ảnh hưởng của các biện pháp xử lý đến hàm lượng tannins trong hạt nhãn, hạt vải và sử dụng hạt vải làm thức ăn cho gia cầm.. hàm lượng kháng dinh dưỡng cao sẽ cản trở sự sử dụng các chấ
Trang 1ảnh hưởng của các biện pháp xử lý đến hàm lượng tannins trong hạt nhãn, hạt vải và sử dụng hạt vải làm thức ăn cho
gia cầm
Đỗ Viết Minh* 1 , Đào Thị Thu Phương 2 Tạ Thị Hương Giang 2 ,
Lê Thị Hồng Thảo 2 , Lê Văn Huyên 2 và Phạm Công Thiếu 3
1 Phòng Khoa học và HTQT; 2 Bộ môn DDTA và đồng cỏ, 3 Trung tâm thực nghiệm và bảo
tồn vật nuôi
* Tác giả để liên hệ: Đỗ Viết Minh, Phòng khoa học và HTQT, Viện chăn nuôi, Hà nội; Tel:
8448389770; Fax: 8448389775;
E-mail: Minhdoviet@yahoo.com
1 Đặt vấn đề
Chất kháng dinh dưỡng (anti-nutrition) thường là vật chất có nguồn gốc thực vật, nó
là các sản phẩm tự tổng hợp bởi thực vật hoặc các sản phẩm sinh ra trong quá trình trao
đổi chất của thực vật hàm lượng kháng dinh dưỡng cao sẽ cản trở sự sử dụng các chất dinh dưỡng dẫn đến giảm khả năng sản xuất của gia súc, gia cầm ảnh hưởng đến sức khỏe của gia súc, gia cầm và sản sinh độc tố cho người và gia súc sử dụng Theo Makkar, (1991) chất kháng dinh dưỡng có thể phân làm 4 nhóm chính: (1) chất kháng dinh dưỡng
ảnh hưởng đến tiêu hóa và khả năng hấp thụ protêin, (2) chất kháng dinh dưỡng ảnh hưởng đến sử dụng các ion kim loại và khoáng (Fe, Zn, Cu, Mn, Mg, Ca .) (3) chất kháng dinh dưỡng ảnh hưởng đến sử dụng vitamin (anti-vitamin) và (4) những chất kháng
dinh dưỡng khác (cyanogens, mimosine, nitrate, cellulose và hemicellulose…) (1) Nhóm
chất kháng dinh dưỡng ảnh hưởng đến tiêu hóa và khả năng hấp thu protêin bao gồm: tannín,
Tannins là phức chất polyphenol tự nhiên, tannin phenolics là loại gắn kết được với protêin và chia làm 2 loại, hydrolysable tannins là loại có khả năng thủy phân giải phóng
đường, loại condensed tannins (tannin đậm đặc) là loại tannin khó thủy phân Tannins hạn chế khả năng sử dụng thức ăn bởi vì (a) gắn kết các phân tử protêin tạo phức tannin-protêin làm trơ tác dụng của các enzymes(b) ức chế hoạt động của các enzymes tiêu hóa, (c) cản trở dịch tiết bảo vệ thành ruột và đường tiêu hóa (d) làm giảm tính ngon miệng của thức ăn Trong trường hợp hòa tan của tannins vựợt quá khả năng phân giải của gan sẽ sản sinh độc tố (Cheeke và Sull, 1985, Makkar và cộng sự, 1988)
Tannins có nhiều trong lá và vỏ của các cây họ đậu (Acacia mangium…), trong vỏ và hạt
của các loại đậu, hạt bông, hạt cải, hạt nhãn, hạt vải và hạt đào…
Các biện pháp xử lý làm giảm hàm lượng độc tố và chất kháng dinh dưỡng thường sử dụng là: (1) xử lý nhiệt (rang, hấp sấy, luộc trong nước) (2) hóa chất (sút NaOH, axit H2
SO4 hoặc bổ sung các nguyên tố iốt, muối của các kim loại như sắt FeCl3, ), (3) vật lý (ép, nghiền, chiết xuất, tia phóng xạ gamma, tia hồng ngoại ), (4) vi sinh vật và enzymes
(lên men lactic, lên men nấm men Aspergiluss niger, enzymes phytase, proteasa ), (5)
Trang 2sinh học (nảy mầm ) Đối với các phụ phẩm nông nghiệp có hàm lượng tannin cao, chất polyethylene glycol (PEG) được sử dụng để bổ sung vào thức ăn để vô hoạt tannin, bảo vệ protein và tăng hiệu quả sử dụng protein (Ben Salem và ctv, 2002) Tại một số nước đang phát triển, một số loại dược phẩm và cây thuốc có các chất có hoạt tính diệt hoặc kìm hãm
sự phát triển của một số loại ký sinh trùng cùng được sử dụng để bổ sung vào thức ăn (Anindo và ctv, 1998)
Hạt nhãn và hạt vải cũng là một trong các phế phụ phẩm của cây trồng nhiệt đới, nhãn và vải là cây ăn quả truyền thống ở các nước trong khu vực và châu á như Trung Quốc, ấn
Độ, Thái Lan, Indonesia và hiện nay trồng nhiều tại châu Phi và châu Mỹ Hàng năm Trung Quốc trồng gần 495,000 ha vải và sản xuất trên 400,000 tấn quả vải Nhưng hiện nay do nhu cầu xuất nhập khẩu hoa quả trong các nước khu vực và trên thế giới cao, nên Thái Lan là nước quan tâm nhiều đến trồng nhãn và vải để xuất khẩu sang Trung Quốc, Nhật Bản Thị trường Trung Quốc rất lớn để Việt Nam xuất khẩu long nhãn, nên cây nhãn và vải ngày càng được trồng và phát triển ở Việt Nam, nó là cây ăn quả lâu năm, nhưng có thể trồng xen canh với các cây trồng khác và thích hợp với khí hậu nhiệt đới Hàng năm nước ta trồng hơn 150,000 ha nhãn, 90,200 ha vải (Niêm giám thống kê, 2006), sản lượng quả khoảng 2,500,000 tấn/năm, và nếu tỷ lệ hạt nhãn 15-20 % thì sản lượng ước tính là khoảng 325-375,000 tấn hạt, sau khi chế biến quả (khoảng 35- 45 % nhãn, vải tươi được sử dụng sấy long nhãn và làm vải hộp đông lạnh), nhưng phụ phẩm hạt và vỏ nhãn, vải phần lớn dùng làm phân bón, hoặc có thể vứt bỏ làm ô nhiễm môi trường Hạn chế lớn nhất khi sử dụng hạt nhãn, hạt vải là hàm lượng tannin Mặt khác gia súc dạ dày đơn, nhất là gia cầm rất mẫm cảm với hàm lượn tannin Theo nghiên cứu tại trường Đại học Cornel của Mỹ (2001), thì tannin ở mức 0.5 đến 2 % khẩu phần của gia cầm (5-20 g/kg TA) có thể giảm khả năng cho thịt và đẻ trứng, bởi vậy nghiên cứu các biện pháp xử lý làm giảm hàm lượng tannin trong nguyên liệu thức ăn cho lợn và gia cầm
là cần thiết nghiên cứu ở Việt Nam Mặt khác hạt nhãn và hạt vải giàu tinh bột (40-60%) (Trần Thế Tục, 2000) Bởi vậy hạt nhãn và hạt vải cần được nghiên cứu chế biến và xử lý hàm lượng tannin và các chất kháng dinh dưỡng, để tăng hiệu quả sử dụng và an toàn thực phẩm cho con người Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu các biện pháp xử lý hàm lượng tannin trong hạt nhãn, hạt vải, và tận dụng hạt vải làm thức ăn bổ sung để tăng nguồn thức
ăn cho gia cầm
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm tiến hành từ tháng 4/2007 đến tháng 12/2007 tại phòng thí nghiệm Viện Chăn Nuôi và trạm nghiên cứu chế biến và thử nghiệm thức ăn gia súc-Viện Chăn Nuôi
2.1 Thí nghiệm 1 ảnh hưởng của các biện pháp xử lý đến hàm lượng chất kháng dinh dưỡng (tannin) của hạt nhãn, hạt vải
2.1.1 Khảo sát tỷ lệ phụ phẩm hạt nhãn vải từ các giống nhãn vải hiện có
Trang 3Lấy ngẫu nhiên 100 quả nhãn, vải của mỗi giống, và khảo sát 6 giống nhãn, vải hiện có tại các chợ địa phương Hưng Yên và Bắc Giang cân khối lượng từng quả sau đó tách riêng vỏ, hạt và cùi Cân khối lượng từng phần và tính các tỷ lệ (lặp lại 3 lần) Tiếp tục lấy hạt mỗi loại, tách riêng phần vỏ và hạt không vỏ, cân khối lượng từng phần và tính các tỷ lệ (cũng lặp lại 3 lần) Kết quả thu được thể hiện ở bảng 1.1
2 1.2 Biện pháp xử lý hàm lượng tannin của hạt nhãn, hạt vải
Thí nghiệm tiến hành tại phòng thí nghiệm Viện Chăn Nuôi với các biện pháp chê biến và xử lý tannin khác nhau tiếp cận phương pháp của Makkar và cộng sự (1991) Biện pháp 1: Xử lý nhiệt (phơi), kết hợp sinh học (nảy mầm)
(1) Hạt nhãn và hạt vải tươi - phơi khô (hoặc sấy bằng lò sấy long nhãn) – ủ nảy mầm (5 ngày)- phơi (sấy khô) – nghiền- phân tích tannin và giá trị dinh dưỡng
Biện pháp 2: Xử lý nhiệt (phơi), kết hợp lên mem yếm khí
(2) Hạt nhãn và hạt vải tươi - phơi khô (hoặc sấy bằng lò sấy long nhãn) – nghiền – lên men 4 tuần (sấy khô) - phân tích tannin và giá trị dinh dưỡng
2.1.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp phân tích
Phân tích thành phần hóa học và hàm lượng tannin của hạt nhãn, hạt vải trước và sau khi chế biến,
Xác định vật chất khô (VCK) theo tiêu chuẩn Việt Nam (1996), TCVN – 432686,
xơ thô theo tiêu chuẩn Việt Nam (1993) TCVN - 432993, Khoáng tổng số (tro thô) theo tiêu chuẩn Việt Nam, (1993) TCVN – 432793 Protein thô theo tiêu chuẩn Việt Nam, (2001) TCVN - 432801, bằng phương pháp Kieldahl Chất béo thô ủịnh lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam, (2001) TCVN - 433101, chất béo ủược chiết suất bằng ete etylic và ete dầu trong bộ sohxtex Dẫn xuất không đạm (DXKĐ) (%) = 100 - (% nước + % protein thô + % chất béo thô + % xơ thô + % khoáng tổng số) Định lượng canxi theo AOAC (1990) Định lượng photpho theo AOAC (1990) Phân tích các chỉ tiêu trên ủược tiến hành tại phòng phân tích Viện Chăn Nuôi
Định lượng tannin tổng số và tannin đậm đặc theo phương pháp của AOAC (1990), code: 30018 (1975) trong dung môi Butanol-HCL tại Trung tâm kiểm nghiệm- Viện dinh dưỡng- Bộ y tế
2.2 Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của sự thay thế một phần bột ngô bằng bột hạt vải
đến lượng thức ăn thu nhận, khả năng sản xuất của gà Lương Phượng nuôi thịt 2.2.1 Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm tiến hành tại Trạm nghiên cứu và thử nghiệm thức ăn –Viện Chăn Nuôi Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp chia lô so sánh ngẫu nhiên hoàn toàn (completely randomized design), với tổng số 90 gà thịt Lương Phương ở 4 tuần tuổi chia 3 lô (30 con/lô), với 3 lần lặp lại (10 con/lô) theo sơ đồ bố trí thí nghiệm sau Bảng 2.1
Trang 4Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
2.2.2 Khẩu phần ăn (bảng 2a, 2b phần phụ lục): Gà Lương Phượng 4 tuần tuổi đựợc
ăn khẩu phần theo tiêu chuẩn hướng dẫn của Trạm nghiên cứu và thử nghiệm thức ăn gia súc Gà được ăn khẩu phần theo 2 giai đoạn, giai đoạn từ 49 tuần tuổi, và giai đoạn từ 9
-12 tuần tuổi và giết thịt
Lô 1: Khẩu phần cơ sở (ngô, cám gạo, khô đậu tương, bột cá, premix khoáng, vitamin và
bổ sung lysine, methionine) (KPCS100 ngô)
Lô 2: KPCS thay thế 25 % ngô bằng hạt vải khô (6 % khẩu phần) (KPCS75)
Lô 3: KPCS thay thế 50 % ngô bằng hạt vải khô (12 % khẩu phần) (KPCS50)
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
Khả năng thu nhận thức ăn, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn, chất lượng thịt khi giết thịt tại 12 tuần tuổi
Xác định lượng thức ăn thu nhận bằng cân thức ăn hàng ngày, tăng trọng trung bình xác định bằng cách cân gà hàng tuần, thức ăn tiêu tốn cho 1 kg tăng khối lượng tính toán trên cơ sở lượng thức ăn tiêu tốn trung bình và tăng trọng trung bình, giá thành thức
ăn cho 1 kg tăng trọng Tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ mỡ bụng, chất lượng thịt đùi, ngực và tỷ lệ thịt
đùi, ngực trên cơ sở mổ khảo sát sau khi kết thúc thí nghiệm Sau khi kết thúc thí nghiệm
gà được cân trước khi cho ăn và chọn ngẫu nhiên mỗi lô chọn 6 gà với 3 lần lặp lại (2 con/lần lặp lại), và tổng số là 18 con gà được mổ khảo sát để tính toán các chỉ tiêu chất lượng thịt
2.2.4 Xử lý số liệu
Số liệu thu thập được sử lý thông kê bằng phân tích phương sai ANOVA trên mền mềm MINITAB version 14.0, Window 2000 Theo mô hình thống kê sau:
Y ijk = M + Ai + Bj + (AB)ij + eij
M = Giá trị trung bình
Ai = ảnh hưởng của khẩu phần
Bj = ảnh hưởng của giới tính (trống, mái đến tăng trọng) (AB)ij = Tương tác của khẩu phần và giới tính
e ij = Sai số ngẫu nhiên
Trang 53 Kết quả và thảo luận
3.1 Thí nghiệm 1 ảnh hưởng của các biện pháp xử lý đến hàm lượng chất kháng dinh dưỡng (tannin) của hạt nhãn, hạt vải
3.1.1 Khảo sát tỷ lệ phụ phẩm của một số giống nhãn, vải
Bảng 1.1 Tỷ lệ cùi, hạt, vỏ và vỏ hạt của một số giống nhãn, vải
(g)
Tỷ Lệ Cùi/quả
(%)
Tỷ Lệ Hạt/quả
(%)
Tỷ Lệ Vỏ/quả
(%)
Tỷ Lệ Vỏ/hạt (%)
Từ kết quả bảng trên cho thấy: tỷ lệ phần ăn được (tức là tỷ lệ cùi/quả) của quả nhãn dao động từ 35-62%, của vải thì cao hơn (60-70%) Tỷ lệ này có sự khác nhau rất lớn giữa các giống nhãn nhưng ở các giống vải lại không có sự khác nhau nhiều Tỷ lệ phần loại bỏ (vỏ + hạt) ở nhãn từ 28-65%, ở vải từ 30-40%, tỷ lệ này là tương đối cao Nhưng nếu chúng ta tận thu được hạt nhãn, vải làm thức ăn cho chăn nuôi thì tỷ lệ này
giảm chỉ còn 17,5-29,3% ở nhãn và 13,7-24,6% ở vải Như vậy giá trị sử dụng của quả
nhãn, vải được nâng lên rất nhiều, phần sử dụng được chiếm tỷ lệ cao (61.7-82.5% ở nhãn
và 75,4-83,3% ở vải), phần loại bỏ thấp Tỷ lệ vỏ của hạt nhãn, vải thấp trung bình khoảng 11,75% (ở nhãn) và 10,9% (ở vải) Do việc tách riêng vỏ hạt ra khỏi hạt rất khó
khăn đồng thời tỷ lệ vỏ của hạt nhãn, vải thấp nên khi sử dụng hạt nhãn, vải làm thức ăn cho đại gia súc chúng ta không cần thiết phải loại bỏ vỏ của hạt Đây cũng là một yếu tố giúp cho việc sử dụng hạt nhãn, vải đơn giản hơn Kết quả phân tích thành phần hóa học
và giá trị dinh dưỡng của hạt nhãn, hạt vải được trình bày ở bảng 1.2
Bảng 1.2: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của hạt nhãn và hạt vải chế biến ở dạng sử dụng
Tên
mẫu
VCK
HNK 86,93 6,02 4,67 3,61 1,61 0,14 0,33 82,09 2289
HNT 54,36 3,34 6,37 4,55 2,08 0,13 0,22 73,16 1971
Trang 6HNM 50,07 3,94 6,57 4,31 2,44 0,38 0,26 74,84 1838
HNLM 57,10 4,04 5,57 4,65 2,01 0,33 0,21 72,3 1990
BHVK 87,0 6,05 5,71 3,26 2,28 0,09 0,14 86,20 2389
HVT 53,10 3,04 3,04 4,65 2,46 0.14 0.12 81,4 1981
HVNM 49,24 4,19 3,87 4,32 2,70 0,11 0,16 82,92 1618
HVLM 55,15 4,38 3,82 4,05 2,62 0,11 0,16 84,13 1551
Kết quả bảng 1.1 cho biết hàm lượng protêin thô của hạt nhãn và hạt vải tươi từ 3,04-3,34 %, kết quả này thấp hơn kết quả của Nguyễn Đức Tiến và CS (2006), (3,23-3,81 %), tuy nhiên hàm lượng protêin này còn phụ thuộc giống nhãn, vải, thời vụ thu hoạch quả và đặc biệt phụ thuộc độ màu mỡ của đất (vùng sinh thái) Bột hạt nhãn, hạt vải lên men lactic tự nhiên có hàm lượng protêin từ 4,04-4,38 %, tương đương kết quả của Nguyễn Đức Tiến và CS (2006), tuy nhiên khi lên men có bổ sung chủng vi sinh vật
Oryzae trên nền bột hạt nhẫn và cám gạo thì hàm lượng protêin tăng từ 4,1-12,5 % (Nguyễn Đức Tiến và CS, 2006) Chế phẩm bột hạt nhãn lên men sấy khô đã được sản xuất tại Viện công nghệ sau thu hoạch và sử dụng thay thế 100 % cám gạo trong khẩu phần gà H’mông cho kết quả không sai khác so với lô đối chứng sử dụng cám gạo (Nguyễn Đức Tiến và CS, 2006) Theo giáo sư Trần Thế Tục (2000), thì hạt vải có tỷ
lệ protêin 3-4 %, tannin tổng số 6,42-6,86 % và giàu tinh bột (40-60 %), nên hạt vải có thể sử dụng làm thức ăn giàu năng lượng, tuy nhiên hạn chế lớn nhất là hàm lượng tannin Kết quả xử lý hàm lượng tannin của hạt nhãn, hạt vải trình bày ở bảng 1.3 và biểu đồ 1.
Bảng 1.3 Hàm lượng tannin trong các mẫu hạt nhãn, hạt vải (% /kg VCK)
Kết quả xử lý hàm lượng tannin bằng các biện pháp nảy mầm, lên men yếm khí cho biết hàm lượng tannin tổng số giảm từ 22,6- 29,9 % so với hạt nhãn và hạt vải phơi khô truyền thống, đặc biệt phương pháp lên men yếm khí, hàm lượng tannin đậm đặc giảm từ 21,9- 27,3 % (kết quả phân tích tại Viện dinh dưỡng Bộ y tế năm 2007) Theo Makkar
(1991), khi chế biến lá cây họ đậu (Acacia Mangium ), và một số hạt đậu, hạt cao lương
giàu tannin bằng biện pháp lên men với 10 % dung dịch than tro gỗ, tre nứa (bamboo Chakco), hoặc lên men yếm khí 3 tuần có thể giảm 75 % hàm lượng tannin trong nguyên
Trang 7liêu Hoặc có thể ngâm nguyên liệu trong dung dịch xút (NaOH) cũng có thể làm giảm hàm lượng tannin, tuy nhiên đòi hỏi thiết bị và hóa chất đắt đỏ
Kết quả cho thấy Khi phân tích hàm lượng tannin tổng số và hàm lượng tannin đậm
đặc trong hạt nhãn, hạt vải khô (hạt nhãn: 5,61 và 2,60 tương ứng; hạt vải:5,66 và 2,93 % tương ứng) là cao hơn so với kết quả phân tích của Trần Quốc Việt và cộng sự (2004),(hạt nhãn: tannin TS = 4,44 và tannin ĐĐ= 2,44 %), nhưng thấp hơn nhiều so với kết quả phân tích của Nguyễn Đức Tiến và cộng sự (2006) (hạt nhãn: tannin = 6,10-6,86 %) Nhiều nghiên cứu cho thấy hàm lượng tannin của hạt và lá cây phụ thuộc vào thời gian thu hoạch, đặc biệt độ màu mỡ của đất (Makkar, 1991) Nếu so sánh hàm lượng tannin trong một số phụ phẩm nông nghiệp theo nghiên cứu tại úc thì hạt nhãn, hạt vải có hàm lượng tannin thấp hơn so với bột hạt bông (6,4 %) và cao hơn bột hạt cao su (Pezz-Maldonado, 1999) Bởi vậy bột hạt nhãn, hạt vải có thể sử dụng tốt làm thức ăn chăn nuôi,
đặc biệt hiện nay giá nguyên liệu thức ăn quá cao trên thị trường, thì việc nghiên cứu tạo nguồn thức ăn là cần thiết và có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên hàm lượng tannin đậm đặc là hạn chế lớn nhất hiệu quả sử dụng các phụ phẩm nông nghiệp Mặt khác biện pháp xử lý bằng hóa chất và vi sinh vật có hiệu quả nhất tuy nhiên giá thành sản phẩm cao, đòi hỏi thiết bị bởi vậy sử dụng các biện pháp truyền thống và tiếp cận phương pháp của Makkar, (1991) sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất
3.2 Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của sự thay thế một phần bột ngô bằng bột hạt vải đến lượng thức ăn thu nhận, khả năng sản xuất của gà Lương Phượng nuôi thịt
Bảng 2.1: ảnh hưởng của sự thay thế bột ngô bằng bột hạt vải đến sinh trưởng tuyệt
đối của gà qua các tuần tuổi
Biểu đồ 1 ảnh hưởng của biện pháp xử lý đến
hàm lượng tannin TS và tannin ĐĐ của hat
nhãn, hạt vải
2.6
2.34 2.03
2.93 2.2 2.13
0
1
2
3
4
5
6
HNK HNNM HNLM HVK HVNM HVLM
Biện pháp xử lý
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5
Tannin TS
Trang 8KL tuần 4 (g) 461a 458a 452a 7.6 0.680
Cỏc giỏ trị trung bỡnh trong cựng 1 hàng mang cỏc chữ cỏi khỏc nhau thỡ khỏc nhau cú ý nghĩa thống kờ (P< 0.001)
ảnh hưởng của sự thay thế bột ngô bằng bột hạt vải đến sinh trưởng tuyệt đối của
gà qua các tuần tuổi được trình bày ở bảng 2.1
Kết quả bảng 2.1 cho biết khi thay thế 25 % ngô trong khẩu phần bằng bột hạt vải (tương ứng 1,76 g tannin/kg TA, bảng 2a phần phụ lục), khối lượng trung bình gà từ 4-12 tuần tuổi không có sự khác nhau đáng kể giữa lô đối chứng (100 % bột ngô) và lô thí nghiệm thay thế 25 % bột ngô bằng bột hạt vải (P>0.05), điều đó chứng tỏ bột hạt vải có thể sử dụng 6 % trong khẩu phần (bảng 2a), và tương đương 1,76 g tannin/kg TA không làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà thịt Lương Phượng (4-12 tuần tuổi) Tuy nhiên khi tăng tỷ
lệ bột hạt vải lên 12 % trong khẩu phần, tương ứng thay thế 50 % ngô khẩu phần thì khả năng sinh trưởng, phát triển của gà có sự sai khác đáng kể giữa lô thí nghiệm và lô đối chứng (P<0.001) trong các tuần tuổi, đièu đó chứng tỏ khi tăng bột hạt vải lên 12 % trong khẩu phần tương ứng 3,52 g tannin/kg TA đã làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của gà thịt Lương Phuợng từ 4-12 tuần tuổi Tuy nhiên khả năng sinh trưởng và phát triển này phụ thuộc nhiều vào lượng thức ăn thu nhận, và khả năng thu nhận thức ăn phụ thuộc vào hàm lượng tannin trong thức ăn
ảnh hưởng của sự thay thế ngô bằng bột hạt vải đến lượng thức ăn thu nhận, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn được trình bày ở bảng 2.2
Kết quả bảng 2.2 cho biết lượng thức ăn thu nhận không có sự sai khác đáng kể giữa lô
đối chứng (100 % bột ngô) và lô thí nghiệm khi thay thế 25 % bột ngô bằng bột hạt vải (P>0.05), và tương đương 1,76 g tannin/kg TA, tuy nhiên lượng thức ăn thu nhận giảm khoảng 9 % ở lô thay thế 50 % bột ngô bằng bột hạt vải và có sự sai khác đáng kể có ý nghĩa thống kê (P<0.05), và tương đương hàm lượng tannin trong khẩu phần là 3,52 g/kg
TA Điều đó chứng tỏ hàm lượng tannin ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng thu nhận thức ăn của gà thịt
Bảng 2.2: ảnh hưởng của sự thay thế ngô bằng bột hạt vải đến lượng thức ăn thu nhận, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn
Trang 9KPCS100 KPCS75 KPCS50
TA thu nhận TB
(g VCK/con/ngày)
Phốt pho (g/con/ngày) 0.4a 0.5b 0.5b 0.01 0.50
Tăng trọng TB (g/ngày) 25.4 a 25.6 a 22.8 b 1.2 0.01
(Kg TA/Kg TT)
Giá TA/kg TT* (1000 đ) 13,697a 13,189a 13,070b 243 0.03
Cỏc giỏ trị trung bỡnh trong cựng 1 hàng mang cỏc chữ cỏi khỏc nhau thỡ khỏc nhau cú
ý nghĩa thống kờ (P 0.05)
* Giá thức ăn cho 1 kg tăng trọng tính toán tại thời điểm năm 2007
Kết quả bảng 2.2 cho biết tăng trọng trung bình không có sự sai khác đáng kể giữa lô đối chứng (100 % ngô) và lô thí nghiệm (thay thế 25% ngô bằng bột hạt vải), (P>0.05), tuy nhiên tăng trọng giảm khoảng 10 % ở lô thay thế 50 % bột ngô bằng bột hạt vải so với lô đối chứng và sự sai khác đáng kể ở mức (P<0.05) Kết quả này chỉ ra rằng khi thay thế
50 % bột ngô bằng bột hạt vải có hàm lượng tannin vượt quá 3,52 g/kg TA đã ảnh hưởng
đến tăng trọng trung bình của gà Lương Phuợng nuôi thịt Tiêu tốn thức ăn trung bình cho
1 kg tăng khối lượng không có sự sai khác đáng kể giữa lô đối chứng (100 % bột ngô) và lô thí nghiệm thay thế 25 % bột ngô bằng bột hạt vải (P>0.05), tuy nhiên khi thay thế 50
% bột ngô bằng bột hạt vải tiêu tốn thức ăn có sự sai khác đáng kể (P<0.05) và tiêu tốn thức ăn tăng khoảng 10 % so với lô đối chứng Tuy nhiên giá thành thức ăn cho 1 kg tăng trọng thấp hơn lô thí nghiệm so với lô đối chứng khoảng 5 % tại thời điểm thí nghiệm năm 2007 Từ kết quả thí nghiệm có thể kết luận rằng khi thay thế 50 % bột ngô bằng bột hạt vải đã ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Lương Phương nuôi thịt (4-12 tuần tuổi) Điều này chứng tỏ khi hàm lượng tannin trong khẩu phần gà thịt tăng (3,52 g/kg TA) đã ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn, và có thể nói gia cầm rất mẫn cảm với hàm lượng tannin trong khẩu phần Nhiều nghiên cứu ở úc cho thấy tannin ở mức độ cao đã ảnh hưởng đến tiêu hóa protêin, nhất là trên lợn và gia cầm, tuy nhiên với gia cầm tannin còn ảnh hưởng đến tiêu hóa tinh bột, Flores và cộng sự (1994) kết luận có sự ảnh hưởng của tannin đến tiêu hóa tinh bột của gà 3 tuần tuổi, và mức độ ảnh hưởng này phụ thuộc nhiều vào hàm lượng tannin ăn vào Tuy nhiên Jansman và cộng sự (1993) nghiên cứu trên lợn cho thấy ít
Trang 10có sự ảnh hưởng của tannin đậm đặc đến tiêu hóa tinh bột của lợn mà các tác giả này kết luận tannin đậm đặc chủ yếu ảnh hưởng đến sự tạo phức chất với protêin hơn là khả ăng tạo phức với carbonhydrat
Tỷ lệ nuôi sống từ 4-12 tuần tuổi trung bình là từ 93.4-96.7 %, kết quả này là trung bình so với đàn Luơng Phượng nuôi đại trà tại trạm thực nghiệm, thực tế gà loại thải
tỷ lệ rất thấp Kết quả mổ khảo sát chất lượng thịt được trình bày ở bảng 2.3
ảnh hưởng của sự thay thế ngô bằng bột hạt vải đến chất lượng thịt gà được trình bày ở bảng 2.3
Bảng 2.3: ảnh hưởng của sự thay thế ngô bằng bột hạt vải đến chất lượng thịt gà
KPCS100 KPCS75 KPCS50
Cỏc giỏ trị trung bỡnh trong cựng 1 hàng mang cỏc chữ cỏi khỏc nhau thỡ khỏc nhau cú ý nghĩa thống kờ (P 0.05)
Kết quả bảng 2.4 cho biết tỷ lệ thịt xẻ, mỡ bụng, tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực của gà thịt Lương phương lúc giết thịt 12 tuần tuổi không có sự sai khác đáng kể giữa lô đối chứng và lô thí nghiệm khi thay thế 25-50 % bột ngô bằng bột hạt vải (P<0.05), điều này chứng tỏ bột hạt vải khi bổ sung 6-12 % khẩu phần ít ảnh hưởng đến chất lượng thịt Tuy nhiên xu hướng VCK, protêin của thịt đùi và thịt ngực của lô thí nghiệm cao hơn lô đối chứng, có thể do chất lượng thịt đùi, thịt ngực phụ thuộc nhiều vào lượng protein ăn được Protêin thu nhận của lô thí nghiệm (13,2-13,5 g/con/ngày) có xu hướng cao hơn lô đối chứng (12,7 g/con/ngày)
4 Kết luận và đề nghị
Sử dụng phương pháp lên men yếm khí tự nhiên trong 4 tuần đã làm hàm lượng tannin tổng số và tannin đậm đặc của hạt nhãn, hạt vải đáng kể (từ 22,6- 29,9 %) so với phương pháp phơi và sấy khô truyền thống