnh, vìvậy, đòi hỏi mọi vấn đề có liên quan đến CBCC phải đợc quy định đầy đủ, rõràng, rành mạch trong một hệ thống VBQPPL thống nhất
Tính toàn diện của hệ thống VBQPPL về CBCC còn thể hiện trong việcban hành đầy đủ, kịp thời các VBQPPL Mặc dù, chúng ta đã có pháp lệnhCBCC nhng còn thiếu các quy định về công vụ, thanh tra công vụ, quy chếhoạt động công vụ, đạo đức công vụ đây là những vấn đề mà các nớc trênthế giới đã xây dựng từ lâu Có thể coi đây là một khiếm khuyết lớn trong xâydựng và hoàn thiện pháp luật CBCC nh vậy dẫn đến tiêu chí về tính toàn diệncha đáp ứng đợc Đem đến hậu quả là hoạt động của CBCC nhà nớc cha đợcbảo đảm về mặt pháp lý và gây ra những khó khăn cho việc xác lập kỷ c -
ơng, trật tự trong cơ quan tổ chức và nhất là trong hoạt động công vụ, giảiquyết công việc của CBCC Khi nào mà trên thực tế hoạt động xây dựngpháp luật cho ra các "sản phẩm" mang tính đồng bộ, bao quát toàn diện cácvấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động công vụ, đến CBCC thìtiêu chí về tính toàn diện của hệ thống pháp luật mới đợc đáp ứng
Trang 23Tóm lại, tiêu chí về tính toàn diện của hệ thống pháp luật CBCC là phải
xây dựng đợc một hệ thống các VBQPPL quy định tơng đối toàn diện các vấn
đề về CBCC
* Tính đồng bộ:
Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật về CBCC đòi hỏi phải xem xét
đánh giá xem giữa các văn bản, các quy định có thống nhất với nhau không,
có mâu thuẫn, trùng lặp, chồng chéo với nhau không Có thể khẳng định đây
là một tiêu chí rất quan trọng vì nó thể hiện trình độ lập pháp của các cơ quan
có thẩm quyền xây dựng và ban hành pháp luật của bất kỳ một quốc gia nào
Tính đồng bộ là một tiêu chí quan trọng và không thể thiếu để đánh giámột hệ thống pháp luật Tính đồng bộ còn thể hiện thông qua việc quy địnhthống nhất trong các VBQPPL mà thờng là đối tợng của nó có liên quan đếnnhiều ngành luật khác nhau, có tính đan xen với nhau mà điển hình là phápluật CBCC Nếu không bảo đảm đợc tính thống nhất, đồng bộ trong cácVBQPPL CBCC sẽ dẫn tới hiện tợng xung đột pháp luật, làm giảm hoặctriệt tiêu hiệu lực pháp lý của các văn bản Bảo đảm tính đồng bộ sẽ gópphần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và điều hành của BMNN và cả hệthống chính trị đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất n ớc.Một hạn chế dễ nhận thấy nhất của hệ thống pháp luật về CBCC nhà n ớc ởnớc ta là hệ thống pháp luật CBCC còn cha đồng bộ, thiếu tính thống nhất,còn có sự mâu thuẫn chồng chéo: "Các chế định cha đợc lợng hoá cụ thểnên trong quá trình triển khai còn nhiều khó khăn, vớng mắc hoặc có nhiềucách vận dụng khác nhau, tạo nên sự không nhất quán khi xem xét, giảiquyết công việc" [39, tr.70]
Do đặc điểm của chế độ chính trị nớc ta và đặc điểm của nền công vụbắt nguồn từ một thực tế khách quan là Đảng lãnh đạo công tác cán bộ, nhà n-
ớc có bộ máy của Nhà nớc nhng tất cả đều đặt dới sự lãnh đạo của Đảng Vìvậy, tiêu chí về tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật CBCC đòi hỏi các cơquan có thẩm quyền của Nhà nớc về sử dụng, quản lý CBCC và cả các cơ quancủa Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội phải có sự thống nhất cao khi định racác chính sách đối với CBCC để tránh hiện tợng có sự chênh lệch, vênh nhautrong việc thực thi chính sách, chế độ đối với CBCC
Tính đồng bộ còn thể hiện ở sự hài hoà nhng rõ ràng, rành mạch giữacác quy định Trên thực tế hệ thống pháp luật CBCC của chúng ta cha quy
Trang 24định rõ giữa nghĩa vụ của CBCC với các quy định về tiêu chuẩn đạo đức củaCBCC khi tham gia hoạt động công vụ mà các quy định này còn nằm tản mạntrong các VBQPPL khác nhau Nh vậy, khi tiêu chí về tính đồng bộ, thốngnhất của hệ thống pháp luật CBCC không đợc đảm bảo sẽ có ảnh hởng khôngnhỏ đến chất lợng cũng nh hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý của nhà nớc
và chất lợng đội ngũ CBCC
* Tính khả thi:
Pháp luật về CBCC phải bảo đảm tính khả thi, tính khả thi ở đây nghĩa
là yêu cầu, đòi hỏi các VBQPPL về CBCC phải phù hợp với thực tiễn cuộcsống, đáp ứng đợc các yêu cầu khách quan của thực tiễn Bởi vì, thực tiễnchính là nơi phản ánh và cũng là nơi để kiểm nghiệm tính đúng đắn của cácchủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng đợc đa vào cuộc sống thông qua hệthống pháp luật của Nhà nớc Vì vậy, có thể coi đây là một tiêu chí quan trọng
để đánh giá xem xét sự điều chỉnh của pháp luật đối với CBCC có phù hợpkhông, có kịp thời thể chế hoá chủ trơng, chính sách của Đảng, phù hợp với
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc hay không
Vì vậy, tiêu chí về tính khả thi của hệ thống pháp luật đòi hỏi pháp luậtphải đợc xây dựng ban hành căn cứ vào thực tiễn khách quan của cuộc sống,phải đặt trong mối liên hệ giữa sự phát triển của kinh tế - xã hội với xây dựngpháp luật Do đó, khi xây dựng, ban hành các VBQPPL phải: nghiên cứu kỹthực tiễn xã hội; các quá trình kinh tế - chính trị của đất nớc; phải xuất phát
từ thực trạng và những đòi hỏi khách quan của việc xây dựng đội ngũCBCC; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm lịch sử, t tởng, vănhoá, truyền thống dân tộc và chủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng về
đổi mới hệ thống chính trị; xuất phát từ thực tiễn xây dựng Nhà n ớc phápquyền XHCN của dân, do dân, vì dân và công cuộc cải cách nền hành chínhnhà nớc
Nhìn chung, pháp luật CBCC của chúng ta qua các thời kỳ lịch sử đãbám sát các nhiệm vụ chính trị của đất nớc do ĐCSVN đề ra, góp phần xâydựng đợc đội ngũ CBCC ngày càng trởng thành, củng cố tăng cờng hiệu lực,hiệu quả của BMNN Hệ thống pháp luật CBCC đã phần nào đáp ứng đợc tiêuchí về tính khả thi, do vậy, đã đi vào thực tế cuộc sống Pháp luật hiện hành đãphần nào phản ánh đợc tiến trình đổi mới toàn diện của đất nớc Việc điềuchỉnh của pháp luật đối với các lĩnh vực có liên quan đến CBCC đều đã gắn
Trang 25với việc thực hiện cải cách nền hành chính nhà nớc Pháp lệnh CBCC là cơ sởpháp lý quan trọng để thực hiện chế độ CBCC trong công cuộc đổi mới; là cơ
sở cho việc xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất đạo đức, trình độ năng lựcgóp phần xây dựng nhà nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam trong sạch, vữngmạnh
Nh vậy, pháp luật nói chung cũng nh pháp luật CBCC nói riêng phảiluôn luôn xuất phát từ thực tiễn, từ đòi hỏi của cuộc sống đ a vào thực tiễnkiểm nghiệm để rút ra "chân lý" đúng đắn và nó không chỉ phù hợp với hiệntại mà còn vợt cả thời gian để thích ứng với tơng lai Điều này đòi hỏi khảnăng của các nhà làm luật là phải nắm bắt đợc bản chất và quy luật của vấn
đề
* Tính khoa học:
Tính khoa học trớc tiên thể hiện ở hình thức và nội dung của hệ thốngVBQPPL CBCC Từ các VBQPPL có giá trị cao đến các văn bản hớng dẫn thihành đều phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và bảo đảm tính lôgíc
Pháp luật CBCC đợc quy định trong nhiều VBQPPL nhng đòi hỏi phải
đợc sắp xếp theo trật tự, thứ bậc và phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nh:Hiến pháp, các luật, bộ luật, pháp lệnh, nghị định, thông t Tất cả cácVBQPPL do các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành đều phải trên cơ sởHiến pháp - là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là cơ sở hình thành phápluật CBCC
Ngoài ra, tính khoa học còn thể hiện ở tính lôgíc nghĩa là khi xây dựng
và ban hành các VBQPPL CBCC phải tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽtheo quy định của pháp luật Chẳng hạn, khi ban hành VBQPPL nói chung,pháp luật CBCC nói riêng các cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm tổchức thảo luận, lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức, ban ngành có liên quan,trờng hợp cần thiết phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân Vấn đề này phải đ-
ợc thực hiện theo luật ban hành VBQPPL và đây cũng là một trong nhữngcách thức để nâng cao chất lợng điều chỉnh của pháp luật CBCC
Tính khoa học còn đòi hỏi trong hoạt động xây dựng pháp luật phải biết
sử dụng tổng hợp các tri thức và phơng pháp khoa học để xác định quan hệnào cần điều chỉnh bằng pháp luật, nhu cầu điều chỉnh của pháp luật nên đặt ởmức độ nào và theo phơng thức nào, có đảm bảo, có hiện thực không, phải dựtrù đợc những hậu quả tích cực, tiêu cực sẽ nh thế nào Đánh giá pháp luậtCBCC của chúng ta trong các giai đoạn lịch sử cũng nh hiện nay chúng ta thấy
Trang 26cha đáp ứng đợc tiêu chí này Một số quy phạm pháp luật khi đặt ra cha tínhhết khả năng thực thi và những hậu quả tiêu cực xảy ra trong thực tế Đâycũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng pháp luật CBCC của chúng ta vừathừa nhng lại thiếu.
Một khía cạnh nữa của tính khoa học trong hệ thống pháp luật CBCC
là tất cả các VBQPPL về CBCC từ thấp đến cao đều đợc xây dựng vớiphong cách biểu đạt ngôn ngữ trong sáng, đại chúng, dễ hiểu và phải đ ợchiểu một cách thống nhất
Tiêu chí về tính khoa học là một tiêu chí cần thiết khi đánh giá hệ thốngpháp luật CBCC ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào và nó phải đợc quán triệt sâusắc trong quá trình đổi mới, hoàn thiện pháp luật CBCC để tránh khuynh hớngchủ quan, tùy tiện, duy ý chí Tiêu chí về tính khoa học có tác dụng khắcphục những nhợc điểm của chủ nghĩa kinh nghiệm, phát huy những thànhtựu của nhiều lĩnh vực khoa học vào quá trình xây dựng luật, làm cho phápluật thực sự phản ánh đợc những nhu cầu khách quan cần điều chỉnh
1.3 pháp luật cán bộ, công chức của một số nớc trên thế giới và những thành tựu có thể vận dụng đợc ở Việt Nam
1.3.1 Pháp luật cán bộ, công chức của một số nớc trên thế giới
Pháp luật về CBCC là một vấn đề hết sức quan trọng đối với hầu hết cácquốc gia trên thế giới Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của BMNN nói chung trênthực tế, phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất, trình độ, năng lực của đội ngũCBCC nhà nớc - những ngời quản lý, điều hành xã hội Cho nên, hầu hết cácnớc đều cố gắng, nỗ lực không ngừng để xây dựng cho mình một đội ngũcông chức chính quy, hiện đại đáp ứng yêu cầu của nền hành chính thôngsuốt, hiệu lực, hiệu quả
Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật CBCC ở ViệtNam, chúng ta phải phát huy những yếu tố truyền thống, dựa vào tình hình
đặc điểm của hệ thống chính trị cũng nh thực tiễn của nớc ta nhng cũng phảikhông ngừng học hỏi những kinh nghiệm, thành tựu của một số nớc trên thế giớilàm cơ sở chọn lọc những nhân tố phù hợp có thể giúp ích cho chúng ta
* Pháp
ở nớc Pháp quyền lực nhà nớc có truyền thống tập quyền vào cấp Trung
ơng, do đó chế độ công chức cũng mang nặng tính tập quyền, công chức địaphơng chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Trung ơng
Trang 27ở Pháp quan niệm công chức gồm những ngời đợc tuyển dụng, bổnhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính côngquyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nớc tổ chức nhng không tínhcác công chức thuộc các Hội đồng địa phơng quản lý.
Công chức Pháp đợc phân thành hai loại: Loại thứ nhất là những côngchức làm việc thờng xuyên trong BMNN, bị chi phối bởi luật công chức - gọi
là nhân viên công chức; loại thứ hai là những công chức bị chi phối bởi luậtlao động, bởi hợp đồng lao động chịu sự điều chỉnh bởi luật t Địa vị của bộphận thứ hai ngoài những quy định của luật lao động họ không đợc hởng sựbảo đảm về mặt chức nghiệp Công chức thuộc cơ quan chính quyền địa ph-
ơng không đợc coi là công chức nhà nớc và không trực thuộc chính quyềnTrung ơng
Nền hành chính Pháp mang nặng tính quan liêu, do đó công chức Phápchỉ chịu trách nhiệm trớc cấp trên, lấy việc tuân mệnh lệnh làm chính, chútrọng hình thức, quy định, trình tự làm việc đúng thủ tục, giấy tờ, sách vở.Công chức của nớc Pháp chia thành 4 loại A, B, C, D
Loại A: là ngời có bằng đại học đợc bổ nhiệm làm lãnh đạo hay chức vụcao
Loại B: là ngời đã qua bậc trung học, họ là những công chức trung cấp
nh thanh tra viên, th ký
Loại C: là công chức có bằng tốt nghiệp sơ cấp nh tốc ký đánh máy.Loại D: là công chức có trình độ văn hoá bậc tiểu học, làm những côngviệc không có chuyên môn
Hàng năm Chính phủ yêu cầu mỗi công chức phải làm bản tự kiểm
điểm để đa ra nhận xét, đánh giá khả năng nghiệp vụ của họ Việc thăng cấpcho công chức chia làm 2 loại: Nâng bậc và đề bạt Có hai hình thức tiến hành
đề bạt chức vụ: Một là: Hình thức lựa chọn, đối với những ngời có thời gian
công tác khá lâu thì lãnh đạo căn cứ vào nhận xét của các công chức trongkhoảng thời gian 3 năm Sau đó Hội đồng hành chính lập hội đồng đề bạt,xem xét trình độ, nghiệp vụ, bậc lơng của từng ngời, Hội đồng đa ra ý kiến đề
xuất lãnh đạo quyết định Hai là: Thi nghiệp vụ do Hội đồng thi sát hạch đánh
giá, phân loại lên danh sách chon ngời xuất sắc để đề bạt trong năm Hìnhthức đề bạt nói chung tơng đơng nh đợc tăng lơng
Vấn đề kỷ luật công chức ở Pháp nếu phạm tội hình sự do toà án hình
sự xét xử, phạm luật hành chính do toà án hành chính xét xử, vi phạm kỷ luậtlao động do ngời bổ nhiệm công chức tiến hành kỷ luật Đối với các tội nh
Trang 28tham nhũng, hối lộ thì có các hình thức kỷ luật nh: cách chức, đình chỉ lĩnhtiền lơng hu, hoặc không đợc ghi tên vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp Côngchức bị xử lý kỷ luật khi: Hành động trái pháp luật hoặc các quy định của nềncông vụ; hành động sai với nhiệm vụ và thẩm quyền hoặc không hoàn thànhnhiệm vụ đợc giao; hành động sai trái không đúng với vai trò và vị trí của ngờicông chức.
* Trung Quốc.
Khái niệm công chức dùng để chỉ những ngời công tác trong các cơquan hành chính nhà nớc các cấp, trừ nhân viên phục vụ Công chức nhà nớcTrung Quốc gồm hai loại:
Công chức lãnh đạo: Là những ngời thừa hành quyền lực hành chínhnhà nớc đợc hình thành theo các trình tự luật định chịu sự điều chỉnh của Hiếnpháp, điều lệ công chức và Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chínhquyền địa phơng các cấp Chức danh lãnh đạo gồm: Thủ tớng quốc vụ viện,Phó Thủ tớng quốc vụ viện; chức trởng phó cấp bộ, cấp tỉnh; chức phó cấp vụ,cấp sở; trởng phó phòng (trong các vụ, sở, huyện); tổ trởng, trởng, phó cấp xã
Công chức nghiệp vụ là những ngời thi hành chế độ thờng nhiệm do cơquan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào điều lệ công chức.Bao gồm: cán sự, chuyên viên tổ trởng, chuyên viên tổ phó, trợ lý chuyên viênnghiên cứu, trợ lý chuyên viên thanh tra, chuyên viên thanh tra Đây là lực l-ợng chiếm đại đa số trong đội ngũ công chức nhà nớc, chịu trách nhiệm chấphành và thực thi các chính sách và pháp luật của Nhà nớc
Trong chơng trình cải cách hành chính ở Trung Quốc, việc tổ chức thituyển công chức ở Trung Quốc đợc áp dụng rộng rãi trong tất cả các cơ quanhành chính Trung Quốc với các yêu cầu cơ bản là công khai, bình đẳng, cạnhtranh và tự do, tạo ra các điều kiện nh nhau để tuyển chọn những ngời phù hợpnhất cho các vị trí công việc nhất là thu hút nhân tài để lựa chọn cán bộ quản
lý ở Trung Quốc triệt để thực hiện việc thay chế độ tuyển dụng suốt đời bằngchế độ hợp đồng có thời hạn Đây là chính sách lớn nhằm thu hút những ngời cónăng lực nâng cao chất lợng đội ngũ công chức hành chính mà không bị áp lực
về vấn đề biên chế Đối với viên chức chuyên môn nh giáo viên, bác sỹ, kỹ s bỏchế độ tuyển dụng theo nguyên tắc chỉ định, thay bằng đánh giá, nhận xét tiêuchuẩn, t cách còn các đơn vị sử dụng tự quyết định việc tuyển dụng thông quachế độ hợp đồng Trung Quốc cũng đang có sáng kiến thí điểm thi tuyển côngkhai đến chức phó tỉnh trởng, đây là chủ trơng đúng đắn chính sách "xã hội hoá"việc tuyển chọn nhân tài vào BMNN
Trang 29Cơ quan quản lý công chức của Trung Quốc có phần giống hệ thốngcác nớc XHCN trớc đây nhng vẫn có nét đặc thù Đó là có hai hệ thống cơquan quản lý gồm: Ban Tổ chức Trung ơng Đảng có vai trò quản lý bao trùmtoàn bộ đội ngũ CBCC; cơ quan của Chính phủ quản lý CBCC theo phạm vi đ-
ợc phân công, phân cấp Riêng cơ quan quản lý cán bộ theo hệ thống Chínhphủ đợc thay đổi bằng cách tái lập bộ nhân sự kể từ sau Đại hội Đảng Cộngsản Trung Quốc lần thứ XIII
Trung Quốc là quốc gia áp dụng biện pháp đánh giá công chức toàndiện, tức là có nhiều ngời cùng tham gia vào hoạt động đánh giá kết quả côngviệc của công chức Ngời giám sát công chức thuộc cấp, đồng nghiệp vàkhách hàng đều đợc yêu cầu đa ra những nhận xét của mình về kết quả côngviệc của từng công chức Biện pháp này cho phép bổ sung thêm những thôngtin có giá trị từ nhiều nguồn khác nhau để việc đánh giá đợc khách quan vàchính xác hơn
ở Trung Quốc ngoại trừ các vi phạm nhỏ bị kỷ luật ở mức độ nh khiểntrách, cảnh cáo công chức khi bị xử phạt kỷ luật đều kèm theo chế tài về tiềnlơng: không tăng lơng theo thang bậc trừ một phần tiền lơng, hạ bậc lơng, cắtlơng trong một thời gian nhất định Trong thời gian bị xử lý hành chính không
* Anh:
Nớc Anh xây dựng chế độ công chức sớm và tơng đối hoàn chỉnh Phápluật công chức của nớc Anh tuyệt đại bộ phận do Chính phủ căn cứ vào đặcquyền của nhà vua quy định bằng lệnh của viện cơ mật để ban bố; đồng thờidựa vào các văn bản bổ sung của Bộ Tài chính và các bộ khác Nhìn chung,các quy định của chế độ công chức Anh không đợc điều chỉnh bằng luật củanghị viện, cho đến những năm gần đây Nghị viện Anh mới thông qua luật về
Trang 30công chức, luật bảo đảm nghề năm 1978, luật tiền lơng bình đẳng, luật bảo vệ
bí mật năm 1970, luật tăng lơng hu trí 1971
Phạm vi công chức theo luật pháp của nớc Anh đợc quy định gồm hai
bộ phận: Những ngời do vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc đợc Uỷ ban dân sựcấp giấy chứng nhận hợp lệ cho phép tham gia công tác ở các cơ quan dân sự;những ngời mà toàn bộ tiền lơng đợc cấp từ ngân sách thống nhất của vơngquốc liên hiệp hoặc từ các khoản đợc Quốc hội thông qua gọi là công chức
Nh vậy, công chức Anh là những ngời thay mặt nhà nớc giải quyết công việc,những ngời không có vị trí công tác nhà nớc đợc pháp luật quy định thì khôngphải là công chức
Trớc năm 1968 công chức của Vơng quốc Anh đợc phân chia thành 6loại: Nhân viên hành chính; nhân viên chấp hành; nhân viên chuyên môn vàkhoa học - kỹ thuật; nhân viên văn phòng; nhân viên trợ lý văn phòng; nhânviên tạp vụ Do chế độ phân loại này cha hợp lý nên năm 1968 ở Anh đã tiếnhành cải cách chế độ công chức Năm 1971 chuyển từ cách phân chia 6 loạithành 10 loại lớn Đó là các tổ: Tổ nhân viên hành chính, tổ học giả kinh tế, tổhọc giả thống kê, tổ quan chức tin tức, tổ nhân viên quản lý th viện và cácloại: loại khoa học, loại chuyên môn kỹ thuật, loại th ký, loại bảo hiểm xã hội
và huấn luyện, pháp luật, cảnh sát, nghiên cứu xử lý t liệu
ở Anh công chức làm việc trong các cơ quan nhà nớc không đợc tham
gia buôn bán, kinh doanh Nếu ngời nào lợi dụng chức quyền tiết lộ cơ mậtcủa nhà nớc sẽ bị kỷ luật rất nghiêm khắc Đặc biệt ở Anh, công chức không
đợc tham gia hoạt động chính trị, không đợc phát biểu ý kiến phê bình chínhsách của Chính phủ
ở Anh, cơ quan nghiên cứu về chế độ tiền lơng của hoạt động công vụ
đã thiết lập các hệ số tiền lơng trong nền công vụ theo các mức tiền thù laocủa khu vực ngoài nhà nớc, tiến hành các cuộc điều tra thờng xuyên về việcchi trả tiền công để xác định các hệ số lơng chính yếu cho mỗi bậc cơ bảntrong hoạt động công vụ sau đó đề nghị tăng lơng cho đội ngũ công chức.Cũng ở Anh, lơng của những công chức cao cấp hàng đầu của nền công vụ docơ quan xem xét các mức lơng cao ấn định
Chính phủ Anh đang chuyển dần theo hớng áp dụng một hệ thống tiềnlơng gắn với việc thực thi nhiệm vụ cho tất cả các công chức Hiện nay, các
Trang 31công chức cao cấp, cán bộ sự nghiệp khoa học và các chuyên viên chuyênngành khác đã đợc hởng lơng theo cơ chế này.
* Đức:
ở Đức luật công chức Cộng hoà Liên bang Đức 1977 quy định: Cáccông chức thuộc Cộng hoà Liên bang Đức đều là những nhân viên làm việctrong các cơ quan nhà nớc, tổ chức văn hoá, nghệ thuật, giáo dục và nghiêncứu khoa học quốc gia, gồm nhân viên các tổ chức công, nhân viên công táctrong các xí nghiệp nhà nớc, các công chức nhà nớc làm việc trong các cơquan Chính phủ, nhân viên lao động công, giáo s đại học, giáo viên trung họchay tiểu học, bác sỹ, hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xe lửa Những công chứcchịu sự chỉ huy, kiểm tra trực tiếp của chính quyền liên bang là công chức liênbang Những công chức phục vụ ở các đoàn thể xã hội, đơn vị xây dựng vậtchất và tài chính theo luật chung trực thuộc Chính phủ Liên bang là công chứcgián tiếp
ở Cộng hoà Liên bang Đức thực hiện chế độ lãnh đạo công chức thốngnhất nhng phân quyền quản lý Pháp luật quy định thống nhất về chế độ côngchức nhng phân quyền quản lý cho các bộ đảm nhiệm Chế độ công chức Đứcquy định tính kỷ luật và hiệu quả rất nghiêm Vì thế, công chức Đức luôn luôngiữ gìn kỷ luật và tìm cách tạo ra hiệu suất công việc cao
ở Đức các cơ quan quản lý nhân sự phải nắm bắt đợc nhiều thông tin vềtính phù hợp của năng lực khả năng và việc thực thi công vụ của công chức
đối với vị trí đảm nhận ý nghĩa của hệ thống đánh giá là để phân biệt đợc khảnăng và chất lợng công việc của từng công chức từ đó có cơ sở cho việc ra cácquyết định nhân sự đợc công khai minh bạch và đợc mọi ngời chấp nhận
Việc đánh giá hoạt động của công chức ở Đức tính theo kết quả đầu ra,theo mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ để phân loại công chức tức làdựa vào sản phẩm do công chức trực tiếp hoặc gián tiếp làm ra ở Cộng hoàLiên bang Đức có một nhóm chuyên đánh giá, thống kê tình hình thực hiệnnhiệm vụ của công chức trong cơ quan giúp lãnh đạo nắm đợc chất lợng độingũ công chức của mình và tối u hoá sự phân công
* Nhật Bản:
Nhật là một nớc điển hình về luật pháp hoá nền công vụ, công chức
Đặc điểm nổi bật của chế độ công chức Nhật Bản là quản lý quy định biên chếrất chặt chẽ Chính phủ Nhật Bản ban hành "lệnh quy định số lợng biên chế cơquan hành chính" để quy định số lợng biên chế hành chính trong cả nớc
Trang 32Những vấn đề cơ bản của chế độ công chức nớc Nhật đều do luật điều chỉnh.Luật công chức nhà nớc năm 1947 xác định những nguyên tắc cơ bản về côngchức nhà nớc thể hiện sự coi trọng dân chủ và hiệu suất của công chức Năm
1950 ban hành luật công chức địa phơng ở Nhật Bản hiện có hơn 30 văn bảnluật, pháp lệnh và quy chế về công chức Chế độ định ngời chặt chẽ là nộidung đặc sắc trong hệ thống công chức Nhật Bản
Theo pháp luật Nhật Bản quy định: Công chức Nhật Bản bao gồm côngchức nhà nớc (làm việc ở Trung ơng) và công chức địa phơng Công chức nhànớc bao gồm những ngời đợc nhận thức trong bộ máy của Chính phủ Trung -
ơng, ngành t pháp, Quốc hội, quân đội, trờng công và bệnh viện quốc lập, xínghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh, đợc lĩnh lơng từ ngân sách nhà nớc.Công chức địa phơng gồm những ngời làm việc và lĩnh lơng từ tài chính địaphơng
Việc tuyển chọn, quản lý công chức do cơ quan có tên là Viện nhân sự
đảm nhận Hệ thống thi tuyển của Nhật đợc coi là hệ thống khách quan chophép tuyển đợc những ứng cử viên giỏi nhất Hàng năm, ở Nhật tổ chức ba kỳthi để tuyển chọn công chức theo 3 loại I, II và III Những ngời trúng tuyểnloại I (cấp cao) sẽ đợc đào tạo để trở thành công chức lãnh đạo trong tơng lai
ở Nhật, nguyên tắc "đối xử bình đẳng" đợc ghi rõ trong Luật công vụ.Nhật Bản là nớc thực hiện việc thi tuyển công khai từ thời Minh Trị Duy Tân(1868-1912) Mục đích của thi tuyển là nhằm chọn nhân tài, xoá chế độ dùngtiền, dùng quyền để mua bán văn bằng, tớc vị Do đó ở Nhật tài năng thực tế
đợc coi trọng chứ không nặng về bằng cấp Các công chức đợc tuyển dụngphải chứng minh đợc khả năng, trình độ của mình đáp ứng đợc những yêu cầu
đề ra đối với những công việc do mình đảm nhiệm
Việc đào tạo bồi dỡng, đề bạt đợc thực hiện có bài bản, kế hoạch đợcthực hiện ở cả hai góc độ tri thức và kinh nghiệm thực tiễn ở Nhật Bản trungtâm bồi dỡng hành chính thuộc cơ quan nhân sự Nhật Bản chủ yếu làm côngtác bồi dỡng (sự nghiệp) công chức, còn việc bổ nhiệm vào ngạch công chứcthì đợc thực hiện ở kỳ thi tuyển hàng năm
Luôn có sự luân chuyển công tác giữa Trung ơng và địa phơng, giữa các
bộ phận khác nhau Mục đích của công tác này là để cho công chức có đợctầm nhìn bao quát phạm vi công việc, xây dựng mối quan hệ công tác để tạo
sự giao tiếp hành chính, phối hợp tốt công việc giữa các đồng nghiệp, giữa các
bộ ở Trung ơng cũng nh ở địa phơng vì lợi ích chung
Trang 33Một ngời giữ một chức vụ ở một đơn vị thờng chỉ 2-3 năm và khôngquá 3-4 năm Đây là cơ chế hạn chế tham nhũng, quan liêu.
Nếu không thăng chức thì phải từ chức và đợc thu xếp làm việc ở một vịtrí khác Đây là một nguyên tắc mà mọi công chức phải tuân thủ Bởi vì, thựcthi công vụ là để phục vụ lợi ích chung chứ không phải vì lợi ích cá nhân ởNhật Bản bộ máy quản lý công chức gồm 3 cơ quan riêng rẽ, Cục điều phốiquản lý (có trách nhiệm báo cáo với Thủ tớng); cơ quan nhân sự quốc gia và
Bộ Tài chính
ở Nhật Bản phạm vi phân loại khá rộng Ngoài 2 ngành: ngoại giao, tpháp ra các chức vị công vụ khác, các công việc mang tính chất kỹ thuật đều
là đối tợng đợc xếp để phân thành 3 loại: Công chức loại I, công chức loại II
và công chức loại III (loại I, II phải có trình độ đại học trở lên) Khi tuyểndụng phải qua một kỳ thi tuyển do cơ quan nhân sự quốc gia Nhật Bản tổ chứchàng năm Cấp bậc của công chức Nhật tơng đối đơn giản, ít bậc và đều đợcpháp luật quy định về hạn ngạch: "Lệnh quy định số lợng nhân viên cơ quanhành chính" Mục tiêu là phát huy đợc đầy đủ tác dụng của mỗi công chức đểhoàn thành nhiệm vụ với biên chế thấp nhng hiệu quả
Đời sống của cán bộ công chức Nhật Bản đợc bảo đảm suốt đời quacác chế độ về nhà cửa, lơng bổng, hu trí Dù trong trờng hợp không thăng tiến
đợc nữa và phải từ chức trớc tuổi về hu thì vẫn đợc nhà nớc thu xếp việc làmsau đó
*Mỹ: Những nhân viên trong ngành hành chính của Chính phủ đợc gọi
chung là công chức Đội ngũ này bao gồm những ngời đợc bổ nhiệm về chínhtrị nh: Bộ trởng, Thứ trởng, ngời đứng đầu bộ máy độc lập và những quanchức khác của ngành hành chính, trợ lý Bộ trởng Đối với những thợng nghị
sỹ, hạ nghị sỹ trong ngành lập pháp và những viên chức làm thuê cho Quốchội, thì không nằm trong thành phần công chức; quan toà trong ngành t phápcũng không phải là hàng ngũ công chức Luật công chức Hoa Kỳ chỉ điềuchỉnh nhân viên không phải là ngời đợc bổ nhiệm về chính trị họ đợc gọi làcông chức chức nghiệp
Chế độ công chức Mỹ luôn coi trọng chức vụ do công chức đảm nhiệm,
đó là những căn cứ để chọn ngời; việc phân loại công chức đợc tiến hành theochức vụ và công việc Đòi hỏi chuyên môn đối với công chức rất cao, việc thi
cử dựa trên nguyên tắc kết hợp kiến thức chung với kiến thức chuyên ngành và
Trang 34kỹ thuật chuyên môn cần cho chức vụ Việc tuyển dụng ở Mỹ thông qua thi
cử cạnh tranh công khai là một trong những hạt nhân của chế độ công trạng.Việc tuyển dụng các công chức cao cấp bao gồm những ngời chuyên nghiệptrong khu vực Chính phủ và cả những ngời đợc tuyển mộ từ bên ngoài
Nớc Mỹ đã thông qua các luật về đào tạo đối với công chức chínhquyền liên bang và chính quyền bang Điển hình về việc tập trung chức năngquản lý đào tạo cho cơ quan nhân sự Trung ơng là Mỹ Văn phòng quản lýnhân sự có một bộ phận đào tạo và phát triển đặt tại các bang để hỗ trợ cho cơquan quản lý liên bang thiết kế các chơng trình đào tạo Mỹ có một chơngtrình liên doanh đào tạo quản lý công chức cấp quốc gia cho các quan chứclãnh đạo nhà nớc dựa trên sáu khoá đào tạo quản lý theo công việc và kiểm tranăng lực Các khoá đào tạo này đợc thực hiện song song với quá trình lãnh
đạo, từ cấp quản lý trực tiếp đến cấp cao, và đợc thực hiện dới hình thức liêndoanh với hệ thống các trờng đại học nhà nớc hoặc một viện nghiên cứu Chínhphủ
Nớc Mỹ thực hiện rất sớm chế độ "phân loại chức vụ", đây là một nét
đặc sắc của chế độ nhân sự Mỹ Phân loại chức vụ phải căn cứ vào trách nhiệm,trình độ, t cách, để phân thành một số đẳng cấp, nêu rõ chức danh, nhiệm vụ,trách nhiệm, quyền hạn, yêu cầu t cách, chế độ đãi ngộ tiền lơng
Các biện pháp phân loại chức vụ gồm: Xây dựng tiền lơng công bằnghợp lý; căn cứ vào tiêu chuẩn khách quan của các chức vụ để tiến hành thi,kiểm tra, nhằm bảo đảm việc sử dụng ngời đợc công bằng; thực hiện nguyêntắc vì việc mà định ngời
Việc đánh giá công chức ở Mỹ đợc thực hiện thông qua đánh giá thànhtích công chức bằng việc sát hạch công bằng chính xác, kết quả đánh giá là đểtăng hoặc giảm các quyền lợi, đặc biệt là chế độ lơng Để phụ trách, kiểm trakết quả sát hạch quy định thành lập "Ban sát hạch", "Ban phúc tra", "Hội đồngkiểm tra thành tích" Việc kiểm tra thành tích tại Mỹ đợc áp dụng hàng năm,mỗi năm một lần, kết thúc vào ngày 31/3 Kết quả phân thành 3 mức, trong
đó: Mức tốt (làm công việc vợt tiêu chuẩn quy định) đợc tăng một bậc lơng;mức kém (làm công việc không đạt tiêu chuẩn quy định) xét các tình tiết mà
xử lý giảm lơng, hạ bậc, miễn chức
"Luật chế độ công chức" quy định: nhân viên công chức khi thăng chức
đều phải qua thi nâng bậc Phơng thức thăng chức của các ngành Chính phủ
Trang 35gồm 4 loại: loại 1 là chế độ thăng chức uỷ nhiệm do thủ trởng hành chính đợc
uỷ nhiệm có quyền đạt bạt; loại 2 là chế độ tăng lơng theo năm công tác theoniên hạn quy định, không phạm sai lầm gì đợc tự động tăng lơng; loại ba làchế độ tăng lơng qua thi cử thông qua thi nâng bậc làm căn cứ quyết địnhnâng lơng; loại bốn là chế độ thăng chức chỗn hợp căn cứ vào hai nhân tốthành tích và năm công tác quyết định đề bạt
Chế độ kỷ luật và xử phạt của Mỹ rất nghiêm khắc Nội dung kỷ luật
đối với công chức đợc quy định thành nhiều mục nh: Tuân thủ pháp luật, tậntụy với công việc, tiết kiệm không tham ô, lãng phí, không lừa dối, không tiết
lộ cơ mật công việc, không báo sai thành tích, không đợc lẫn lộn trắng đen lừadối cấp trên
Mức xử phạt hành chính gồm: cảnh cáo, thay đổi công tác ghi tên vào
sổ theo dõi công chức, giảm tiền lơng, ngừng tăng cấp, cắt lơng, hạ cấp, miễnchức
ở Mỹ, để bảo vệ quyền lợi công chức, năm 1972 đã ban hành "Luật đốichiếu, so sánh tiền lơng tại Liên bang" Quy định lơng của công chức nhà nớcphải tơng đơng với lơng của công nhân viên chức tại các xí nghiệp t doanh.Pháp luật Mỹ quy định: Cục trởng văn phòng quản lý nhân sự, Cục trởng Cục
Dự toán và hành chính, Bộ trởng Bộ Lao động có nhiệm vụ phối hợp điều tra,
so sánh tiền lơng giữa các cơ quan Chính phủ và xí nghiệp t doanh Hàng nămtrình Tổng thống điều chỉnh mức lơng công chức hành chính nói chung
Việc tuyển chọn và đào tạo nhân tài ở Singapo đợc xác định là quốcsách để xây dựng và phát triển đất nớc Cho nên, ở Singapo rất chú trọng sựnghiệp giáo dục đào tạo và tiến hành việc tuyển chọn nhân tài ngay từ họcsinh phổ thông Thông qua việc tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn ngời tài một
Trang 36cách công khai, bình đẳng không phân biệt truyền thống gia đình, điều kiệnkinh tế, dân tộc, đảng viên hay không phải là đảng viên.
Singapo áp dụng tiền thởng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ bằng ba
tháng lơng cho các quan chức cấp cao, chiếm khoảng 1% tổng số công chứcnhà nớc Ngoài ra, còn trao các phần thởng về chất lợng dịch vụ tốt cho cácnhân viên trong việc tiếp xúc và làm việc với dân Singapo nguyên tắc trả lơngcho công chức là trả lơng cho công chức theo mức thị trờng cùng với loại hìnhcông việc khả năng và trách nhiệm để có thể giữ đợc những ngời có tài chonền công vụ Singapo cũng thực hiện chính sách tiền lơng theo hiệu quả dựavào hệ thống thẩm định hiệu quả công việc Công chức Singapo còn đợc tănglơng theo hiệu quả của nhóm công tác Phần tăng này đợc trả nh một khoảnthởng hàng năm
* Nhận xét chung về pháp luật CBCC của các nớc trên thế giới:
Do yêu cầu của quản lý nhà nớc một cách khoa học, hiện đại cho nênhầu hết các nớc thiết lập chế độ công chức dựa trên các nguyên tắc dân chủ,bình đẳng, công khai và hiệu quả Việc tuyển dụng công chức đợc thực hiệnmột cách công khai, bình đẳng tất cả các công dân đều có quyền đợc tuyểndụng nếu họ đáp ứng đợc các yêu cầu do pháp luật quy định Các nớc đều tạo
điều kiện cho mọi ngời có cơ hội cạnh tranh ngang nhau thông qua thi tuyển
để chọn đợc CBCC có phẩm chất tốt, có năng lực chuyên môn Để chọn đợccác công chức xứng đáng các nớc cũng luôn chú ý đến công tác đào tạo, bồidỡng Trớc khi nhận nhiệm vụ hoặc khi muốn thăng tiến vào vị trí quản lý caohơn
Các nớc đều coi trọng công tác đánh giá công chức, việc đánh giá phảithông qua việc thực hiện chức trách của ngời công chức cho nên, phải căn cứvào các chuẩn mực rất cụ thể, rõ ràng về chuyên môn nghiệp vụ, đánh giá dựavào việc làm thành tích trong công tác của CBCC Tiêu chí đánh giá đợc quy
định rất rõ ràng nh đã phân tích, sử dụng phơng pháp đánh giá theo tiêu chuẩn
và cho điểm Do đó, việc phân loại và xác định các tiêu chuẩn công chức ở cácnớc đợc thực hiện rất chặt chẽ rõ ràng Hiện nay các quốc gia trên thế giới ápdụng hai hệ thống đánh giá công chức là: hệ thống đánh giá theo con ng ời và
hệ thống đánh giá theo kết quả công việc Hệ thống đánh giá theo con ngờinghĩa là so sánh nhân viên này với nhân viên khác, còn hệ thống đánh giá theokết quả công việc là đánh giá từng công chức so với các tiêu chuẩn và định
Trang 37mức đã quy định Hầu hết các nớc đều áp dụng hệ thống đánh giá theo kết quảcông việc vì nó có những u điểm nh công bằng, khách quan đáng tin cậy, xác
định chính xác kết quả làm việc, cống hiến của mỗi công chức
Các quốc gia đều thực hiện một chế độ sát hạch nghiêm túc, đề ra chế
độ khen thởng những ngời có công lao và kỷ luật những công chức phạm lỗi
và kém hiệu quả Ngoài các quy định về chuẩn mực đạo đức công chức đợcthể hiện trong Hiến pháp, luật công chức, công vụ thì nhiều nớc đã xây dựng
và ban hành quy tắc đạo đức hoặc luật đạo đức công vụ Điều đó thể hiện việccoi trọng phong cách, kỷ cơng, đạo đức công cụ Công chức không những phảituân theo pháp luật nhà nớc mà còn phải thực hiện đạo đức công vụ nh: sựtrung thành với nhà nớc liêm khiết trong công vụ, giữ gìn bí mật nhà nớc Công chức các nớc đa số là trung lập về mặt chính trị (trừ một số nớc), khôngtham gia một số hoạt động chính trị, không kiêm nghị sỹ, nếu trúng nghị sỹthì phải từ bỏ chức vụ công chức Công chức không thực hiện các hoạt độngdoanh nghiệp Để bảo đảm sự thống nhất của chế độ công chức nhà nớc, cácnớc đều chú trọng xây dựng hệ thống quản lý công chức thống nhất, đồng bộ.Các cơ quan này định ra chế độ thi tuyển, cách thức đào tạo, bồi dỡng, và cácquy định về khen thởng, kỷ luật tuy rằng chức năng, quyền hạn, phơng thứcquản lý và vị trí pháp lý của bộ máy quản lý công chức ở các nớc khác nhau
1.3.2 Những kinh nghiệm của các nớc có thể vận dụng trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam
Từ những quy định của pháp luật của các nớc trên thế giới về CBCCchúng ta có thể thấy công chức ở bất kỳ quốc gia nào cũng giữ một vị trí hếtsức quan trọng trong BMNN nói chung, hệ thống hành chính nói riêng Do đó,các quốc gia đều rất quan tâm đến việc xây dựng pháp luật công chức nhằmmục tiêu là tạo ra một đội ngũ công chức chính quy, hiện đại, có năng lựcquản lý, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức Đây là một vấn đề cầnnghiên cứu, tham khảo khi xây dựng hoàn thiện pháp luật CBCC ở Việt Nam
để đảm bảo sự ổn định chính trị, bảo vệ lợi ích nhà nớc và nhân dân Tuynhiên, việc vận dụng kinh nghiệm của các nớc là cần thiết nhng phải trên cơ
sở thực tiễn của đất nớc ta hiện nay, cũng nh truyền thống của nền công vụ
n-ớc ta bấy lâu mà chúng ta xây dựng Trong quá trình tiếp tục hoàn thiện phápluật CBCC nớc ta cần tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu những yếu tố hợp lý, tíchcực trong kinh nghiệm của các nớc cần tránh khuynh hớng áp dụng một cách
Trang 38máy móc những quy định của pháp luật công chức nớc ngoài mà không cầntính đến điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam.
Xu hớng công vụ trong thế kỷ XXI có nhiều thay đổi để phù hợp với bốicảnh mới đó là việc chuyển từ nền công vụ cai trị sang nền công vụ phục vụ,cung cấp các dịch vụ công cho nên chúng ta học tập kinh nghiệm các nớctrong vấn đề hoàn thiện cơ chế tuyển dụng thông qua thi cử công khai, minhbạch chọn đợc những nhân vật xứng đáng đứng vào hàng ngũ CBCC Phápluật phải tạo điều kiện cho mọi ngời có cơ hội cạnh tranh nh nhau thông quacơ chế, chính sách thích hợp, đồng bộ để công tác tuyển dụng thật sự khoahọc, nghiêm túc Muốn làm tốt điều này pháp luật phải định lợng đợc các tiêuchuẩn cụ thể và lợng hoá đợc càng nhiều tiêu chuẩn càng tốt Xác định cáchình thức, nội dung thi tuyển thích hợp với đặc điểm, yêu cầu cụ thể của từngloại CBCC Đối với CBCC ở các cơ quan tham mu (cơ quan xây dựng vàhoạch định chính sách) thì sử dụng phơng pháp khác với CBCC ở các cơ quan
tổ chức điều hành CBCC làm công tác tham mu là ngời có khả năng vạch ra
đờng lối chính sách, trong khi đó CBCC điều hành loại giỏi về khả năng tổchức, quản lý Phải xây dựng đợc các tiêu chuẩn chặt chẽ, rõ ràng cùng với thủtục minh bạch trong công tác thi tuyển để nâng cao chất lợng ngời đợc tuyểndụng Kinh nghiệm từ các nớc có nền hành chính hiện đại công chức hànhchính cũng áp dụng hình thức hợp đồng, ở ta có thể vận dụng kinh nghiệm này
đối với một số trờng hợp nhất định: "Sử dụng chế độ hợp đồng cho một số vịtrí của công chức hành chính để có thể tuyển mộ những ngời có tài năng vàolàm việc lâu dài hoặc một thời gian ở các bộ với t cách là chuyên gia về mộtlĩnh vực" [20, tr.16] Bởi vì, công chức hành chính ở nớc ta đợc sắp xếp theo
hệ thống ngạch bậc, thể hiện sự ổn định của chế độ chức nghiệp nên khó ápdụng hàng loạt Chúng ta cũng cần học hỏi trong việc xây dựng hệ thốngtuyển dụng tập trung, hoạt động độc lập, khách quan, đúng chức năng nhthành lập hội đồng thi tuyển cấp quốc gia để tuyển dụng công chức cho các
bộ, ngành Trung ơng thay cho việc các bộ tự lập hội đồng tuyển dụng nh hiệnnay
Từ kinh nghiệm các nớc chúng ta thấy cần phải đổi mới cách thức quytrình bổ nhiệm CBCC và áp dụng chế độ luân chuyển, thuyên chuyển CBCCthờng xuyên để cho CBCC đúc rút đợc kinh nghiệm và cũng là một hình thứcrèn luyện, bồi dỡng cho CBCC Cùng với đổi mới cách thức và quy trình bổ
Trang 39nhiệm thì phải xây dựng quy chế giám sát chặt chẽ quy trình bổ nhiệm để hạnchế bớt tiêu cực trong công tác này Sử dụng hình thức lấy phiếu tín nhiệm nh-
ng phải xây dựng đợc những tiêu chí cụ thể dễ hiểu để hạn chế chủ quan, thiếuchính xác
Đối với đội ngũ CBCC cần chú trọng tính chất chuyên nghiệp và kinhnghiệm quản lý theo ngành, lĩnh vực để thực hiện luân chuyển dọc nh mô hìnhkinh nghiệm của Nhật Bản Đồng thời, pháp luật phải quy định cụ thể chínhsách đãi ngộ thoả đáng bảo đảm thu nhập cho cán bộ đợc luân chuyển
* Cần phải đổi mới và hoàn thiện các quy định về đào tạo bồi dỡngCBCC ở nớc ta thông qua kinh nghiệm của các nớc đó là: phải phân công,phân cấp rõ ràng, rành mạch về thẩm quyền, trách nhiệm của các cấp trongcông tác đào tạo, bồi dỡng; quy định cụ thể nghiêm ngặt các khoá đào tạo bắtbuộc mà CBCC phải thực hiện trớc khi nhận nhiệm vụ hoặc đợc bổ nhiệm lêncác vị trí cao hơn; xây dựng hệ thống các chơng trình đào tạo, bồi dỡng; cầnkết hợp cả hai hình thức đào tạo tập trung và phi tập trung; cần tăng cờng hợptác quốc tế về đào tạo bồi dỡng nhằm tiếp thu kinh nghiệm, nâng cao năng lựcquản lý và đào tạo đợc các chuyên gia đầu ngành Phải xây dựng quy chế đểgửi CBCC đi đào tạo bồi dỡng ở nớc ngoài, quy định rõ nghĩa vụ, quyền lợicũng nh các cam kết sau khi CBCC đợc đi đào tạo ở nớc ngoài sẽ trở về phục
vụ đất nớc Cần xây dựng các chơng trình hợp tác quốc tế ngắn hạn và dài hạn
do kinh phí nhà nớc cấp lồng ghép với các dự án do nớc ngoài tài trợ dới cáchình thức khác nhau Đối với việc quản lý công tác đào tạo, bồi dỡng Bộ Nội
vụ đề ra chính sách và phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện phân bổ ngân sách
đào tạo, bồi dỡng còn các bộ, ngành đề xuất yêu cầu, nội dung đào tạo, bồi ỡng
d-* Hiện nay trên thế giới sử dụng 3 phơng pháp đánh giá CBCC là:
ph-ơng pháp đánh giá theo tiêu chuẩn và cho điểm; phph-ơng pháp đánh giá theogiao kết hợp đồng; phơng pháp đánh giá theo nhận xét
Dù đánh giá theo phơng pháp nào thì yêu cầu đầu tiên là phải xây dựng
đợc tiêu chuẩn, ứng với từng loại CBCC CBCC ở loại nào, cơng vị, chức vụnào thì đòi hỏi phải hội đủ những tiêu chuẩn để đảm đơng nhiệm vụ ấy Do đóviệc xây dựng văn bản về hệ thống các tiêu chuẩn, chức danh của CBCC có ýnghĩa quan trọng, bởi vì, nó là công cụ hớng dẫn chỉ đạo hoạt động của CBCC
và là căn cứ để đánh giá CBCC Do đó, các tiêu chí đánh giá cần rõ ràng cụthể và trọng tâm vẫn là vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ; phải căn cứ vào hiệu
Trang 40quả công tác thực tế để đánh giá toàn diện cụ thể khắc phục tình trạng chủquan, phiến diện Cần tham khảo kinh nghiệm các nớc trong việc đánh giáCBCC từ phía đồng nghiệp; thuộc cấp và khách hàng Công tác đánh giá phảicông khai trong nhận xét giữa cơ quan có chức năng, quyền hạn đánh giá vớingời đợc đánh giá Ngời đợc đánh giá có quyền trình bày ý kiến của mình vềnhững nội dung nhận xét mà mình thấy cha thoả đáng.
* Chế độ tiền lơng và đãi ngộ là điều kiện yếu tố đảm bảo cho CBCClàm việc, khuyến khích họ phấn đấu trong sự nghiệp Do đó, chính sách tiền l-
ơng phải bảo đảm sự công bằng, hợp lý Bậc lơng, mức hởng thụ, đãi ngộ đốivới các công việc có nội dung, kỹ năng nghiệp vụ, điều kiện nh nhau phảibằng nhau Tính công bằng còn thể hiện là chính sách tiền lơng phù hợp vớicác chức trách, vị trí công tác, đánh giá đúng sức lao động, cống hiến của mỗingời Chúng ta có thể học tập kinh nghiệm của các nớc trong vấn đề hoànthiện những quy định về chế độ, chính sách đối với CBCC nh: Điều chỉnh tiềnlơng theo xu thế của khu vực t nhân để hạn chế hiện tợng "chảy máu chấtxám" trong những năm gần đây Tức là xây dựng đợc chính sách tiền lơng choCBCC có đủ sức thu hút nhân lực cho cơ quan nhà nớc, thu hút ngời tài vàokhu vực công Thực hiện chế độ tiền thởng hoặc tăng lơng theo hiệu quả côngtác mà nhiều nớc đã áp dụng Có thể tham khảo phơng thức trả lơng dựa trêncơ sở thực thi nhiệm vụ và kết quả công việc nh tiến hành nâng lơng trớc thờihạn cho CBCC hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoặc có thành tích đặc biệtmang lại lợi ích cho đất nớc Hoặc thông qua việc thi sát hạch để đợc nâng bậclơng sớm trớc thời hạn nh Singapo Tóm lại, cải cách hệ thống tiền lơng, tiềnthởng xây dựng chế độ, chính sách tôn vinh, khen thởng khuyến khích vậtchất và tinh thần là biện pháp có ý nghĩa trong cuộc đấu tranh chống quan liêutham nhũng ở nớc ta hiện nay
Hầu hết các quốc gia đã xây dựng đợc luật công vụ, công chức do đó,chúng ta phải tập trung nghiên cứu để xây dựng luật công chức làm cơ sở pháp
lý cho hoạt động của đội ngũ CBCC Trong thời điểm hiện nay hơn bao giờhết cần thiết phải xây dựng một đạo luật về đạo đức nghề nghiệp của côngchức thay cho quy định phẩm chất đạo đức của CBCC chung chung nh hiệnnay Quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm quyền lợi của CBCC; quy định những
điều cấm CBCC không đợc làm cũng nh xác định những điều CBCC đợc làm.Luật về đạo đức nghề nghiệp của CBCC là cơ sở cho họ phấn đấu rèn luyệncũng nh làm căn cứ để khen thởng, kỷ luật những vi phạm của CBCC Hoàn