BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHTrương Thị Hữu MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 1 Ở CÁC TRƯỜNG QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINH THÔNG QUA GIỜ HỌC TIẾNG VIỆT
Trang 1Bé GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trương Thị Hữu
MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 1 Ở CÁC TRƯỜNG QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINH THÔNG QUA GIỜ HỌC
TIẾNG ViÖt
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trương Thị Hữu
MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ
CHO HỌC SINH LỚP 1 Ở CÁC TRƯỜNG
QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ
MINH THÔNG QUA GIỜ HỌC
TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC(BẬC TIỂU HỌC)
Mã số: 60 14 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS – TS Chu Thị Thủy An
Trang 3Nghệ An, 2012
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU1 1 i: 1
2 ch nghiên cứu: 2
3 ứ 2
4 ả c: 2
5 nghiên cứu: 3
6 p nghiên cứu: 3
7 ấ i dung của luậ ă : 3
Ở N: 5
1.1 LỊCH SỬ VẤ ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.2 NHIỆM VỤ LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 6
1.3 MÔN HỌC TIẾNG VIỆT VỚI VIỆC LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 1: 11
1.4 ĐẶ ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH LỚP 1 Ở Á TRƯỜNG QUỐC TẾ VÀ VIỆC LÀM GIÀU VỐN TỪ: 16
1.5 TIỂU KẾT HƯƠ 1: 21
2 Ở THỰC TIỄN: 23
2.1 KHÁI QUÁT VÊ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG: 23
2.2.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG: 25
2.3.NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG: 39
2.4 TIỂU KẾT HƯƠ 2: 42
Trang 4G 3 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO
HỌC SINH LỚP Á TR ỜNG QUỐC TẾ QUA GIỜ HỌC
TIẾNG VIỆT: 44
3.1 CÁC NGUYÊN TẮ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 1: 44
3.2 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP Ở Á TRƯỜNG QUỐC TẾ: 45
3.3 THỬ NGHIỆ SƯ PHẠM: 105
3.4 TIỂU KẾT HƯƠ 3: 115
KẾT LU N VÀ KIẾN NGHỊ: 118
1 KẾT LUẬN: 118
2 KIẾN NGHỊ: 119
2.1 Đ i với công tác quản lý chỉ ạo chuyên môn: 119
2.2 Đ i với giáo viên ti u h c: 120
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ ĐÃ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN STT
KÍ HIỆU VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
Trang 7Trang
Bảng 1 Mức độ nắm vốn từ của học sinh lớp 1: 37
Bảng 2 Hứng thú về việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 1: 41
Bảng 3 Nhận thức về nhiệm vụ và nội dung làm giàu vốn từ của giáo viên: 45
Bảng 4 Các phương pháp dạy học GV thường sử dụng trong giờ MRVT: 47 Bảng 5 Hứng thú của HS khi học MRVT thông qua nhận xét của GV: 50
Bảng 6 Mức độ nắm vốn từ của HS ở vòng 1: 137
Bảng 7 Mức độ nắm vốn từ của HS ở vòng 2: 138
Bảng 8 So sánh mức độ nắm vốn từ của HS lớp 1 qua 2 vòng: 140
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Vốn từ đối với con người vô cùng quan trọng vì không nắm được vốn từ của một ngôn ngữ, con người không thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy.Vốn từ của con người càng phong phú, đa dạng bao nhiêu thì khả năng diễn đạt của người đó càng chính xác, tinh tế; khả năng tư duy của người đó càng mạch lạc, sắc sảo bấy nhiêu Có thể khẳng định, vốn từ là nền móng để
Trang 8phát triển ngôn ngữ, là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và
phát triển trí tuệ của trẻ em Các nhà nghiên cứu giáo dục đều khẳng định
phát triển vốn từ là nền tảng quan trọng để phát triển ngôn ngữ, phát triển trí tuệ, hình thành nhân cách của học sinh (HS)
1.2 Thực thế dạy học cũng cho thấy rằng, muốn phát triển ngôn ngữ của HS lớp
1 “phải để cho trẻ chiếm lĩnh vốn từ và học nói thông qua môi trường học tập và giao tiếp của nó”, nhà trường là môi trường học tập thích hợp, tạo cơ hội dễ dàng cho sự phát triển ngôn ngữ giao tiếp của HS Vì vậy, việc làm giàu vốn từ (LGVT) cho HS lớp 1 thực sự cần thiết, nhằm phát triển vốn từ cho các em, tạo nền tảng cho
sự phát triển ngôn ngữ giao tiếp ở các bậc học tiếp theo của các em
1.3 Tuy nhiên, lâu nay, các tài liệu, các công trình nghiên cứu hầu như chỉ
tập trung vào vấn đề LGVT vốn từ tiếng Việt cho HS các lớp 2-5; chưa có tài
liệu nào đề cập đến việc LGVT cho học sinh lớp 1, đặc biệt là cho học sinh
lớp 1 ở các trường Quốc tế Vì vậy, việc LGVT cho học sinh lớp 1 ở các
trường Quốc tế còn gặp nhiều khó khăn về tài liệu, giáo trình
1.4 Học sinh mới lớp 1 vốn từ còn rất ít, đặc biệt là học sinh ở các trường
Quốc tế, vốn từ của các em còn nghèo nàn vì các em chưa được gia đình
thực sự quan tâm tạo điều kiện để tiếp xúc, trò chuyện, giao lưu cùng với
những người thân và những người xung quanh mình Bên cạnh đó, xu hướng
của một số gia đình quan niệm học sinh không cần thiết phải nói lưu loát tiếng
2
mẹ đẻ, không cần dùng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, học tập Họ muốn đầu tư
tiếng nước ngoài (chủ yếu là Anh văn) cho các em ngay từ các lớp đầu cấp
Điều này khiến cho chất lượng học tập tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) của học sinh
không đạt hiệu quả cao, vốn từ tiếng Việt của các em hạn chế, dẫn đến tình
Trang 9trạng học sinh sẽ quên dần tiếng mẹ đẻ và quên dần việc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp
1.4 Giáo viên ở các trường Quốc tế cũng còn lúng túng, chưa tìm ra được các biện pháp để phát triển vốn từ cho học sinh lớp 1
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là: “ t s
Trang 10ệ
5.1 Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài: vấn đề làm giàu vốn từ, biện pháp làm giàu vốn từ, đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 1 5.2 Tìm hiểu thực trạng vốn từ và thực trạng sử dụng các biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 1 ở các trường Quốc tế trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh
5.3 Đề xuất một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 1 ở các trường Quốc tế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thông qua giờ học Tiếng Việt 5.4 Tổ chức thử nghiệm sư phạm để kiểm tra tính hiệu quả, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Trang 11C : Một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp1 ở các
trường Quốc tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thông qua giờ học Tiếng Việt
Trang 12- Nắm nghĩa của từ (chính xác hóa vốn từ)
- Quản lý và phân loại vốn từ (hệ thống hóa vốn từ)
- Luyện tập sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ)
Như vậy, tác giả Nguyễn Minh Thuyết [24] đã sử dụng thuật ngữ “mở rộng vốn từ” theo nghĩa hẹp, mở rộng vốn từ là là một trong bốn nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho HS tiểu học
Khác với Nguyễn Minh Thuyết, tác giả Lê Phương Nga[17] đã tiến hành
kê về thực trạng nắm nghĩa từ và sử dụng từ của học sinh Từ việc đo nghiệm
đó, tác giả phân tích rõ các đặc điểm giải nghĩa từ và sử dụng từ của học sinh, đồng thời thấy được cả những lúng túng của các em khi thực hiện những hoạt động này
Tác giả Trịnh Mạnh với “Dạy từ ngữ c o ọc s n cấp 1 [14] Tài liệu
này có hai đóng góp quan trọng: Thứ nhất, là xác định được ba nhiệm vụ cụ
6
thể của dạy từ (chính xác vốn từ, phong phú vốn từ và tích cực hóa vốn từ) Thứ hai là tài liệu đã xác định nội dung cụ thể của việc dạy từ, nên dạy cái gì
Trang 13và không nên dạy cái gì? Ngoài ba nhiệm vụ cơ bản mà Trịnh Mạnh đề cập, trên báo Giáo dục số phụ với “N ững m mớ làm cơ sở c o v c dạy và
ọc m n T ếng t ở trường T S , tác giả Lê Cận có bổ sung thêm
nhiệm vụ thứ tư của việc dạy từ đó là “Giúp học sinh chuẩn mực hó vốn từ” Nhiệm vụ này xuất phát từ yêu cầu làm đẹp, làm trong sáng vốn từ của học sinh
Trong luận án “ t ng à tập rèn luy n năng lực sử dụng từ ngữ c o
S t u ọc , tác giả Lê Hữu Tĩnh [25] đã đưa ra một hệ thống bài tập dạy từ cho HS tiểu học với một cái nhìn toàn cục, tổng thể về diện mạo chung của các bài dạy từ ở tiểu học Tác giả có sự phân tích rất kĩ về mục đích ý nghĩa, tác dụng của bài tập, các tiểu loại bài tập và hệ thống bài tập cho phép người
sử dụng lựa chọn tùy vào điều kiện dạy học cụ thể
Có thể khẳng định, vấn đề dạy từ cho HS tiểu học là một vấn đề không phải hoàn toàn mới, đã có rất nhiều tài liệu đã đề cập đầy đủ và sâu sắc mọi khía cạnh của việc dạy từ như dạy cho HS phát triển, mở rộng, hệ thống hóa vốn từ, nắm nghĩa từ hay rèn kĩ năng dùng từ,… và việc vận dụng vốn từ để dạy tiếng Việt theo chương trình mới
Hiện tại chưa có tài liệu nào nghiên cứu về phát triển vốn từ cho học sinh ở các trường Quốc tế cũng như việc làm giàu vốn từ cho học sinh các trường Quốc tế chưa được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu cụ thể Thế nhưng chính những tài liệu trên đây sẽ giúp cho chúng tôi có căn cứ cho việc
đề xuất một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh tiểu học ở các trường Quốc tế
1.2 NHIỆM VỤ LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1 1 ệ ừ
7
Trang 14- Vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức âm, chữ và nội dung ngữ pháp) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong ký ức của mình Vốn
từ của từng người cụ thể, không ai giống ai Vốn từ nhiều hay ít, đơn giản hay
đa dạng tùy thuộc ở kinh nghiệm sống, ở trình độ học vấn, ở sự giao tiếp giao lưu văn hóa của từng người Mỗi một ngôn ngữ phát triển một số lượng từ vựng hết sức lớn và phong phú Có thể lên tới hàng chục vạn, hàng triệu từ
- Từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ
không đồng nhất và có chất lượng khác nhau Trong vốn từ ngữ của một ngôn ngữ nào đó cũng đều có từ mới và từ cũ, những từ phổ biến chung, những từ văn hóa (là những từ chuẩn mực), những từ chuyên môn, từ vay mượn
- Vốn từ vựng của một ngôn ngữ và vốn từ của cá nhân sử dụng có
quan hệ bao hàm Cụ thể, vốn từ của cá nhân được hiểu là bộ phận của vốn từ chung Vốn từ của một cá nhân là toàn bộ các từ và đơn vị tương đương từ tồn tại trong trí óc của cá nhân đó và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp Vốn từ của cá nhân được tích lũy trong đầu óc của mỗi người còn vốn từ của ngôn ngữ theo cách nói của F.de.Saussure được lưu giữ “Trong
c c bộ óc củ mỗi tập thể…những ng ời cùng một cộng ồng ngôn ngữ”[9]
- Vốn từ được tích lũy trong đầu óc con người không phải là một mớ
hỗn tạp mà được tổ chức thành hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ có nét chung về hình thức hoặc nội dung khiến con người đứng trước một đơn vị nào
đó có thể dễ dàng nghĩ đến, liên tưởng đến những đơn vị khác cùng hệ thống
Có thể nói, từ ngữ tồn tại trong đầu óc con người như là một hệ thống (hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống nhỏ thuộc các tầng bậc, cấp bậc khác nhau) nhờ đó từ mới được tích lũy nhanh chóng và được sử dụng một cách dễ dàng
Số lượng từ của một ngôn ngữ, một dân tộc rất lớn nhưng vốn từ của từng cá
Trang 15nhân thuộc dân tộc đó có thể không nhiều Vốn từ của từng các nhân có được
đó đã lỗi thời dần dần bị gạt ra khỏi vốn từ tích cực, chúng ít được sử dụng và trở thành vốn từ thụ động Những từ mới xuất hiện thì chưa thể trở thành vốn
từ tích cực, phải tích cực hóa những từ đó bằng cách vận dụng vào hoạt động giao tiếp một cách thường xuyên và hiệu quả Một trong những nhiệm vụ chính nhằm nâng cao trình độ văn hóa về mặt ngôn ngữ của con người là nâng cao vốn từ bằng cách làm giàu vốn từ tích cực
- Vốn từ của HS là toàn bộ các từ và ngữ cố định (thành ngữ, tục ngữ,…)
mà HS có được trong quá trình học tập, giao tiếp trong và ngoài nhà trường Trước tuổi đến trường tiểu học các em đã tích lũy được một số vốn từ nhờ giao tiếp trong môi trường gia đình và nhà trường Mầm non Nhưng những từ các em tích lũy được còn lộn xộn, các em chưa hiểu nghĩa từ chính xác và sắp xếp chưa hệ thống nên các em thường bối rối và gặp trở ngại trong việc lựa
Trang 16chọn, sử dụng từ Khi đến trường tiểu học, vốn từ của các em dần dần được
bổ sung và sắp xếp thành hệ thống trật tự nhất định để các em sử dụng dễ dàng
9
1 ệ VT S
Nói đến làm giàu vốn từ cho học sinh tiểu học là nói đến thực hiện ba nhiệm vụ đồng thời: dạy nghĩa từ, hệ thống hóa vốn từ (trật tự hóa vốn từ) và dạy sử dụng từ
1.2.2.1 Dạy ng ĩ từ (c n x c ó v n từ)
Giúp cho HS nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của HS
những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ Dạy nghĩa từ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ
đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau
Ở tiểu học, người ta thường sử dụng các biện pháp làm giàu vốn từ sau đây:
Trang 17Hệ thống hóa vốn từ là giúp HS biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ của mình để tích lũy được nhanh chóng và tạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi Công việc này hình thành ở HS kĩ năng đối chiếu từ trong hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần
10
nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo…tức là kĩ năng liên tưởng để huy đông vốn từ
Để hệ thống hóa vốn từ cho học sinh tiểu học, người ta thường sử dụng
hệ thống bài tập sau đây:
a Nhóm bài tập tìm từ
a.1 Bài tập tìm từ ngữ cùng chủ đề
a.2 Bài tập tìm từ cùng lớp từ vựng
a.3 Bài tập tìm từ cùng từ loại, tiểu loại
a.4 Bài tập tìm từ có cùng đặc điểm cấu tạo
b Nhóm bài tập phân loại từ
Bao gồm các bài tập yêu cầu học sinh phân loại từ theo các dấu hiệu như bài tập tìm từ: chủ đề, ý nghĩa khái quát, các lớp từ vựng, cấu tạo… 1.2.2.3 T c cực ó v n từ (luy n tập sử dụng từ)
Dạy cho HS sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ trong lời nói và viết của HS, đưa từ vào trong vốn từ tích cực được HS dùng thường xuyên, tích cực hóa vốn từ tức là dạy HS biết dùng từ ngữ trong hoạt động nói năng của mình
Để tích cực hóa vốn từ cho học sinh, chúng ta có thể sử dụng các dạng bài tập sau:
Trang 18a Bài tập i n từ Loại bài tập này có 2 mức độ:
a.1 Cho trước các từ, yêu cầu HS tìm trong số những từ đã cho những
từ thích hợp để điền vào chỗ trống trong câu, đoạn cho sẵn
a.2 Không cho trước các từ mà để HS tự tìm trong vốn từ của mình để điền vào
Nhiệm vụ này không thể chỉ được tiến hành trên phân môn từ mà nó được thực hiện theo tính chất đồng bộ liên phân môn Đó là cơ sở lý thuyết để chúng tôi tiến hành đề xuất một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp
1 ở các trường Quốc tế
1.3 MÔN HỌC TIẾNG VIỆT VỚI VIỆC LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC
SINH LỚP 1
1 1 M ô T V ệ (TV) ở
Trang 19- Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng TV (nghe, nói,
đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học TV, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
- Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về TV và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu TV và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của TV, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
(Chương trình Tiểu học mới, Ban hành theo quyết định số 43/2001/QĐ – BGD & ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo)
- Nghe trong hội thoại:
+ Nhận biết sự khác nhau của các âm, các thanh và các kết hợp của chúng; nhận biết sự thay đổi về độ cao, ngắt, nghỉ hơi
+ Nghe hiểu câu kể, câu hỏi đơn giản
+ Nghe hiểu lời hướng dẫn hoặc yêu cầu
- Nghe hiểu văn bản: Nghe hiểu một câu chuyện ngắn có nội dung thích hợp với học sinh lớp 1
* Nói:
- Nói trong hội thoại:
Trang 20+ Nói đủ to, rõ ràng, thành câu
+ Biết đặt và trả lời câu hỏi lựa chọn về đối tượng
+ Biết chào hỏi, chia tay trong gia đình, trướng học
- Nói thành bài: Kể lại một câu chuyện đơn giản đã đựợc nghe
câu đã đọc (độ dài câu khoảng 10 tiếng)
- Học thuộc lòng một số bài văn vần(thơ, ca dao,…) trong SGK
* Viết:
13
- Viết chữ: Tập viết đúng tư thế, hợp vệ sinh Viết các chữ cái cỡ vừa
và nhỏ; tập ghi dấu thanh đúng vị trí; làm quen với chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo mẫu chữ quy định; tập viết các số đã học
Trang 21- Nhận biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi
- Ghi nhớ các nghi thức lời nói
14
* Giai đoạn sau học chữ: là những câu, đoạn nói về thiên nhiên, gia đình, trường học, thiếu nhi Ngữ liệu có cách diễn đạt trong sáng, dễ hiểu, có tác dụng giáo dục giá trị nhân văn và bước đầu cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cuộc sống Chú ý thích đáng đến các văn bản phản ánh đặc điểm (thiên nhiên, đời sống văn hóa, xã hội…) của các địa phương trên đất nước ta Tóm lại, qua mục tiêu môn Tiếng Việt lớp 1 như đã nêu trên, có thể thấy
rõ 2 định hướng lớn, cũng là 2 điểm mới là:
- Coi trọng đồng thời cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết nhưng chú ý
Trang 22hơn đến kĩ năng đọc và viết
- Coi trọng đồng thời ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nhưng chú ý hơn đến ngôn ngữ viết
1.3.3 ệ b S T V ệ 1
1.3.2.1 ặc m củ SG T ếng t 1
a Coi trọng sự hình thành rèn luyện cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết
Đương nhiên, kĩ năng đọc và kĩ năng viết vẫn được đặt ở vị trí hàng đầu
b Coi trọng sự tích hợp giữa nội dung dạy – học môn Tiếng Việt với các môn học khác; Sự tích hợp giữa hiểu biết sơ giản về tiếng Việt với hiểu biết
sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, văn hóa, văn học (Việt Nam và nước ngoài) Ngữ liệu trong sách được chọn lọc kĩ, đảm bảo tính giáo dục và tính thẩm mĩ
c Coi trọng tính chặt chẽ của hệ thống ngữ âm tiếng Việt, đặc biệt ở phần Học vần Thứ tự âm, vần và cùng với nó là thứ tự các chữ cái, các chữ được thể hiện theo một nguyên tắc nhất quán Trong sách, về cơ bản, không có âm, vần, tiếng lạc (âm, vần, tiếng chưa học đã xuất hiện) và cũng không có những tiếng (là từ đơn) trống nghĩa (không có nghĩa) Các âm có hình thức chữ viết gần giống nhau, nói chung, được sắp xếp theo từng cụm bài
15
d Coi trọng hình thức trình bày và phương pháp trình bày các loại bài học sao cho GV và HS dễ dạy, dễ học và thích học (in màu, có hình tranh ảnh đẹp)
1.3.2.2 ấu trúc n dung Sách giáo khoa T ếng t 1
SGK Tiếng Việt 1 gồm 2 phần: Học vần và Luyện tập tổng hợp
Phần Học vần được dạy – học với 22 tuần
Trang 23Phần Luyện tập tổng hợp đƣợc dạy – học trong 13 tuần Hệ thống bài
học của mỗi phần có đặc trƣng riêng nhƣng nguyên tắc xuyên suốt các bài học là: mạch kiến thức và mạch kĩ năng đƣợc thực hiện từ đơn giản đến phức tạp;
có lặp lại nhƣng lặp lại đồng thời với nâng cao, cụ thể:
a hần Học vần
Phần Học vần ở lớp 1 gồm 103 bài, đƣợc phân bố trong hai tập sách :
83 bài thuộc tập 1, 20 bài thuộc tập 2 với 3 dạng bài cơ bản sau:
- Làm quen với cấu tạo đơn giản của tiếng (âm tiết) tiếng Việt qua âm
và chữ thể hiện âm e, b cùng các dấu ghi thanh (dấu thanh)
- Học âm và chữ thể hiện âm mới hoặc vần mới
- Ôn tập nhóm âm hoặc nhóm vần
Đến bài 27, HS đã học đƣợc toàn bộ các âm và các chữ cái thể hiện các
âm của tiếng Việt; HS cũng làm quen (một cách tự nhiên) kiểu âm tiết mở (âm tiết kết thúc bằng nguyên âm: ia, ua, ƣa
Từ bài 29 đến bài 90, HS đƣợc ôn lại các âm và các chữ thể hiện vần mới; theo trình tự:
+ Vần kết thúc bằng bán âm (i, y, o, u)
+ Vần kết thúc bằng phụ âm vang (n, ng, nh, m)
+ Vần kết thúc bằng phụ âm không vang (t, c, ch, p)
HS cũng làm quen với các kiểu âm tiết mới là âm tiết nửa mở, nửa khép và khép
16
Từ bài 91 dến bài 103, HS đƣợc ôn lại một lần nữa các âm và các chữ thể hiện các âm của tiếng Việt qua việc học một loại vần mới – vần có âm đầu vần (o hoặc u); HS cũng đƣợc ôn (một cách tự nhiên) các kiểu âm tiết của
Trang 24Ở mỗi loại bài trong 4 loại bài (Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện),
học sinh được luyện tập đủ các kĩ năng, nhưng luyện tập nhiều hơn ở kĩ năng đặc trưng của mỗi phân môn (Tập đọc tập trung hơn vào kĩ năng đọc, Tập viết
và Chính tả tập trung hơn vào kĩ năng viết, Kể chuyện tập trung hơn vào kĩ năng nghe và nói) Qua nội dung các bài học, học sinh vừa được ôn kiến thức
đã học (các âm, các vần, các chữ thể hiện âm, vần), vừa được học kiến thức mới (vần khó, chữ viết hoa, luật chính tả)
Nói cách khác, hệ thống bài học trong chương trình SGK Tiếng Việt 1 được tổ chức theo mô hình các vòng đồng tâm – phát triển Mô hình này làm cho hoạt động dạy- học môn Tiếng Việt được tự nhiên, nhẹ nhàng, kĩ lưỡng
và đảm bảo được tính hiệu quả tất yếu của hoạt động dạy - học
1.4 ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH LỚP 1 Ở CÁC TRƯỜNG
QUỐC TẾ VÀ VIỆC LÀM GIÀU VỐN TỪ
“Mỗi học sinh là một thực thể hồn nhiên, tiềm tàng khả năng phát triển,
là những nhân cách đang trở thành chính mình” Thật vậy, trẻ em ở lứa tuổi tiểu học có thể chất và tâm lý bình thường như một chỉnh thể Thể chất của các em phát triển theo quy luật sinh lý tự nhiên Cùng với sự phát triển thể
17
Trang 25chất, các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của các em cũng được bộc lộ và hoàn thiện dần trong quá trình hoạt động và học tập Trẻ em cùng một lứa tuổi, dù
là nam hay nữ, sinh sống ở những vùng miền khác nhau thì các em cũng có những đặc điểm chung về tâm sinh lý như: đặc điểm về nhận thức, đặc điểm
về chú ý, đặc điểm về trí nhớ, …
1.4.1 Đặ â ý s ớ 1
1 4 1 1 ề n ận t c
Tri giác của trẻ còn đậm màu sắc cảm xúc Tính cảm xúc thể hiện rõ
khi các em tri giác Ở lứa tuổi này, tri giác trước hết là những sự vật, những dấu hiệu những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em những cảm xúc Vì thế cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực hơn Nói cách khác, tri giác của các em mang tính không ổn định và thường gắn liền với hình ảnh trực quan Vì vậy trong dạy học phải vận dụng triệt để: “trăm nghe không bằng một thấy”
1 4 1 2 ề c ú ý
Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, dễ bị phân
tán bởi những âm thanh, sự kiện khác ngoài nội dung học tập Trẻ thường quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dung trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi,… Thời gian chú ý của các em thường kéo dài tối đa từ 25 đến 30 phút Sự chú ý của các em còn phụ thuộc vào nhịp
độ học tập; nhịp độ học tập nhanh hay chậm, dễ hay khó cũng ảnh hưởng đến mức độ chú ý của các em Cũng chính vì điều đó mà giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học của mình ngày càng thêm hấp dẫn và lý thú
1 4 1 3 ề tr n ớ
Trí nhớ của các em còn máy móc Trí nhớ trực quan, hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ, logic Do đó khi diễn đạt vấn đề cần nêu lên học
Trang 26sinh thường lúng túng cần phải nhìn vào sách, vào tài liệu để nói mà chưa biết
18
cách sắp xếp lại, sửa đổi lại, diễn đạt lại bằng lời lẽ của mình vì ngôn ngữ của các em còn hạn chế Do đó, nhiệm vụ của giáo viên là tìm mọi cách hướng dẫn học sinh lặp đi lặp lại những vấn đề cần ghi nhớ để các em khắc sâu ghi nhớ, tránh tình trạng ghi nhớ một cách máy móc, tình trạng học vẹt, học đâu quên đó,…
1 4 1 4 ề tìn cảm
Dễ xúc động, sống nhờ bằng cảm xúc, tình cảm Tình cảm của các em
còn mang đậm tính cụ thể và giàu cảm xúc Tình cảm ảnh hưởng khá lớn đến tốc độ cũng như độ bền vững của trí nhớ Vì vậy, giáo viên cần kết hợp hài hòa lúc thì cứng rắn, lúc thì mềm dẻo khi dạy học cho các em
1 4 1 5 ề tưởng tư ng
Tưởng tượng của các em chủ yếu là tưởng tượng tái tạo Những hình
ảnh được tái tạo lại gần đúng với đối tượng thực nhưng chi tiết trong các hình ảnh thường nghèo nàn, tản mạn và chưa hợp lý Tưởng tượng của các em chủ yếu dựa vào hình ảnh các sự vật, hiện tượng cụ thể, chưa biết sáng tạo và khái quát trong tưởng tượng Như vậy tưởng tượng của các em vẫn còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi Vì thế trong dạy học, giáo viên cần hình thành biểu tượng cho học sinh thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ, đồ dùng trực quan…
Trang 27nhưng đã có ở mức độ cao, thấp khác nhau Do đó, giáo viên nên thường xuyên cho các em thao tác liên tục khi thực hành quan sát, so sánh, tổng hợp,…
19
1 4 1 7 ề ng n ngữ
Tâm lý học đã chỉ ra rằng: Ngôn ngữ của học sinh tiểu học phát triển
mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng Vốn từ, vốn ngữ pháp được tăng lên nhanh nhờ các em được học nhiều môn, diện tiếp xúc ngày càng rộng, cách diễn đạt ngày càng phong phú Tuy nhiên, học sinh lớp 1 còn mắc nhiều lỗi phát âm, lỗi dùng từ đặt câu, lỗi chính tả và thường lúng túng khi trình bày bài nói, bài viết
Tâm lý học và tâm lý ngôn ngữ học đã khẳng định: “Trẻ em trước tuổi
đến trường đã có vốn tiếng mẹ đẻ được tích lũy một cách tự phát trong sinh hoạt ở gia đình, vườn trẻ, lớp mẫu giáo,… Các em mang vốn ấy để tiếp tục học Tiếng Việt ở trường phổ thông là các em mang cả những tri thức sơ giản
về tiếng mẹ đẻ cùng những yếu tố tự nhiên, không tích cực do thói quen hoặc tập quán của địa phương mình trong phát ngôn” Điều đó có nghĩa là học sinh người Việt trước khi đến trường đã có một số lượng từ, một số kiểu câu, một
số quy tắc giao tiếp…
Tuy nhiên, học sinh tiểu học, do đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi nên các em thường rất hồn nhiên khi giao tiếp, đối với các em nghĩ và nói là một, không chú ý đến thái độ của người, logic, quy tắc giao tiếp Vì vậy, trẻ thường gặp khó khăn, lúng túng khi tham gia một hoạt động giao tiếp có yêu cầu về nội dung, mục đích cũng như cách thức giao tiếp Mặt khác các em còn gặp khó khăn trong việc phát âm, lựa chọn và dùng từ, khả năng tiếp nhận, phân
Trang 28tích xử lý thông tin
1.4.2 ặc m r ng củ S lớp 1c c trường Qu c tế
Bên cạnh những điểm chung vừa nêu trên, trẻ em sinh ra và lớn lên
trong những điều kiện khác nhau, sống trong những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, được hưởng những điều kiện giáo dục khác nhau nên trẻ em ở các trường Quốc tế có những điểm khác nhau về đặc điểm ngôn ngữ:
20
- Ngôn ngữ của các em còn nghèo nàn, các em nói còn ấp a ấp úng, câu nói chưa rõ ràng, trật tự sắp xếp các tiếng trong câu còn lộn xộn và dùng từ diễn đạt chưa chính xác do các em sống trong gia đình chỉ có ba mẹ nên chưa tiếp xúc, nói chuyện nhiều với mọi người xung quanh
- Vốn từ của các em còn hạn hẹp về nhiều lĩnh vực cùng với việc các
em không hiểu nhiều về thế giới xung quanh nên khó dùng từ đề diễn đạt hết những suy nghĩ, hiểu biết của mình do đa số các em sống ở Thành phố, phạm
vi sống bó hẹp trong gia đình
- Các em chưa mạnh dạn tự tin khi giao tiếp, nói còn nhỏ, nói hay bắt
chước, nói theo ý muốn hay theo sở thích và ít suy nghĩ nhiều trước khi nói, điều này ảnh hưởng bởi không được giao tiếp thường xuyên với những người xung quanh
- Ngôn ngữ về tiếng mẹ đẻ bị ức chế, không có điều kiện để phát triển một cách tự nhiên do sự tác động của một thứ ngôn ngữ khác; các em phải học song ngữ (50%học tiếng Việt, 50% học tiếng Anh)
- Phần lớn giáo dục từ gia đình chưa uốn nắn giúp các em giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ thường xuyên, không thường xuyên giúp con em họ sửa lại cách trình bày câu nói cho dễ nghe, dễ hiểu nên càng ngày ngôn ngữ của các em ít
Trang 29phát triển, ít phong phú và đa dạng bởi phần lớn gia đình mong muốn các em không cần nói tiếng Việt lưu loát mà mong muốn ở các em nói tiếng Anh tốt hơn đề các em đi du học nước ngoài Điều này đã đi ngược lại với tinh thần giáo dục của đất nước ta là “Dạy cho học sinh bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình ngay từ lớp đầu cấp để cho các em có thể giao tiếp và lĩnh hội các kiến thức từ chính tiếng mẹ đẻ của mình”
Với những đặc điểm của học sinh lớp 1 truờng Quốc tế như đã trình
bày ở trên, là người giáo dục chúng ta cần phải quan tâm và tìm ra các biện
1.5.1.Về cơ sở lý luận, chúng tôi đã khái quát được mục tiêu, nhiệm
vụ và nội dung của việc làm giàu vốn từ cho học sinh tiểu học và đi sâu trình bày về mục tiêu, nội dung chương trình SGK Tiếng Việt lớp 1
1.5.2 Về đặc điểm của tâm lý học sinh tiểu học, chúng tôi trình bày về đặc điểm tâm lý học sinh lớp 1 nói chung và trình bày sự khác biệt về ngôn ngữ của học sinh lớp 1 ở các trường Quốc tế nói riêng
1.5.3 Qua việc trình bày về cơ sở lý luận cũng như đặc điểm tâm lý của học sinh, chúng ta nhận thấy rằng mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 1 vô cùng quan trọng và có tính thiết thực nhằm giúp học sinh phát triển vốn từ,
Trang 30nâng cao kĩ năng nói và viết cho học sinh lớp 1 ở các trường Quốc tế Những vấn đề về cơ sở lý luận mà chúng tôi khái quát được trong chương 1 chính là cơ sở khoa học cho việc tìm ra một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 1 ở các trường Quốc tế trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh thông qua các phân môn Tiếng Việt mà chúng tôi sẽ trình bày ở chương sau
Trang 312 1 3 2 tư ng ọc s n : Học sinh lớp 1 ở các trường Quốc tế: 480 HS, ở
8 trường Quốc tế (mỗi trường 60 phiếu điều tra) Cụ thể là các trường sau:
- Trường Tiểu học Quốc tế Việt Úc_ Quận 1
- Trường Tiểu học Quốc tế Úc Châu_Quận 1
- Trường Tiểu học Quốc tế Bắc Mỹ_Quận 10
- Trường Tiểu học Quốc tế IPS_Quận Tân Bình
- Trường Tiểu học Quốc tế Á Châu_Quận 3
- Trường Tiểu học Châu Á Thái Bình Dương_ Quận 1
- Trường Tiểu học Quốc tế Việt Mỹ_Quận 11
23
- Trường Tiểu học Quốc tế Singapore_Quận 3
2.1.4 P ự ạ
- Điều tra bằng Anket: Dùng phiếu thăm dò, thu thập ý kiến của một
số giáo viên và học sinh theo các chỉ tiêu đã được xác định
- Thống kê toán học: Sau khi điều tra khảo sát chúng tôi dùng phương pháp này để tổng hợp kết quả điều tra làm cơ sở cho việc phân tích kết quả
- Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ, quan sát quá trình giờ dạy trên lớp của giáo viên và quá trình học tập của học sinh
- Phỏng vấn, tọa đàm: Tiến hành đối với các giáo viên tiểu học và học sinh nhằm thu thập những thông tin, dữ liệu bổ sung cho việc khẳng định các
Trang 32kết quả nghiên cứu
- Học sinh thực hiện các bài tập rất nhanh và đúng
- Học sinh hiểu nghĩa từ chính xác và đầy đủ
- Học sinh huy động vốn từ nhanh (khoảng 15 đến 20 từ), phân loại vốn từ đúng
- Học sinh sử dụng đúng từ, chính xác, linh hoạt
* Mức ộ kh
- Học sinh thực hiện các bài tập nhanh và đúng
- Học sinh hiểu nghĩa từ tương đối chính xác và đầy đủ
- Học sinh huy động vốn từ tương đối nhanh (khoảng 10 đến 14 từ), phân loại vốn từ tương đối đúng
- Học sinh sử dụng đúng từ nhưng chưa linh hoạt
24
* Mức ộ trung bình
- Học sinh thực hiện các bài tập đúng nhưng chậm
- Học sinh hiểu nghĩa từ lơ mơ, chưa đầy đủ nghĩa của từ
- Học sinh huy động vốn từ chậm (khoảng 5 đến 9 từ), phân loại vốn từ chưa đúng
- Học sinh sử dụng vốn từ còn chậm
* Mức ộ yếu
Trang 33- Học sinh thực hiệc các bài tập sai
- Học sinh chưa hiểu được nghĩa của từ
- Học sinh huy động được vốn từ ít (khoảng 1 đến 4 từ), không phân
Như vậy, với tiêu chí này chúng tôi đánh giá qua 3 mặt :
a Nhận thức Tức là HS phải nhận thức được ý nghĩa của môn học
Hiểu được nội dung môn học, lĩnh hội được những kiến thức của môn học
b Th i ộ Bao gồm những xúc cảm tích cực của HS đối với môn học
và hoạt động học bộ môn Cụ thể là:
+ Tâm trạng háo hức chờ đón giờ học
+ Có niềm vui nhận thức cùng sự thích thú khi tiếp nhận bài học
+ Thích thú thực hiện các nhiệm vụ học tập
+ Vui sướng với thành công trong học tập
c Hành vi: Là hình thức biểu hiện ra ngoài của hứng thú học tập Là sự
nỗ lực vượt khó và tính tích cực tiến hành các hoạt động để đạt được kết quả trong học tập Cụ thể là :
25
+ Trong lớp chú ý nghe giảng
+ Tích cực phát biểu ý kiến
+ Tích cực tham gia thảo luận cùng bạn bè
+ Sưu tầm thêm các thông tin
Trang 34+ Tìm đọc sách, tài liệu tham khảo
+ Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn…
2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu thăm dò để lấy ý kiến từ
giáo viên và học sinh lớp 1ở các trường Tiểu học Quốc tế trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh và đã thu được kết sau thực trạng, cụ thể như sau:
2.2.1 T ự ạ ừ ừ s ớ
1 ở ờ Q
2.2.1.1 T ực trạng v n từ củ S lớp 1
Chúng tôi đánh giá dựa trên:
- Khả năng thực hiện các bài tập của bài học
- Cách hiểu và trình bày về nghĩa của từ
- Khả năng huy động vốn từ và phân loại vốn từ
- Cách sử dụng từ trong câu
Về thực trạng vốn từ chúng tôi yêu cầu HS thực hiện 5 câu (câu 5, 6, 7, 8,
9) trên phiếu điều tra của HS và thu được kết qua bảng 1 sau:
Trang 3526
Qua phân tích kết quả khảo sát trên chúng tôi thấy chúng tôi nhận thấy rằng:
a V thực hiện bài tập Nhìn vào bảng 1, chúng ta thấy rằng số HS làm
đúng hết bài tập không nhiều, chỉ có 70 HS làm nhanh và đúng tất cả các bài tập mà GV đưa ra (chiếm 14,6%), có 114 HS thực hiện đúng nhưng còn chậm, hiểu nghĩa từ còn lơ mơ (chiếm 46%), có tới 114 HS làm bài tập sai, chưa hiểu nghĩa từ, chưa biết phân loại và sử dụng từ (chiểm 23,8%), qua điều tra thì chúng tôi biết được số HS này không tập trung vào giờ học, không có hứng thú học tập do vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế, các em nói chưa
rõ ràng và còn lơ mơ, chưa hiểu nhiều về từ tiếng Việt
b V bài tập hiểu nghĩ từ Thể hiện ở câu 1 và câu 2 trên phiếu điều tra
Câu 1: Nối từ ứng với tranh: Ở câu này đa số các em làm bài tập đúng
Còn câu 2 (nối tiếng tạo nên từ) Mặc dù từ ngữ chúng tôi đưa ra để điều tra là từ ngữ các em đã được giải nghĩa trong bài học nhưng vẫn có tới 68
HS trả lời sai (chiếm 14,2%) Ở đây các em không hiểu nghĩa từ hoặc hiểu sai nghĩa của từ nên nối sai các tiếng tạo thành từ Trong số 68 HS trả lời sai đó thì có 62 HS (chiếm 91,2% số HS đạt loại khá) là con lai (mẹ người Việt còn cha người nước ngoài) Điều này nói lên được rằng số HS sai đó chưa hiểu nhiều về nghĩa của từ Nhìn chung, khả năng nắm nghĩa của từ của HS chưa tốt lắm vì số HS làm đúng hết có 77 HS (chiếm 16,0%), còn số HS đạt khá có
205 HS (chiếm 42,7%), trường hợp này do các em hiểu nghĩa từ sai nên nối sai các tiếng tạo nên từ Ví dụ HS trong số này th ờng nối s i nh s u
Trang 37
c V bài tập mở rộng vốn từ, phân loại quản lý vốn từ Thể hiện ở câu
8 và câu 9 trên phiếu điều tra
Đối với bài tập này, chúng tôi phân loại từ theo tiêu chí nghĩa của từ
Phần lớn các em chọn vần điền vào chỗ trống còn sai nhiều (câu 8) và viết từ chứa vần còn nhầm lẫn và số lượng viết từ chứa vần còn ít
Về phân loại vốn từ có 76 HS làm bài tốt chiếm 15,8% , các em làm
đúng cả 2 câu nhưng so với tổng số HS thì số HS đạt loại giỏi chưa cao HS đạt loại khá có 107 em chiếm 22,3% , trong số HS đạt loại khá này thì các em thường nhầm lẫn ở bài tập điền vần, các em vẫn còn lẫn lộn giữa vần an/ang;
ví dụ cái bàng, tang học, lang tỏ Số HS đạt trung bình có 115 em chiếm khỏe
Trang 38miền Nam; cách đọc sai âm cuối n/ng (không đẩy lưỡi lên ngạc, cách đọc sai
âm đệm ưu/ươu (không đọc âm đệm) và phương ngữ đọc vần in/inh của miền Nam
Như vậy, về mở rộng vốn từ và phân loại quản lý vốn từ HS còn nhầm lẫn
và sai sót nhiều, vì thế, để giúp HS học tốt phần hệ thống hóa vốn từ đòi hỏi
GV phải giúp các em nắm vững nghĩa từ và giúp các em đọc “chuẩn chính âm” khi mở rộng vốn từ cho HS
d V bài tập sử dụng từ Thể hiện ở câu 7 trên phiếu bài tập
Với bài tập sử dụng từ, HS đạt loại giỏi chỉ có 57 HS chiếm 11,9%, số
HS khá có 125 em chiếm 26, 0%, HS trung bình có tới 233 em chiếm 48,6%
và vẫn còn 65 HS làm sai chiếm 13,5%, trong đó có 47 HS là con lai (hoặc con người nước ngoài) Qua kết quả này, chúng tôi nhận thấy rằng số lượng
HS dùng từ để nối tạo thành câu chưa chính xác và chưa linh hoạt Các em vẫn còn nối các vế câu tạo thành một câu sai về nghĩa Qua các cuộc trò chuyện với HS và giáo viên chủ nhiệm lớp 1, chúng tôi được biết số HS thường làm sai một phần do các em không chịu đọc các vế câu rồi nối cho thích hợp mà cứ nối bất kỳ các vế câu cho xong, một phần các em có đọc nhưng hiểu nghĩa các vế câu chưa sâu sắc và chưa chính xác rồi cứ nốt bất kỳ, trường hợp này thường là HS con lai (hoặc con người nước ngoài), sau đây là
29
một ví dụ về một bài làm sai của em Mladenovik Nina (con lai) lớp 1.1 trường Quốc tế Việt Úc
Trang 39Qua bài tập về sử dụng từ, chúng ta nhận thấy rằng HS sử dụng từ để tạo nên các câu có nghĩa chưa thật sự tốt lắm, các em chưa hiểu sâu sắc về nghĩa của từ nên gặp nhiều khó khăn trong việc nối các vế câu để tạo thành câu có nghĩa trọn vẹn Để giúp các em sử dụng từ tốt hơn, giáo viên cần nắm tình hình HS thường mắc lỗi ở những chỗ nào để vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm hướng dẫn HS học tập tốt hơn Như vậy, qua điều tra vốn từ của HS, chúng tôi nhận thấy rằng vốn từ của
HS còn hạn chế về cả 3 mặt: hiểu nghĩa từ, hệ thống hóa vốn từ và tích cực hóa vốn từ
2.2.1.2 Thực trạng ng t ú củ S lớp 1vớ v c làm g àu v n từ
Chúng tôi đã điều tra hứng thú về việc làm giàu vốn từ cho HS lớp 1 qua
4 câu (câu 1, 2, 3, 4) trong phiếu điều tra của HS và đã thu được kết quả thực trang qua bảng 2 sau:
Nhà em trồng
Chú sóc chạy
Luyện tập thể thao
Trung thu em đi
nhanh thoăn thoắt
rước đèn