Vị trí, vai trò của ngành vận tải hàng không Việt Nam với sự phát triển kinh tế : * Một điều khẳng định là nhờ đường lối đổi mới của Đảng, Việt Nam đã cơ bản thoát ra tình trạng khủng ho
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới đã chuyển sang mét giai đoạn phát triển mới với tính quốc tế hoá ngày càng cao Sù giao lưu kinh tế và hợp tác quốc tế đã liên kết các quốc giá có chế độ chính trị khác nhau thành một thị trường thống nhất
Cùng với xu hướng đó, Việt Nam đang đi tới một bước ngoặt hướng tới một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tham gia toàn diện trên thị trường vốn, đầu tư và thương mại thế giới Việt Nam đã tiến đến một trang lịch sử của mình
" Đổi mới " một từ ngắn gọn được sử dụng rộng rãi để mô tả quá trình chuyển đổi của Việt Nam từ một cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa trên chế độ công hữu là chủ yếu sang một nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, đã tạo nên một sự ảnh hưởng mạnh mẽ trong và ngoài nước, ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội đất nước Kết quả là các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ được đẩ mạnh đáp ứng nhu cầu xã hội
Đi lên cùng với quá trình đổi mới, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước tiến đáng khích lệ với đội ngũ máy bay đang từng bước hiện đại hoá và lớn mạnh, các dịch vụ không ngừng được hoàn thiện, mạng đường bay ngày càng được mở rộng, nâng cao tần suất vận chuyển hành khách và hàng hoá Ngành Hàng không dân dụng như là nhịp cầu nối liền Việt Nam và phần còn lại của thế giới một cách nhanh nhất, tiện lợi nhất, đáp ứng nhu cầu giao lưu kinh tế, văn hoá, chính trị, ngoại giao và sự đi lại của công dân Đây cũng làm một ngành kinh tế đóng góp nhiều ngoại tệ cho ngân sách nhà nước và là lực lượng dự bị quân sự quốc gia vô cùng quan trong của đất nước
Với vai trò một ngành kinh tế mũi nhọn, sự phát triển và lớn mạnh của ngành Hàng không ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên Hàng không dân dụng là một ngành kinh tế kỹ thuật còn rất non trẻ,
Trang 2giới, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường hàng không trong nước và quốc
tế, nhất là trong giai đoạn trước mắt khi Việt Nam đang tăng cường thiết lập quan hệ với các nước trên thế giới, khách quan nước ngoài đến ngày một gia tăng, buôn bán thương mại giữa các nước với Việt Nam đặc biệt là các hoạt động đầu tư, xuất nhập khẩu tăng nhanh Do vậy nhu cầu vận tải đường hàng không phải được phát triển ngày càng lớn để đảm bảo vận chuyển hành khách
và hàng hoá đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của nền kinh tế
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành, hàng không quốc gia Việt Nam vẫn còn gặp một số khó khăn nhất định như:
- Năng lực cạnh tranh của hãng còn thấp do khả năng tài chính còn hạn hẹp, còn lúng túng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
- Công nghệ và không gian phục vụ đang là sức Ðp lớn đối với Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam hiện nay và trong thời tới
- Sức thu hút hành khách đến với mạng nội địa hiệu quả đạt được còn thấp do hạn chế bởi cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, cũ kỹ ảnh hưởng đến việc mở mạng bay, lập lịch bay và chất lượng dịch vụ của hãng
Với vấn đề đặt ra như trên, nhằm góp phần nhỏ bé vào hoạt động kinh doanh của Tổng công ty, kết hợp với nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp tôi chọn đề tài :
" Một số biện pháp nhằm phát triển vận tải hàng không Việt Nam đến
năm 2005 - 2010 ".
* Mục đích của đề tài : Phân tích hoạt động kinh doanh vận tải hàng
không để nhận thức được tầm quan trọng của ngành đối với phát triển kinh tế quốc dân Đánh giá nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không từ đó phân tích khả năng phát triển hoạt động kinh doanh vận tải hàng không trên cơ sở những kết quả kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không của Tổng công ty trong những năm qua, rót ra những phương hướng biện pháp nhằm phát triển hơn nữa hoạt động kinh doanh vận tải hàng không của Tổng công ty Hàng không Việt Nam
Trang 3* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu : Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu của đề tài là quá trình phát triển ngành hàng không Việt Nam, tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực hoạt động vận tải hàng không và lấy Tổng công
ty hàng không Việt Nam làm đối tương khảo sát, nghiên cứu, trên cơ sở các tài liệu và số liệu được vụ cơ sở hạ tầng thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư thu thập và tổng hợp lại từ Tổng công ty Hàng không Việt Nam
* Phương pháp nghiên cứu : Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu phận tích biện chứng và lịch sử gắn lý luận với thực tiễn, đặc biệt là phương pháp so sánh để luận giải, khái quát và phân tích thực tiễn theo mục đích của đề tài
* Kết cấu của đề tài : Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu
tham khảo chuyên đề chia thành 3 phần :
Phần I : Ngành hàng không trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Phần II : Quá trình phát triển của vận tải hàng không và thực trạng hiện nay.
Phần III : Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển vận tải hàng không Việt Nam
PHẦN I
NGÀNH HÀNG KHÔNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT
I VAI TRÒ CỦA VẬN TẢI HÀNG KHÔNG VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1 Ngành giao thông vận tải với phát triển kinh tế
Giao thông vận tải là một trong những ngành trọng yếu của nền kinh
tế quốc dân Đó là ngành sản xuất đặc biệt, nó đặc biệt ở chỗ lúc này thì nó thể hiện tính chất sản xuất, lúc khác thể hiện tính chất dịch vụ Sự tồn tại và
Trang 4phát triển của ngành gia thông vận tải có tác động rất lớn đối với sự phát triển chung của nền kinh tế
Vận tải trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng gắn liền với quá trình phát triển của xã hội, nó có tác dụng làm thúc đẩy sự lưu thông các sản phẩm hàng hoá Một mặt giao thông vận tải tham gia vào việc cung ứng vật tư, máy móc,
kỹ thuật, nguyên liệu, năng lượng cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và đưa các sản phẩm của các cơ sở sản xuất kinh doanh đến với thị trường tiêu thụ, giúp cho các quá trình sản xuất diễn ra liên tục Mặt khác giao thông vận tải còn có ý nghĩa về mặt quốc phòng mở rộng các mối quan hệ phân công và hợp tác lao độn, hợp tác quốc tế, ổn định giá cả, góp phần phát triển văn hoá
và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
Các mối liên hệ kinh tế - xã hội giũa các địa phương được thực hiện nhờ mạng lưới giao thông giao thông vận tải, thúc đẩy hoạt động kinh tế - văn hoá ở những vùng nói xa xôi, củng cố sự thống nhất của nền kinh tế giữa các nước trên thế giới
Giao thông vận tải bao gồm rất nhiều loại hình vận tải khác nhau Mỗi loại hình vận tải gắn liền với những đặc trưng cơ bản của nó về điều kiện cũng như phương tiện phục vụ Đặc biệt ở Việt Nam hiện nay chỉ có ba loại hình vận tải chính
1056 toa xe chở khách và 5530 toa xe chở hàng cùng với đội ngũ công nhân
Trang 5b) Vận tải đường bộ :
Theo thống kê cuối năm 1996 của Bộ Giao thông vận tải, tổng độ dài của đường bộ nước ta là 106048 Km, trong đó có 11353 Km quốc lộ chiếm 10,7%, mạng lưới đường bộ phân bố khá hợp lý từ Bắc - Nam, lấy các tụ điÓm là thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh làm hai tụ điểm chính toả các giao lộ đi các tỉnh lân cận
Theo đánh giá, chất lượng đường bộ của chúng ta rất thấp, đường tốt chỉ chiếm 7,1% tổng chiều dài, đường trung bình chiếm 5,2% còn lại đường xấu và rất xấu Ngoài ra, quốc lộ còn quá nhiều cầu trạm, lại phải qua lắm phà rất mất nhiều thời gian
Vận tải đường bộ chiếm ưu thế hơn các loại vận tải khác nhất là các đoạn đường ngắn Từ khi chuyển sang kinh tế nhiều thành phần, một trong những ngành mà tư nhân chú trọng đầu tư là vận tải đường bộ Số lượng giao thông đường bộ tăng lên Tổng số trong nước có hơn một triệu ôtô các loại trong đó xe con chiếm 14,6%, xe chở khách chiếm 10,6%, xe hàng chiếm 32,7%
Trong điều kiện đất nước hiện nay thì vận tải đường bộ vẫn là hình thức vận tải thuận tiện bậc nhất cho đa số tầng lớp nhân dân, là phương tiện tham gia rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế đất nước
c) Vận tải đường không :
Đây là phương tiện vận tải mà trong bài viết này chúng ta cần quan tâm nghiên cứu và xem xét Cùng với trào lưu đổi mới của đất nước, ngành hàng không đã có những bước tiến đáng kể Lịch sử xây dựng và trưởng thành phát triển của hàng không Việt Nam được đánh dấu bước khởi đầu bằng sự kiện tiếp quản sân bay Gia Lâm vào tháng 10/1954 Vượt qua bao khó khăn về mọi mặt, hiện nay với cơ sở vật chất kỹ thuật khong ngừng tăng lên, hàng không Việt Nam đã trở thành tiêu chuẩn cho sự phát triển trong hoàn cảnh đổi mới của đất nước Với vai trò là một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn, sự phát triển của ngành hàng không có ảnh hưởng rất lớn tới sự
Trang 6Hiện nay, hàng không Việt Nam có 4 hãng hàng không : Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam ( Việt Nam Anlines ), Công ty hàng không cổ phần Pacific, Công ty bay dịch vụ VASCO và Tổng công ty bay dịch vụ SFC chuyên bay phục vụ dầu khí và dịch vụ du lịch bằng tàu bay trực thăng Với lực lượng nòng cốt là VNA, các hãng này đã tạo một tổng thể không tải Việt Nam đa dạng về hình thức sở hữu cũng như hình thức kinh doanh.
2 Vận tải hàng không - những đặc điểm khác biệt với các loại vận tải khác
Vận tải hàng không là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt mang tính chất đặc thù của ngành giao thông vận tải Sản phẩm của vận tải hàng không được tạo ra bởi nhiều khâu, nhiều yếu tố Vận tải hàng không có một tính chất đặc biệt là nhiều khi chi phí cho một đơn vị sản phẩm ở giai đoạn này không chỉ tạo ra giá trị cho giai đoạn đó mà còn tạo ra giá trị ở giai đoạn tiếp theo
Vận tải hàng không là một ngành sản xuất vật chất, nó không chỉ sử dụng lao động sống mà còn sử dụng lao động quá khứ rất lớn Điều đó thể hiện trước hết công nghệ hàng không là một công nghệ hết sức hiện đại với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến mà tiêu biểu là máy bay - một phương tiện vận tải kết tinh từ những tinh hoa khoa học kỹ thuật của thế kỷ 20
Do tất cả những tính ưu việt của nó, bằng tốc độ vận chuyển mà không một phương tiện giao thông nào sánh kịp Vận tải hàng không cũng cung cấp những lợi nhuận không thể có bằng những hình thức vận tải khác, và nhờ vận tải hàng không mà sự hiểu biết quốc tế và hội nhập ngày một gia tăng
3 Vị trí, vai trò của ngành vận tải hàng không Việt Nam với sự phát triển kinh tế :
* Một điều khẳng định là nhờ đường lối đổi mới của Đảng, Việt Nam
đã cơ bản thoát ra tình trạng khủng hoảng kinh tế và đã có những bước tiến cực kỳ to lớn trên con đường ổn định và phát triển Đối với ngành hàng không dân dụng, đổi mới tạo ra hướng đi đúng, giúp cho ngành có những
Trang 7Trong những năm gần đây, ngành vận tải hàng không Việt Nam đã ngày càng trở thành một ngành dịch vụ quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước Với mạng đường bay rộng khắp đất nước qua ba trung tâm Hà Nội - Đà Nẵng - Thành phố Hồ Chí Minh, hàng không Việt Nam đã vươn lên đến hầu hết các vùng dần trở thành một loại hình vận tải thông dunjg phục vụ nhu cầu đi lại của khách và giao lưu kinh tế giữa miền ngược và miền xuôi, giữa đồng bằng và miền núi, hải đảo, phục vụ xoá đói giảm nghèo, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi Điều này càng thể hiện
rõ khi đường sắt, đường bộ còn nhiều hạn chế và nhiều bất cập Kể cả trong tương lai khi hệ thống đường sắt Bắc - Nam được nâng cấp, xuyên Á hình thành, hàng không Việt Nam vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu giữa ba vùng kinh tế, nối ba vùng ra bên ngoài và ngược lại
Hàng không Việt Nam đã phát triển một mạng đường bay quốc tế rộng lớn đến khắp các vùng của thế giới ( từ Châu Phi, Châu Mỹ, với 12 điểm tại Châu Á, 3 điểm tại Châu Âu và Trung Đông, 2 điểm tại Châu Óc ) góp phần quan trọng vào quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Không tải Việt Nam có những triển vọng phát triển to lớn trong tương lai thể hiện ở 4 yếu tố :
Thứ nhất : Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển theo chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thứ hai : Việt Nam là một nước đông dân, với dự báo đến năm 2010 nước ta đạt 94,7 triệu người và năm 2020 là 104,2 triệu người Trong điều kiện mức sống ngày càng cao, thị truờng vân tải hàng không sẽ hứa hẹn sự phát triển vượt bậc
Thứ ba : Tiềm năng du lịch to lớn của Việt Nam, với lợi thế về đa dạng địa hình và khí hậu, với bề dày lịch sử oai hùng của đất nước, sẽ thu hút nguồn khách quốc tế to lớn cho hàng không Việt Nam
Thứ tư : Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm ở Đông Nam Á, có mật độ đường bay qua với loại cao trên thế giới, sẽ trở thành một trong những điểm trung chuyển vận tải hành khách, hàng hoá trong khu vực và trên thế giới
Trang 8Khi nói đến ngành hàng không dân dụng là nói đến ba yếu tố cấu thành của nó gồm vận tải hàng không, cảng hàng không, sân bay quản lý điều hành bay Song mục đích cuối cùng của ngành chỉ thúc đẩy phát triển ngành vận tải hàng không một cách an tòan, có hiệu quả Nói cách khác phát triển cảng hàng không, sân bay và quản lý bay hiện đại chính là để phục vụ cho ngành vận tải hàng không phát triển Đối với Việt Nam đóng vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là công cụ quan trọng trong việc thực hiện chính sách mở cửa, là ngành kinh tế mũi nhọn đi cùng, đi trước phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thể hiện ở các mặt :
Hàng không Việt Nam sử dụng kỹ thuật - công nghệ thuộc loại tiên tiến nhất của thế giới Hàng không Việt Nam đang tiến tới làm chủ khai thác
và bảo dưỡng những loại máy bay thuộc loại tiên tiến như Airbus 320, Boeing767, đồng thời là một trong những ngành áp dụng những phương thức quản lý, kỹ thuật, quản lý kinh doanh tiên tiến nhất Việt Nam hiện nay
Hàng không Việt Nam là một trong những lực lượng sản xuất tương đối lớn và năng động của Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng cao ( trung bình 44,2%/năm trong giai đoạn 1991 - 1996 ) là một trong những ngành đạt tới lợi nhuận cao và đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nước, là một trong những nguồn thu ngoại tệ lớn của nhà nước
Hàng không Việt Nam góp phần quan trọng vào quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Giao lưu hàng không ngày nay đã trở thành một loại hình dịch vụ quan trọng đối với du lịch, xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài,
là chiếc cầu nối trong mối giao lưu kinh tế, văn hoá với nước ngoài trong chính sách mở cửa, làm bạn với tất cả các nước trên thế giới của Việt Nam Hàng không Việt Nam đã có những bước đi cụ thể để thành lập tiểu khu hợp tác hàng không Campuchia - Lào - Myanmar - Việt Nam, tiến tới quá trình tự
do hoá trong toàn ASEAN, trong cơ cấu tiểu vùng Sông Mê kông
Hàng không Việt Nam là một ngành dịch vụ quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước, nhất là các vùng núi, vùng
Trang 9xa, hải đảo với lợi thế về hệ thống san bay của Việt Nam, hàng không Việt Nam đã vươn tới hầu hết các vùng của đất nước, đầu tư thành một loại hình vận tải thông dụng phục vụ nhu cầu đi lại và giao lưu văn hoá, giao lưu hàng hoá
Được xây dựng và trưởng thành từ lựu lượng vò trang hàng không Việt Nam được xác định là lựu lượng dự bị quốc phòng Đây là nhiệm vụ quan trọng và năng nề của hàng không Việt Nam, có ảnh hưởng sâu sắc đến những định hướng to lớn đối với sự phát triển của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam
Có thể kết luận rằng hàng không Việt Nam đã và sẽ là một lực lượng kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn trong chiến lược tổng thể công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế đã được khẳng định trong báo cáo chính trị của Đại hội Đảng VIII, hàng không Việt Nam có những cơ hội phát triển to lớn trên cơ sở đường lối đổi mới và chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước, đồng thời là một công cụ đắc lực để thực hiện chính sách đó
II CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ THU HÚT KHÁCH HÀNG CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG :
1 Đặc điểm địa lý, dân cư Việt Nam :
Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông dương, thuộc khu vực Đông Nam Châu Á, có diện tích 331.300Km2 chiều dài Bắc Nam 1650 Km Đường biên giới đất liền dài 3730 Km giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia, bờ biển dài 3260 Km Chia thành ba miền Bắc, Trung, Nam với ba trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị lớn Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh cách đều nhau và có khoảng cách tương đối lớn so với diện tích đất nước Đặc điểm này là một yếu tố thuận lợi lớn cho kin doanh vận tải hàng không
Dân số Việt Nam tính đến năm 1998 vào khoảng 78,2 triệu người là một trong những nước có mật độ dân số cao ( 250 người/Km2 ) Tập trung chủ yếu ở đồng bằng bắc bộ, duyên hải miền Trung và đồng bằng nam bé, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh có 5,5 triệu dân, Hà Nội có 2,9 triệu dân
Trang 10miền núi và trung du bắc bộ chỉ có 200người/Km2, duyên hải nam trung bộ 178người/Km2, Tây nguyên 70người/Km2, đồng bằng sông Cửu Long 400người/Km2 Đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh là 2450 người/ km2 và Hà Nội 2300 người / km2.Với tốc độ tăng dân số bình quân từ 1,8 - 20% đến năm
2000 dân số Việt Nam lên khoảng 80 - 82 triệu người và 90 triệu vào năm
2005 ( Nguồn : Bộ Kế hoạch và đầu tư )
2 Môi trường kinh tế xã hội
a Bối cảnh kinh tế chính trị trên thế giới và trong khu vực :
Trong những năm qua, nền kinh tế thế giới đã có nhiều dấu hiệu hồi phục, các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ đã có khả năng điều chỉnh nền kinh tế của mình theo hướng phát triển tốt Khu vực Châu Á được xem là khu vực năng động nhất, với tốc độ tăng trưởng bình quân GDP rất cao, trung bình đạt 8,7% Việc khủng hoảng tiền tệ vào tháng 8 - 1997 đã gây
ra nhiều tổn thất cho các nước ở khu vực Châu Á, tuy nhiên với khả năng và
sự nỗ lực lớn của mỗi quốc gia, cuộc khủng hoảng đã dần được ngăn chặn
b Tình hình phát triển kinh tế của đất nước
Từ khi thực hiện chính sách mở cửa và áp dụng nền kinh tế thị trường
có sự điều tiết của nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt từ 1991 trở lại đây, nền kinh tế đã có sự tăng trưởng với tốc
độ khá cao và ngày càng tăng dần Năm 1998 tốc độ tăng trưởng có giảm (do khủng hoảng)
nhưng cũng tương đối cao so với khu vực và trên thế giới Tốc độ kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định được thực hiện trong điều kiện cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, công nghiệp và dịch vụ tăng đáng kể Sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân đạt được tốc độ cao là do hầu hết các ngành sản xuất và dịch vụ phát triÓn khá
Năm 1998, nhìn chung đời sống của tầng lớp dân cư đã được cải thiện một bước Sau hai lần cải cách tiền lương, thu nhập từ lương của công nhân viên chức đã tăng lên gấp đôi, trong khi đó chỉ số sinh hoạt chỉ tăng 16%
Trang 11đứng thứ 153 trong sè 173 nước mặc dù GDP đầu người năm 1997 dạt 3.855.000 VNĐ/ năm ( tương đương với 300 USD/ năm ) tăng 60 USD so với năm 1995 ( 240USD/ năm )
C Chính sách ngoại giao và hợp tác quốc tế của Nhà nước :
Đường lối ngoại giao đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đã làm cho vị trí của Việt Nam trên trường Quốc tế đượng tăng cường, sự hiểu biết của Thế giới về Việt Nam ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn
Việt Nam ưu tiên tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á và một số nước khác đã có quan hệ thân thiết với Việt Nam từ nhiều năm nay, nhất là quan hệ với các nước ASEAN
Việt Nam còng quan tâm nhiều với các nước khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương như : Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật,
Óc, Trung Quốc
Quan hệ với Mỹ là một khâu đột phá quan trọng vì nó tháo gỡ nhiều ách tắc với Mỹ, với nhiều nước khác và với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế
Các cuộc đi thăm của các vị đứng đầu Đảng và Nhà nước ta sang các nước trên thế giới và các cuộc đi thăm nước ta của các Nguyên thủ Quốc gia
và các nhà kinh doanh, quan chức của một số nước khá nhộn nhịp trong những năm qua để thể hiện rõ ràng thiện chí của Việt Nam với cộng đồng thế giới trong xu hướng hoà bình, hợp tác hoàn thiện, bình đẳng và cùng có lợi
d Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Mét trong những thành công của đường lối đổi mới, đối ngoại của ta là thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài
Từ năm 1988 đến 1992 vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bình quân tăng hàng năm 51,6%, riêng 1992 bằng 70% của 4 năm trước cộng lại, năm
1994 tăng 45,8% so với năm 1993, năm 1995 tăng 43% so với năm 1994, năm 1996 tăng 45,8% so với năm 1995, năm 1997 tăng 41,8% so với năm 1996
Trang 12Trong đó thứ tự các nước đầu tư vào Việt Nam : Đài Loan, Hồng Kông, Singapo, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh, Việt kiều.
e Sự phát triển của công nghệ và vận tài hàng không thế giới :
Công nghệ và kỹ thuật hiện đại đang biến đổi về chất lượng hoạt động của cách ngành hàng không.Trong những năm cuối thế kỷ 20 sẽ ra đời nhiều thế hệ máy bay mới có chỉ số kinh tế kỹ thuật tốt nhất, với vật liệu mới, công nghệ tin học, trí tuệ nhân tạo, độ ồn thấp Trên thế giới đang diễn ra quá trình phi trật tự hoá ( deregulation ) hoạt động không tải, mức độ cạnh tranh giữa các hãng hàng không ngày càng khốc liệt, sự xuất hiện những siêu hãng hàng không, các tụ điểm trục nên đang ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành hàng không dân dụng Việt Nam trong năm tới
III MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, KỸ THUẬT CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG CÓ ẢNH HƯỞNG LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
1 Đặc điểm đối tượng vận tài hàng không
Đối với vận tải hàng không thì giá cước cao hơn tất cả các loại hình vận chuyển khác, thời gian vận chuyển nhanh hơn rất nhiều, sử dụng các công nghệ tiên tiến, máy tính và hệ thống thông tin với công nghệ hiện đại nhất, cho phép các hãng hàng không trao đổi thông tin, chứng từ, giấy tờ và các thủ tục cần thiết khác ( Thủ tục hải quan đơn giản, nhanh chóng ) và là phương tiện vận tải an toàn nhất Nhưng vận chuyển hàng không có hạn chế
là không vận chuyển được hàng hoá có khối lượng lớn, cồng kềnh
a Đặc điểm hành khách vận tải bằng đường hàng không :
Hành khách chính của vận tải hàng không là thương nhân và khách du lịch, thăm thân nhân, việt kiều, các nhà đầu tư, tiếp đó là các khách dự hội thảo, hội nghị, tham gia thi đấu thể thao, Khách du lịch thường đi theo mùa
và thành các nhóm lớn chủ yếu là khách từ Đài Loan, Pháp,Trung Quốc , Thái Lan, Hồng Kông, Singapo, khách việt kiều về thăm quê hương từ Mỹ, Canađa, Pháp, Đức, Khách quốc tế đến Việt Nam để tìm hiểu thị trường hợp tác với phía Việt Nam trong việc sản xuất , kinh doanh đầu tư vốn hay
Trang 13trung tâm du lịch của đất nước như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế Do vậy các đường bay này thường rất đông khách đặc biệt là khách quốc tế.
Nguồn khách trong nước tương đối đa dạng, tuy nhiên do thu nhập của người dân nước ta còn thấp nên chỉ có một số đối tượng chính đi lại bằng máy bay : Cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước đi công tác, dự hội nghị, hội thảo, cán bộ lãnh đạo của các công ty tư nhân, một số Ýt người buôn bán,
du lịch hoặc thăm nom gia đình, thân nhân Như vậy, lượng khách trong nước chỉ tập trung vào cán bộ Nhà nước và một số người có thu nhập cao
Trong các mùa cao điểm, nhất là dịp tế thường có nhiều nguồn khách làm ăn buôn bán từ các nơi khác về quê thăm thân nhân, ăn tết, thực hiện công vụ Do vậy để thu hút được nhóm khách hàng đặc biệt là khách quốc tế phải tạo được uy tín đối với khách hàng như đúng giờ, thủ tục nhanh chóng, thuận tiện, thái độ phục vụ chu đáo, lịch sự và các dịch vụ khác
Cơ cấu khách hàng của VIET NAM AIRLINES
- Khách thương mại : 60%
- Khách du lịch : 20%
- Khách thăm thân nhân, việt kiều : 10%
- Khách đi với các mục đích khác : 10%
b Đặc điểm hàng hoá vận tải bằng đường Hàng không :
Hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không chủ yếu là hàng hoá đi kèm theo người, hàng hoá có giá trị cao, gọn nhẹ ( thiết bị kỹ thuật, đồ kim hoàn, loại hàng hoá tươi sống ) Hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không được chia thành các loại chủ yếu :
- Hàng hoá và bưu điện : Thường là những loại bưu phẩm gửi biếu, tặng hay những vật kỷ niệm, những loại hàng hoá này thường đòi hỏi thời gian vận chuyển tương đối nhanh, mức độ an toàn cao, khách hàng có nhu cầu vận chuyển các bưu phầm này tương đối thường xuyên và đều đặn
- Các loại sách báo, tài liệu, tạp chí của Đảng và Nhà nước : Loại hàng hoá này đòi hỏi thời gian vận chuyển nhanh hơn các loại hàng bưu phẩm vì
Trang 14báo , tạp chí thường là báo hàng ngày, báo tuần hay là các tài liệu cần chuyển khẩu.
- Các loại hàng hóa khác như : Hàng thời trang, cây giống, động vật tươi sống, hoa tươi, hàng kỹ thuật cao, hàng hoá nhậy cảm với môi trường ( dung dịch, hoá chất, đồ ăn dễ hư hỏng, vật liệu nguy hiểm dễ cháy nổ ) Vận tải hàng hoá quốc tế nhằm tận dụng hết khả năng kết hợp vận tải cho khách và ưu thế của Đất nước đang phát triển kinh tế về mọi mặt : Xuất khẩu sản phẩm, nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị
2 Đối thủ cạnh tranh của Tổng công ty
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh luôn là mối đe doạ đối vớt tất
cả các doanh nghiệp Vì vậy các doanh nghiệp muồn tồn tại và phát triển thì phải nghiên cứu đối thủ cạnh tranh từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh hợp lý Tổng công ty Hàng không Việt Nam cũng không tránh khỏi quy luật
đó, để mở rộng vận tải hàng không quốc tế thì ta cần nghiên cứu đến 3 đối thủ cạnh tranh chính :
a Các phương tiện giao thông khác :
Các phương tiện giao thông khách chỉ được coi là đối thủ cạnh tranh của vận tải hành khách bằng đường hàng không ở cự ly dưới 500 km, tuy nhiên vận tải hàng hoá thì phương thức vận chuyển bằng đường biển lại có nhiều ưu thế hơn.Đội tàu biển đã được hiện đại hoá rất nhiều, các trang thiết
bị phục vụ vận tải đã từng bước đáp ứng được nhu cầu Trong quá trình vận chuyển, thời gian vận chuyển nhanh hơn, giá cước rẻ hơn nhiều so với vận chuyển bằng đường hàng không, đặc biệt là có thể vận chuyển được hàng hoá cồng kềnh, khối lượng lớn, tạo được uy tín với khách hàng Với những
ưu điểm trên mà vận tải biển đã thu hút được phần lớn vận chuyển quốc tế, đặc biệt là vận chuyển hàng hoá, điều này đã ảnh hưởng mạnh đến nhu cầu vận chuyển bằng đường hàng không
Trong khi đó vận chuyển bằng đường hàng không chưa có máy bay riêng để chở hàng, cước phí lại quá cao Trước tình hình này ngành hàng
Trang 15không cần có những biện pháp kịp thời hợp lý để đối phó nhằm thu hút thêm nhu cầu vận chuyển hàng hoá Hạ giá thành để thu hút thêm lượng hành khách trong nước.
Bên cạnh đó các phương tiện vận chuyển bằng đường sắt cũng đang có những cải tiến mới : Hạ giá thành, mở thêm các tuyến mới đặc biệt là những chuyến tàu vượt biên giới quốc gia như tàu Liên vận Việt Nam - Trung Quốc, sắp tới là Việt - Lào, nâng cao chất lượng hành khách, hàng hoá đáng kể của ngành hàng không
b Cạnh tranh trong nội bộ
Hiện nay ngành hàng không nước ta gần như được độc quyền khai thác các tuyến bay nội địa, đường bay trong nước hiện nay chỉ có hai hãng khai thác bay vận tải hàng không là Việt Nam Airlines và Pacific Airlines trong khi đó khả năng tài chính, đội bay, cơ sở vật chất kỹ thuật của Pacific Airlines còn rất nhỏ bé, chiếm khoảng 10% thị phần của ngành hàng không, trong chừng mực nhất định họ chỉ đóng vai trò hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của Tổng công ty Mặt khác Pacific Airlines chỉ cạnh tranh đối với các đường bay nội địa, mới chỉ tham gia một số đường bay quốc tế ( Sài gòn - Taipei; Hanoi - Kaosung ) Việt Nam Airlines khai thác một số đường bay nội địa lẫn quốc tế, còn Pacific airlines chỉ khai thác một số đường bay nội địa : Sài Gòn - Hải Phòng; Đà Nẵng - Hải Phòng; Sài Gòn - Đà Nẵng Do vậy, trên các tuyến bay nội địa sự cạnh tranh thực sự trong vận tải hàng không chỉ diên xra trên một đường bay duy nhất Hà Nội - Thành Phố Hồ Chí Minh và sắp tới các là các đường bay từ Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh tới Đà Nẵng
và ngược lại Tuy nhiên khi tương lai Việt Nam phát triển, thực hiện hoạt động theo cơ chế thị trường thì không chỉ có Pacific Airlines mà rất nhiều hãng hàng không được thành lập, lúc này cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt hơn
Vì vậ Tổng công ty cần phải xem xét như đây là những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng cả hiện tại lẫn tương lai, có biện pháp đối phó thích hợp
c Cạnh tranh với các đưòng bay quốc tế :
Trang 16Đây là đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong thị trường hàng không quốc
tế Thị trường vận tải hàng không quốc tế từ Việt Nam đi các nước và từ các nước đến Việt Nam hiện nay đã có rất nhiều hãng hàng không tham gia Trên thị trường vận tải hàng không Việt Nam tính đến hết năm 1998 có khoảng 20 hãng hàng không quốc tế khai thác vận tải Họ đang có ưu thế hơn hẳn hãng hàng không quốc gia Việt Nam về mạng lưới bay và uy tín sản phẩm, về quy
mô và tiềm lực tài chính, về phương tiện và trình độ nhân công, quản lý kinh doanh như Singapor airlines, Thai airways International ( Đông Nam Á ) Air France Lyfthansa ( Châu Âu, Trung Cận Đông ); CathaPacifie, Korean Airlines ( Đông Bắc Á ), Japan Airlines
Trong giai đoạn hiện nay số lượng các hãng tham gia khai thác trên thị trường Việt Nam tuy đã gia tăng những vẫn còn hạn chế nên tình hình cạnh tranh chưa gay gắt lắm Nhưng trong tương lai việc mở rộng các quan hệ ngoại giao, đa dạng các mối quan hệ kinh tế ngày càng thu hút thêm rất nhiều hãng hàng không của các nước tiến hành khai thác trên trị trường hàng không Việt Nam Trước nhu cầu cung ứng dịch vụ hàng không ngày càng nhanh thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt Vì vậy trong sách lược quan hệ quốc tế từng thời kỳ Tổng công ty cần xác định ưu tiên liên minh - liên kết, hợp tác nhằm giảm tối thiểu sự cạnh tranh đối đầu, tranh thủ quỹ thời gian và lợi thế trong hợp tác xây dựng tiềm lực về mọi mặt, chuẩn bị bước vào môi trường cạnh tranh tù do và khốc liệt
Như vậy ngành hàng không có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế văn hoá, xã hội của đất nước giúp cho sù giao lưu kinh tế, văn hoá, chính trị của các nước nói chung và giữa các vùng trong nước nói riêng ngày càng phát triển hơn Tuy nhiên đối với ngành hàng không dân dụng Việt Nam hiện nay vẫn còn là một ngành non trẻ do đó ngành gặp rất nhiều khó khăn như : vốn, kinh nghiệm kinh doanh, năng lực của đội ngũ công nhân viên còn hạn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, chất lượng dịch vụ còn thấp Để
có thể hiểu rõ thực trạng của ngành hàng không và từ đó đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ để phát triển hàng không Việt Nam ngang tầm với
Trang 17PHẦN IIQUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG VÀ THỰC TRẠNG
HIỆN NAY
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,PHÁT TRIỂN VÀ MÔ HÌNH TỔ
Trang 181 Lịch sử hình thành và phát triển của hãng hàng không quốc gia Việt Nam
Hơn bốn mươi năm qua, chóng ta đã chứng kiến sự lớn mạnh không ngừng của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam, kể từ khi tiếp quản sân bay Gia Lâm từ tay thực dân Pháp ( ngày 15 / 1/ 1956 ) Hàng không dân dụng Việt Nam cho đến nay là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước và hãng Hãng hàng Không Quốc gia Việt Nam đang trở thành mét trong những hãng có uy tín trong khu vực
Từ những ngày đầu tiên thành lập, với cơ sở vật chất thiếu thốn chỉ có
5 chiếc máy bay dân dụng do Trung Quốc viện trợ ( gồm 2 chiếc LI - 2 và chiếc AERO - 45 ) hoạt động hàng không dân dụng bắt đầu bước vào đáp ứng nhu cầu đi lại của hành khách trên một nửa đất nước Việt Nam
Nhưng mốc quan trọng nhất trong lịch sử phát triển hàng không dân dụng Việt Nam là năm 1976 - năm thành lập Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam trực thuộc chính phủ Ngay sau khi thành lập, Nghị quyết Đảng uỷ Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam đề ra : " Không ngừng cải thiện và phát triển với ngành hàng không các nước để kinh doanh hai chiều và làm đại lý nhằm thu ngoại tệ cho Nhà nước" Trong quan hệ giao dịch với các hãng hàng không quốc tế trước hết phải vững vàng về quan điểm, lập trường giữ vững được độc lập, tự chủ đồng thời phải đảm bảo đoàn kết hữu nghị, thanh thủ sự giúp đỡ của bạn.Phải thường xuyên cải tiến tác phong công tác,
có nhiều biện pháp, nhiều hình thức để kinh doanh
Về đối ngoại, Nghị quyết cũng nêu rõ : " Là một đơn vị bộ đội làm kinh tế có quan hệ rộng rãi với nhiều nươc trên thế giới kể cả TBCN và XHCN, dó đó trong giao dịch phải lấy chính trị cách mạng đi đầu, đảm bảo hữu nghị, giữ được bí mật quốc phòng, quốc gia và nội bộ Tổng cục ngay những năm đầu tiên Tổng cụ đã vận chuyển được 2100 hành khách và 3000 tấn hàng hoá
Tổng công ty được thành lập theo quyết định số : 225/ CT ngày 22/8/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trên cơ sở tài sản của Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam tên tắt là HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
Trang 19( Tiếng Anh là Việt Nam Airlines ) Tổng công ty là đơn vị kinh tế quốc doanh, được tổ chức theo điều lệ xí nghiệp trực thuộc Chính phủ, một lúc thực hiện cả hai chức năng Quản lý Nhà nước và kinh doanh.
Trong những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập Quốc tế của Đảng và Nhà nước, ngành hành không dân dụng nói chung
và VIET NAM AIRLINES nói riêng có cơ hội và điều kiện phát triển
Do yêu cầu của Nhà nước, thành lập Tổng công ty 91 ( Chuẩn bị bước xây dựng tập đoàn ) theo nghị quyết số 328/ TTG ngày 27/ 5/ 1995 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp của ngành Hàng không dân dụng, lấy hãng Hàng không quốc gia làm nòng cốt bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi Ých kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong ngành hàng không Điều lệ tổ chức và hoạt động được Chính phủ phê chuẩn tại Nghị định số 04/ CP ngày 27/ 1/ 1996
Việc thành lập Tổng công ty là một bước chuyển lớn về tổ chức của ngành hàng không dân dụng Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của Đất nước, tạo điều kiện để xây dựng một tập đoàn hàng không mạnh, vươn lên ngang tầm với các hãng hàng không trong khu vực và trên thế giới
- Tên doanh nghiệp : Tổng công ty Hàng không Việt Nam
- Tên giao dịch quốc tế : VIET NAM AIRLINES
Trang 20Để đỏp ứng nhu cầu kinh doanh trong cơ chế thị trường một cỏch linh hoạt, nhạy bộn, cơ chế ra quyết định kịp thời, sau nhiều lần thay đổi về mặt
tổ chức nhằm tỡm ra cơ chế tối ưu, cỏc doanh nghiệp tập hợp lại thành Tổng cụng ty, là một đơn vị hạch toỏn độc lập, trực thuộc chớnh phủ, đặt dưới sự điều hành của hội đồng quản trị và banh lónh đạo tổng cụng ty
Tổ chức tổng cụng ty được thể hiện bằng sơ đồ
Quan hệ phụ thuộcQuan hệ chỉ đạo
II THỰC TRẠNG KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG KHễNG CỦA TỔNG CễNG TY HÀNG KHễNG VIỆT NAM ( TỪ 1993 – 1998 )
1 Thị trường và cỏc yếu tố ảnh hưởng
a Thị trường vận tải hành khỏch nội địa
Trung bỡnh từ năm 1993 - 1998 thị trường vận tải hành khỏch nội địa phỏt triển 44% năm cú xu hướng giảm dần qua cỏc năm Với chỉ cú 4 đường
Hội đồng quản trị
Tổng Giám đốc
Các đơn
vị sự nghiệp
Các DN
sẽ thành lập
Công ty xăng dầu hàng không
Hàng
không
Các công ty sản xuất cung ứng dịch vụ phục vụ hành khách
Công ty xuất nhập khẩu hàng không
Các công ty khai thác hàng không, sân bay
Các cơ quan tham mu giúp
việc về hành chính quản trị
Các cơ quan đoàn thể,
Đảng, Công đoàn
Trang 21bay voà năm 1993 ( Hà Nội - Sài Gòn, Hà Nội - Đà Nẵng, Sài Gòn - Đà Nẵng, Sài Gòn - Phú Quốc ) tính đến cuối năm 1998 đã có các đường bay thường lệ tới trên 15 điểm trong cả nước, tạo nên mạng bay rộng lớn với 26 đường bay Tuy nhiên tốc độ mở rộng đường bay mới thời gian cuối giảm nhiều, mạng đường bay nội địa chuyển sang giai đoạn phát triển về chất, thể hiện qua việc tăng tần suất bay, ghế cung ứng trên các đường bay hiện có để thoả mãn nhu cầu thị trường.
Trong các đường bay nội địa trục Bắc - Nam có vị trí đặc biệt quan trọng Trong namư 1998 lịch hành khách vận chuyển trên trục Hà Nội - Gài Gòn chiếm 47% tổng số hành khách vận chuyển Đường bay Hà Nội - Sài Gòn nối 2 trung tâm kinh tế chính trị lớn nhất của đất nước, phục vụ một lượng khách công vụ rất lớn, đây cũng là đường bay trung chuyển giữa các tuyến bay quốc tế và nội địa Hai đường bay Hà Nội - Đà Nẵng và Sài Gòn -
Đà Nẵng chiếm 22% tổng hành khách và 16% sản lượng khách - Km : khách quốc tịch nước ngoài trên các đường bay trục Bắc - Nam chiếm gần 30% tổng số khách vận chuyển Vai trò của các đường bay địa phương nối Hà Nội
- Sài Gòn và Đà Nẵng với các địa phương ngày càng trở nên quan trọng Trên các đường bay Hà Nội - Nà Sản, Sài Gòn - Huế, Sài Gòn - Đà Lạt, Hà Nội - Nha Trang và Sài Gòn - Nha Trang tỷ lệ khách du lịch chiếm từ 60% - 70%, trên đường bay đi Nha Trang và Đà Lạt cũng chiếm 30 - 40% Tăng trưởng vận chuyển các đường bay lể khá cao so với mức tăng trưởng trung bình của cả thị trường
Tổng hợp thị trường hành khách nội địa 1993 - 1998
Trang 22b Thị trường hành khách quốc tế
Thị trường vận tải hành khách quốc tế của Việt Nam phát triển với tốc
độ nhanh bình quân 32%/năm trong giai đoạn 1993 -1998 Tăng trưởng của thị trường quốc tế qua các năm dao động tương đối lớn, thể hiện tính nhạy cảm của nhu cầu với các yếu tố khách quan, đặc biệt là nguồn khách du lịch nước ngoài ( hiện đang chiếm khoảng 35% tổng thị trường )
Trong những năm 90 Việt Nam xuất hiện như một điểm du lịch mới, lượng khách đến thăm quan và nghỉ đến từ bên ngoài tăng với tốc độ rất cao, đặc biệt là từ Châu Âu Sau 3 năm phát triển mạnh ( 1992 - 1994 ) du lịch nước ngoài tăng trưởng chậm lại vào năm 1995, không tăng trưởng trong năm 1996, dự kiến trùng hợp với các năm tiếp theo, tăng trưởng thị trường hành không quốc tế tút xuống còn khoảng 8 - 10%/năm Khách hàng công
vụ, thương nhân chiếm khoảng 40%, biến động liên quan đến môi trường đầu
tư và mậu dịch Nền kinh tế tăng trưởng ổn định làm yếu tố đảm bảo tăng truởng đều đặn của nguồn khách này Lượng khách công vụ người Việt Nam
ra nước ngoài cũng phát triển mạnh
Một đặc điểm nổi bật ảnh hưởng tới cơ cấu thị trường vận chuyển ra, vào Việt Nam là số lượng người Việt Nam sống ở nước ngoài khá đông ( khoảng 2 triệu người ) mỗi năm cung cấp hàng trăm nghìn người khách, chiếm khoảng 18 - 19% tổng thị trường Các quốc gia có số lượng việt kiều sinh sống đông nhất bao gồm Mỹ, Canada, Pháp, Óc, Anh, Đức, Nga, Tiệp Khắc
Xét về cơ cấu thị trường, thị trường Đông Bắc Á có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, chiếm trên 50% dng lượng thị trường quốc tế, cùng với các thị trường Đông Nam Á, Thái Lan hợp thành thị trường khu vực Châu Á chiếm tới 90% số lượt khách vận chuyển Tuy nhiên trong khu vực thị trường này tính chất cạnh tranh rât gay gắt do có nhiều hãng hàng không lớn với tiềm lực tài chính mạnh và uy tín cao cùng khai thác
Thị trường Châu Âu được coi là thị trường xuyên lục địa đầu tiên của VNA, thị trường này cũng bị chia sẻ do có nhiều hãng cùng khai thác Thị trường Óc mới tập trung khai thác được nguồn khách việt kiều với tần suất
Trang 23bay tấp 2 chuyến/1tuần và phải chịu sự cạnh tranh và phân chia thị trường với các hãng hàng không Đông Nam Á Với thị trường Bắc Mỹ, hiện ta chưa
có đường bay thẳng, Việt Nam Airlines sử dụng hình thức trao đổi chỗ với China Airlines ( Đài Loan ) và Philippin Airlines, do vậy cũg chỉ nắm được một phần nhỏ của thị trường này
Chính sách phát triển thị trường vận tải quốc tế của VNA là vừa cạnh tranh vừa tìm khả năng hợp tác kinh doanh với các đối tác Trên các đường bay quốc tế, VNA đã liên doanh với nhiều hãng nước ngoài như Cathay Pacifc (Hồng Kông), Korea Airlines (Hàn Quốc), Singapor Airlines (Singapor), Japan Airlines ( Nhật Bản ) Thị phần của VNA trên các đường bay quốc tế tăng trung bình khoảng trên 40% giai đoạn 1993 - 1998, mặc dù vẫn còn là một con số khiêm tốn nhưng cũng đã phản ánh được những cố gắng rất lớn và thành công trong cạnh tranh của VNA trong lúc tiềm lực còn yếu kém nhiều so với các đối tác
Tổng hợp thị trường hàng không quốc tế từ năm 1993 đến năm 1998
Tóm lại trong giai đoạn 1993 - 1998 thị trường hành phát triển nhanh
cả trên các đường bay trong nước và quốc tế Tổng vận chuyển tính theo lượt khách mỗi năm tăng trung bình 36% Từ năm 1996 đến 1998 có xu hướng giảm mạnh, trong đó có ảnh hưởng của một số yếu tố mang tính chất cục bộ
Trang 24Tổng thị trường nội địa + quốc tế
c Thị trường vận tải hàng hoá của Tổng công ty hàng không Việt Nam
Thị trường hàng hoá Việt Nam trong giai đoạn 1993 -1 998 phát triển với tốc độ nhanh, qua 5 năm tổng thị trường tăng 4,5 lần với mức trung bình 35%/1năm, tốc độ phát triển nhìn chung ổn định qua các năm Trong năm
1998 khối lượng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là 76.299 tấn Phương tiện máy bay đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động ngoại thương, bưu chính của toàn bộ nền kinh tÕ, cũng như đối với lưu thông hàng hoá trong nước
Thị trường vận chuyển hàng hoá quốc tế tăng 3,6 lần từ 1993 - 1998 đạt mức tăng trưởng 29%/năm Các mặt hàng vận chuyển chính của Việt Nam trong những năm qua đặc trưng cho một nền kinh tế đang phát triển và
mở cửa Các mặt hàng gia công về may mặc, giày dép và chủ yếu xuất đi Châu Âu, thực phẩm sơ chế và đồ tươi sống xuất sang các nước trong khu vực chiếm tỷ trọng chủ yếu của hàng đi Do chưa xuất khẩu được đến trự c tiếp các thị trường tiêu thụ cuối cùng, thị trường hàng hoá quốc tế Việt Nam
có sự mất cân đối giữa các đường bay, giữa lượng hàng đi và lượng hàng đến trên cùng một đường bay, và giữa các giai đoạn trong năm ( tính mùa vụ cao ) Hàng hoá đến chính bao gồm nguyên vật liệu sản xuất, đồ điện tử tiêu dùng và văn phòng, máy móc phụ tùng, linh kiện nhỏ, hàng quà biếu của việt kiều gửi về cho thân nhân Mặc dù thị trường hàng hoá quốc tế của Việt Nam còn có quy mô rất nhỏ so với thị trường ở các nước lân cận, tốc độ tăng
Trang 25trưởng của nó đã tạo sự quan tâm lớn của hãng hàng không nước ngoài, thể hiện qua số lượng ngày càng nhiều các hãng đã khai thác hoặc chuẩn bị khai thác, các chuyến bay chuyên chở bằng máy bay có sức trở lớn như Boeng
747 hoặc khai thác kết hợp chở khách và hàng hoá bằng Boeng 747 - Combi Các thị trường hàng hóa chủ yếu gồm Châu Âu ( trong năm 1998 chiếm 235
về sản lượng tấn và 59% về sản lượng tấn - Km ) Đông Bắc Á ( 43% về sản lượng tấn và 28% về tấn - Km ) Thị trường Óc, Campuchia, Lào chiếm một
tỷ trọng chưa đáng kể
Vận chuyÓn hàng hoá trong nước phát triển với tốc độ nhanh hơn thị trường quốc tế, từ quy mô rất nhỏ vào năm 1993, đến nay thị trường này đã chiếm 1/3 tổng thị trường, tăng trưởng hơn 9,5 qua 5 năm với bình quân 57%/năm, chủng loại hàng hoá vận chuyển trên các chuyến bay nội địa chủ yếu là hoa quả tươi và thực phẩm tươi sống theo mùa vụ ( hoa quả từ Bắc vào Nam, đồ biển và các thực phẩm khác từ Nam ra Bắc ) Các mặt hàng khác chiếm tỷ trọng không đáng kể Trên 90% khối lượng hàng hoá trong nước được thực hiện giữa Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Thị trường hàng hoá - bưu điện 1993 - 1998
d Thị trường của công ty bay dịch vụ hàng không ( VASCO )
Thị trường bay thuê chuyến của VASCO đã được mở rộng cả trong nước và quốc tế ( Khu vực Đông Nam á và Trung Quốc ) tham gia các thị trường này còn có một công ty khác là Tổng công ty bay dịch vụ Việt Nam thuộc Bộ Quốc phòng
Trang 26Thị trường bay dịch vụ có nhiều tiềm năng kinh tế càng phát triển, nhu cầu đối với dịch vụ ngày càng gia tăng Tuy nhiên thị trường cỉa VASCO tăng trưởng chậm và không ổn định, trong lúc đó đội máy bay còn thiếu nên không giữ được thị trường Hơn nữa, phần lớn bay dịch vụ là bay các tuyến không thường xuyên nên thủ tục bay còn phức tạp, liên quan nhiều đến việc quản lý bầu trời, an ninh và trực tiếp là Bộ Quốc phòng.
Bay vận tải thường lệ mới được khai thác thử nghiệm hiện nay do không thuê được máy bay nên đã tạm dừng.Vấn đề đặt ra cho lĩnh vực này là phải xử lý một cách toàn diện cả về việc tạo lập thị trường cũng như về năng lực của VASCO
e Thị trường các đơn vị thành viên
Các dơn vị thành viên khác của Tổng công ty hoạt động chủ yếu vì vận tải hàng không và nhờ vận taỉ hàng không, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động tại các sân bay, công ty xăng dầu, Vinapico, công ty xuất nhập khẩu Airmex, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và các đơn vị sản xuất kinh doanh như nhựa, in
Tỷ trọng hàng hoá tiêu thụ nội bộ Tổng công ty đạt từ 30 - 60% tổng doanh thu của các đơn vị, tuy nhiên do việc thực hiện quy chế đấu thầu của Nhà nước nên việc ưu tiên tiêu thụ sản phẩm nội bộ theo quy chế đấu thầu của nhà nước nên việc ưu tiên tiêu thụ sản phẩm nội bộ theo quy chế đã được Hội đồng quảng trị gặp khó khăn, phát sinh một vấn đề lớn đối với các đơn
vị thành viên thuộc Tổng công ty 91 là kết hợp cơ chế cạnh tranh và cơ chế
ưu tiên trong sản phẩm sản xuất kinh doanh mà vẫn đảm bảo đuợc chất lượng
và hiệu quả
Các lĩnh vực kinh doanh phi vận tải của Tổng công ty theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sè 110824 Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp bao gồm : kinh doanh xuất nhập khẩu, du lịch, khách sạn, bất động sản, thiết kế, tư vấn, xây dựng, thuê, cho thuê phương tiện, lao động, hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, in Ên, quảng cáo, đào tạo
Trang 27Những ngành nghề Tổng công ty đã phát huy tác dụng là kinh doanh xăng dầu hàng không, kinh doanh hàng miến thuế, kinh doanh Taxi, kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu, xây dựng, tư vấn.
Những ngành nghề chưa phát huy tác dụng : kinh doanh du lịch, bất động sản, trên thực tế chưa hình thành rõ nét hoặc không được cơ quan chuyên môn cấp phép, chính vì vậy đã phải giải thể trung tâm du lịch hàng không
2 Những kết quả chủ yếu trong hoạt động dịch vụ vận tải hàng không
a Kết quả vận tải hàng không
* Kết quả về hệ thống đường bay của Việt Nam Airlines ( VNA ) tính đến cuối năm 1998, mạng đường bay của VNA gồm 45 đường bay với 22 đường bay đến 22 điểm ở các nước trên thế giới và 23 đường bay nội địa tới
16 thành phố, thị xã
- Mạng đường bay quốc tế : Để đáp ứng nhu cầu đi lại giữa Việt Nam
và các nước khác trên thế giới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao phát triển về giao lưu kinh tế, văn hoá xã hội giữa Việt Nam và các nước, Tổng công ty Hàng không Việt Nam đang khai thác một số đường bay quốc tế và đã có mạng đường bay 18 điểm trên thế giới
+ 5 điểm thuộc khu vực Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương là : Singapo, Kuala Lumppua, Mamila, Melboure, Sysney
+ 6 điểm thuộc khu vực Đông Bắc Á là : Osaka, Kaoslung, Taipei, HongKong, Guangzhou, Seoul
+ 3 điểm thuộc các nước Đông Dương : Bangkok, Vientiane, Phnompenh
+ 7 điểm thuộc Châu Âu : Moscow, Paris, Berlin, Vienn, Zurich, Amsterdam, Frankfurk
+ 1 điểm thuộc Trung Cận Đông : Dubai
+ 1 điểm thuộc Châu Mỹ : Losangeles
Trong các chuyến bay quốc tÕ thì đường bay Hà Nội - Băngkok và đường bay Saigòn - Phnompênh là hai đường bay có tần suất cao nhất ( 10
Trang 28chuyến/ tuần ) nhưng máy bay được sử dụng là A 320, TU 134 Những đường bay Hà Nội - Hongkông, Sài gòn - Băngkok, Sài gòn - Taipei, Sai gòn
- Singapo đều có tần suất 7 chuyến/ 1tuần Đường bay Sài gòn- Hongkong,
Hà nội - Vientieame có tần suất khá cao 4,5 chuyến / 1 tuần với hai loại máy bay sử dụng là Boeng 767 - 200 , Boemg 767 - 300, A 320, T 134 Ngoài ra Tổng công ty còn có hai đường bay liên doanh là Sài gòn - Frankfurt và Sài gòn - Amsterdam, đây là hai tuyến đường bay dài nên được sử dụng hai loại máy bay tần xa là Boeng 747 với tần suất 1,2 chuyến/ 1 tuần
Với cơ cấu đường bay như trên cho thấy Tổng công ty có mạng đường bay khá dày đặc trong khu vực, đồng thời có những tuyến đường bay xuyên lục địa đi Tây Âu qua Trung Cận Đông
Kết hợp với các chuyến bay tù khai thác, Tổng công ty còn có những mối quan hệ hợp tác với các hãng hàng không nước ngoài theo hình thức liên doanh, liên kết khai thác trao đổi chỗ, cung cấp cho nhau để tăng thêm sự có mặt của mình trên thị trường, tranh thủ sản phẩm của các hãng hàng không khác, học hỏi kinh nghiệm
* Mạng đường bay nội địa : Để phát triển kinh tế cũng như giao lưu kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội giữa các địa phương trong nước đồng thời
hỗ trợ các mạng đường bay quốc tế, Tổng công ty khai thác các đường tới 15 điểm trong cả nước thuộc tất cả các khu vực Bắc, Trung, Nam bao gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Phú Quốc, Buôn mê thuật, Playku,
Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Huế, Điện Biên Phủ, Vinh, Sơn La, Hải phòng Mạng đường bay nội địa lấy trục Bắc - Nam làm xương sống, Hà Nội,
Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh làm ba trung tâm của ba khu vực Bắc - Trung - Nam, từ 3 khu vực này có các đường bay toả đi khắp các tỉnh trong nước
Trong các tuyến bay nội địa thì đường bay Hà Nội - Sàigòn là trục chính, có tần suất cao nhất 43 chuyến/ 1tuần với đội máy bay Boeng 767 -
200, Boeng 767 - 300, A 320 Đường bay này nối liền hai trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn nhất của cả nước Hai sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sân Nhất là hai sân bay lớn nhất Việt Nam, tất cả các khách quốc tế hay đi
Trang 29hay đến Việt Nam cũng phải qua mét trong hai sân bay này Lượng khách đi lại trên đường bay Hà Nội - Sài gòn là lớn nhất trong các tuyến đường bay nội địa của Tổng công ty.
Hai đường bay Hà Nội - Đà Nẵng và Sài gòn - Đà Nẵng là đường bay nội địa quan trọng với tần suất 21 chuyến/ 1 tuần, những máy bay sử dụng cho đường bay này là A 320, TU 134 Đà Nẵng là điểm nối các tỉnh, cách thành phố miền Trung với các tỉnh, thành phố trong cả nước Đường bay Hà Nội - Huế có tần suất 7 chuyến/ 1 tuần với máy bay ATR 72.Tuy không phải
là trung tâm của miền trugn nhưng Huế là một điểm du lịch hấp dẫn, đặc biệt
là đối với khách nước ngoài nên cũng cần phát triển mạng đường bay này
Mạng đường bay của Tổng công ty đã được xây dựng với những cố gắng nhất định trong việc tuân thủ những quy tắc “ Trục và nan hoa ” khá chặt chẽ nhằm tối ưu hoá các khả năng khai thác trong điều kiện đội bay hạn chế, các loại máy bay chưa phải là hiện đại và có ý nghĩa lớn hơn cả là sản phẩm của một ngành hàng không non trẻ với kinh nghiệm và tài sản còn quá
Ýt ái so với các hãng hàng không khác ngay trong khu vực và trên thế giới
đã được khách hàng biết đến và đang ngày càng chiếm được tình cảm của khách hàng.Hầu hết các tuyến đường bay trong nước đến các sân bay nhỏ, lẻ đều gặp rất nhiều khó khăn về hạch toán chi phí nhưng Tổng công ty đã có những cố gắng rất lớn để duy trì khai thác mạng đường bay trong nước hợp
lý, đáp ứng được nhu cầu đi lại của Nhân dân Có thể nói, trong những năm qua VNA đã có nhiều cố gắng mở mang theo chiều rộng trong điều Nhà nước không cấp vốn thêm, hoàn toàn tự lực với năng lực kinh doanh vận tải không của VNA đã mang đậm tÝnh chất kinh doanh toàn cầu do mạng đường bay ngày càng được mở rộng
* Kết quả về khối lượng vận chuyển hành khách
Bằng sự nỗ lực không ngừng, trong những năm qua Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã có những bước phát triển đáng tự hào Hàng năm, tổng công ty đã hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ, nâng cao hiệu quả kinh tế, có tích luỹ đã tạo tiền đề quan trọng cho bước phát triển lâu dài, vận tải hàng không trong những năm
Trang 30gần đây tăng trưởng với nhịp độ cao : 35%/ 1 năm Kết quả vận chuyển giai
đoạn được thể hiện trong bảng sau :
Kết quả vận chuyển hành khách của VNA Nă
Vận chuyển quốc tế 1993 - 1998 tăng trung bình 36%/ 1 năm đạt hơn 1
triệu trong năm 1998 Tăng mức về luân chuyển khách - km bình quân 68%/
1 năm Hệ số sử dụng ghế cũng được cải thiện đáng kể, vào cuối năm 1998,
đầu năm 1999 trung bình đạt trên 70% cao hơn trung bình của ICAO
(International avil Aviation ozgannization) tiến sát tới mức các hãng hàng
không tiến tiến như Singapo Airlines, Cathay Pacific và vượt nhiều hãng
hàng không quốc tế khác trong khu vực
Với tốc độ tăng trưởng vận chuyển cao hơn tăng trưởng của Tổng thị
trường, NVA đã cải thiện được thị phần quốc tế Vào thời điểm 1992, thị
phần của VNA chr đạt 28% tăng lên 36% trong năm 1993, 39,8% trong năm
1994 Trong năm 1995 các hãng nước ngoài ( đặc biệt là Châu Âu ) ồ ạt mở
đường bay mới, thị phần của VNA bị giảm xuống còn 36,9% Việt Nam
Airlines đã nhanh chóng hồi phục lại mức thị phần 40% trong năm 1996 và
ổn định ở mức 43 - 44% trong giai đoạn 1997 - 1998 Đây là mức cao so với
thị phần của các hãng hàng không quốc gia của các nước khác ( khoảng 22 -
30% thị phần vận chuyển quốc tế )
Trên thị trường nội địa VNA chiếm vị trí áp đảo và thị phần trên 90%
( Pacific Airlines khai thác phần còn lại ) tăng trưởng bình quân 1993 - 1998
là 45% về số lượng khách và 38%/ 1 năm về khách - km vận chuyển Đối
với VNA thị trường nội địa vừa là quyền lợi kinh tế vừa là nhiệm vụ chính
Trang 31động thị trường của hãng.Nếu hạch toán riêng các đường bay nội địa, VNA không có cơ hội có lãi do giá vé cho người Việt Nam bị khống chế Tuy nhiên việc kết nối hiệu quả các mạng đường bay quốc tế và nội địa đã và sẽ tiếp tục tạo cho VNA một ưu thế quan trọng trong cạnh tranh với các hãng nước ngoài thông qua sản phẩm chuyến và giá vé thông dụng.
Dựa trên đặc điểm địa lý nước ta và áp dụng kinh nghiệm của thế giới mạng đường bay VNA được xây dựng theo mô hình “ Trục - Nan ”( Hub and spokes ) các đường bay trục HAN - SNG, HAN - DAD , SGP - DAD được khai thác bởi máy bay có 150 - 250 ghế ( A 320, Boeng 767 ) Máy bay ATR
72, FOKKER - 70 với 64 - 80 ghế ngồi được sử dụng để khai thác các đường bay lẻ nối với HAN, SNG, ĐAD một cách thuận lợi
Với ưu thế áp đảo và chủ động với mạng đường bay trong nước, VNA không ngừng hoàn thiện sản phẩm nâng cao khả năng quản lý chuyến bay và năng lực phân phối, đạt mức sử dụng ghế dao động xung quanh 80% ( năm thấp nhất là 75%, các năm gần đây đạt từ 80 - 85% ) là mức cao hơn hẳn so với các hãng hàng không khai thác nội địa trên thế giới
* Kết quả về khối lượng vận chuyển hàng hoá :
Mặc dù chưa khai thác các đường bay chuyên chở hàng thường lệ, trong những năm 1993 - 1998 VNA đã có nhiều cố gắng trong việc tăng cường năng lực vận chuyển hàng hoá kết hợp trên các chuyến bay chở khách
và thông qua việc thuê chuyển, mua tải, hợp tác với các hãng hàng không nước ngoài Thu nhập từ hàng hoá ngày càng chiếm tỷ trọng quan trọng trong kết quả tài chính của các chuyến bay, kết quả vận chuyển hàng hoá của VNA trong 5 năm qua được thể hiện trong bảng
Kết quả vận chuyển hàng hoá - bưu kiện VNA
Trang 321998 186627 72665 22426 25944
Vận chuyển hàng hoá quốc tế từ 1993 đến 1998 của VNA tăng bình quân 47% năm về sản lượng tấn và 92%/ 1năm về tấn - km Tương ứng, vận chuyển nội địa tăng trưởng bình quân 54%/ 1năm về sản lượng tấn và 57%
về tấn - km tương ứng với giai đoạn ( 3 năm 1996 - 1998 )
Việc mở rộng đường bay Pháp, Nga, Óc từ năm 1993 , các đường bay thân rộng đi Hongkong, Nam Triều Tiên, Nhật Bản đã cho phép VNA tham gia một cách đáng kể vào thị trường hàng hoá quốc tế Năm 1993, VNA mới chỉ chiếm 16% thị phần về sản lượng tấn và 4% về tấn - km, đến năm 1995 tăng lên tương ứng là 20% và 9%, 1997 - 25% và 23%; 1998 - 27% và 16% Đến nay VNA chiếm khoảng 1/4 tổng vận chuyển hàng hoá quốc tế của Việt Nam, một kết quả không nhỏ đối với một lĩnh vực hoạt động mới như vậy
Trên các đường bay trong nước VNA chiếm ưu thế áp đảo nói trên 90% thị phần cả về sản lượng tấn vận chuyển và tấn - km hàng hoá, Công ty Pacific Airlines đảm đương một sản lượng chưa đáng kể
Tóm lại do thường xuyên nắm bắt nhu cầu thị trường trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tích cực khai thác các đường bay sẵn có bằng cách tăng tần suất với những đường bay chủ yếu, bố trí loại máy bay phù hợp kết hợp với việc bán sản phẩm dưới nhiÒu hình thức, mặt khác mở rộng thị trường, tăng năng suất vận tải đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường.Tổng công
ty đã nâng cao khối lượng vận tải, hệ số chiếm lĩnh thị trường, hệ số sử dụng vận ghế Tăng năng lực vận tải bằng cách tăng tần suất bay trên một số đường bay chủ yếu như Singapo - Hà Nội, Hà Nội - Hongkong, Sài gòn - Hongkong, Sài gòn - Taipei, Hà Nội - Bankok, Sài gòn - Bankok mở thêm một số đường bay mới Hà Nội - Sài gòn - Dubai - Tegel - Royssy Chirles, Hà Nội - Taipei Dần dần thay thế máy bay cũ, lạc hậu bằng máy bay mới hiện đại Mở rộng mạng lưới bán và sử dụng, kết hợp nhiều phương thức bán sản phẩm, năm 1997 mặng lưới Tổng đại lý của Tổng công ty là 195 tăng 68,1%
so với năm 1996, năm 1998 mạng lưới tổng đại lý là 22% tăng 35% so với năm 1997
Trang 33Trong lĩnh vực dịch vụ hàng không.Tổng công ty đã phục vụ trên 30 hãng hàng không nước ngoài Năm 1996 : 5000 lần hạ cất cánh tăng 12 % so với 1995, năm 1997 : 5860 lần hạ cất cánh tăng 13,8% so với 1996 Năm
1998 : 6250 lần hạ cánh tăng 14,3% so với 1997 Bên cạnh ngành nghề kinh doanh chính là vận tải hàng không, tổng công ty còn phát triển các dịch vụ kho hàng, khách sạn, du lịch để hỗ trợ cho sản xuất, chính nhờ đó quy mô huy động của Tổng công ty ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên trước những tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các hãng hàng không trong khu vực và trên thế giới thì tổng công ty hàng không Việt Nam còn phải có những chính sách kinh doanh hợp lý để phát triển mạnh hơn nữa
b Kết quả hoạt động bay dịch vụ
Sản lượng nhìn chung chưa ổn định và tăng trưởng chậm Sản lượng bay chụp ảnh giảm dần từ 110 giờ năm 1993 xuống còn 88 giờ năm 1997, bay khảo sát địa chất tăng rất chậm từ 284 giê ( 1993 ) lên 326 giê ( 1998 ) Hoạt động bay thêm chuyến mới được thực hiện từ tháng 8 - 1995 nhưng sản lượng đã có mức tăng khá cao ( Trung bình 46%/ năm ) từ 168 giờ năm 1995 lên 362 giờ năm 1998 Bay vận tải thường lệ tuyến ngắn mới được tổ chức khi khai thác thử nghiệm từ đầu năm 1994, năm 1996 vận chuyển được 599 hàng khách
c Kết quả doanh thu và lợi nhuận :
Doanh thu của VNA tăng nhanh qua các năm từ 642 tỷ đồng năm 1993 tới 4006 tỷ đồng năm 1998, tốc độ tăng trưởng bình quân/ năm là 44,2% Nộp ngân sách 36 tỷ ( 1993 ) đến năm 1998 đã nộp 238 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế tăng từ 123 tỷ đồng ( 1993 ) lên 149 tỷ đồng ( 1998 )
Trong năm 1998 tổng doanh thu của Tổng công ty đạt 5219 tỷ đồng, trong đó vận tải hàng không chiếm tỷ trọng lớn nhất 73,1%.Tổng nộp ngân sách của Tổng công ty năm 1998 là 394 tỷ đồng, trong đó VNA chiếm tỷ trọng lớn nhất Lợi nhuận sau thuế của Tổng công ty năm 1998 đạt trên 200
tỷ đồng Các đơn vị có mức lợi nhuận sau thuế lợi tức cao làVNA, SASCO,
Trang 34VINAPCO ( Tổng lợi nhuận sau thuế của 3 đơn vị này là 211 tỷ đồng, bằng 96,6% tổng số của toàn Tổng công ty ).
d Kết quả vốn và tài sản :
Tổng số vốn của Tổng công ty tại thời điểm 1/1/ 1996 là 1 301 tỷ đồng, vốn lưu động là 202,7 tỷ đồng ( 15,6% ) vốn cố định 636,4 tỷ đồng ( 48,8% ), vốn đầu tư xây dựng cơ bản là 188,8 tỷ đồng ( 14,5% ).Tình trạng chung của tất cả các đơn vị trong Tổng công ty là thiếu vốn kể cả vốn cố định và vốn lưu động
Vốn và tài sản của Tổng công ty tập trung chủ yếu tại VNA là 1075 tỷ đồng chiếm 82,6% tổng số vốn của Tổng công ty Cơ cấu vốn của VNA còn nhiều bất hợp lý ( giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu ) Tính đến 31/ 12/ 1996 tổng giá trị tài sản cố định của VNA là 67,8 triệu USD, tỷ trọng tài sản cố định / tổng doanh thu là 1 : 5 trong khi tỷ này của các hãng khác thường là 1,4 : 1 Trong lúc đó tổng nguồn vốn vay của VNA chiếm 30% so với vốn chủ sở hữu ( các hãng khác 200 - 300 % ) vốn lưu động chỉ đáp ứng được 32% so với nhu cầu thực tế Trong những năm qua VNA hầu như không có đầu tư mới từ ngân sách Nhà nước , chủ yếu là vốn tự bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Tiềm lực tài chính chủ yếu đã hạn chế nhiều tới sự phát triển của Tổng công ty, đặc biệt là đầu tư phát triển đội máy bay, đầu tư trang thiết bị Trong tình hình khó khăn đó, chủ trương của Tổng công ty là tìm mọi cách huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như huy động vốn vay mua máy bay thông qua sự bảo lãnh của các tổ chức dưới dạng xuất khẩu của các nước sản xuất máy bay với các điều kiện ưu đãi, vay thương mại từ các ngân hàng trong và ngoài nước để đầu tư, bổ sung vốn lưu động Chủ động tìm kiếm các đối tác liên doanh, liên kết để tạo vốn nhờ đó phần nào đã giải quyết được tạm thời vốn cho kinh doanh và đầu tư
e Đội máy bay, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng.
* Thực trạng đội máy bay :
Trang 35Ưu điểm nổi bật của đội máy bay của Tổng công ty là trẻ, ngày càng được đổi mới, hiện đại hoá và không ngừng lớn mạnh Tính đến hết năm
1998 đội máy bay khai thác đã có 32 chiếc, trong đó :
+ Đội máy bay của VNA
- B 767 - 300 : 4chiếc ( 3 thuê khô, 1 thuê ướt )
-A 320 - 200 : 10 chiếc ( thuê khô )
- ATR - 72 : 6 chiếc ( 4 sở hữu, 2 thuê khô )
- FOKKER - 70 : 2 chiếc ( sở hứu )
- TU - 134 : 5 chiếc ( sở hữu )
- VAK - 40 : 1 chiếc ( sở hữu )
+ Đội máy bay của VASCO
số ghế - km làm cung ứng Đội máy bay sở hữu còn quá nhỏ bé là một khó khăn nan giải cho Tổng công ty vì chưa làm chủ được một số lượng máy bay
để phục vụ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế quốc dân và dự bị cho quèc phòng, đồng thời không hình thành được quỹ khấu hao để đầu tư phát triển Đội máy bay VASCO còn quá mỏng không đủ sức duy trì và phát triển thị trường
So với các hãng trong khu vực, đội máy bay của VNA thua kém nhiều
về số lượng, ghế/ tải cung ứng, tầm bay ( ghế trung bình/ máy bay của VNA :
135 trongkhi khu vực 232 Tầm bay tối đa đầy tải khách của B 767- 300 là 12h trong khi B 747 - 400 là 14 - 16 h )
Trang 36* Thực trạng trang thiết bị và cơ sở hạ tầng
Trong những năm qua cơ sở hạ tầng và trang thiết bị đã được đổi mới một bước cơ bản, ngoài việc phát triển đội máy bay, hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ đã được đầu tư từng bước Các trang thiết bị nhập ngoại hầu hết là mới 100% kể cả máy bay thuế, đáp ứng nhu cầu của ngành kinh tế
- kỹ thuật mũi nhọn tiến thẳng ngay vào hiện đại
Các công nghệ thông tin được đầu tư nhanh để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh,nhất là kinh doanh trong phạm vi toàn cầu Hiện nay nhiều
dự án tin học phục vụ công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh đang tiếp tục được triển khai như các dự án DCS ( Departure Control System ) và YMS (Yield Mannagement System )
Nhằm nhanh chóng làm chủ công nghệ hiện đại và thực hiện tốt việc chuyển giao công nghệ mới để nâng cao chất lượng dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế, trong điều kiện vốn thiếu, Tổng công ty đã chủ động tìm kiếm đối tác nước ngoài để liên doanh liên kết từ 1993 Tổng công ty đã và đang triển khai 7 dự án liên doanh với Tổng số vốn đầu tư là 56,8 triệu USD , trong đó phần góp vốn của Tổng công ty là 12,2 triệu USD, các dự án này mang lại hiệu quả thiết thực đặc biệt là chất lượng sản phẩm và lợi nhuận
Nhu cầu đầu tư phát triển công nghệ của Tổng công ty trong thời gian tới là rất lớn nhưng gặp nhiều khó khăn về vốn, đặc biệt là các đơn vị thành viên ngoài khối vận tải hàng không, trang thiết bị được đổi mới song vẫn còn thiếu và chưa thoát khỏi lạc hậu đặc biệt là cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn quá mỏng và thiếu quy hoạch tổng thể
f Thực trạng nguồn nhân lực :
Tính đến 31/ 12/ 1998 Tổng công ty có số lao động là 10730 người trong đó khối hạch toán tập trung là 5466 ngưới chiếm 54,7% tổng số lao động của Tổng công ty Trong những năm qua, trọng tâm của việc phát triển nhân lực là đạo cơ bản cán bộ, nhân viên theo công nghệ và tiêu chuẩn quốc
tế, trước hết là người lái, thợ kỹ thuật máy trong thế hệ mới, đội ngũ tiếp viên, cán bộ quản lý và nghiệp vụ Đến nay đội ngũ người lái có thể đảm bảo trên 50% giê bay khai thác với 224 người Trong đó có 58 lái chính, đội ngũ
Trang 37tiếp viên hàng không được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế nhưng vẫn giữ được nét đẹp riêng của dân tộc với tà áo hồng trên bầu trời xanh Cho đến nay đội ngũ tiếp viên của Tổng công ty đã tương đối mạnh cả về số lượng và chất lượng Hàng năm, đội ngũ tiếp viên đều được qua một khoá đào tạo để củng cố và nâng cao trình độ và tuyển thêm tiếp viên mới Đội ngũ tiếp viên của Tổng công ty được đánh giá là đội ngũ có trình độ ( Mỗi tiếp viên đều thông thạo tiếng Anh và ngoại ngữ khác ) có thái độ phục vụ tận tình, chu đáo, lịch sử làm vừa lòng khách hàng.
Những vấn đề tồn tại trong lĩnh vực lao động là đội ngũ người lái, thợ
kỹ thuật máy bay thế hệ mới còn thiếu nghiêm trọng, đặc biệt là thợ kỹ thuật chưa được cấp bằng theo tiêu chuẩn quốc tế, thiếu cán bộ đầu ngành giỏi, cán
bộ nghiệp vụ chưa được bổ túc nâng cao trình độ ngang tầm đòi hỏi Hiện nay, Tổng công ty đã rất chú trọng vào công tác đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ người lái theo công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế Tổng công ty đã gửi đi nước ngoài đào tạo người lái thế hệ mới, đảm bảo 100% người lái Việt Nam khai thác các loại máy bay hiện đại
Trong thời kỳ chuyển tiếp khai thác giữa hai thế hệ máy bay, các cán
bộ kỹ thuật đã được học tiếng Anh, đào tạo kỹ thuật máy bay mới và nâng cao kiến thức công nghệ hàng không tiên tiến, Đến nay lực lượng cán bộ kỹ thuật máy đang là nóng cốt phục vụ công tác bảo dưỡng kỹ thuật máy bay Đội ngũ cán bộ kỹ thuật đang cố gắng nắm bắt kỹ thuật máy bay hiện đại để
có thể bảo dưỡng máy bay hiện đại như ATR, Boeng, AIRBUS, có khả năng tiếp thu và làm tốt đội ngũ cán bộ kỹ thuật của các hãng hàng không khác trong khu vực
Nhân tè quan trọng giúp cho Tổng công ty có được những kết quả như ngày nay phải kể đến đội ngũ án bộ, quản lý mà Tổng công ty đã xây dựng
và củng cố trong suốt thời gian qua Đội ngũ cán bộ đều có trình độ từ đại học trở lên, Tổng số cán bộ khối quản lý là 844 người trong đó cán bộ lãnh đạo từ cấp phòng trở lên là 185 người Trước sự phát triển không ngừng của
xã hội, đội ngũ cán bộ quản lý vẫn cần phải được đào tạo chuyên sâu hơn nữa
Trang 38để làm tròn trách nhiệm đưa Tổng công ty ngày càng phát triển lớn mạnh ngang tầm với những hãng hàng không trong khu vực và trên thế giới.
3 Kết quả hoạt động của VNA trên một số thị trường chính
Để thấy rõ tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không,
ta cần phân tích tình hình khai thác vận tải hàng tại một số thị trường quốc tế chính
a Thị trường Đông bắc á :
Đây là thị trường lớn nhất chiếm 37% khách đi đến Việt Nam, lượng khách đi tới các nước Đông Bắc á chiếm tỷ trọng cao (46% trong tổng số khách đi lại trong khu vực Châu á) Đối vớiVNA, các đường bay đến khu vực Đông Bắc á chiếm tỷ lệ khoảng 50% lượng khách vận chuyển quốc tế đồng thời đây cũng là thị trường cạnh tranh gay gắt nhất (bao gồm thị trường Nhật, Nam Triều Tiên, Hồng Kông, Đài Loan) Buôn bán giữa Việt Nam với các nước trong khu vực này cũng khá lớn do đó nhu cầu vận chuyển hàng hoá cũng tăng
* Thị trường Hồng Kông:
Đây là thị trường đạt doanh thu cao đối với VNA trên thị trường này chỉ có hai hãng hàng không khai thác là VNA và Cathay Pacific (Cx) ở thị trường này VNA sử dụng hai loại máy bay là A320 và B767-300 với số chuyến cung ứng lớn 8 chuyến/tuần nhưng lại cung ứng nhỏ hơn Cx Đây là thị trường có dung lượng tạo đối tượng lớn, mạng lưới bán của VNA tại thị trường này chủ yếu thông qua các đại lý, tuy nhiên chỉ có một đại lý hoạt động có hiệu quả bên cạnh đó, đại diện của VNA trên thị trường này mặc dù
đã cố gắng trong việc tổ chức phối hợp hoạt động bán hàng nhưng vẫn chưa chủ động trong việc tăng cường khả năng lớn, nên kết quả chưa cao lắm so với Cx
Trên thị trường này chỉ có hai hãng hàng không khai thác nên giá cả
Ýt biến động, cạnh tranh chưa cao, đây là yếu tố thuận lợi cho VNA
Cơ cấu khách: Khách thương gia: 27%
Khách du lịch: 56%
Khách việt kiều: 1%
Trang 39Danh mục chỉ tiêu Đơn vị 1996 1997 1998
158.00063.7803.0741.489
172.50084.2503.7801.656
207.850103.0504.2002.085
* Thị trường Nam Triều Tiên:
VNA bắt đầu khai thác thị trường này từ tháng 1-1993 cùng với Korean Airlines (KE) và Seoul (OZ), các chuyến bay của VNA với tần suất 3 chuyến/tuần đã làm tăng việc vận chuyển hành khách và hàng hoá từ Việt Nam đi Nam Triều Tiên và ngược lại Hiện nay tần suất cung ứng của VNA hơn hẳn hai hãng KE và OZ Máy bay sử dụng khai thác trên thị trường này
là 300 và 3 chuyến/tuần tương đương với OZ sử dụng máy bay
B767-300 với 2 chuyến/tuần Vượt hơn hẳn KE sử dụng máy bay A B767-300 với 1 chuyến/tuần Nhưng giá cước của KE và OZ đưa ra thấp hơn so với VNA do
đó tỷ phần của VNA không lớn mặc dù VNA có lợi thế về số lượng tải cung ứng và số chuyến máy bay
Cơ cấu khách: Khách thương gia: 40%
Khách du lịch: 34%
Khách tham thân nhân việt kiều: 2%
Khách khác : 24%
VNA chủ yếu khai thác nguồn khách du lịch trên các đường bay SGN
- SEL, trên HAN - SEL cấu trúc thị phần đa dạng hơn Tỷ trọng khách du lịch từ Hàn Quốc đến Việt Nam đang có xu hướng giảm do đó việc phát triển các đường bay của VNA gặp nhiều khó khăn và có xu hướng giảm trong năm
1999 và các năm tới Cung ứng dư thừa đã và đang tạo nên môi trường cạnh tranh gay gắt
Kết quả kinh doanh của VNA trên thị trường Nam Triều Tiên.
Danh mục chỉ tiêu Đơn vị 1996 1997 1998
-Vận chuyển hành khách
- Doanh thu
KháchUSD
575.50020.620
63.05023.015
79.71725.450
Trang 40- Doanh thu USD 250 275 310
* Trên thị trường Đài Loan, Nhật Bản:
Trên thị trường Đài Loan có nhiều hãng hàng không tham gia khai thác nên cạnh tranh thị trường diễn ra gay gắt Mặt khác do giá cước của VNA cao hơn nên mặc dù sử dụng loại máy bay hiện đại B767-300 với lịch bay hợp lý nhưng vẫn chưa chiếm được ưu thế trên thị trường này Khối lượng hành khách vận chuyển chủ yếu là khách du lịch (80%) nên có tính thời vụ lớn Tốc độ tăng trưởng so với những năm trước (trên 10%) nhưng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt do thừa tải cung ứng
Còn trên thị trường Nhật Bản, một thị trường mới mẻ nhưng chứa đựng khả năng khai thác lớn khối lượng vận chuyển bằng đường hàng không giữa Việt Nam và Nhật ngày càng gia tăng VNA đang chiếm ưu thế với Japan airlines (JAL) trong việc vận chuyển hành khách cũng như hàng hoá từ Việt Nam đi Nhật ở thị trường này, hoạt động đại lý của VNA hoạt động tương đối hiệu quả, phối hợp với các đại diện tốt trong việc tổ chức bán
và hoạt động vận tải hành khách và hàng hoá
b Thị trường Đông Nam á - Nam Thái Bình Dương:
Đây là thị trường quan trọng thứ hai của VNA, vận chuyển ở khu vực chiếm 33% tổng thị trường vận chuyển quốc tế Tại khu vực này, VNA có tần suất dày đặc trên các tuyến đến BKK và SIN, khu vực thị trường hỗ trợ rất lớn cho các đường bay đi Châu Âu, Đồng Bắc á, và cả úc Đây là thị trường tiềm năng và có nhiều cơ hội vì Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN
Thị trường hàng bao gồm: Thái Lan, Singapo, Malaisia, Philipin, Indonesia, óc
* Thị trường Thái Lan:
Thái Lan là thị trường hàng không lớn trong khu vực cũng như trên thế giới Đây là thị trường truyền thống của VNA, nhưng hiện nay quy mô vẫn còn khiêm tốn trong tổng thị trường quốc tế của Việt Nam Đối tác của VNA ở thị trường này là Thái Airways (TS), do đó mức độ cạnh tranh gay gắt Hiện tại VNA khai thác đường bay Hà Nội - BangKok với tần suất 7