đề tài này giúp chúng ta thấy được một khía cạnh của từ láy tiếng Việt.Từ đó thêm quý và làm giàu vôn từ láy của chúng ta
Trang 1hệ thống ngôn ngữ chính là các đơn vị của ngôn ngữ, đó là: âm vị, hình vị, từ, vàcâu.
Những vấn đề xoay quanh ngôn ngữ luôn luôn đợc nghiên cứu tranh luận,trong đó phương thức cấu tao từ cũng như vậy Và từ láy là 1 trong 5 phươngthức cấu tạo từ Theo như thống kê của các nhà ngôn ngữ học, trong kho tàng từvựng tiếng Việt, từ láy chiếm một số lượng đáng kể, khoảng 5152 từ Chúngxuất hiện trong mọi mặt của đời sống ngôn ngữ, từ lời ăn tiếng nói hàng ngàycho đến những áng thơ bất hủ Đâu đâu chúng ta cũng thấy sự xuất hiện của từláy Từ láy có một vai trò rất quan trọng như vậy vì trong nó chứa đựng nhữnggiá trị sâu sắc
Trước hết từ láy mang trong mình những đặc trưng có tính chất loại hìnhcủa tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ đơn lập khác ở phương Đông Đây làmột hiện tượng đặc trưng cho loại hình ngôn ngữ đơn lập, phân tích không phảingôn ngữ nào cũng có Chính các phương thức láy ở các ngôn ngữ này đã giúpcho từ láy có sức phát sinh cao và lực cấu tạo mạnh GS Đỗ Hữu Châu khẳngđịnh “láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt” Từ một hình vị gốc,chúng ta có thể tạo ra nhiều từ có sắc thái ý nghĩa khác nhau Ví dụ từ hình vị
gốc là “nhỏ” có những từ láy sau nhỏ nhỏ, nhỏ nhen, nhỏ nhặt,nhỏ nhắn.Đây là
một phương thức tạo từ đóng vai trò lớn trong tiếng Việt, góp phần làm phongphú thêm vốn từ vựng của chúng ta
Trang 2Thêm vào đó, nhìn từ góc độ sử dụng, từ láy có ba giá trị: giá trị gợi tả,
giá trị biểu cảm và giá tri phong cách Giá trị gợi tả làm cho người đọc, người
nghe cảm thụ và hình dung được một cách cụ thể tinh tế sống động như âmthanh hình ảnh, màu sắc của sự vật mà từ đó biểu thị Đó thường là những từ láy
tượng thanh tượng hình như: lách tách, áo áo, chót vót, lênh khênh…Giá trị biểu
cảm là khả năng biểu đạt thái độ đánh giấc, tình cảm của người nói đối với sựvật hiện tượng Việc sử dụng từ láy làm tính năng biểu cảm tạo ra ấn tượng về
sự cảm thụ chủ quan của người nói, ví dụ như: bâng khuâng, dào dạt, lưuluyến… Giá trị phong cách là khả năng sử dụng từ láy trong nhiều phong cáchkhác nhau Đối với mỗi phong cách riêng từ láy cũng thể hiện khả năng riêngcủa mình Ngay cả với những bản chính luận: “dân tộc ta có một lòng nồng nànyêu nước” (Hồ Chí Minh) cũng có sự xuất hiên của từ láy Đối với phong cáchnghệ thuật, từ láy được sử dụng rất phong phú và đa dạng Mỗi từ láy như là một
“nốt nhạc “trong cài bản nhạc âm thanh, chưa đựng trong mình một bức tranh
cụ thể của các giác quan thị giác, thính giác, xúc giác vị giác khứu giác Chonên từ láy là công cụ tạo hình đắc lực của nghệ thuật văn học nhất là thi ca:
“Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều”
(“Thơ duyên”- Xuân Diệu)
Ngoài ra, từ láy còn có một ý nghĩa đặc biệt trong tiếng Việt Đó là nó thể
hiện rất rõ nhất phạm trù ngữ pháp Từ láy là những từ được cấu tạo theo
phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữnguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh) của một hình vị hay đơn vị cónghĩa (đơn vị cơ sở) Bộ phận lặp lại của đơn vị cơ sở này có ý nghĩa ngữ pháp
rõ nét Chúng được biểu đạt bởi những hình thức cảm tính đòng thời có tínhđòng loạt chung cho nhiều từ cùng một loại Ví dụ: ta thấy những từ láy có hìnhtiết thực như “nhỏ nhắn”, “thẳng thắn”… đều có bộ phận lặp có vần “ắn” Đây
là một yếu tố có hình thức có tính đồng loạt, đồng thời thể hiện một nét nghĩanhất định “Nhỏ nhắn” là một tính chất khác với nhỏ, nó được xác định hơn, khubiệt hơn tính chất nhỏ, hay như “thẳng thắn”, cũng để chỉ tính chất thẳng của sự
Trang 3vật nhưng nó dường như có vẻ gì đó xác định cụ thể hơn, cố định tính chất của
sự vật
Như vậy, tất cả nhưng điều trên cho thấy rằng, từ láy nhận được rất nhiều
sự quan tâm của nhiều nghành xã hội, nhát là nghành ngôn ngữ học Tìm hiểucách luân phiên về vần trong từ láy tiếng Việt chính là hướng nghiên cứu củachúng tôi
2 Ý nghĩa đề tài
Đề tài này đã có nhiều nhà ngôn ngữ học đi sâu, nghiên cứu Chúng tôimuốn nghiên cứu thêm về cách luân phiên của từ láy tiếng Việt để qua đó có cáinhìn sâu sắc hơn về từ láy tiếng Việt, thấy được sự phong phú cách luân phiên từláy tiếng Việt, đề tài này giúp chúng ta thấy được một khía cạnh của từ láy tiếngViệt.Từ đó thêm quý và làm giàu vôn từ láy của chúng ta
3 Lịch sử vấn đề
Trong tiêng Việt, từ láy gắn bó với đời sống con ngươì từ thuở nằm nôi,
từ thuở ta còn nhỏ, nhưng đã biết nhận thức Ví như, mẹ mắng “suốt ngày lôngbông ở ngoài đường”, hay những vần thơ mượt mà:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Cùng với những giá trị ngữ nghĩa sâu sắc của mình, từ láy đã sớm trởthành đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Vào những năm nửa đầu thế kỉ XX, đã có rất nhiều quan niệm khác nhautranh luận về thế nào là từ láy? Nên xếp từ láy vào loại nào cho phù hợp? Chúng ta có thể xem xét một định nghĩa điển hình của L.Blomfield trong cuốnLanguage (1993) viết” Láy là một phụ tố, biểu hiện ở sự lặp lại một phần củahình thái cơ sở Ví dụ: trong tiếng Tagalog/su:lat/(một văn bản)->/su:su:lat/(mộtngười sẽ viết), /ga:mit/(đồ dùng)->/ga:ga:mit/(một người sẽ dùng)
Anh hưởng của quan niệm này, Lê Văn Lý – Sơ khảo ngữ pháp TiếngViệt (1972) – gọi từ láy là “Từ ngữ kép phản phúc” Đó là những từ ngữ đơnđược lặp đi lặp lại trong những yếu tố thành phần của chúng
- Tiếp vị ngữ -i-như bền bỉ, thầm thì,chăm chỉ…
Trang 4- Tiếp đầu ngữ -u- như tả tơi, nhá nhem, trà trộn…
- Tiếp trung ngữ-a- hoặc -ơ- như ấm ớ->ấm a ấm ớ…
líu tíu->líu ta líu tíu…
Có quan niệm lại cho láy là ghép Đó là những nhà Việt ngữ như: TrươngVăn Chính, Nguyễn Hiến Lê đã viết trong” Khải luận về ngữ pháp Việt Nam”(1963) Hai ông gộp láy với ghép vào một khái niệm chung là kép:
Theo âm
Theo nghĩa
Theo như sự thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, đã có rất nhiều nhàngôn ngữ học nghiên cứu sự luân phiên vần trong từ láy Tiếng Việt, và đã đạtđược những thành tựu đáng kể như GS Nguyễn Tài Cẩn, tuy nhiên những vấn
đề liên quan đến từ láy luôn luôn đòi hỏi được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và
4 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu từ láy tiếng Việt, nhưng không phải làtoàn bộ Đề tài này tập trung đi sâu vào tìm hiểu cách luân phiên về vần trong từláy tiếng Việt Do vậy chúng tôi chỉ thống kê một phần về các từ láy để nghiêncứu được chi tiết
Phương pháp nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo chiều sâu.Chủ yếu theo 2 hình thức:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: chúng tôi tìm những cứ liệu nghiên cứu
từ những cuốn từ điển
- Phương pháp thống kê: sau khi đã có cứ liệu cụ thể, chúng tôi tiến hànhthống kê, và phân nhiều nhóm nhỏ khác nhau trong cách luân phiên về vầntrong từ láy tiếng Việt
Trang 5CHƯƠNG I VẤN ĐỀ NHẬN DIỆN TỪ LÁY
I CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ TỪ LÁY
Từ xưa đã có rất nhiều định nghĩa về láy, song cho đến tận bây giờ vẫnchưa có một định nghĩa thống nhất về từ láy, có rất nhiều quan niệm khác nhau.Điển hình là những quan niệm sau:
- Quan niệm của Gs Nguyễn Tài Cẩn được trình bày trong cuốn “Ngữpháp tiếng Việt - từ ghép -đoản ngữ”về từ láy là: Từ láy âm là loại từ ghép trong
đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay có các thành tố trực tiếp được kếthợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm.Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra
ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặtyếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu,
âm chính giữa vần và âm cuối vần).Vì dụ ở từ láy đôi chúng ta thấy:
a) Về các yếu tố âm đoạn tính: các thành tố trực tiếp phải tương ứng vớinhau hoặc ở phụ âm đầu: làm lụng, đất đai, mạnh mẽ… hoặc ở vần: lảm nhảm.lưa thưa, lác đác… có khi các thành tố trực tiếp tương ứng cả phụ âm đầu, cả ởvần, ví dụ: chuồn chuồn, quốc quốc, đa đa…
b) Về mặt yếu tố siêu âm đoạn tính các thành tố nói chung đều phải cóthanh thuộc cùng một âm vực: thuộc âm vực cao (thanh ngang, thanh hỏi, thanhsắc) hoặc thuộc âm vực thấp (thanh huyền, ngã, nặng) Ví dụ:
+ Cùng thuộc âm vực cao: hay ho,méo mó, ngay ngắn, bảnh bao, lỏng lẻo,
rẻ rúng mê mẩn, sáng sủa
+ Cùng thuộc âm vực thấp: lụng thụng , dày dạn, rầu rĩ đẹp đẽ
- Còn trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, các tác giả đưa raquan điểm: Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho tacác từ láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm)
Từ láy tiếng việt có đọ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng, và có
cả từ láy ba tiếng
Trang 6Một từ sẽ được gọi là từ láy khi các thành tố cấu tạo nên chúng có thànhphần ngữ âm được lặp lại, nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi(gọi là đối) Ví dụ: đỏ đắn: điệp phần âm đầu, đối ở phần vần.
- Quan niệm của Gs Đỗ Hữu Châu: “từ được cấu tạo theo phương thứcláy, đó là phương thức hoà phối ngữ âm bằng cách lặp lại một bộ phận hay toàn
bộ hình thức ngữ âm của tiếng gốc, còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm, từ ghép láy,
từ phản điệp Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau căn cứ vào cáchhoà phối ngữ âm và số lần tác động của phương thức láy Căn cứ vào cách hoàphối ngữ âm có thể phân biệt hai kiểu từ lá : từ láy bộ phận chúm chím, đủngđỉnh, bập bồng), từ láy toàn bộ (oe oe , ầm ầm, lăm lăm) Từ láy bộ phận chialàm hai loại : lặp lại phụ âm đầu( chắc chắn, chí choé , mát mẻ), lặp lại phần vần(lênh khênh, chót vót, lè tè).Căn cứ vào số lần tác động của phương thức từ láy
có thể phân biệt các kiểu từ láy : từ láy đôi hay từ láy 2 âm tiết ( gọn gàng ,vững vàng, vuông vắn), từ láy ba hay từ láy ba âm tiết( sạch sành sanh tẻo tèoteo, dửng dừng dưng) , từ láy bốn hay từ láy bốn âm tiết( nhí nha nhí nhảnh,vvoj vội vàng vàng , lam nham lở nhở, tẩn ngẩn tần ngần).Từ láy có những đặctrưng ngữ nghĩa riêng như giá trị biểu trưng , sắc thái hoá , chuyên biệt hoá vềnghĩa”
- Quan niệm của Nguyễn Văn Tu cho rằng: những từ lấp láy gồm những
âm tiết tương quan với nhau hay giống nhau về ngữ âm Trong tiếng Việt hiệnđại , có những từ gồm hai từ tố có quan hệ về ngữ âm thường gọi bằng tên lấpláy , từ trùng điệp, từ láy âm hoặc từ láy…Thực ra trong số những từ kiểu này
có những từ thực sự là từ láy âm và cũng có những từ láy âm ngẫu nhiên ( đấtđai , tuổi tác, hỏi han…) Nhưng hiện nay về mặt quan hệ ngữ âm , chúng tacũng gọi chung chúng là những từ láy âm Sở dĩ chúng tôi gọi chung những từláy âm là những từ ghép vì thực chất chúng được tạo ra bởi một số từ tố với bản
thân nó không bị biến âm hoặc bị biến âm Từ ghép láy lâng lâng gồm có hai từ
hoàn toàn giống nhau về âm thanh Và từ ghép máy móc gồm từ tố máy kết hợpvới móc là biến thể ngữ âm của máy.Từ láy âm được tạo thành bằng việc ghép
Trang 7hai từ tố hoặc hai âm tiết có quan hệ về ngữ âm trên cơ sở láy âm , trên cơ sở láylại bản thân cái âm tiết chính hoặc cái từ tố chính.
Những từ láy âm có sự tương ứng về những mặt sau:
a)Về mặt phụ âm đầu như:
Sự tương ứng về thanh điệu;
Các âm tiết trong từ lấp láy thường có những thanh điệu tương ứng vớinhau.Hai âm tiết của từ lấp láy đều thuộc về một thanh điệu : không , hỏi, sắc ,hoặc nhóm huyền, ngã , nặng, Ví dụ:
- Nhóm 1: lâng lâng, máy móc, lo lắng, khó khăn , lỏng lẻo
từ ghép láy có mối liên quan với nhau về thanh điệu hoặc về các bộ phận ngữ
âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nội dung ngữ nghĩa
nhất định Thí dụ : nhỏ nhắn , nhỏ nhoi , nhỏ nhỏ, nhỏ nhặt, nhỏ nhen, chằm
chằm , thao thao, tỉ mỉ”.Hay như trong cuốn ngữ pháp tiếng Việt , các tác giả
cho rằng: “ Từ láy đều là từ hai tiếng Phần lớn đó là từ gốc Việt Có một sốnhững từ láy gốc Hán , nhưng có thể coi chúng là đã Việt hoá, đã hoà lộn vào bộ
Trang 8phận từ láy gốc Việt Ví dụ : phảng phất , linh lợi, bồi hồi…Từ láy được cấu tạotheo phương thức phối hợp ngữ âm Nói đến “ sự phối hợp ngữ âm “ ở đây tức
là nói đến hiện tượng lặp và hiện tượng đối xứng”
Qua xem xét rất nhiều ý kiến khác nhau về từ láy nhưng chúng ta vẫn thấyđược sự thống nhất ở một điểm Tất cả các tác giả đều coi : từ láy được cấu tạotheo phương thức láy Các thành tố trong từ láy đều có quan hệ ngữ âm ( vớithanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanhđiệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao : thanh ngang , thanh hỏi , thanh sắc vànhóm thấp: thanh huyền , thanh ngã, thanh nặng).Từ láy bao gồm hai hình vị ,
đó là hình vị gốc và hình vị láy Chúng có quan hệ ngữ âm với nhau Hình vị láy
có thể lặp lại những phần trong cấu trúc triết đoạn như âm đầu , vần hoặc lặp cả
âm đầu và vần ( láy hoàn toàn) , đồng thời có sự tương hợp trong cấu trúc siêuđoạn ( thanh điệu) Hỗu hết các tác giả đều đồng ý : trong tiếng Việt phần lớn lànhững từ láy đôi( nghĩa là có hai âm tiết) ngoài ra còn có từ láy ba và từ láy
tư Tuy nhiên có thể nói từ láy ba và từ láy tư chủ yếu được xây dựng trên cơ
sơ láy đôi
Ví dụ : lơ mơ -> lơ tơ mơ
Dửng dưng -> dửng dừng dưngLôi thôi -> lôi thôi lếch thếchHùng hổ -> hùng hùng hổ hổVấn đề hiện nay nhiều nhà Việt ngữ học còn tranh cãi , đó là sự phân biệtgiữa từ láy và các loại từ khác Mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những tiêu chíphân định khác nhau
II PHÂN BIỆT TỪ LÁY VỚI TỪ GHÉP
1 Khái quát chung
Đã từ lâu vấn đề nhận diện, phân biệt từ láy đã trở nên quan trọng và cầnthiết Đay là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và đã có nhiều ý kiến tranhluận về vấn đề này
Liên quan đến vấn đề không chỉ một loại từ ghép có vỏ ngữ âm giống từláy (chim chóc , chùa chiền….) mà còn có cả những đơn vị do hiện tượng lặp từ
Trang 9tạo nên ( ngày ngày, đêm đêm, người người …)và những từ định danh khác( như: ba ba, cào cào, chuồn chuồn…).
Ở đây, chúng tôi tập chung xét ở sự phân biệt giữa từ láy và từ ghép làchủ yếu Bởi lẽ nếu giải quyết được sự phân biệt này cũng tức là tạo tiền đề choviệc giải quyết hai loại sau Bên cạnh đó, việc phân loại từ ghép , từ láy là đểlàm rõ hơn chức năng, phương thức cấu tạo của từ tiếng Việt Để từ đó có cáinhìn chính xác về các dạng thức của từ tiếng Việt Phan biệt từ láy với từ ghép
có nghĩa là chúng ta đã xác định láy không phải là ghép Muốn vạy chúng taphải tìm được sự khác biệt giữa hai loại từ này : phương thức láy khác phươngthức ghép ở chỗ nào ?, từ láy khác từ ghép ra sao?
Để phân biệt từ láy và từ ghép , chúng ta không thể căn cứ vào mặt ngữ
âm được Vì chúng đềư tương tự như nhau Chính vì đặc điểm này nên từ láy
từ ghép nhiều điểm tương đồng và dẫn đến việc khó phân định hai loại từ này Cái còn lại rõ ràng là phải dựa vào mặt ngữ nghĩa Đúng hơn , để có cái nhìnchuẩn xác và khái quán nhất , thì phải kết hợp đồng thời cả hai mặt ngữ âm vàngữ nghĩa Sự kết hợp này sẽ cho chúng ta thấy được sự khu biệt giưã từ láy vớimọi từ khác vốn có trong tiếng Việt
2 Phân biệt từ ghép và từ láy
Các nhà ngôn ngữ học đã tranh luận rất nhiều về vấn đề từ ghép và từ
láy.Trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt GS Nguyễn Tài Cẩn coi từ láy âm là
“là loại từ ghép trong đó các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ
yếu là theo quan hệ ngữ âm “
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của tiến sĩ ngôn ngữ học Nguyễn Như
Quỳnh cho rằng “từ ghép là những từ do hai hình vị trở nên cấu tạo thành”,
chẳng hạn như nước non , ngọt ngào…
Căn cứ vào phương thức cấu tạo và quan hệ giữa các thành phần tạo nên
từ ghép có thể phân chia từ ghép thành ba loại lớn : từ ghép nghĩa , từ láy , và
từ ghép tự do.
Để phân biệt từ ghép với từ láy , chúng tôi lựa chọn phân biệt từ ghépnghĩa và từ láy
Trang 10Từ ghép nghĩa là kiểu từ phổ biến nhất trong các từ ghép tiếng Việt Từghép nghĩa là những từ gồm hai hình vị trở nên kết hợp với nhau
Các thành tố tạo nên từ ghép nghĩa phần lớn là các hình vị có ý nghĩa có
ý nghĩa từ vựng và có khả năng hoạt động độc lập ( thí dụ : non sông , nước non,ngọt ngào….) Còn trong từ láy , một thành tố có thể có ý nghĩa từ vựng và mộtthành tố không có ý nghĩa từ vựng , yếu tố có ý nghĩa từ vựng có thể đứng trướchoặc đứng sau ( thí dụ : chiim chóc , hay ho , im ,lìm, ngậm ngùi , ngập ngừng,lập loè , nhấp nhô…), hoặc cả hai thành tố đều không có ý nghĩa từ vựng mà chỉ
óc ý nghĩa cấu tạo từ ( thí dụ : đủng đỉnh , lon ton , lóng lánh , phau phau , nhởnnhơ ….)
Như vậy về cơ bản chúng ta đã nhận thấy rằng từ láy và từ ghép khônghẳn hoàn toàn khác nhau, bởi vì chung quy lại , từ láy là một hình thức của từghép, song chúng ta vẫn có thể phân biệt được từ ghép và từ láy thông qua khảnăng khu biệt nghĩa và đăc điểm cấu tạo
Trang 11
CHƯƠNG II VẤN ĐỀ CẤU TẠO TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
I KHÁI QUÁT CHUNG
Ở chương I, chúng ta đã tiến hành nhận diện từ láy Trong chương này,chúng ta tìm hiểu từ láy về mặt cấu tạo Qua đó, ta có thể hiểu sâu hơn một bước
về bản chất của phương thức láy cũng như từ láy
Trên cơ sở cả hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa có tính đến lượng yếu
tố, chúng tôi tiến hành phân loại từ láy theo nhiều bước từ lớn đến nhỏ.Với cách làm như vậy, từ láy được nhận biết đồng thời trên cả hai mặt nộidung và hình thức với mối quan hệ mật thiết của các thành tố cấu tạo Bêncạnh những kiểu loại mang tính chất chung, khái quát, bao gồm trong đólại có những kiểu loại nhỏ hơn Đến lượt những kiểu loại nhỏ hơn lại cónhững kiểu loại nhỏ hơn nữa… Những thay đổi về mặt ngữ âm từ các loạilớn đến các loại nhỏ đều kéo theo sự thay đổi về mặt ngữ nghĩa Nhờthông qua ngữ nghĩa, ta vẫn thấy được mối quan hệ gần gũi, tương tự giữachúng với nhau
II CÁC BƯỚC PHÂN LOẠI
Theo hướng trên đây, từ láy trong Tiếng Việt lần lượt được phân chia theothứ tự các bước sau đây:
1 Bước 1: Chia từ láy thành 2 loại lớn:
- Từ láy đơn: gật gù, lắc lư
Trang 12từ láy đơn; 2 - 2 trong từ láy kép Từ láy đơn là từ láy được tạo ra dựa trên cơ sởmột đơn vị gốc có trước vốn là một từ đơn âm tiết.
- Từ láy đơn: thành tố gốc vốn là i đơn vị 1 âm tiết
- Từ láy kép: thành tố gốc vốn là i đơn vị 2 âm tiết
Song không phải bất kì một từ hai âm tiết cũng đều trở thành thành tố gốccủa từ láy kép và không phải bất kì một từ đơn âm tiết nào cũng có thể trở thànhthành tố gốc của từ láy đơn Không phải ngẫu nhiên tất cả những từ láy képtrong Tiếng Việt đều dựa trên cơ sở cấu tạo của từ láy đơn là lấy từ láy đơn làmthành tố gốc của mình Chính vì thế mà ta cũng có thể nói láy từ 1 từ láy đơn thìgọi là từ láy kép Dĩ nhiên không phải từ láy đơn nào cũng đều trở thành thành
tố gốc của từ láy kép tương ứng Đó là một thực tế khách quan Những trườnghợp sau đây là ví dụ minh hoạ: xanh xao, vàng vọt, đỏ đắn, xinh xắn, trắng trẻo,ngọt ngào…
1.2 Về ý nghĩa
Giữa từ láy đơn và từ láy kép, mặc dù có sự khác biệt nhau, nhưng cả haiđều là từ láy, cùng một phương thức láy tạo ra Vì vậy, đối với từ láy, dù đơn
Trang 13hay kép cũng mang một đặc điểm chung là ý nghĩa dao động Sự khác nhau giữa
ý nghĩa của từ láy đơn và từ láy kép chính là ở mức độ Nói cụ thể hơn là, nếunhư từ láy đơn biểu thị sự vật, hiện tượng nằm trong trạng thái dao động ở mức
độ thấp thì từ láy kép biểu thị trạng thái ở mức độ cao hơn
So sánh “ Gật gù” với “ Gật gà gật gù “
Cả hai thương được dùng để biểu thị trạng thấi gật gật xuống… Nhưngtrương fhợp sau ( gật gà gật gù ) vẫn gợi lên cho ta thấy hiện tượng đó diễn ramột cách nhanh hơn, liên tục hơn và cũng có dáng vẻ mạnh hơn… so với trườnghợp đầu ( gật gù ) Những trương hợp sau đây cũng dễ hiểu như vậy:
Trong mỗi loại trên ta lại tiếp tục chia thành
- Từ láy hoàn toàn: xanh – xanh xanh, đỏ - đo đỏ
- Từ láy bộ phận: xanh – xanh xao, đỏ - đỏ đắn
4 Bước 4
Trong từ láy bộ phận, ta lại tiếp tục phân chia vị trí khuôn âm tiết
- Từ láy phụ âm đầu: xinh xắn, trắng trẻo…
- Từ láy vần: tò mò, khéo léo…
III TỪ LÁY ĐƠN
1 Khái quát chung
Trong Tiếng Việt, từ láy đơn là một loại từ láy gồm 2 âm tiết.Truyền thống thường gọi loại từ láy này là từ láy đôi hay từ láy bậc một
Trang 14Về cấu tạo, đó là những từ láy được “nhân đôi” dựa trên một đơn vị gốc
có trước làm cơ sở vốn dĩ là một từ đơn âm tiết Do tác động của phươngthức láy vào đơn vị gốc đã làm nảy sinh một yếu tố ( âm tiết ) mới bêncạnh âm tiết ( đơn vị gốc) Về hình thức, yếu tố này có thể giống “hoàntoàn” hoặc chỉ giống một bộ phận nào đó của đơn vị ( âm tiết ) gốc Nóimột cách khái quát hơn, nó vừ giống vừa khác đơn vị gốc Về mặt ýnghĩa, thành tố láy không có khả năng mang nghĩa độc lập Cả hai mới tạothành 1 từ láy- từ láy đơn Có thể hình dung khuôn từ láy đơn bằng côngthức: R + a = Ra ( R là thành tố gốc, a là thành tố láy, Ra là từ láy ) Theothống kê sơ bộ của chúng tôi, trong Tiếng Việt có khoảng 4908 từ láyđơn
2 Từ láy hoàn toàn
Trong Tiếng Việt, từ láy hoàn toàn có vào khoảng hơn 837 đơn vị Xéttrên cả hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa, đó là những từ láy mà:
Về mặt hình thức
Thành tố gốc được giữ lại ở thành tố láy dưới hai hình thái cơ bản:
- Thứ nhất: Giữ nguyên cả hai bộ phận: âm đoạn tính và siêu đoạntính( Thanh điệu ) dưới hình thức chữ viết kiểu như : xanh xanh, vàng vàng…
- Thứ hai: Có sự biến đổi cả hai bộ phận một hoặc chỉ biến đổi riêngthanh với những trường hợp thành tố gốc (âm tiết) mang thanh trắc kiểu như: đo
đỏ, trăng trắng, mằn mặn… Hoặc vừa biến thanh vừa biến vần đối với nhữngtrường hợp mang thanh trắc, nhưng chỉ có hai thanh sắc và nặng, với phụ âmcuối: - p, -t, -c, -ch Sự biến thanh và biến vần ở đây có quy luật chặt chẽ Nóichung, thanh trắc được chuyển sang thanh bằng ( luật bằng- trắc, cùng âm vực ),phụ âm tắc… được chuyển thành phụ âm mũi cùng cặp:
P m Ví dụ: chiêm chiếp, cầm cập
T n Ví dụ: chan chát, rần rật
C ng Ví dụ: eng éc, ùng ục
Ch nh Ví dụ: chênh chếch, bình bịch
Trang 153 Từ láy bộ phận
Đối lập với từ láy hoàn toàn, ta có từ láy bộ phận Nếu như từ láyhoàn toàn là những từ láy mà về mặt hình thức, thành tố gốc về cơ bảnđược giữ lại toàn bộ ở thành tố láy thì từ láy bộ phận chỉ giữ lại một phầnnào đó của thành tố gốc mà thôi
Trong từ láy đơn có hơn 2373 từ láy bộ phận Hai loại tù láy bộ phận cókhả năng phân xuất rõ nét trên cả hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa Đó là từ láy phụ
âm đầu ( thường gọi là từ láy điệp âm ), gồm 1792 đơn vị, ví dụ như: đúng đắn,vuông vắn, xanh xao, vàng vọt… và từ láy vần ( thường gọi là từ láy điệp vần )gồm 581 đơn vị, ví dụ như: lòng thòng, khéo léo, lưa thưa…
4 Từ láy phụ âm đầu (điệp vần)
Đó là những từ láy mà trong quá trình tạo nên phụ âm đầu của thành tốgốc được láy lại còn phần vần thì thay đổi Thanh điệu có thể giữ nguyên hoặcbiến đổi nhưng phải cùng âm vực
Ví dụ: đỏ đắn, trắng trẻo, đẹp đẽ, bập bềnh, thập thò, thẹn thùng, thậmthụt, lấp ló, ngấm nguýt…
Thuộc loại này ta có thể chia thành 2 nhóm:
a - Thành tố gốc ở trước Ví dụ: đỏ đắn, xanh xao, trắng trẻo
- Thành tố gốc ở sau Ví dụ: thập thò, lấp lánh, ngấm nguýt…
b Từ láy vần (điệp vần):
Đó là từ láy mà khi cấu tạo nên chúng, bộ phận vần của thành tố được giữlại ở thành tố láy, phần phụ âm đầu thay đổi Cũng như nhiều trường hợp khácthanh điệu tuy có thẻ biến đổi, nhưng nói chung đều cùng âm vực Trong TiếngViệt, thuộc loại từ láy này có vào khoảng 581 đơn vị
Ví dụ: khéo léo, thu lu, chót vót, xởi lởi, xẻn lẻn, co ro, khọm lọm, bùngnhùng, bắng nhắng, chơi vơi, bẻo lẻo, bủn rủn, chênh vênh, càu nhàu, kèmnhèm, tò mò, lò mò, lơ xơ, lom khom, lọm khọm…
Cũng như từ láy điệp âm nói trên, căn cứ vào vị trí của thành tố gốc, tacũng có thể phân chia loại từ láy này thành hai nhóm:
- Thành tố gốc đứng trước Ví dụ: khéo léo…
Trang 16- Thành tố gốc đứng sau Ví dụ: lom khom…
Nét nổi bật đối với loại từ láy này là cả hai thành tố phần lớn đều mangcùng một thanh điệu Nếu như ở từ láy điệp âm có đến 3 bộ phận biến đổi… thìloại từ láy này chỉ có 1 (phụ âm đầu) Và cũng chính vì thế mà từ láy điệp vầnrất ít có khả năng 1 thành tố gốc có thể tạo ra được nhiều từ láy Về ý nghĩa, “vaitrò tiếng gốc trong từ điệp vần có xu thế lu mờ dần” Chính vì thế mà việc xácđịnh thành tố thuộc loại từ láy này khó hơn nhiều từ láy điệp âm… Đối với từláy điệp âm, phần lớn phần vần thay đổi thì thanh điệu cũng thay đổi Ở từ láyđiệp vần, đại bộ phận phần vần giữ nguyên thì thanh điệu cũng được giữnguyên
Trang 17
CHƯƠNG III VẤN ĐỀ LUÂN PHIÊN VẤN TRONG TỪ LÁY TIẾNG VIỆT
I CƠ SỞ PHÂN LOẠI DỮ LIỆU VÀ THẾ NÀO LÀ LUÂN PHIÊN VẦN
Từ Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoá phối ngữ âm cho ta các từ
láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba
tiếng Tuy nhiên, loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương thức
láy của tiếng Việt Mặt khác, luân phiên vần trong từ láy tiếng Việt không xảy ra
ở láy từ mà chỉ chủ yếu xảy ra ở láy đôi Tuy có xảy ra ở láy ba, ví dụ như: khít
khìn khịt, xốp xồm xộp, Nhưng theo thống kê của GS Nguyễn Thiện Giáp,
trong tiếng Việt chỉ gồm có khoảng 40 từ láy ba, đó là một con số không đáng
kể trên tổng số lượng từ láy trong tiếng Việt, số từ láy 3 có luân phiên vần càng
ít Do đó, khi khảo sát về vấn đề luân phiên âm trong từ láy tiếng Việt, chúng tôi
chỉ quan tâm tới từ láy đôi
Theo một thống kê, có khoảng 5112 từ láy trong tiếng Việt, một số lượng
khá lớn trên tổng số từ vựng tiếng Việt, cho thấy sự phong phú của ngôn ngữ
Việt Nam
Để lọc ra danh sách các từ láy có hiện tượng luân phiên vần, trước hết
chúng ta phải tìm hiểu thể nào là luân phiên vần
Theo TS Hoàng Cao Cương, cấu trúc tiết đoạn của một âm tiết có thể
biểu diễn như sau:
Trang 18Như vậy, một từ láy đôi sẽ có cơ cấu tạo:
Một từ sẽ được coi là láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phầnngữ âm được lặp lại, nhưng vừa có lặp (còn gọi là đệip), vừa có biến đổi (còngọi là đối) Vấn đề: đóng đanh: điệp ở phần âm đầu (C1), đối ở phần vần đ
Chú thích: Dấu chỉ sự chuyển đổi, biến đổi
Từ láy luân phiên vần trước hết là phải đối ở phần vần của hai âm tiết.Nghĩa là cò phần phụ âm đầu láy lại tương tự có phụ âm đầu láy lại là khá lớn,
sở dĩ phụ âm đầu được lặp lại nhiều lần vì số lượng phụ âm ít, chỉ gồm 20 phụ
âm nên sự lặp lại của chúng nhiều lần là tất yếu
Hai trường hợp sau đây được xếp là hiện tượng luân phiên vần:
*Trường hợp 1: thuộc lớp từ láy hoàn toàn, đối ở phần vần theo 2 nguyên
tắc tuân theo quy luật hoà thanh, phối âm như sau:
- Biến thành: thanh trắc được chuyển sang thanh bằng cùng âm vực (luậtphù trầm)
- Biến phụ âm cuối: phụ âm tắc được luân phiên với phụ âm mũ cùng cặp(luật dị hoá)
p - m: VD: chiêm chiếp, cầm cập, nườm nượp…
t - n : VD: thơn thớt, chan chát, băn bát…
c - ng:VD: hừng hực, lằng lặc, phăng phắc…
C1VC2 C1VC2
Trang 19ch - nh: VD: phành phạch, phình phịch, phinh phích…
Đây là trường hợp luân phiên phụ âm cuối và được mô hình hoá:
vần đ, trong đó láy phần phụ âm cuối (C2), biến đổi luân phiên ở phần nguyên
- Luân phiên nguyên âm đơn - đơn: VD: u-i, ô-ê, o-e…
- Luân phiên nguyên âm đơn - đôi: VD: u - iê…
- Luân phiên nguyên âm đôi - đôi: VD: ôi - ao, âu - ia…
Trong đó, các nguyên âm đôi thực chất bao gồm âm chính và âm đệm.Nếu xét luân phiên nguyên âm chỉ là luân phiên âm chính thì có thể xếp luânphiên loại 2 và 3 vào loại 1, song, để đảm bảo sự phong phú trong việc phântách khảo sát, ta sẽ có sự phân chia thành 3 loại như trên
Qua các thao tác chọn lựa danh sách các từ láy luân phiên vần và đôi khảosát triệt để không lược bỏ cả các từ láy về bản chất là một nhưng do lối phát âmkhác nhau của từng khu vực mà trong nguyên tắc cần được coi là các đơn vịkhác nhau
VD: Danh sách có cả “ọp ẹp” và “mọp mẹp”, “dằng dịt” và “nhằngnhịt”…
Một số từ láy định danh như: xúc xích, súc sắc… cũng được đưa vào danhsách
C1VC2
C1VC2
C1VC2
C1VC2
Trang 20Thống kê theo nguyên tăc trên, chúng tôi thu được quả là khoảng 840 từláy luân phiên vần trong đó có các từ phụ thuộc nhóm từ tượng thanh chiếmkhoảng 16,43% tổng số từ láy, trong đó, luân phiên nguyên âm chiếm 10,96%
và luân phiên phụ âm cuối chiếm 5,47%
II CÁC KIỂU LUÂN PHIÊN VẦN
1 Luân phiên nguyên âm
Như đã biết, hiện tượng luân phiên nguyên âm diễn ra phổ biến hơn luânphiên phụ âm cuối với số lượng gấp đôi (10,96% so vớ 5,47% tổng số từ láy) Nghĩa là luân phiên nguyên âm chếm hai phần ba tổng số từ láy có hiện tượngluân phiên vần
Trong số lượng từ láy luân phiên nguyên âm, lượng từ láy luân phiênnguyên âm đơn đơn lại chiếm tỷ lệ cao nhất
Sau đây, ta sẽ lần lượt khảo sát hiện tượng luân phiên nguyên âm:
1.1 Luân phiên nguyên âm đơn
Là từ láy đôi khi phụ âm đầu và phụ âm cuối trùng nhau, thanh điệu trùngnhau ở cả hai âm tiết mà sự khác nhau chỉ có ở nguyên âm, và hai nguyên âm đó
là nguyên âm đơn Ví dụ: u - i; ê - a…
Hiện tượng luân phiên nguyên âm đơn chiếm 48,1%/tổng số luân phiênvần Có thể chia làm 3 nhóm:
Nhóm 1: Sự khác nhau của các nguyên âm này là tối thiểu Cụ thể là ở cácnguyên âm cùng một độ mở như nhau (hay ta có thể nói, các nguyên âm trầmluân phiên với các nguyên âm bổng ở cùng một âm lượng, nguyên âm trầm đứngtrước, nguyên âm bổng đứng sau
Sau đây là bảng thống kê tương đối đầy đủ về hện tượngluân phiên nguyên âm có cùng độ mở:
Trang 21rù rì
rủ rỉrúc ríchrục rịchrung rinhrủng rỉnh
sù sisụt sịt
thủ thỉthùng thìnhthủng thỉnhtrúc trích trùng trình tùtìtủm tỉm
xù xìxúc xíchxùng xìnhxúng xính
ô - ê
bồng bềnh(bềnh bồng)chông chênhchồng chềnh bông bênhchổng chểnh