1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu hoạt động giao nhận hàng

32 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 139 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập tốt nghiệp của em với đềtài “Tìm hiểu hoạt động giao nhận hàng container tại cảng Lê Thánh Tông”bao gồm các phần sau: Phần I: Giới thiệu chung về xí nghiệp xếp dỡ contai

Trang 1

Lời mở đầu

Hoạt động thương mại buôn bán hàng hoá đã có từ lâu đời và ngàycàng phát triển, kèm với nó là sự mở rộng không ngừng của ngành vận tải.Hoạt đông vận tải luôn được cải tiến và hoàn thiện Sự ra đời của chiếccontainer đầu tiên thực sự đã trở thành một cuộc cách mạng trong chuyên chởhàng ho¸i nhờ những ưu điểm vượt trội của nó Vận tải container xuất hiện ởViệt Nam tuy khá muộn nhưng đã có những bước phát triển nhất định vàkhông ngừng lớn mạnh

Công tác giao nhận bao gồm các nghiệp vụ, thủ tục liên quan đến quátrình vận tải như vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, thủ tục hải quan,tài chính… Hoạt động giao nhận nói chung và giao nhận hàng container nóiriêng cũng đang dần ®uîc cải thiện theo hướng phục vụ ngày càng tốt hơn vớinhững thủ tục ngày càng đơn giản, thuận tiện Do tính ưu việt của việc vậnchuyển hàng hoá bằng container nên công tác giao nhận hàng container đơngiản hơn các loại hàng hoá thông thường khác

Trong thời gian thực tập tại xí nghiệp xếp dỡ container cảng Lê ThánhTông em đã có dịp tìm hiểu về hoạt động giao nhận hàng container và cho emnhững kiến thức thực tế quý báu Báo cáo thực tập tốt nghiệp của em với đềtài “Tìm hiểu hoạt động giao nhận hàng container tại cảng Lê Thánh Tông”bao gồm các phần sau:

Phần I: Giới thiệu chung về xí nghiệp xếp dỡ container cảng Lê ThánhTông

Phần II: Hệ thống vận tải container

Phần III: Nghiệp vụ giao nhận hàng container tại cảng Lê Thánh Tông

Trang 2

Mục lục

L i m uờ ở đầ 1

Ph n I: Gi i thi u chung v xí nghi p x p d container c ng Lê Thánh Tôngầ ớ ệ ề ệ ế ỡ ả .3

I S hình th nh v phát tri n c a xí nghi p x p d container:ự à à ể ủ ệ ế ỡ 3

II Ch c n ng, nhi m v c a xí nghi p:ứ ă ệ ụ ủ ệ 4

III C c u t ch c c a xí nghi p hi n nay:ơ ấ ổ ứ ủ ệ ệ 5

IV C s v t ch t, k thu t:ơ ở ậ ấ ĩ ậ 6

Ph n II: H th ng v n t i containerầ ệ ố ậ ả 7

I S hình th nh v phát tri n h th ng v n t i container trên th gi i:ự à à ể ệ ố ậ ả ế ớ 7

II S hình th nh v phát tri n v n chuy n h ng hoá b ng container Vi t ự à à ể ậ ể à ằ ở ệ Nam 8

III Hi u qu kinh t c a vi c v n chuy n h ng hoá b ng container:ệ ả ế ủ ệ ậ ể à ằ 8

Ph n III: Nghi p v giao nh n container t i c ng Lê Thánh Tôngầ ệ ụ ậ ạ ả 10

§1 Các ph ng th c chuyên ch h ng b ng containerươ ứ ở à ằ 10

§2 Các ch ng t s d ng trong công tác giao nh nứ ừ ử ụ ậ 14

§3 Trình t th c hi n xu t kh u h ng hoá óng trong containerự ự ệ ấ ẩ à đ 20

§4 Trình t th c hi n nh p kh u h ng hoá óng trong containerự ự ệ ậ ẩ à đ 24

§5 Nghi p v giao nh n container xí nghi p x p d Lê Thánh Tôngệ ụ ậ ở ệ ế ỡ .27

K t lu nế ậ 32

Trang 3

Phần I: Giới thiệu chung về xí nghiệp xếp dỡ container

cảng Lê Thánh Tông

I. Sự hình thành và phát triển của xí nghiệp xếp dỡ container:

Trước năm 1988 nền kinh tế với chế độ tập trung quan liêu bao cấp đãlàm chậm lại sự phát triển giao lưu hàng hoá Các mối quan hệ thương mạichủ yếu được thiết lập từ các hiệp định với các nước Đông âu và Liên Xô cũ,lượng hàng thông qua cảng là hàng nhập do đội tàu của Liên Xô cũ đảm nhận.Lượng hàng container thông qua cảng là rất ít, do vậy không cần thiết phải tổchức một đơn vị chuyên làm nhiệm vụ xếp dỡ hàng container Từ năm 1988,với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nền kinh tế Việt Nam dầnchuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo điềukiện cho các hoạt động giao lưu thương mại và hợp tác làm ăn với các nướctrong khu vực và trên thế giới phát triển mạnh mẽ Vận tải hàng container vớinhưng ưu thế vượt trội dần trở nên phổ biến và chiếm vai trò ngày càng quantrọng trong thương mại quốc tế, và do vậy hình thức vận tải này nhanh chóngxuất hiện ở Việt Nam

Tháng 9 năm 1988, Tổng cục đường biển (nay là Tổng công ty hànghải Việt Nam) đã đăng kÝ hợp đồng liên doanh vận tải với hãng CGM(Pháp) Công ty liên doanh này lấy tên là GEMATRANS

Tháng 11/1989 GEMATRANS đã kÝ hợp đồng bốc xếp, giao nhận vàbảo quản container với cảng Hải Phòng Để thực hiện hợp đồng này, giám đốccảng Hải Phòng đã ra quyết định xây dựng một bãi container ở khu vực cầu 1,mua sắm trang thiết bị chuyên dùng và thành lập một đội bốc xếp tổng hợpđảm nhiệm việc bốc xếp cho hãng CGM

Tháng 2/1990 đội công nhân tổng hợp thứ 2 này được thành lập đảmbảo việc làm cho hãng EAC Sau khi hãng này chuyển xuống cảng Chùa Vẽ

Trang 4

thì đội này được giao nhiệm vụ làm cho hãng HEUNG – A (Hàn Quốc) doVIETTRAN làm đại lý Hai đội bốc xếp này cùng làm hàng container nhưnglại ở 2 vị trí xa nhau là cầu 1 và cầu 7 Năm 1993, tiến hành tập trung sự điềuhành, quản lý về một mối.

Giám đốc cảng Hải Phòng đã ra quyết định thành lập Xí nghiệpcontainer trực thuộc cảng Cơ cấu xí nghiệp bao gồm:

- 3 đội công nhân bốc xếp

- Đội cơ giới

- Đội xe vận chuyển đường dài

- Đội đế

- 2 bãi chứa container

- 4 kho 1, 2, 3, 4, 5

- 3 cầu tàu 1, 2, 3

Từ ngày thành lập đến nay, quy mô của xí nghiệp không ngừng được

mở rộng và phát triển về số lượng cán bộ công nhân viên, trang thiết bị xếp

dỡ, kho bãi, nhà cửa; bộ máy tổ chức quản lý dần dần được hoàn thiện; việcđiều hành sản xuất ngày càng hiệu quả

II Chức năng, nhiệm vụ của xí nghiệp:

Cảng có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là đầumối giao lưu hàng hoá trong nước và quốc tế Nhiệm vụ của cảng là xếp dỡhàng hoá thông qua cầu tàu và bảo quản hàng hoá tại kho bãi của cảng

Xí nghiệp xếp dỡ Lê Thánh Tông là một xí nghiệp thành viên của cảngHải Phòng, do vậy xí nghiệp là một doanh nghiệp chưa có tư cách pháp nhân.Mọi hoạt động kinh doanh của xí nghiệp đều nằm dưới sự chỉ đạo của cảngHải Phòng

Theo thời gian, do sự thay đổi của cơ cÂu hàng hoá cùng với nhữngthay đổi về cơ chế chính sách nên nhiệm vụ của cảng cũng thay đổi theo

Trang 5

Trước đây chủ yếu xếp dỡ hàng cát, các loại hàng quân sự thì nay nhiệm vụchủ yếu là xếp dỡ hàng container, ngài ra còn một số loại hàng khác.

Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp xếp dỡ Lê Thánh Tônghiện nay:

- Tổ chức xếp dỡ và bảo quản hàng hoá

- Tổ chức các dịch vụ đóng gói, rút hàng trong container

- Tổ chức bảo dưỡng, sửa chữa các phương tiện xây dựng và vậnchuyển

III Cơ cấu tổ chức của xí nghiệp hiện nay:

1 Giám đốc:

Là người đứng đầu xí nghiªp, chịu trách nhiệm trước giám đốc cảng vềviệc tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các chỉ tiêu kếhoạnh của Nhà nước và cảng giao cho, về kế hoạch khai thác, quản lý, bảoquản hàng hoá và sử dụng có hiệu quả tài sản và các trang thiết bị sẵn có Dochưa bố trí giám đốc nội chính nên giám đốc kiêm luôn việc phụ trách côngtác quản lý điều động thuyên chuyển cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp,chăm lo đời sống, giải quyết các chế độ chính sách, phụ trách Ban tổ chức laođộng tiền lương, kế toán tài vụ, hành chính y tế, đội bảo vệ

2 Phó giám đốc:

Được giám đốc giao cho phu trách khai thác quản lý hàng hóa, tổ chứcxếp dỡ, vận chuyển hàng hoá, tiếp nhận bảo vệ, bảo quản hàng hoá ở kho bãi,quan hệ với chủ hàng, chủ tàu và các phương tiện, đôn đốc các đơn vị trong xínghiệp thực hiện kế hoạch ngày, ca, điều phối lao động, điều phối công việc,bàn bạc với các đơn vị trong xí nghiệp có liên quan để phối hợp kế hoạch giảiphóng tàu và bảo quản hàng hoá ở kho bãi

3 Phó giám đốc kĩ thuật:

Trang 6

Phụ trách công tác khoa học kĩ thuật, phụ trách công tác quản lý cácthiết bị xếp dỡ, phương tiện của xí nghiệp, phụ trách công tác thi công xâydựng sửa chữa và cải tạo các công trình.

4 Các ban nghiệp vụ:

Chịu trách nhiệm trước giám đốc về việc lập kế hoạch, điều độngphương tiện, thiết bị, công nhân bốc xếp, kho hàng cùng các lực lượng liênquan tham gia giải phóng tàu và các công việc khác trong từng ca, ngày,tháng, năm thống kê, theo dõi sản lượng, năng suất bốc xếp trên cơ sở kếhoạch đã đề ra

IV Cơ sở vật chất, kĩ thuật:

Đối với ngành vận tải biển nói chung, các xí nghiệp xếp dỡ nói riêngthì cơ sở vật chất kĩ thuật là yếu tố quan trọng bậc nhất, là điều kiện tiên quyết

để doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh được giao và nóảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp

Cơ sở vật chất kĩ thuật của xí nghiệp xếp dỡ Lê Thánh Tông bao gồm:cầu tàu, kho bãi, thiết bị xây dựng, phương tiện vận chuyển, công cụ manghàng, nhà xưởng, khu vực điều hành sản xuất, các thiết bị văn phòng, tài sản

cố định

1 Hệ thống cầu tàu, kho bãi:

Hiện nay xí nghiệp có 330 m cầu tàu cùng lúc có thể tiếp nhận 3 tàucontainer có trọng tải nổi tàu 10.000 T với số container dưới 250 TEU Cầutàu được xây dựng theo kiểu bÔ cọc cao bằng bê tông cốt thép theo tính chấtcảng biển cấp I

Kho bãi hàng hiện có kho CFS có diện tích 1000 m2 kiểu kho kín bằngtÂm đan và bê tông tại chỗ; 1500 m2 bãi đá nhựa; 32000 m2 bãi tiêu chuẩn bêtông

2 Thiết bị xếp dỡ, phương tiện vận chuyển:

Trang 7

Cần trục: 2 cần trục bánh lốp, 7 cần trục chân đế

Khung cẩu: 7 chiếc

¤ tô: 14 chiếc

Phần II: Hệ thống vận tải container

I. Sự hình thành và phát triển hệ thống vận tải container trên thế giới:

Kể từ khi ra đời, hệ thống vận tải container đã hình thành tương đốihoàn chỉnh và phát triển nhanh chóng qua 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Trước năm 1995

Trong giai đoạn này, một số nước tư bản phát triển đã thư nghiệm việc

sử dụng container trong vận chuyển hàng hoá và khi đó chủ yếu sử dụng cáccontainer loại tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO, mở rộng chuyên chở containerbằng đường biển nhỏ (sức chở tối đa 5 T, dung tích chứa hàng 1-3 m3) trongvận tải đường sắt nội địa Trong thế chiến thứ II, chuyên chở container pháttriển khá nhanh và mở rộng sang các phương thức vận tải đường biển và « tô

- Giai đoạn 2: 1956 – 1966

Đây là thời kỳ bắt đầu của cuộc cách mạng “Container hoá” ở giaiđoạn này, container được áp dụng ngày càng nhiều và mở rộng trên phạm vitoàn cầu với những phương thức vận tải khác nhau nh: đường sắt, đường biển,đường « tô

- Giai đoạn 3: 1967 đến những năm 80 của thỊ kû XX

Giai đoạn này sử dụng phổ biến loại container lớn theo tiêu chuẩn ISO,

sử dụng các thiết bị chuyên dùng cho container, cải tạo xây dựng các ga, cảngcontainer và hình thành các tuyến đường biển, đường sắt chuyên chởcontainer Đây có thể coi là giai đoạn phát triển bề rộng của hệ thống vận tảicontainer

Trang 8

- Giai đoạn 4: Từ cuối những năm 80 đến nay

Đây được coi là giai đoạn phát triển bỊ sâu của hệ thống vận tảicontainer Hệ thống vận tải container đã hoàn chỉnh ở các nước phát triển vàdần hình thành ở các nước đang phát triển

Hiện nay chuyên chở hàng hoá bằng container đã được áp dụng trongcác phương thức vận tải khác nhau và đặc biệt phát triển trong vận tải đườngbiển “Container hoá” phát triển đã tạo tiền đề cho nghiệp vô tổ chức vận tải

đa phương thức (Multi Transport) phát triển

II Sự hình thành và phát triển vận chuyển hàng hoá bằng container ở Việt Nam

Chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu bằng container ở Việt Nam bắtđầu từ những năm đầu thập niên 80 và phát triển nhanh chóng Quy trìnhchuyên chở hàng hoá bằng container trong vận tải đường biển ở Việt Namngày càng phát triển cà vÌ chiều rộng lẫn chiều sâu Một số bến containerđược xây dựng tại các cảng biển Hải Phòng, Sài Gòn…, bước đầu được trang

bị một số thiết bị xếp dỡ container hiện đại

Xí nghiệp xếp dỡ container trực thuộc cảng Hải Phòng đảm nhận việckhai thác và xếp dỡ một phần sản lượng hàng hoá đóng trong container quacảng Hải Phòng Xí nghiệp đang cố gắng từng bước nâng cao chất lượng phục

vụ và sản lượng xếp dỡ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

III Hiệu quả kinh tế của việc vận chuyển hàng hoá bằng container:

Container hoá trong vận tải quốc tế là một cuộc cách mạng Kinhnghiệm của nhiều nước có hệ thống vận tải container phát triển cho thấy tính

ưu việt của nó so với phương pháp vận chuyển thông thường Hiệu quả kinh

tế của chuyên chở hàng hoá bằng container được nhìn nhận thông qua nhiềugóc độ:

- Đối với toàn xã hội:

Trang 9

+ Giảm chi phí vận tải trong toàn xã hội, góp phần làm giảm chi phí lưuthông của toàn xã hội, hạ giá thành sản phẩm

+ Tạo điều kiện hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống vậntải trong mỗi nước cũng nh trong phạm vi toàn thế giới

+ Góp phần tăng năng suất lao động, chất lượng phục vụ của ngành vậntải, thoả mãn nhu cầu vận chuyển ngày càng tăng của xã hội

+ Giảm chi phí bảo hiểm cho hàng hoá

+ Giảm chi phí bao bì cho hàng hoá

+ Thuận lợi cho dịch vụ “Door to Door”

- Đối với người vận chuyển:

+ Giảm thời gian đỗ bến

+ Tận dụng được dung tích tàu

+ Thuận tiện cho việc chuyển tải, giảm trách nhiệm về khiếu nại hànghóa

+ Tăng lợi nhuận

- Đối với người giao nhận:

+ Tạo điều kiện cho người giao nhận thực hiện chức năng nh một ngườiđiều hành vận tải công cộng không kinh doanh tàu để tiến hành các dịch vụ:dịch vụ gom hàng, dịch vụ Door to Door và dịch vụ chia hàng lẻ

Trang 10

Phần III: Nghiệp vụ giao nhận container tại cảng Lê

Thánh Tông

§1 Các phương thức chuyên chở hàng bằng container

1 Gửi hàng nguyên container (FCL – Full Container Load):

Các hãng tàu chợ định nghĩa thuật ngữ FCL là: hàng xếp trong nguyênmột container, người gửi hàng và nhận hàng chịu trách nhiệm đóng hàng và

dỡ hàng ra khỏi container, nói cách khác đây là phương thức gửi hàng màhàng hoá trong một container thuộc về một chủ gửi và một chủ nhận

• Quy trình FCL:

- Container do người chuyên chở cung cấp hoặc chủ hàng thuê củacông ty cho thuê container được chủ hàng đưa vào kho của mìnhhoặc các địa điểm khác trong nội địa để đóng hàng, sau khi hải quankiểm tra thì container được kÍp chì

- Chủ hàng hoặc người giao nhận đưa container được kÍp chì về bãicontainer (CY) của người chuyên chở hoặc cảng được người chuyênchở chỉ định để bốc hàng lên tàu

- Tại cảng đích, bằng chi phí của mình, người chuyên chở sẽ lo liệuviệc dỡ và vận chuyển container xuống bãi container của mình hoặcbãi container trong cảng

- Bằng chi phí của minh, người nhận hàng hoặc người giao nhận phảithu xếp làm thủ tục hải quan và đưa container từ bãi container vềkho của mình, dỡ hàng và hoàn trả vỏ

• Trách nhiệm của người gửi hàng theo cách gửi FCL:

- Đóng hàng vào container kể cả chất xếp, chèn lót, đánh ký mã hiệu

và dấu chuyên chở

Trang 11

- Vận chuyển hàng từ kho hay nơi chứa hàng của mình đến bãicontainer do người vận chuyển chỉ định

- Niêm phong kÍp chì container theo quy định xuất nhập khẩu và thủtục hải quan

- Chịu mọi chi phí liên quan đến các thủ tục nói trên

Việc đóng hàng vào container có thể tiến hành tại bãi chứa hàng hoặctại kho của người gửi hàng nếu có yêu cầu nhưng người gửi hàng phải đảmbảo an toàn và chịu chi phí vận chuyển container đi và về bãi chứa container

do người vận chuyển quy định

• Trách nhiệm của người nhận hàng theo cách gửi FCL:

- Thu xếp giấy phép nhập khẩu và làm thủ tục hải quan cho hàngnhập

- Xuất trình vận đơn hợp lệ cho người gửi hàng để nhận hàng

- Nhanh chóng rút hàng tại bãi chứa hoặc kho của mình để hoàn trảcontainer rỗng cho người vận chuyển

- Chịu mọi chi phí liên quan đến các chi phí nói trên kể cả chi phí vậnchuyển container đi và về bãi container của người vận chuyển

• Trách nhiệm của người chuyên chở theo cách gửi FCL:

- Bảo quản hàng hoá xếp trong container kể từ khi nhận nó từ tayngười gửi hàng tại bãi container cho tới khi giao trả hàng cho ngườinhận tại bãi chứa container ở cảng đích

- Xếp container từ bãi container ở cảng gửi lên tàu để vận chuyển

- Xếp container từ tàu lên bãi container ở cảng đích

- Giao hàng cho người nhận nào xuất trình vận đơn hợp lệ

- Chịu mọi chi phí xếp dỡ container lên và xuống tàu

- Bồi thường cho người gửi nếu thiệt hại nằm trong phạm vi tráchnhiệm của mình

2 Gửi hàng lẻ (LCL – Less Than A Container Load)

Trang 12

Các hãng tàu định nghĩa thuật ngữ LCL là những lô hàng đóng chungtrong một container mà người gom hàng dù là hãng tàu hay là người giaonhận đều phải chịu trách nhiệm xếp và dỡ container, nói cách khác đây làphương thức gửi hàng mà hàng hoá trong một container có nhiều chủ hànggửi và nhiều chủ hàng nhận.

• Quy trình LCL:

- Hàng hoá của một số người gửi hàng lẻ gửi cho một số người nhậnhàng được người chuyên chở nhận tại bãi đóng container CFS(Container Freight Statiän) do người chuyên chở chỉ định

- Người chuyên chở hoặc người giao nhận sẽ thu xếp đóng hàng LCLnhận của các chủ hàng vào container, chi phí do người chuyên chởchịu

- Tiếp đó, người chuyên chở bốc container lên tàu

- Tại cảng đích người chuyên chở hoặc người giao nhận sẽ đưacontainer từ tàu về bãi CFS để dỡ hàng ra khỏi container

- Các lô hàng nhỏ sẽ được trả cho người nhận hàng

• Trách nhiệm của người gửi hàng theo cách gửi LCL:

- Vận chuyển hàng hoá của mình đến CFS, chịu mọi chi phí vậnchuyển

- Chuyển cho người gom hàng những chứng từ cần thiết liên quanđến thương mại, vận tải và quy chế thủ tục xuất nhập khẩu

- Lấy vận đơn và trả cước hàng lẻ

• Trách nhiệm của người chuyên chở theo cách gửi LCL:

Gửi hàng theo cách gửi LCL có 2 dạng người chuyên chở:

- Người chuyên chở thực (Effective Carrier): có nhiệm vụ kinh doanhchuyên chở hàng lẻ trên danh nghĩa người gom hàng Người chuyênchở thực có nhiệm vụ tiến hành nghiệp vụ chuyên chở hàng lẻ nói

Trang 13

trên, ký phát vận đơn thực cho ngươi gửi hang, xếp hàng lên tàu,vận chuyển hàng đến cảng đích và dỡ hàng lên bờ giao cho ngườinhận tại cảng đích.

- Người thầu chuyên chở hàng lẻ (NVOCC: Non Vessel OperatingCommon Carrier): thường là những công ty giao nhận đứng ra kinhdoanh trên danh nghĩa người gom hàng Họ là người chuyên chởtheo hợp đồng vận chuyển (Contracting Carrier) chứ không phải làđại lý Người thầu chuyên chở chịu trách nhiệm trong suốt quá trìnhvận chuyển hàng kể từ khi nhận hàng tại cảng gửi cho tới khi giaohàng cho người nhận tại cảng đích Vận đơn do người thầu chuyênchở ký phát cho người gửi hàng là “Vận đơn người gom hàng”(House B/L) do họ soạn thảo hoặc do những người giao nhận quốc

tế soạn thảo (FIATA B/L) nếu người thầu chuyên chở là hội việccủa hội này Vì người thầu chuyên chở không có tàu nên phải thuêtàu của người chuyên chở thực để chở các lô hàng lẻ được xếp vàocontainer đã niêm phong kÍp chì Người chuyên chở thực nhậncontainer từ người thầu chuyên chở, xếp container lên tàu, ký phátvận đơn thực (Master B/L) cho người thầu chuyên chở, sau đó vậnchuyển hàng đến cảng đích, dỡ hàng và giao cho người thầu chuyênchở

3 Gửi hàng kết hợp:

Phương pháp gửi hàng này là kết hợp của cách gửi hàng FCL và LCL.Tuỳ điều kiện cụ thể, chủ hàng có thể thoả thuận với người chuyên chở ápdụng phương pháp gửi hàng kết hợp cho phù hợp với thực tế Phương phápgửi hàng kết hợp có thể là:

- FCL/LCL: Nhận chuyên chở nguyên container/trả hàng lẻ

- LCL/FCL: Nhận hàng lẻ/ giao nguyên container

Trang 14

Khi giao hàng bằng phương pháp này, trách nhiệm của chủ hàng vàngười chuyên chở cũng thay đổi cho phù hợp.

§2 Các chứng từ sử dụng trong công tác giao nhận

Trong giao nhận container, các chứng từ chủ yếu là:

1 Bản lược khai hàng hóa (Cargo Manifest):

Là bản kê khai tóm tắt về hàng hoá được chuyên chở trên tàu do đại lýhoặc phó nhất lập ngay sau khi hàng được xếp lên tàu trước khi làm thủ tụchải quan cho tàu rời cảng Nội dung của bản lược khai hàng hoá bao gồm: têntàu, ngày dự kiến tàu đến, số thứ tự vận đơn, số kiện, kÝ hiệu, trọng lượng,tên người gửi, người nhận, cảng đi, cảng đến… Cargo manifest được lập để:

- Khai báo hải quan về hàng hoá xếp lên tàu

- Làm cơ sở để thanh toán với cảng về chi phí xếp dỡ, giao nhận

- Làm căn cứ để cảng lập Biên bản kết toán giao nhận hàng với tàu

- Làm chứng từ để phục vụ giao nhận và kết toán

- Là chứng từ để so sánh đối chiếu nhằm xác định tổn thất hàng hoá

- Cung cấp các thông tin để chỉ đạo xếp hàng đúng B/L, đúng quyhoạch kho bãi, đảm bảo tiết kiệm diện tích phục vụ việc giám địnhkho bãi và tạo điều kiện cho chủ hàng rút hàng nhanh chóng, xácbáo kịp thời

- Cùng vối Tally Report để nhận viên giao nhận xác định lượng hàngthừa thiếu để lập biên bản kết toán giao nhận hàng với tàu

2 Sơ đồ xếp hàng (Cargo plan):

- Là bản vẽ mặt cắt dọc con tàu, trên đó ghi rõ tên tàu, tên người lập,

số chuyến đi, cảng xếp dỡ, vị trí xếp hàng, tên hàng, trọng lượng, sốthứ tự vận đơn Sơ đồ xếp hàng có tác dụng:

Trang 15

- Giúp người giao nhận xác định được vận đơn hàng hoá của lô hàngtổn thất, vị trí xếp hàng của nó trong hầm tàu đồng thời xác định lôhàng chuyển thẳng.

- Giúp người làm công tác xếp dỡ lập kế hoạch xếp dỡ cho phù hợpvới hàng hoá, đảm bảo ổn định tàu, tận dụng trọng tải và dung tíchtàu

3 Vận đơn đường biển (Bill of Lading – B/L):

a, Vận đơn theo cách gửi FCL/FCL:

Vận đơn container là một chứng từ vận tải do người chuyên chởcontainer hoặc đại diện, đại lý của họ ký phát cho người gửi hàng sau khi đãnhận container chứa hàng đã được niêm phong hải quan để chở đi

- Thông thường vận đơn container được ký phát trước khi containerchứa hàng được xếp lên tàu nên còn gọi là “Vận đơn nhận hàng đểxếp” (Received for Shipment B/L) Loại vận đơn này không đượcngân hàng chấp nhận thanh toán, trừ khi trong tín dụng thư có ghichú “Chấp nhận vận đơn nhận hàng để xếp” (Received for ShipmentBill of Lading Acceptable) Sau khi container chứa hàng được xếplên tàu, người chuyên chở sẽ ghi chú thêm trên vận đơn: “Container

đã được bốc lên tàu ngày…” (Shipped on board, on… ) và ký xácnhận, lúc đó “Vận đơn nhận hàng để xếp” trở thành “Vận đơn hàng

đã xếp lên tàu” và được ngân hàng chấp nhận làm chứng từ thanhtoán

- Vận đơn hoàn hảo (Clean B/L) được ngân hàng chấp nhận làmchứng từ thanh toán, có nghĩa là trên vận đơn không có ghi chú haynhận xét không tốt của người chuyên chở về tình trạng hàng hoánhư: bao bì, kÝ mã hiệu không đúng… Khi đó, vận đơn này trởthành vận đơn không hoàn hảo và không được ngân hàng chấp nhậnthanh toán Ngoài ra người chuyên chở còn ghi chú: “đóng hàng,

Trang 16

chất xếp, kiểm đếm và niêm phong do người gửi hàng” (Shipper’sload, stowage, count and seal)

- Tuỳ cách chuyên chở, vận đơn container được gọi là vận đơn từcảng đến hay vận đơn vận chuyển liên hợp

+ Vận đơn từ cảng đến: container hàng được chở thẳng từ bãi chứa

CY tại cảng gửi đến bãi chứa CY tại cảng đích hoặc thông qua chuyển tải tạicảng khác trước khi tới cảng đích

+ Vận đơn vận tải liên hợp: container chứa hàng được chuyên chởbằng nhiều phương thức vận chuyển khác nhau từ nơi gửi hàng cho tới đíchcuối cùng, theo dịch vụ từ cửa đến cửa (Door to Door)

b, Vận đơn theo cách gửi hàng lẻ (LCL/LCL):

Trong chuyên chở hàng lẻ, nếu do người chuyên chở thực đảm nhiệm,

họ sẽ ký phát cho người gửi hàng vận đơn hàng lẻ LCL/LCL, có chức năngtương tự vận đơn theo cách gửi FCL/FCL

Nếu người đại lý giao nhận (Forwading Agent) đứng ra kinh doanhchuyên chở hảng lẻ, sẽ có hai loại vận đơn được ký phát:

- Vận đơn thực của người chuyên chở (Master Ocean B/L): ngườichuyên chở thực khi nhận container hàng của người đại lý giao nhận

sẽ ký phát cho người này vận đơn theo cách gửi FCL/FCL, trên vậnđơn ghi tên người gửi hàng là người đại lý giao nhận tại cảng gửi vàtên người nhận là đại lý giao nhận hoặc đại diện của người đại lýgiao nhận tai cảng đích Loại vận đơn này không có chức năngthanh toán

- Vận đơn của người giao nhận (House B/L): người giao nhận đứngtrên danh nghĩa người thầu chuyên chở, ký phát cho chủ hàng lẻ vậnđơn của mình hoặc theo mẫu của Hiệp hội các tổ chức giao nhậnquốc tế (FIATA) nếu họ là thành viên của tổ chức này Vận đơn có

Ngày đăng: 14/05/2015, 21:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w