Các doanh nghiệp phải tự thay đổi, cải tổ lại bộ máy quản lý củ để cho phù hợp với tình hình kinh doanh mới và Xí nghiệp vật tư vận tải cũng nằm trong số đó Xí nghiệp không chịu lùi bước
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại nước ta tiến lên chủ nghĩa Xã hội dần xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, trì trệ, chậm phát triển, để chuyển sang nền kinh tế thị trường đa thành phần, từng bước theo kịp những nước đang phát triển Để thích nghi với cơ chế mới các doanh nghiệp nhà nước bước đầu cũng gặp không Ýt những khó khăn nhưng không vì thế mà họ chịu lùi bước mà họ luôn tìm cách phát triển, không ngừngnâng cao trình độ, trang thiết bị cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật để kinh doanh có hiệu quả nhất Xí nghiệp vật tư vận tải cũng là một doanh nghiệp nhà nước khi chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng vậy, Xí nghiệp không ỷ lại vào sự chu cấp của nhà nước mà tự mình tìm hướng đi riêng thích hợp với cơ chế thị trường Với những nỗ lực tìm tòi và phát triển không biết mệt mỏi Chính vì vậy mà
họ đã từng bước tự khẳng định được vị trí của mình trên thị trường và có những bước phát triển vượt bậc
Là 1 học sinh thực tập trong Xí nghiệp với chức năng tìm hiểu quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Em xin trình bày quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức
bộ máy của Xí nghiệp
A - Giới thiệu tình hình chung và đặc điểm của Xí nghiệp
I Tình hình phát triển của Xí nghiệp
Được thành lập từ những năm 80 trong cơ chế cũ được sự cấp vốn theo ngân sách nhà nước và hoạt động theo chủ trương chính sách của nhà nước Xí nghiệp hoạt động với chức năng sản xuất, vận tải hàng hoá đường thuỷ và đường bộ trên khắp mọi miền của đất nước theo yêu cầu của nhà nước cho đến khi chuyển đổi cơ chế bao cấp Các doanh nghiệp nhà nước không còn được sự chu cấp của nhà nước
mà phải tự mình sản xuất, kinh doanh độc lập nhưng vẫn nằm trong sự quản lý của nhà nước Các doanh nghiệp phải tự thay đổi, cải tổ lại bộ máy quản lý củ để cho phù hợp với tình hình kinh doanh mới và Xí nghiệp vật tư vận tải cũng nằm trong số
đó Xí nghiệp không chịu lùi bước trước những khó khăn còn tồn tại mà luôn tìm cách đổi mới phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như nâng cao trình độ theo đội ngò cán bộ công nhân viên Xí nghiệp vật tư - vận tải là một trong những đơn vị thành viên của công ty vật tư và thiết bị toàn bộ Trực thuộc bộ công nghiệp nặng
Để phù hợp với cơ chế kinh doanh trongthị trường mới công ty vật tư và thiết bị toàn bộ cũng đã thành lập lại ngày 5/5/1993 theo quyết định của bộ trưởng bộ công nghiệp nặng
Trang 2- Căn cứ nghị định số 15 - CP ngày 2/3/1993 của chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm quản lý của nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bé
- Căn cứ quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước ban hành kèm theo nghị định số 338 - HĐBT ngày 20/11/1991 của hội đồng bộ trưởng ( nay là chính phủ )
- Căn cứ vào thông báo số 138/TB ngày 3/5/1993 của văn phòng chínhphủ thông báo ý kiến của thủ tướng chínhphủ về việc đồng ý cho phép thành lập lại doanh nghiệp nhànước
- Thành lập lại Công ty vật tư thiết bị toàn bộ
Tên giao dịch quốc tế : MATEXIM
- Trô sở chính của doanh nghiệp tại thị trấn nghĩa Đô, Huyên Từ liêm, Thành Phố
Hà Nội
- Các đơn vị thành viên và địa chỉ
+ Tổng kho 1: Thị trấn cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội : ThÞ trÊn cÇu DiÔn - Tõ Liªm - Hµ Néi
+ Chi nhánh vật tư Hải Phòng: số 1 lê Lai - Hải Phòng : sè 1 lª Lai - H¶i Phßng + Xí nghiệp vật tư vận tải: Ngõ 484 Hà Huy Tập - YênViên - GiaLâm - HN : Ngâ 484 Hµ Huy TËp - YªnViªn - GiaL©m - HN
+ Xí nghiệp vật tư Hà Nội : Thị trấn nghĩa Đô - Từ Liêm - Hà Nội : ThÞ trÊn nghÜa §« - Tõ Liªm - Hµ Néi
+ Chi nhánh vật tư miền trung: Sè 57 Phan Chu Trinh - Thành Phố Đà Nẵng :
Sè 57 Phan Chu Trinh - Thµnh Phè §µ N½ng
+ Chi nhánh vật tư miền nam: Sè 127 Lý Chính Thắng - Quận 2 - TPHCM : Sè
Trang 3- Ngành nghề kinh doanh của Công ty : Xuất nhập khẩu và kinh doanh vật tư, thiết
bị toàn bộ, vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ và đường bộ
- Xí nghiệp vật tư - vận tải đóng tại Ngõ 484Đường Hà Huy Tập - Thị Trấn Yên Viên Gia Lâm - Hà Nội là một trong những đơn vị thànhviên cũng hoạt động kinh doanh với chức năng kinh doanh vật tư thiết bị toàn bộ Để hoạt đồng và phát triển trong cơ chế mới Xí nghiệp đã không ngõng học hỏi tìm kiếm bạn hàng, tổ chức mạng lưới kinh doanh hợp lý Từ đó đến nay Xí nghiệp đã có những bước phát triển vượt bậc Kinh doanh có hiệu quả, hàng năm Xí nghiệp nép về công ty hàng chục tỷ đồng vànộp thuế hàng tỷ đồng thời đóng góp vàoquỹ phóc lợi xây dựng cơ
sở vật chất, cũng như chất lượngđời sống cán bộ nhân viên trong Xí nghiệp không ngừng được cải thiện
II / Vị trí địa dư của Xí nghiệp
Xí nghiệp vật tư vận tải đặt tại Ngõ 484 - Hà Huy Tập - Thị Trấn Yên Viên - Gia Lâm - Hà Nội cách đường quốc lé 100m lối vào ra rất rộng rãi tuy nằm bên trongđườngquốc lé nhưng điều đó cũng không ảnh hưởng tới việc kinh doanh của doanh nghiệp Với diện tích rộng 20.000m2 nên cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp rất đầy đủ từ phòng ban cho đếncác kho bãi Được bố trí rất thuận tiện cho việc giao dịch và chuyên chở hàngvề kho doanh nghiệp có mặt tiền rất rộng khoảng 150 m2
rất thuận lợi cho doanh nghiệp, diện tích rộng rãi thoải mái nên việc kinh doanh cũng dễ dàng, thuận tiện, các phòng ban được gắn kết với nhau rất chặt chẽ và bộ máy quản lý kinh doanh cũng được hoạt động tốt với sự chỉ đạo và cùng bàn bạc của cácphòng ban Các bãi để xe, khu vực vận chuyển hang, khu để xe cho cán bộ công nhân viên và khu để xe cho khách đều được quy hoạch rõ ràng tạo điều kiện tốt để nhân viên làmviệc và việc giao dịch đối với khách hàng cũng rất thuận lợi Nhìn cung với vị trí địa dư như vậy doanh nghiệp có rất nhiều thuận lợi nhưng bên cạnh đó cũng có 1 vài khó khăn nhưng không đáng kể
III / Đặc điểm bộ máy quản lý doanh nghiệp
Mỗi mét doanh nghiệp đều có cách thức tổ chức bộ máy quản lý khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể của các doanh nghiệp mà người ta có thể tổ chức bộ máy theo nhiều các Tổ chức theo kiểu cơ cấu trực tuyến, cơ cấu chức năng, cơ cấu chương mục Nhưng cho dù bộ máy quản lý được tổ chức quản lý theo cơ cấu nào cũng phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản là tính năng động, tính tin cậy và tính kinh tế
1 Đặc điểm bộ máy quản lý của doanh nghiệp
Trang 4Xí nghiệp vật tư vận tải là một doanh nghiệp nhà nước nên bộ máy quản lý được tổ chức theo cơ cấu chức năng Xí nghiệp vật tư vận tảilà một chi nháng thuộc tổng công ty vật tư và thiết bị toànbộ Trong thời kỳ bao cấp Xí nghiệp cũnglà một doanh nghiệp sản xuất với nhiều phân xưởng khác nhau và từ đó cũng có nhiều phòng ban khác nhau nhưng trong thời kỳ đó doanh nghiệp sản xuất theo định hướng của nhà nước vì doanh nghiệp vẫn được sự bao cấp của Công ty các sản phẩm mà doanh ghiệp làm ra chỉ phục vụ theo định hướng của trên giao cho Nhưng
từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường và tổng công ty được thành lập lại vởít nhiềuchi nhánh khác nhau trên khắp cả nước nhưng các chi nhánh đó không còn được sự bao cấp của Công ty nừa mà mỗi chi nhánh có một chức năng hoạt động độc lập phải tự mình kinh doanh để bảo toàn và phát triển chi nhánh của mình Xí nghiệp vật tư vận tải cũng nằm trong cá chi nhánh đó, trong thời kỳ bao cấp doanh nghiệp có rất đông đội ngò công nhân viên sản xuất nhưng bước sang nền kinh tế thị trường thì những sản phẩm mà doanh nghiệp làm ra đã không còn phù hợp với
cơ chế mới Với cơ sở vật chất lại quá nghèo nàn lạc hậu mà doanh nghiệp lại là một chi nhánh hay còn gọi là một doanh nghiệp nhỏ với số vốn của trên giao cho thì quá Ýt để khôi phục sản xuất mà đội ngò công nhân lại quá giá không còn sự năng động và sáng tạo của tuổi trẻ chính vì vậy mà doanh nghiệp đã giảiquyết dần cho họ
về hưu hoặc nghỉ chế độ hoặc đưa đi đào tạo thêm để làm côngviệc khác Còn công việc sản xuất của doanh nghiệp dần bị xoá bỏ và doanh nghiệp đã chuyển sang kinh doanh chứ không sản xuất nữa Doanh nghiệp kinh doanh chính các sản phẩm của mình làm ra trước đây nhưng đó là những sản phẩm của mình làm ra trước đây nhưng đó là những sản phẩm của những công ty lớn với các dây chuyền sản xuất và trang thiết bị hiện đại mà mỗi công ty lớn đó chỉ chuyên sản xuất và trang thiết bị hiện đại mà mỗi công ty lớn đó chỉ chuyên sản xuất một mặt hàng VD : Chỉ sản xuất gạch lát nền OV chỉ sản xuất thép Vì vậy mà bộ máy tổ chức quản lý của doanh nghiệp đã thu hẹp lại doanh nghiệp chỉ còn lại các cán bộ quản lý và các nhân viên thuộc các bộ phân khác nhau Nhưng đây là đội ngò quản lý kinh doanh
có kiến thức, năng độ và không ngừng học hỏi để có thể đứng vững và phát triển kinh doanh trong cơ chế mới Bộ máy quản lý của doanh nghiệp là bộ máy quản lý theo kiểu cơ cấu chức năng mỗi người lãnh đạo đảm nhận một chức năng nhất định
Do đó, những người thừa hành ở các bộ phận không chỉ nhận mệnh lệnh từ người quản lý chung mà còn nhận từ những người lãnh đạo chức năng khác Tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu này doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho đội ngò cánbộ nhân viên không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức để làm tốt nhiệm vụ, chức năng
mà doanh nghiệp đã giao phó Để làm tốt điềunàyXí nghiệp vật tư vận tải đã có những cách điềuhành sắp xếp lao động một cách hợp lý và phù hợp với điều kiện của nên kinh tế thị trường hiện nay, bộ máy quản lý và kinh doanh của doanh
Trang 5nghiệp gồm 46 người được chia thành một ban giám đốc và 4 phòng ban chức năng.
- Ban giám đốc gồm : 1 giám đốc và 1phógiámđốc kinh doanh
+ Giám đốclà người do tổng Công ty quản lý và điềuhành doanh nghiệp, là nười đứng đầu có quyền lực cao nhất tại doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước Công ty
và về mọi mặt hoạt động cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Giám đốc thay mặt doanh nghiệp ký kết các hợp đồng kinh tế và là người đưa ra quyết định về quản lý đồng thời định hướng cho sự phát triển Xí nghiệp Phó giám đốc kinh doanh phụ trách mọi hoạt độngkinh doanh của Xí nghiệp từ việc tìm nguồn hàng, tìm nguồn tiêu tụ đến việc nghiên cứu mở rộngthị trường, thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện
- Các phòng ban được tổ chứchết sức gọn nhẹ, đảm bảo cho quá trình quản lýdiễn ra thông suốt Nhiệm vụ của cácphòng ban này chấp hànhvà kiểm tra việc chấp hành các chế độ chính sách của nhà nước , của doanh nghiệp, các mệnh lệnh chỉ thị của ban giám đốc tham gia đề xuất với giám đốc những chủ chương biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong doanh nghiệp theo trách nhiệm quyền hạn từng phòng, phụ vụ đắc lực cho công tác hoạt động kinh doanh Ngoài những nhiệm vô chung, mỗi phòng ban tuỳ thuộc vào chức năng đảm nhiệm còn thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau cụ thể
+ Phòng phát triển thị trường gồm 10 người với nhiệm vụ tìm kiếm các nguồn hàng và nơi tiêu thô thông qua việc nghiên cứu thị trường, tìm hiểu giá cả, sự biến động cung cầu của hàng hoá, tổ chức quảng cáo giới thiệu sản phẩm, hội nghị khách hàng
+ Phòng kinh doanh gồm 22 người bao gồm cả nhân viên bán hàng, nhân viên kinh doanh chịu trách nhiệm thực hiện các hợp đồng mua bán vật tư hàng hoá Trên
cơ sở kết quả nghiên cứu thị trường của phòng phát triển thị trường Phòng kinh doanh lập kế hoạch lịch trình cho việc nhập nguồn hàng Ký kết các hợp đồng mua bán hàng đồng thời phải nắm được số nhập - xuất, tồn kho hàng tháng để có kế hoạch nhập vào và bán ra hợp lý
+ Phòng kế toán gồm 8 người chuyên theo dõi mọi hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp đã đạt được, cung cấp những thông tin cần thiết cho lãnh đạo và cácbộ phận liên quan để đề ra những biện pháp quản lý kinh doanh hợp lý
Trang 6+ Phòng tổ chức gồm 3 người với nhiệm vô là quản lý lao động trong doanh nghiệp, lên kế hoạch sắp xếp lao động theo đúng chuyên môn nghiệp vụ và tuyển dụng lao động cho thích hợp.
+ Kho chứa hàng hoá gồm 1 nhân viên với nhiệm vụ quản lý số lượng hàng nhập vào và xuất ra kho để làm báo cáo đề lên trên vào những thời điểm hàng tồn và hãnguất ra lớn để doanh nghiệp có kế hoạch tổ chức nhập hàng hợp lý
Phßng
tæ chøc
Trang 7Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo mối quan hệ hợp lý có như vậy
bộ phận quản lý mới năng động, đi sâu vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Để bộ máy quản lý của doanh nghiệp được hoàn thiện thì các phòng chức năng là những tổ chức bao gồm cán bộ, nhân viên kinh tế, hành chính được phân công chuyên môn hoá theo các chức năng riêng Đảm nhiệm những côngviẹc của mìnhvới tất cả trách nhiệm
Trách nhiệm chung của các phòng ban chức năng là vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vừa phải phối hợp chặt chẽ với các phòng ban khác đảm bảo cho tất cả các lĩnh vực công tác của phòng ban khác đảm bảo cho tất cả các lĩnh vực công tác của doanh nghiệp đều ăn khớp, đồng bộ nhịp nhàng.Để tổ chức tốt các phòng chức năng cần phải phân tích sự phùhợp giữa các chức năng và cần phải phân tích sự phù hợp giữa các chức năng và các bộ phận quản lý Trên cơ sở đó tính toán xác định số lượng cán bộ, nhân viên mỗi phòng chức năng này một cách chính xác, có căn cứ khoa học nhằm vừa đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ, vừa giảm bớt tỷ lệ nhân viên quản lý giảm chi phí quản lý của doanh nghiệp
2 Đặc điểm tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường đang và đã phát triển như vũ bão thì mỗi doanh nghiệp đều tự xây dùng cho mình một chiến lược hoạt động kinh doanh hợp lý Với quy mô kinh doanh phù hợp với đặc điểm và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mình các công việc kinh doanh của các doanh nghiệp không thể giống nhau Công tác kinh doanh của doanh nghiệp xâydựng không thể nào lại công tác kinh doanh của các doanh nghiệp không phải các thời kỳ kinh doanh nào cũng giống nhau
Trước đây trong thời kỳ bao cấp việc kinh doanh hầu như là không phát triển, chỉ hoạt động sản xuất theo kế hoạch của nhà nước bên cạnh đó là đội ngò những nhà kinh doanh theo khuôn khổ của nhà nước đó thúc đẩy kinh doanh không ngừng học hỏi, tìm ra các chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp mình Xí nghiệp vật tư vận tải cũng vậy với đội ngò các cán bộ nhân viên giàu kiến thức và chịu học hỏi cho nên việc hoạch định kế hoạch hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp mình hợp lý Tuỳ vào từng thời điểm mà doanh nghiệp có chiến lược nhập hàng vào và bán ra thích hợp đã tăng được lợi nhuận cho doanh nghiệp và khẳng định vị trí kinh doanh của mình trên thị trường
3 Đặc điểm về lao động
Trang 8Trong những năm bao cấp , do cơ chế kinh tế quan liêu nên đội ngò cán bộ nhân viên của doanh nghiệp chưa phát huy được vai trò và năng lực của mình Chuyển sang cơ chế mới doanh nghiệp đã cho trọng đến việc đào tạo cho đội ngò của mình, bồi dưỡng đội ngò cán bộ chủ chốt, tạo điều kiện cho cán bé , đại học kinh tế, đại học thương mại và đại học quản lý và kinh doanh và học thêm tại chức
về các ngành khác nhằm nâng cao chi thức để phục vụ tốt cho công tác kinh doanh của doanh nghiệp
-Với tổng số cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp là 36 người với bộ máy tổ chức nhỏ nhưng với sự liên kết chặt chẽ cùng với sự đoàn kết và nhất trí cao nắm bắt mọi chủ trương nhiệm vụ bàn giao phát huy sức mạnh trong mỗi người Cán bộ tạo niềm tin cho nhân viên liên quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân viên đó chính là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy doanh nghiệp đi lên Hơnthế nữa doanh nghiệp luôn được sự quan tâm của đảng công ty luôn giúp đỡ doanh nghiệp trong những lúc khó khăn cùng với sự chỉ đạo trực tiếp của ban giám đốc và sự phối hợp nhịp nhàng của các phòng ban đã tạo uy tín cho khách hàng ở mọi nơi, mọi chỗ khắc phục mọi khó khăn, từng bước đi lên
Về trình độ của cán bộ nhân viên trong Xí nghiệp vật tư vận tải thì ta biết ban giám đốc là bộ phân chủ chốt quyết định chính của doanh nghiệp đều có trình độ đại học, họ trực tiếp quản lý mọi hoạt động kin doanh cũng như chính trị cao, họ trực tiếp quản lý mọi hoạt động kinh doanh cũng như tài chính của Xí nghiệp, luôn chủ động suy nghĩ cóbiện pháp tổ chứcđể thự hiện tốt phần việc được giao Các phòng ban trực thuộc thì cán bộ đều có trình độ cao đẳng, đại học, cử nhân Mỗi phòng ban đều cócứcnăng nhiệm riêng song đều hỗ trợ cho nhau, các phòng phải đề xuất kịp thời những khó khăn, vướng mắc lên ban giám đốc để cùng bàn bạc và đưa
ra những quyết định đúng đắn kịp thời Sự hiểu biết là rất cần thiết vì vậy những người có trình độ cao sẽ làm tốt các công việc được giao
Là mét doanh nghiệp nhà nước cho nên công ty làm việc theo đúng chế độ của nhà nước đã quy định Các cán bộ nhân viên đều bắt đầu một ngày làm việc, buổi sáng bắt đầu từ 7h30 - 11h30 sáng và buổi chiều từ 1h30 - 4h30 làm việc tuần 5 ngày nghỉ thứ bẩy và chủ nhật ngoài ra cán bộ, nhân viên đều được nghỉ vàonhững dịp lễhội lớn của đất nước theo quy định của nhà nước như vào ngày quốc khánh 2-
9, tết nguyên đan nói chung việc sử dụng lao động là một trong những yếu tố quan trọng cũng như mọi yếu tố khác cũng phải hạch toán, sử dụng như thế nào cho hợp lý nhất, hiệu quả nhất làm tăng hiệu quả kinh doanh Bất cứ một doanh nghiệp nào dù là doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân thì việc sử dụng lao động hợp lý là yếu tố quan trọng và quyết định sự thành thông trong lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh và ta có thể biết sự phát triển của doanh nghiệp qua thu nhập bình quân của cánbộ nhânviên trong Xí nghiệp
Trang 9Bảng thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên
Đơn vị tính : 1000đ
Từ khi chuyển sang cơ chế mới các doanh nghiệp đều được tự do trong sản xuất và kinh doanh Doanh nghiệp đã có nhiều biện pháp trên cơ sở giảm biên chế, hạn chế các hoạt động dư thừa nhằm ổn định việc kinh doanh để kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tổ chức lại mạng lưới, tổ chức các cán bộphục vụ kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tổ chức lại mạng lưới, tổ chức các cánbộ phụcvụ kinh doanh đào tạo thêm cho cán bộ, cử đi học thêm các líp về nâng cao trình độ quản lývà kinh doanh để theo kịp với tiến triển của yêu cầu kinh doanh trong tình hình mới
Hiện nay doanh nghiệp rất chú trọng đến các tri thức trẻ năng động nhiết tình thay thếnhững người sắp nghỉ công tác có thể phục vụ và đưa doanh nghiệp phát triển đi l ên và có thể cùng sống chết với doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh Bên cạnh việctìmkiếmnhững nhân tài doanh nghiệp cũng không bao giê quên quan tâm đến đời sống của cán bộ công nhân viên luôn quan tâm đến đời sống của họ về gia đình và chỗ ở, đểhọcó thể yên tâm phục vụ hết mình cho doanh nghiệp
Doanh nghiệp giải quyết các chế độ nghỉ hưu cho những người đã đến tuổi theo quy định của nhà nước ( năm 60 tuổi, nữ 55 tuổi ) ngoài ra những người chưa
đủ tuổi về hưu nhưng đủ năm công tác nếu có nguyện vọng thì doanh nghiệp cũng giải quyết cho nghỉ trong những năm tiếp theo vấn đềvề đời sống cán bộ nhân viên cần được chú trọng hơn Hàng năm vào những dịp đặc biệt doanh nghiệp tổ chứccác buổi liên hoan sinh hoạt ngoài giê, tổ chức các đợt du lịch nghỉ mát nhằm động viên
về mặt tinh thần cho cán bộ trong doanh nghiệp Hàng năm, hàng tháng doanh nghiệp đều có các khoản tiền thưởng, quà tặng về mặt vật chất kết hợp các yếu tố vềtinh thần văn hoá văn nghệ sẽ giúp và động viên họ tích cực gắn bó và có trách nhiệm với doanh nghiệp hơn nữa, như vậy công việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ngày càng thuận lợi và phát triển
4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
Trang 10Xí nghiệp vật tư vận tải là 1 doanh nghiệp nhỏ nhưng không vìthế mà các trang thiết bị, cơ sở vật chất khá đầy đủ và hiện đại được trang bị cho các phòng ba đảm bảo cho việc kinh doanh của doanh nghiệp hiện được thuận lợi Ngoài ra với diện tích đất rộng lại không sản xuất cho nên dù đã cho các doanh nghiệp sản xuất khác thuê nhằm tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp và tránh lãng phí đất lưu không không sử dụng.
B.Tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
I/Tầm quan trọng của công tác kinh doanh hiện nay
Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay với thị trường đa tính năng đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một bộ máy quản lý năng động và tri thức để có thể giúp cho doanh nghiệp phát triển và kinh doanh có hiệu quả Trước sự biến đổi không ngừng của thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn bám sát thị trường, tìm kiếm và nghiên cứu thị trường ở lĩnh vực mà doanh nghệp đã đăng ký kinh doanh với nhà nước Thì đòi hỏiđội ngò nhân viên phải năng động có tri thức và phải nhiệt tình trong công việc, và phải nhạy bén Các nhà kinh doanh thường nói thương trường như chiến trường trăm người bán mới có 10 người mua vì vậy sự cạnh tranh
là rất khốc liệt nếu không nhạy bén với thị trường thì sẽ bị đối thủ gạt bỏ Chính vì vậy mà em đã chọn đề tài này vì kinh doanh là đòi hỏi sự thông minh, năng động và không ngừng tìm tòi để phát triển chính mình nó có thể đưa mình lên đỉnh cao của
sự thành đạt và nó cũng có thể đẩy mình xuống sâu của sự thất bị Nếu ta không chịu họchỏi và nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đưa ra chiến lược kinh doanh đúng đắn cho doanh nghiệp mình
1/Phân tích công tác NCNCTD và dự báo tương tự của doanh nghiệp
Việc NCNCTD của khách là một công đoạn hết sức quan trọng qua việc nghiên cứu này nó có thể giúp khách hàng thoả mãn một cách tốt nhất và doanh thu được lợi nhuận NC NCTD dùa vào nó mà doanh nghiệp có cơ sở xây dựng mặt hàng kinh doanh của mình được hợp lý hơn và còn xây dựng được kế hoạch nhập hàng, dự trữ, bảo quản hàng hoá 1 cách thích hợp mà không lấy về quá sớm làm tăng chi phí bảo quản cũng như chi phí khác hoặcnhập về muộn làm giảm tốc độ bán ra và kế hoạch đẩy mạnh bán ra bị chậm sẽ làm thất thu cho doanh nghiệp dẫn đến có thể bị thua lỗ
Thông qua việcNCNCTD mà doanh nghiệp có kế hoạch quảng cáo và bán ra một cách kịp thời và hợp lý Thôngqua đó mà doanh nghiệp còn biết được hiện thị trường đang cần những mặt hàng gì mà doanh nghiệp mình chưa có và trên thị trường không có hoặc Ýt bán mà doanh nghiệp có phương pháp hợp lý để mỏ rộng hàng kinh doanh và các dịch vụ phục vụ khách hợp lý nhất nhằm giúp doanh nghiệp
Trang 11kinh doanh có hiệu quả nhất Và cũng qua việc nghiên cứu NCD mà doanh nghiệp biết được rõ các mặt hàng kém phát triển của tiêu thụ chậm có trong tương lai mặt hàng đó có thể giảm mà doanh nghiệp đưa ra chiến lược kinh doanh hợp lý Đúng là việckhông thể thiếu để giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay.
Việc NCNCTD và dự báo thị trường bao gồm nhiều yếu tố Trước khi mét doanh nghiệp bước vào kinh doanh thì luôn luôn phải tìm hiểu thật kỹ nơi mà mình định đặt địa điểm ở trung tâm hay ở ngoại thành phải đi sâu vào nghiên cứu tình hình thực tế về dân téc, tôn giáo giới tính và kết cầu dân cư ở nơi đó Xem nơi đó tập trung nhiều trí thức hay nhiềungười lao động bao nhiêu người trong độ tuổi lao động và cònđang đi hoạc phải điều tra thu nhập bình quân ở nơiđó là bao nhiêu Họ dùng cho sinh hoạt hàng ngày là bao nhiêu, giải trí là bao nhiêu và cho các chi phí khác Mỗi địa phương khác nhau vào những thời điểm khác nhau thì nhu cầu của dân cũng khác Mét điểm không kém phần quan trọng đó điều kiện địa lý, phong tục tập quán ở nơi đó điều đó nó cũng ảnh hưởng tới NCTD của họ Công việc tiếp theo làđiều tra về sức mua của nơi đó : đó chính là lượng tiền mà khách dùng để mua hàng, nó là nhân tố quyết định đến nhu cầu của khách dùa vào đó để biết được sức mua của dân hết sức mua mà cao thì NCTD của dân là rất lớn Đòi hỏi tăng cả
về số lượng và chất lượng hàng hoá
Giá cả cũng là một trong những công tác NCNCTD nó chiếm một phần rất quan trọng đến việc tiêu thụ hàng hoá nó có thể làm tăng sức mua của dân và nó cũng có thể làm giảm sức mua Khi giá cả mà tăng nhưng chất lượng của hàng hoá không đổi thì nó sẽ làm giảm nhu cầu của khách về mặt hàng đó vàngược lại Nếu giá cả không đổi mà khả năng cung ứng hàng hoá lớn và hàng hoá thì đa dạng phong phú, cả về mẫu mã, chất lượng, mầu sắc khả năng nhu cầu của khách và ngược lại
-NCNCTD thôngqua nhân viên bán hàng, kế toán và thủ kho
+Thông qua nhân viên bán hàng để biết được tốc độ hàng bán ra, hàng ứ đọng, hàng thiếu bán, hàng kém phẩm chất và những hàng chuẩn bị hết hời hạn sử dụng, các yêu cầu của khách như các yêu cầu về hàng hoá,dịchvụ, giá cả, quy cách phẩm chất hàng, loại, mầu sắc, cỡ số, thời gian phục vô về tinh thần thái độ phục vụ thu thập thông tin về ý kiến của khách hàng phản ảnh với nhân viên
+Thông qua thủ kho để biết được số lượng hàng tồn kho, lưu lại kho, qua số lượng hàng nhập chu kỳ nhập hàng, xuất hàng thông qua sự phản ảnh của thủ kho màbiết được hàng nào đã thoả mãn, hàng nào chưa thoả mãn, hàng nào ứ đọng hàng
Trang 12nào lỗi mốt để biết được nguyên nhân hàng bán nhanh, bán chậm, hàng thiếu bán, cách bao gãi, ghi nhãn trên bao bì sản phẩm đã phù hợp chưa.
+Thông qua kế toán để tổng hợp số liệu KD của doanh nghiệp và phân tích về lượng hàng bán ra, hàng dự trữ, hàng tồn đọng, so sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước để biết được : mức tăng giảm của nhu cầu, phản ánh về quy tắc biến đổi của nhu cầu, xu hướng tiêu dùng củatừng loại hàng theo thời gian, phản ánh về thờigian khách cần hàng
+Qua các nhân viên marketting thu thập thông tin và xử lý các thông tin về mức
độ tiêu thụ hàng hoá qua nghiệp vụ bán hàng, xuất nhập hàng hoá, qua các thôngtin trên thị trường, qua tình hình kinh doanh của các đối thủ
Thông qua việc NCNC để cùng doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinh doanh, tìm các biện pháp khắc phục, tham gia vào việc xác định giá mua giá bán hàng hoá, tìm thị trường mua bán của doanh nghiệp, đề ra biện pháp quảng cáo và khuếch trương sản phẩm và các công tác khuyến mại, có kế hoạch nhập hàng và bán ra một cách hợp lý
Ta cũng có thể điều tra lượng khách hàng qua lại khu vực xem họ thường chú
ý đến mặt hàng hàng gì và lượng tiền mà khách bỏ ra dùng để mua hàng những mặt hàng mà khách cần thì khu vực của mình đã đáp ứng được chưa
Sức mua của dân cũng biến động khi mà các phong trào vận động xã hội để phục vụ cho một mục đích nào đó thì nó cũng sẽ làm cho nhu cầu về hàng hoá sẽ biến động VD : như phong trào người việt nam dùng hàng việt nam
Hoặc vào các ngày lễ tết thì nhu cầu thường thì tăng cao và khả năng đáp ứng các hàng hoá mà khách hàng cần là bao nhiêu, đủhay còn thiếu
Khi một mặt hàng mới mà ra đời nó được tiến cả về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng điềunày nó cũng tác động đến người tiêu dùng
Ngoài ra còn có vị trí của cửa hàng có thuộc tiện cho việc giao dịch buôn bán hay không, hình thứcvà phương pháp bán hàng của doanh nghiệp cũng như mạng lưới thông tin liên lạc thuận tiện, giao thông vận tảiphải thuận tiện và các dịch vụ khác cũng phải tốt
Khi đã làm tốt các công tác trên và biết được đối tượng khách hàng của mình
là ai thì doanh nghiệp có thể dự báo được thị trường và đưa ra chiến lược kinh doanh hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp
2/Nội dung NCNC của khách hàng
Trang 13a/NCNCTD về mặt hàng hoá nhằm mục đích
-Để biết được số lượng hàng hoá nói chung dân cần là bao nhiêu
-Để biết được sự biến động nhu cầu qua từng thời kỳ của năm
-Tác dông : Giúp doanh nghiệp xác định được tổng mức lùa chuyển hàng háo trong năm, trong quý, trong tháng
-Qua việc NCNCTD doanh nghiệp có kế hoạch nhập hàng và bán hàng ra hợp lý,
để không nhập thừa hoặc thiếu, nếu nhập thừa thì bị ứ động vốn, tăng chi phí còn nhập thiếu thì thiếu hàng bán dẫn đến mất khách
-Lưu ý : là một nhân viên thay mặt bán hàng, qua lượng hàng bán ra của doanh nghiệp của từng thời kỳ nhất định mà doanh nghiệp biết được số lượng hàng bán ra
và hàng tồn trong cơ quan bán tại quầy của mình để vào sổ sách và báo cáo với phụ trách về tình hình nhu cầu của khách phản ánh được về hàng mà khách cần nhưng cửa hàng không có, những hàng đang thiếubán, hàng đã thoả mãn nhu cầu để phụ trách và người cơ quan sau biết
b/NCNCTD về mặt chất lượng hàng hoá
-Để biết được yêu cầu của người tiêu dùng về giá trị sử dụng của hàng hoá có bán tại cửa hàng hoặc nói cách khác là để biết được chất lượng hàng bán ra của cửa hàng đã hợp với yêu cầu của người tiêu dùng chưa
+Tác dông : Giúp doanh nghiệp tổ chức nhập hàng hợp lý cho phù hợp với yêu cầu mà khách cần, nhập đủ về số lượng và cơ cấu mặt hàng, chất lượng hàng phải tốt, giá cả phải hợp với sức mua và giá trị của hàng hoá, hợp với thời gian mà khách cần hàng
-Để của hàng có cơ sở vàphản ánh lại với sản xuất làm ra sản phẩm hợp với yêu cầu của khách hàng mà doanh nghiệp có chế độ kiểm tra chất lượng hàng chặt chẽ
để đảm bảo lợi Ých người tiêu dùng và uy tín của doanh nghiệp
+ lưu ý : trong điều kiện này chất lượng sản phẩm là hàng đầu mà doanh nghiệp phải thực sự quan tâm đến nó Doanh nghiệp phải biết cách lắng nghe, theo dõi ý kiến củakhách hàng để phản ánh với cấp trên kịp thời sử lý cho thích hợp, người bán hàng phải nhạy bén với những hàng mới, hàng thay thế trên thị trường Trong khi bán hàng phải kịp thời phát triển những hàng mất phẩm chất, hàng sắp hết hạn
sử dụng để kiếnnghị giải quyết với lãnh đạo
C/NCNCTD về cơ cấu hàng bán ra mục đích
Trang 14-Để biết được hàng bán ra của doanh nghiệp về chủng loại, kiểu mốt, mầu sắc, cỡ
số của hàng hoá dã phù hợp với yêu cầucủa người tiêu dùng
-Tác dông :
+Làm cơ sở để xác định đúng đắn mặt hàng ma khách cần để kinh doanh
+Từ việc nghiên cứu trên doanh nghiệp xác định được nhóm hàng, phân nhóm hàng cụ thể
+Xác định được tỷ trọng của nhóm , phân nhóm hàng và tên hàng cụ thể chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng mức bán lẻ của doanh nghiệp
+Giúp doanh nghiệp hoàn thành được kế hoạch kinh doanh của mình
-Lưu ý : trong ca bán hàng phải phát hiện được hàng nào bán chạy, hàng nào bán chậm, hàng nào khó bán để báo cáo phụ trách kịp thời giải quyết
d/NCNCTD về thời gian tiêu thụ mặt hàng mục đích
-Để biết được nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá đó sẽ phát sinh, phát triển và kết thúc vào thời gian nào của năm
-Để thấy được mức độ tiêu thụ từng mặt hàng trong thời gian nhất định
-Tác dông :
+Giúp doanh nghiệp có kế hoạch nhập hàng đúng lúc và kịp thời
+Giúp doanh nghiệp có kế hoạch quảng cáo, giới thiệu và bán ra thích hợp
+Giúp doanh nghiệp xác định được hình thức thanh toán, phương thức thanh toán
để tiện cho khách
-Lưu ý : Có hai loại nhu cầu khi nghiên cứu chú ý nhu cầu thời vụ sẽ phát sinh, phát triển, kết thúc trước thời vô tù nhiên của năm Doanh nghiệp phải chuẩn bị sớm hàng để chuẩn bị quảng cáo và bán ra trước thời vụ tiêu dùng Khi hết thời vụ tiếp theo Đối với hàng phục vụ nhu cầu lễ tết thì nhu cầu sẽ tăng lên rõ rệt và đột suất trong các ngày lễ tết, thời gian phát triển ngắn, sau ngày lễ tết thì nhu cầu lại phát triển bình thường, thậm chí mức tiêu thụ giảm nhiều Là nhân viên của doanh nghiệp phải chú ý đúng mứ đến nhu cầu hàng thời vụ để nhập, quảng cáo và bán hàng trước thời vụ tiêu dùng của khách, đồng thời phải biết hàng hoá vào những ngày lễ tết thì nhu cầu của dân rất cao phải có kế hoạch để chuẩn bị hàng đủ để bán ra
Trang 15e)NCNCTD về tập quán tiêu dùng của khách.
-Để biết được thời gian trongngày, tháng , năm khách đến hoặc khống đến mua hàng của doanh nghiệp
-Biết được khách nào có tập quán mua hàn giá trị cao, bình thường
-Mỗi lần đi mua hàng, khách mua nhiều hay Ýt, mua hàng thiết yếu hay thông thương, mua làm quà
-Khách đến mua hàng vào giê nào ( đồng nhất , thưa nhất , hoặc không có khách ) -Loại khách đến cửa hàng là ai, khách mua về tiêu dùng hay bán Khách cố định hay vãng lai
-Những nhu cầu phục vụ có liên quan đến việc mua hàng và tiêu dùng của khách +Tổ chức các dịch vụ theo yêu cầu của khách
+Giúp khách vận chuyển hàng đã mua
+Tổ chức sửa chữa lắp giáp hàng hoá tại nhà cho khách
+Giúp khách và hướng dẫn khách tháo lắp, sửa chữa đơn giản hàng hoá máy móc tại nhà
+Tổ chức hoàn thiện hàng theo yêu cầu của khách
+Tổ chức các dịch vụ nhắn tin nhanh cho khách
+Tổ chức nơi nhận tạm hàng cho khách khi khách chưa mang về
+Dịch vụ giữ xe cho khách
+Hướng dẫn chế biến món ăn tại nhà và phục vụ tại nhà
+Tổ chức bán hàng và phục vụ theo yêu càu của khách
+Môi giới việc mua hàng cho khách
+Giải đáp các yêu cầu của khách và nhận đơn đặt hàng của họ
+Phải có bộ phận nhận đơn đặt hàng của khách đặt
+Có dịch vụ phục vụ trước, trong và sau khi bán hàng của khách
3/PLNC
Trang 16Là mét doanh nghiệp đóng ở ngoại thành hà nội với chức năng kinh doanh vật tư, thiết bị toàn bộ DN thường mua hàng của các nhà sản xuất bán cho khách hàng thông qua hợp đồng và bán lẽ Trong đó có mặt hàng vật liệu xây dựng là Xí nghiệp bán buôn bán lẻ cung cấp cho đối tượng khách trong khu vực và các khu vực lân cận nếu khách hàng yêu cầu Xí nghiệp đã đặt một đại lý ở ngày gần đường quốc
lé để thuận tiện cho việc giao dịch Đây là mặt hàng kinh doanh thời vụ nên công tác nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng về mặt hàng này là rất quan trọng đối tượng khách hàng của Xí nghiệp là người dân và các nhà thầu xây dựng
Trong thời đại hiện nay khi mà nền kinh tế đất nước đang có xu hướng phát triển nhanh thu nhập bình quân của người dân cũng vì thế mà được nâng lên, nhu cầu về nhà ở đang phát triển mạnh và quan niệm "ăn nhiều chứ ở hết bao nhiêu" không còn chỗ đứng nữa mà nhu cầu làm đẹp cho căn nhà của mình cũng được nâng lên Các ngôi nhà cấp bốn, nhà trần dầu dần bị phá đi và thay vào đó là những biệt thự, những ngôi nhà cao tầng đang dần mọc lên Chính vì thế mà nhu cầu về xây dựng hiện tại và tương lai đang có xu thế phát triển mạnh Thường thì mùa xây dựng phát triển mạnh vào mùa khô nhưng như hiện nay thì cũng không nhất thiết phải xây dựng vào mùa khô mà theo nhu ầu của người dân thì cứ có tiền là xây và các công trình xây dựng có thể hoạt động quanh năm Chính vì thế mà Xí nghiệp luôn nghiên cứu kỹ nhu cầu để có kế hoạch nhập hàng, bảo quản và bán ra một cách kịp thời không bao giê để tình trạng hàng thiếu bán hoặc hàng thừa năm lưu kho lưu bãi Đây là loại hàng không thể bảo quản lâu Nếu bảo quản lâu nó sẽ làm giảm chất lượng của hàng hoá hoặc lâu ngày không sử dụng được nữa VD : mặt hàng xi măng, sắt thép Sẽ gây tổn thất cho doanh nghiệp trong các mặt hàng thì có rất nhiều chủng loại mỗi một mặt hàng thì có nhiều cơ sở sản xuất với mẫu mã, màu sắc, chất lượng và giá cả rất khác nhau, cho nên doanh nghiệp luôn luôn nghiên cứu kỹ lưỡng
về nhu cầu của từng loại khách hàng Khách muốn chủng loại nào thì doanh nghiệp cũng có thể đáp ứng được Hiện nay có rất nhiều cơ sở sản xuất mặt hàng vật liệu xây dựng của tư nhân, ủa nhà nước và của các doanh nghiệp liên doanh cho nên chất lượng và giá cả cũng rất khác nhau, đối với khách hàng có nhu cầu mua về xây dựng nhà ở thì không nhất thiết phải chất lượng tốt nhâts mà chất lượng vừa phải hợp với tói tiền của họ và đảm bảo độ bền Còn đối với các công trình lớn như xây khách sạn, nhà cào tầng, hay cầu thì luôn cần những sản phẩm có chất lượng tốt để đảm bảo độ bền và độ an toàn cho công trình thường thì nhu cầu xây dựng về nhà ở thì cung cầu sản phẩm có chất lượng cao lắm Khi khách có nhu cầu mua hàng thì thường đến cửa hàng và họ thường hỏi những mặt hàng có chất lưoựng và độ bền cao nhưng giá cả thì cũng không phải là thấp và tường thì các nhân viên hướng khách hàng đến một sản phẩm khác chất lượng cũng không là bao nhưng giá cả lại rất hợp với tói tiền của khách tâm lý của khách luôn luôn là như vậy trừ trường hợp
có một số khách hàng cho dùn là xây nhà ở nhưng họ luôn đến mua sản phẩm có uy
Trang 17tín, chất lượng cao của các nhà sản xuất đã có tên tuổi trên thị trường đây là loại khách hàng có thu nhập cao Vì thế mà doanh nghiệp luôn nghiên cứu kỹ để có kế hoạch nhập vào và bán ra hợp lý không bao giê nhập những loại hàng kém phẩm chất, chất l ượng không tốt về bán mặc dù giá rẻ hoặc kiểu dáng và màu sắc của họ không khác xa với sản phẩm có chất lượng và uy tín trên thị trường doanh nghiệp luôn lấy chữ tín làm dầu Còn đối với các công trình lớn thì họ luôn đặt hàng thông qua hợp đồng mua bán của hợp đồng kinh tế mà ở trong hợp đồng luôn ghi rõ và đầy đủ về mặt số lượng tên mặt hàng, chất lượng và phương thức giao hàng vì vậy
mà doanh nghiệp cũng luông nghiên cứu kỹ để có quá trình nhập hàng đúng theo yêu cầu khách Một công tác nghiên cứu nữa mà các doanh nghiệp không bao giê
bỏ quá nó quyết định tới sự phát triển của doanh nghiệp đó là đối thủ cạnh tranh và giá cả Doanh nghiệp luôn luôn phải thăm dò đối thủ xem các mặt hàng mà họ bán thì mình đã bán chưa hay những mặt hàng mà mình có mà họ thì chưa có, họ thường nhập hàng vào thời gian nào có hay trùng lặp với thời gian mà doanh nghiệp mình nhập không, giá cả mà đối thủ bán ra có thấp hoặc cao hơn giá cả mà mình bán ra không đây là điều hết sức quan trọng để doanh nghiệp có kế hoạch nhập hàng
và bán ra hợp lý mà có thể tìm cách để hạ giá thành sản phẩm để có thể cạnh tranh với đối thủ mà vẫn đảm bảo cho doanh nghiệp có lợi nhuận
4/Mục tiêu kinh doanh trong công tác NCNCTD
Trong kinh doanh việc NCNCTD là một vấn đề hết sức quan trọng nó quyết định sự thành bại của các doanh nghiệp Nếu nghiên cứu nhu cầu một cách kỹ lưỡng qua đó doanh nghiệp có thể biết đối tượng khách hàng mà mình phục vụ là ai thông qua việc NCNCTD để biết được lượng tiền mà dân bỏ ra mua hàng là bao nhiêu, thời điểm nào thì hàng hoá bán chậm, hay thông qua việc NCNTD mà doanh nghiệp biết được khách cần loại sản phẩm nào về quy cách, chất lượng, kiểu dáng, màu sắc về chế độ quảng cáo khuếch chương sản phẩm đã thích hợp chưa, có tác động được đến đối tượng kháh hàng không, hoặc thông qua việc NCNCTD mà biết được sản phẩm của mình có được khách hàng ưa chuộng không hay còn những hạn chế
và hạn chế ở chỗ nào về kiểu dáng, mầu sắc hay chất lượng hoặc giá cả bán ra có hợp lý không, có tương xứng với chất lượng của sản phẩm không Vì vậy mục tiêu kinh doanh của công tác NCNCTD là để doanh nghiệp đề ra chiến lược kinh doanh cuả mình một cách hợp lý, thông qua đó mà doanh nghiệp tiếp thu được ý kiến để
có giải pháp áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao doanh số sản phẩm và làm hạ giá thành sản phẩm có chiến lược quảng cáo thích hợp nhằm đưa sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng nhanh nhất mà giá thành rẻ từ đó mà doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận để thuận tiện cho việc tái sản xuất và sản xuất mở rộng kinh doanh có hiệu qủa
II/Công tác ký kết hợp đồng
Trang 181/Nguyên tắc ký hợp đồng
-Nuyên tắc tự nguyện : Việc ký kết hợp đồng kinh tế phải dùa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các bên không có sù áp đặt ý chí của bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào
+Tù do lùa chọn bạn hàng
+Tù lùa chọn thời điểm ký kết
+Thoả thuận về nội dung ký kết
-Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi : Các bên cùng nhau xác lập quan hệ HĐKT phải đảm bào nội dung có sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ và đảm bảo lợi Ých kinh tế cho mỗi bên tham gia
-Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật : Các bên tham gia quan hệ hợp đồng phải tự mình gánh vác trách nhiệm về tài sản và không trái pháp luật : Các bên tham gia quan hệ hợp đồng phải tự mình gánh vác trách nhiệm về tài sản nếu có vi phạm hợp đồng
-Mọi thoả thuận trong hợp đồng phải hoàn toàn phù hợp với những quy định của pháp lu
2/các điều khoản chính của hợp đồng mua bán
(1).tên địa chỉ đơn vị ký hợp đồng
-nếu là doanh nghiệp tư nhân phải ghi rá họ tên người đứng tên đăng ký kinh doanh
nếu là là người được uỷ quyền thì phải đảm bảo các điều kiện sau:
Trang 19 +phải có giấy uỷ quyền hợp lệ phải do chính người có quyền đi ký hợp đồng uỷ quyền lại
+trong giấy uỷ quyền phải ghi rõ họ tên người uỷ quyền va người được uỷ quyền, chức vụ của người được uỷ quyền,số giấy uỷ quyền
+ người được uỷ quyền chỉ được ký hợp đồng trong phạm vi được uỷ quyềnvà tuyệt đối không được uỷ quyền lại cho người thứ ba
+người uỷ quyền vẫn phải chịu trách nhiệm như chính mình đi ký hợp đồng đó(3).Tiên hàng, số lượng hàng hoá
-Ghi rõ tên mặt hàng cụ thể cần giao dịch
-Số lượng , khối lượng hàng
-Đơn vị tính
-Tổng trị giá lô hàng giao dịch
(4).Quy cách phẩm chất hàng hoá
-Hàng giao dịch theo tiêu chuẩn chất lượng nào
-Thời gian bảo hành từng loại hàng hoá
-Tỷ lệ hàng chính phẩm , thứ phẩm và lẫn loại khi giao dịch
-Hàng lẫn loại, lẫn hàng sai qui cách chưa có tiêu chuẩn chất lượng thống nhất Hai bên mua và bán thoả thuận chất lượng rồi báo cáo cơ quan quản lý cấp trên về tiêu chuẩn áp dụng trong hợp đồng
(5).Giá cả hàng hoá
-Trong hợp đồng phải ghi rõ đơn giá của từng loại sản phẩm
-Phải ghi rõ tổng trị giá của lô hàng ký
-Những hàng có khung giá hay giá chỉ đạo của nhà nước thì trong hợp đồng phải ghi rõ
-Thông thường ghi rõ giá thoả thuận giữa hai bên
Trang 20-Khi hàng chưa có giá chính thức trong trường hợp đó phải ghi rõ giá tạm tính tại thời điểm Êy
(6).Bao bì đóng gãi
-Phải ghi rõ tên bao bì , loại bao bì , quy cách chất lượng
-Cách đóng gói sản phẩm và ghi nhãn trên bao bì
-Các chỉ tiêu kỹ thuật về đo lường
-Chi phí bao bì do ai chịu
(7).Điều khoản về thanh toán
-Phải ghi rõ hình thức thanh toán , phương tiện thanh toán , thời hạn thanh toán -Phải ghi rõ trách nhiệm vật chất khi mét trong hai bên không thanh toán theo đúng quy định
(8).Điều khoản giao nhận
-Ghi rõ số lượng hàng giao nhận , thời gian địa điểm giao nhận
-Hạn định và chi phí lưu kho lưu bãi
-Tỷ lệ tăng giảm về số lượng hàng trong mỗi lần giao nhận
-Phương tiện vận chuyển , cước phí vận chuyển và thuế giao dịch ai chịu
-Hình thức và phương pháp kiểm tra hàng hoá
-Tỷ lệ mẫu kiểm tra
-Cách xử lý khi hai bên không thống nhất về kết quả kiểm tra
Trang 21+Nếu quá hạn không trả sẽ phải chịu lãi suất trả chậm trên tiền trả theo quy định hiện hành
-Khi một bên thực hiện chậm so với hợp đồng thì bên nhận có quyền không nhận và đòi phạt hợp đồng
-Bên bán : Khi một bên từ chối việc tiếp nhận hàng hoá đã hoàn thành đúng hợp đồng lúc Êy bên bán có quyền đòi tiền phạt vị phạm hợp đồng và đòi tiền bồi thường chi phí bảo quản , vận chuyển do bên nhận gây ra
-Tiền bồi thường bao gồm các khoản sau :
+Phần giá trị số tài sản bị mất mát hư háng
+Số lãi mà bên bị hại phải trả cho ngân hàng
+Các chi phí cần thiết mà bên bị hại đã chi như bến bãi , hao hụt , vận chuyển bảo quản , bảo vệ hàng, chi phí chờ đợi
+Các khoản thu nhập thực tế và trực tiếp đã không thu được
+Các khoản chi phí để ngăn ngõa và hạn chế do việc vi phạm hợp đồng gây ra +Bên bị hại bị thiệt hại khoản nào thì được bồi thường khoản đó
10.Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng mua bán :
-Là khoảng thời gian để các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đã ghi trong hợp đồng tính từ khi hợp đồng có hiệu lực pháp luật đến khi các bên đã thoả thuận là đã thực hiện xong hợp đồng
Trang 22+Có hiệu lực pháp lý kể từ khi các bên ký đủ vào văn bản đến khi hợp đồng được thực hiện xong
+Do hai bên thoả thuận thời gian của hợp đồng và được ghi vào hợp đồng
(11).Điều khoản cam kết khác
-Các bên có quyền thoả thuận với nhau về mức thưởng phạt để khuyến khích nhau thực hiện tốt hợp đồng mua bán
+Phạt tối đa 12%
+Thưởng chủ yếu do hai bên thoả thuận
-Trong hợp đồng phải ghi rõ các công việc dứt khoát, phải hoàn thành những công việc chưa có điều kiện thực hiện, những việc cần bàn thêm
-Khi vi phạm hợp đồng về chất lượng sản phẩm bên nhận có quyền từ chối nhận hàng đồng thời đòi tiền phạt và tiền bồi thường hợp đồng
+Nếu hàng này vẫn bán được thì yêu cầu bên bán giảm giá
+Thông thường chúng ta yêu cầu bên bán phải sửa chữa lại những sai sót của hàng hoá theo đúng thời gian mà bên mua yêu cầu
-Bên vi phạm hợp đồng về mặt chất lượng sản phẩm trong thời gian bảo hành
+Đòi giảm giá hoặc đổi lấy sản phẩm khác
+Nếu bên nhận tự sửa chữa thì bên bán phải trả chi phí
+Bên bán sửa chữa cho bên mua thì không được phép tính công
-Vi phạm hợp đồng về thời gian thời hạn thực hiện hợp đồng
+Bên nhận có quyền không nhận hàng , có quyền đòi phạt và bồi thường hợp đồng.+Nếu hàng này nhận về bán được thì người nhận vẫn tiếp nhận hàng nhưng vẫn có quyền đòi tiền phạt và tiền vị phạm hợp đồng
-Khi sản phẩm hoàn thành đúng thời hạn của hợp đồng nhưng người mua không đến nhận thì bên nhận phải nép tiền phạt và tiền bồi thường cho bên bán
Trang 23-Khi mét trong hai bên đơn phương đình chỉ hợp đồng thì bên bị hại có quyền đòi bên kia tiếp tục thực hiện hợp đồng và với thời gian kéo giài thêm ( Thời gian kéo giài thường bằng với thời gian bị dõng ) và bên bị hại vẫn có quyền đòi bên kia tiền phạt và tiền bồi thường hợp đồng
-Khi cần điều chỉnh hợp đồng thì hai bên phải lập thành văn bản thông báo lại cho nhau kịp thời
Những thoả thuận của hợp đồng không được trái pháp luật
Em xin đưa ra một mẫu hợp đồng của doanh nghiệp
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tù do - Hạnh phóc
Trang 24HỢP ĐỒNG KINH TẾ
-0o0 -Sè : 25/99CTTMN -*** -
- Căn cứ pháp lệnh hợp đồng kinh tế của HĐNN nước CHXHCN Việt Nam ngày 28/9/1989.
- Căn cứ vào nghị định 17 - HĐBT ngày 16/01/1990 quy định về việc thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Hôm nay, ngày tháng năm 2002 tại Hải Phòng
: Tµi kho¶n :
Ngân hàng: :
Điện thoại: Fax : :
Trang 25khoản: : M· sè thuÕ
: Tµi kho¶n :
Ngân hàng: :
Điện thoại: Fax : :
Fax :
Sau khi thoả thuận hai bên thống nhất và cam kết thực hiện việc mua bán vật
tư sau :
ĐIỀU I : Bên A bán cho bên B gạch chịu lửa Grome - Magnesia do Trung Quốc
Bªn A b¸n cho bªn B g¹ch chÞu löa Grome - Magnesia do Trung Quèc
-Trị giá trên có thuế:2.150.000.000 : 2.150.000.000đ
-Thuế giá trị gia tăng: : 215.000.000 đ
*Trị giá thanh toán: : 2.365.000.000 đ
( Bằng chữ : Hai tỷ, ba trăm sáu mươi lăm triệu đồng chẵn )
ĐIỀU II : Chất lượng hàng hoá
Chất lượng hàng hoá của bên A đảm bảo theo yêu cầu kỹ thuật sau
* Hàng do Trung Quốc sản xuất theo tiêu chuẩn : GB 2276 - 87
-Mác gạch:MGe - 12 : MGe - 12
*Có thành phần đặc tính sau :